2 2 1 Hình thức chính thể quân chủ Hình thức chính thể được hình thành do tương quan lực lượng giai cấp trong xã hội khi tiến hành cách mạng dân chủ tư sản nếu xét ở khía cạnh lịch sử Ở những nước các[.]
Trang 12.2.1. Hình thức chính thể quân chủ
Hình thức chính thể được hình thành do tương quan lực lượng giai cấp trong
xã hội khi tiến hành cách mạng dân chủ tư sản nếu xét ở khía cạnh lịch sử Ở những nước cách mạng tư sản không đủ sức đánh bại được giai cấp phong kiến mà đại diện
là các vị hoàng đế, mặc dù lỗi thời nhưng vẫn còn đủ mạnh thì ở đó quyền lực buộc phải được chia sẽ giữa hai giai cấp thống trị là tư sản và phong kiến Tại đó tồn tại chính thể quân chủ Nhiều học giả còn có quan điểm cho rằng đây là biểu hện của
sự thỏa hiệp giữa các giai cấp thống trị Sự thỏa hiệp là một trong những chức năng quan trọng của nhà nước thống trị Ngược lại, các học giả khác cho rằng đây là mong muốn của giai cấp tư sản, họ muốn giai cấp thống trị cũ thích nghi với cách thống trị mới Bằng việc sữ dụng chính thể này họ muốn ngăn chặn cách mạng quần chúng do chính phong trào cach mạng tư sản dấy lên Mặc dù chính thể này không được thừa nhận là chính thể dân chủ tiên tiến nhưng nó được sữ dụng rất rộng rãi, phổ biến trong thế giới tư sản Có thể nói số lượng các nước trên thế giới giữa chính thể quân chủ hiện nay là rất nhiều và nó trở thành loại hình phổ biến của tổ chức nhà nước trong giới tư bản
Sự tồn tại đến ngày nay của chính thể quân chủ ngay cả ở các nước phát triển cho thấy sức sống mãnh liệt đã tồn tại qua nhiều thế kỷ của chế độ phong kiến Một chế độ đã ăn sâu vào tiềm thức của nhiều dân tộc
Hình thức này có thể xem là tàn dư của chế độ phong kiến, được giai cấp tư sản sử dụng như một công cụ tiềm tàng phòng chống những biến đổi xã hội Nhà vua được dựng lên như một đấng siêu phàm, đứng trên mọi giai cấp mang hình tượng của đất nước, của toàn dân và tượng trưng cho sự vĩnh hằng của dân tộc, chế
độ xã hội
Chính thể quân chủ là một thể chế hình thức chính quyền mà theo đó người đứng đầu là nhà vua hay nữ hoàng Hiện nay trên thế giới có tới 44 quốc gia còn tồn tại hình thức này với 25 vị vua và nữ hoàng, trong đó nữ hoàng Anh đồng thời là nữ hoàng của 15 quốc gia quân chủ độc lập khác
Chính thể quân chủ là một trong những hình thức chính thể lâu đời nhất và từng có rất nhiều hình thái khác nhau cùng tồn tại
Theo tiến trình của lịch sử những cuộc đấu tranh gia cấp, và có sự tương quan lực lượng giữa các gia cấp mà khi tiến hành cuộc cách mạng dân chủ tư sản Ở những nước này cách mạng tư sản giành được thắng lợi triệt để thì ở đó chính thể cộng hòa được thiết lập (như ở Pháp, Mỹ,…) Theo đó chính thể cộng hòa của một quốc gia được lãnh đạo bởi những người không dựa vào sức mạnh chính trị của họ vào bất kì một quy luật nào vượt khỏi tầm kiểm soát của nhân dân trong quốc gia đó
Nó là hình thức chính quyền phổ biến nhất hiện nay ở các nước tư sản vì nó
khắc được những tàn dư của chế độ phong kiến Leenin đã chỉ rõ: “quyền lực vô hạn” của “sự giàu có” trong chế độ cộng hòa dân chủ sở dĩ đã trở thành chắc
Trang 2chắn hơn là vì nó không lệ thuộc vào một số thiếu sót của cơ cấu chính trị, vào cái
võ xấu xa của chủ nghĩa tư bản chế độ cộng hòa dân chủ là hình thức chính trị tốt nhất có thể có được của chủ nghĩa tư bản cho nên khi nắm được hình thức tôt nhất
ấy thì giai cấp tư sản nâng nó để xây dựng quyền lực của mình” Hình thức này có những đặc điểm sau:
Người đứng đầu nhà nước
Trong hầu hết nền cộng hòa hiện đại người đứng đầu nhà nước được gọi là
tổng thống Các danh xưng khác được sử dụng là consul, doge, archon và nhiều
danh xưng khác Trong các nền cộng hòa và cũng là dân chủ người đứng đầu nhà nước được chỉ định theo kết quả của một cuộc bầu cử cuộc bầu cử này có thể là gián tiếp, chẳng hạn như nếu một hội đồng theo một dạng nào đó được bầu lên bởi người dân và hội đồng này sau này sẽ bầu ra người đứng đầu nhà nước Trong các nền cộng hòa này nhiệm kỳ tổng thống thường là bốn năm đến sáu năm Trong một
số nước, Hiến pháp giới hạn số nhiệm kì một người có thể bầu lên vị trí tổng thống Nếu như người đứng đầu nhà nước của một nền cộng hòa đồng thời là người đứng đầu chính phủ thì thể chế này gọi là tổng thống chế ví dụ như Hoa kỳ Trong bán tổng thống chế thì người nguyên thủ quốc gia không đồng thời là người đứng đầu chính phủ Người sau thường được gọi là thủ tướng Tùy theo từng nghĩa vụ cụ thể của tổng thống (ví dụ như tư vấn trong việc thành lập chính phủ sau cuộc bầu cử) và các quy ước khác nhau vai trò của tổng thống có thể dao động từ chỉ mang tính lễ nghi và phi chính trị cho đến có ảnh hưởng lớn và đầy tính chính trị Thủ tướng có trách nhiệm điều hành các chính sách và nhà nước trung ương Có những quy định cho việc chỉ định tổng thống và người đứng đầu chính phủ Ở một số nền cộng hòa cho phép sự chỉ định một tổng thống và một thủ tướng là thuộc hai đảng đối lập: ở Pháp, khi những thành viên của chính phủ đương nhiệm và tổng thống thuộc các đảng phái đối lập nhau, tình huống này gọi là sống chung chính trị Tuy nhiên trong một số nước như Đức, Ấn độ tổng thống bắt buộc phải là không theo đảng phái nào Một số nước khác như Thụy sỹ, San marino thì đứng đầu nhà nước không phải là một người mà là một ủy ban (hội đồng) của một vài người đang nắm văn phòng đó
Các nền cộng hòa giảm đi ảnh hưởng của tôn giáo vào nhà nước.
Một lý do quan trọng tại sao người dân lại chọn xã hội của họ như một tổ chức “cộng hòa” là khả năng được tự do khỏi tôn giáo của nhà nước: trong cách tiếp cận này sống dưới một chế độ quân chủ được xem là dễ tạo ra tôn giáo thuần nhất Tất cả các chính thể quân chủ lớn đều có một tôn giáo của nhà nước điều này dẫn đến một tôn giáo mà quốc vương (hoàng gia) được phong cho một địa vị giống như thượng đế Trên một mức độ khác, các nền quân chủ có thể vướng vào một dạng đặc biệt nào đó của tôn giáo: Công giáo ở Bỉ, Thần đạo ở Nhật Bản,…Tuy nhiên, hình thức này ở một số nước không còn tồn tại nữa do không phù hợp với điều kiện thực tế ( ví dụ như Nga hoàng,…)
Sự vắng mặt của chế độ quân chủ sẽ không có một vị vua nào thúc đầy về một tôn giáo Bởi vì điều này là cảm nhận chung của thời đại khai sáng Không là
Trang 3điều đáng ngạc nhiên khi các nền cộng hòa đều nhận thấy bởi các nhà tư tưởng thời Khai sáng như là một dạng tổ chức thích hợp nhất nếu như người ta muốn tránh những điều xuống cấp bởi một sống dưới một tôn giáo nhà nước có sức ảnh hưởng quá lớn
Trong thời cổ đại
Trong Ấn Độ cổ đại, một số Maha Janapadas được thiết lập như là những cộng hòa vào thế kỉ thứ 6 trước Công nguyên Vaishali, cổ xưa nhất trong các cộng hòa đó, được xem như là nền cộng hòa đầu tiên trên thế giới Trong vùng Cận Đông
cổ đại, một số thành phố của Levant đã được một cách điều hành tập thể Arwad đã được dẫn ra như là một ví dụ khác về nước cộng hòa xưa nhất được biết, trong đó người dân, chứ không phải vua, được miêu tả là có quyền tự chủ Những bản sách quan trọng về triết học chính trị thời cổ đại sống sót cho đến thời trung cổ hiếm khi
có một một ảnh hưởng nào lên sự nổi lên hay làm mạnh thêm những nền cộng hòa vào thời điểm mà chúng được viết ra Khi Plato viết những đối thoại mà sau này, trong các nước nói tiếng Anh, trở nên được biết đến như là The Republic (một bản dịch không chính xác theo một số người), nền dân chủ xứ Athena đã được thiết lập,
và không bị ảnh hưởng bởi luận thuyết đó (nếu nó đã bị ảnh hưởng, nó sẽ trở nên
"ít" bản chất cộng hòa hơn theo hiểu biết hiện đại) Những thí nghiệm của Plato với những nguyên tắc chính trị của ông ở vùng Syracuse là một thất bại De re publica của Cicero, rất xa trong khả năng định hướng lại những nước La Mã trong việc củng cố dạng nhà nước cộng hòa của họ, mà đúnh hơn nên được xem là khúc dạo đầu của Đế chế La Mã thật sự thành hình sau khi Cicero qua đời
Trong thời Phục hưng
Sự nổi lên của thời Phục hưng, mặt khác, được đánh dấu bằng sự chấp thuận của nhiều tác phẩm từ thời Cổ đại này, không nhiều thì ít dẫn đến một quan điểm chặt chẽ, quay lại với "chủ nghĩa cộng hòa cổ điển" Tuy nhiên những khác biệt vẫn tồn tại về việc loại "hỗn hợp" nào trong một kiểu nhà nước hỗn hợp của một nước lý tưởng sẽ được gọi là "cộng hòa" Đối với những thể chế cộng hòa nổi lên sau sự xuất bản của các triết lý Phục hưng về cộng hòa, như là Liên hiệp các tỉnh Hà Lan, luôn luôn không rõ ràng là vai trò chính xác của chủ nghĩa cộng hòa - trong một loạt các lý do khác - dẫn đến chọn lựa "cộng hòa" như là một dạng nhà nước
Chủ nghĩa cộng hòa khai sáng
Thời đại Khai sáng đã đem lại một thế hệ các nhà tư tưởng chính trị mới, cho thấy rằng, giữa nhiều thứ khác, "triết học" chính trị đang ở trong quá trình tập trung trở lại vào "khoa học" chính trị Lần này thì ảnh hưởng của những nhà tư tưởng chính trị, như John Locke, vào sự nổi lên của những nền cộng hòa ở Mỹ và Pháp sớm xảy ra sau đó là không thể sai được: sự phân tách của quyền lực, sự phân tách của nhà thờ và nhà nước, v.v được giới thiệu với một mức thành công nào đó
Trang 4trong các nước cộng hòa mới, cùng với những tư tưởng khác của nhà chính trị lớn khác của thời đại đó Thật ra, thời Khai sáng đã đặt ra tiêu chuẩn cho những nền cộng hòa, cũng như là là nhiều trường hợp khác cho các chế độ quân chủ, trong thế
kỉ tiếp theo Những nguyên tắc quan trọng nhất được thiết lập lúc kết thúc thời Khai sáng là luật pháp, là điều kiện rằng các nhà nước phản ánh lợi ích cá nhân phải theo pháp luật, rằng các nhà nước hành xử theo lợi ích quốc gia, trong những cách thức hiểu được bởi đại chúng, rằng phải có một số phương tiện cho quyền tự quyết định
Chủ nghĩa cộng hòa vô sản
Phân nhánh chính tiếp theo trong tư tưởng chính trị được Karl Marx thúc đẩy Ông cho rằng các giai cấp, chứ không phải quốc gia có quyền lợi Marx tranh luận rằng các chính phủ đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, và vì vậy cuối cùng thì các quốc gia trong thời đại của ông sẽ bị lật đổ bởi giai cấp vô sản thống trị Một lần nữa hình thành nền cộng hòa theo đường lối triết lý chính trị mới nhanh chóng theo sau sự nổi lên của triết học: từ đầu thế kỷ 20, các nền cộng hòa dạng
"cộng sản" được thiết lập Nhiều nước trong số đó đứng vững cả thế kỷ nhưng có sự căng thẳng đang gia tăng giữa họ với những nước kế thừa trực tiếp hơn từ ý tưởng của Phong trào Khai sáng
Các yếu tố kinh tế
Khái niệm cổ xưa của res publica, khi áp dụng vào chính trị, luôn luôn suy diễn rằng công dân trên một mức độ nào đó "tham gia" vào việc điều hành đất nước:
ít nhất là công dân không thờ ơ với những quyết định được quyết bởi những người điều hành đất nước, và có thể tham gia vào các tranh luận chính trị Một ý thường được theo đuổi bởi các sử gia là các công dân, dưới những hoàn cảnh thông thường, chỉ trở nên hoạt động về chính trị nếu như họ có thời gian rãnh rỗi trên và vượt khỏi những cố gắng thường ngày chỉ để duy trì sự tồn tại Nói một cách khác, một lớp trung lưu đủ đông (mà không bị ảnh hưởng về mặt chính trị bởi một vị vua như tầng lớp quý tộc) thường được xem là những điều kiện cần trước khi thành lập một dạng nhà nước cộng hòa Trong cách suy luận này, trong những thành phố của Hanseatic League, lẫn Catalonia của thế kỉ 19, cũng như Hà Lan trong thời hoàng kim của họ, sự hình thành của một nền cộng hòa không là điều đáng ngạc nhiên, bởi
tấ cả họ đều ở mức đỉnh của tài sản tích lũy được qua thương mại và những xã hội với một tầng lớp trung lưu giàu có và nhiều ảnh hưởng
Các nền cộng hòa
Trong thế kỷ 21, hầu hết các nước không quân chủ đều tự gọi là cộng hòa hoặc là trong chính thức hoặc là trong hiến pháp Có một vài ngoại lệ: Lybia arab jamahimiya, nhà nước Israel, Liên bang Myanma, Liên bang Nga tuy vẫn thõa mản nhiều định nghĩa của từ “ cộng hòa” bởi vì từ này bản thân là “ mơ hồ” rất nhiều nước thấy rằng cần thêm vào những từ hạn định để làm rõ loài cộng hòa mà họ
Trang 5xưng Hiện nay trên thế giới đa số các quốc gia là thuộc chính thể cộng hòa hầu như
là ở mọi khu vực lãnh thổ đều có chính thể này
Cộng hòa trong lý thuyết chính trị
Trong lý thuyết chính trị và khoa học chính trị, từ "cộng hòa" nhìn chung được áp dụng cho một nước nơi mà sức mạnh chính trị của nhà nước chỉ phụ thuộc vào sự đồng ý, bất kì trên danh nghĩa nào, của người dân bị cai trị Việc sử dụng này dẫn đến hai tập hợp phân loại đều có vấn đề Thứ nhất là các nước được cầm quyền bởi một nhóm thiểu số, nhưng không phải là cha truyền con nối, giống như nhiều nước độc tài, thứ hai là các nước mà tất cả, hay là gần như tất cả, quyền lực chính trị thực sự được nắm bởi các thể chế dân chủ, nhưng vẫn có một vua/nữ hoàng như người đứng đầu nhà nước trên danh nghĩa, được biết chung như là quân chủ lập hiến Trường hợp thứ nhất làm cho nhiều người bên ngoài từ chối xem nước đó như là một nước cộng hòa thực sự Trong nhiều nước loại thứ hai có một số phong trào "cộng hòa" vẫn hoạt động để khuếch trương việc kết thúc một chế độ quân chủ chỉ tồn tại trên danh nghĩa, và vấn đế ngữ nghĩa thường được giải quyết bằng cách gọi đó là một nước dân chủ Nhìn chung, các nhà khoa học chính trị cố gắng phân tích hiện thực ẩn bên trong hệ thống, chứ không phải bằng danh nghĩa
mà nước đó tự xưng: mặc cho một lãnh tụ chính trị tự xưng là "hoàng đế" hay "tổng thống", và nhà nước ông ta đang lãnh đạo được gọi là một nhà nước "quân chủ" hay
"cộng hòa" không phải là đặc điểm quan trọng, liệu là ông ta sử dụng quyền lực như người chuyên quyền hay là không mới là quan trọng Trong nghĩa này những phân tích gia về chính trị có thể nói rằng Thế chiến thứ nhất, trong nhiều khía cạnh,
là điểm cáo chung cho chế độ quân chủ, và sự thiết lập của chủ nghĩa cộng hòa, hoặc là trên thực tế hay là de jure, như là những thiết yếu cho một nhà nước hiện đại Đế chế Áo-Hung và Đế chế Đức cả hai đều bị xóa bỏ bởi những điều khoản trong hiệp định hòa bình ký kết sau đó, Đế quốc Nga bị lật đổ bởi Cách mạng Nga năm 1917 Ngay cả trong các nước thắng trận, các hoàng gia đã dần dần bị tước bỏ quyền lực và đặc quyền, và càng nhiều hơn nhà nước là ở trong tay của các cơ quan được bầu lên và các đảng chiếm đa số nắm quyền hành pháp Tuy nhiên trong nước Đức sau Thế chiến thứ hai, một cộng hòa de jure, phát triển thành một chế độ chuyên chế trên thực tế vào giữa thập niên 1930: một hiệp ước hòa bình mới, sau Thế chiến thứ hai, cẩn thận hơn trong việc soạn ra các điều khoản để cho nước Đức trên thực tế (phần Tây) vẫn là một nước cộng hòa
Thuật ngữ cộng hòa có nguồn gốc từ những tác giả của thời Phục hưng như một thuật ngữ mô tả về về một quốc gia không có chế độ quân chủ Những tác giả này, như Machiavelli, cũng đã viết những tác phẩm quan trọng mô tả làm thế nào để các chính phủ như vậy thực hiện chức năng của mình Những ý tưởng về việc một chính phủ và xã hội nên được xây dựng như thế nào là cơ sở cho một hệ
tư tưởng được gọi là chủ nghĩa cộng hòa cổ điển Tư tưởng này dựa trên Cộng hòa
Trang 6La Mã và các thành bang của Hy Lạp cổ đại và tập trung vào những ý tưởng như đạo đức công dân, quy định của luật pháp và chính phủ hỗn hợp
CÁC HÌNH THỨC CHÍNH THỂ CƠ BẢN TRÊN THẾ GIỚI ( P.2)
I. CÁC DẠNG HÌNH THỨC CHÍNH THỂ
1.1 Chính thể quân chủ
Hình thức chính thể này có hai loại cơ bản là: quân chủ tuyệt đối và quân chủ lập hiến
Quân chủ tuyệt đối, hay quân chủ chuyên chế, là thể chế chính trị mà Hoàng gia (Vua hay Nữ hoàng) nắm thực quyền Hiến pháp không tồn tại trong chế độ này Chế độ quân chủ chuyên chế thường có mặt tại các quốc gia chủ nô và các quốc gia phong kiến Chế độ này thịnh hành ở các nước trên thới giới vào các thế kỷ
17 và 18
Một ví dụ điển hình về chế độ quân chủ chuyên chế châu Âu là nước Pháp dưới triều vua Louis XIV Các vua Pháp trước thời Louis XIV đã xây dựng chế độ quân chủ tập quyền ở một mức độ nào đó, nhưng Louis XIV mở rộng hơn hẳn Vào đầu thế kỷ 18, tất cả những người bảo hoàng và phê bình trên khắp nước Pháp và châu Âu đều coi uy quyền của ông là độc đoán Chế độ quân chủ chuyên chế của ông cũng được các nước Nga, Phổ và Áo noi theo Đời vua Pyotr Đại Đế, nhà vua cải cách xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế Nga, nắm quyền kiểm soát Giáo hội nước Nga khi đó Cùng thời, vua Phổ là Friedrich Wilhelm I tin chắc rằng một Quân vương phải sáng suốt, và phải là vị cha uy quyền chuyên chính của toàn dân Trong thời đại này, các chế độ quân chủ chuyên chế thường được hỗ trợ bởi một lực lượng Quân đội thường trực , mà vị vua - chiến binh kinh điển là Friedrich II Đại
Đế - một vị vua lớn trong lịch sử nước Phổ Trong thời đại của trào lưu triết học Khai Sáng mới mẻ, nền quân chủ chuyên chế Pháp suy yếu trong khi hai nền quân chủ chuyên chế của người Đức là Áo và Phổ thì tiến hành cải cách tiến bộ và chấp nhận lý tưởng Khai Sáng, với những ông vua năng động như Joseph II nước Áo và Friedrich II Đại Đế nước Phổ Đó gọi là chế độ "quân chủ chuyên chế Khai sáng", tuy nhiên nó vẫn có hạn chế; đời vua Friedrich II Đại Đế, vị vua anh minh này vẫn trị vì độc đoán, nền quân sự và hành chính Phổ vẫn khắc nghiệt Ánh sáng của trào lưu triết học đương thời cũng soi sáng cả chế độ quân chủ chuyên chế Tây Ban Nha đương thời Việt Nam thời kỳ này cũng theo hình thức chính thể này với sự chuyên quyền của các vị hoàng đế, vua chúa Điều đó tạo ra một quyền lực rất lớn mà lời nói của vua cũng chính là luật pháp của quốc gia,… Đây là loại hình thức của nhà nước phong kiến, nhưng hiện nay vẫn còn một số ít nước đi theo chính thể này, tất nhiên là có vài sự thay đổi nhỏ để phù hợp hơn với điều kiện hoàn cảnh
Trên thế giới hiện còn bốn nước quân chủ chuyên chế: Va-ti-căng, Ả-rập
Xê-út, Bru-nây và Ô-man Tại Va-ti-căng, Giáo hoàng là người nắm quyền lực tối cao của Tòa thánh và chính quyền nhà nước Va-ti-căng, thâu tóm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hội đồng Hồng y Giáo chủ đóng vai trò như cơ quan lập
Trang 7pháp, nhưng về thực tế chỉ là cơ quan tư vấn cho Giáo hoàng, soạn thảo các thánh luật và văn bản khác để Giáo hoàng công bố Ả-rập Xê-út không có cơ quan lập pháp, chỉ có Hội đồng tư vấn được thành lập từ tháng 12-1993 Các thành viên Hội đồng này do Quốc vương bổ nhiệm, có quyền đề xuất lập pháp, tranh luận các chính sách của chính phủ, nhưng không có quyền lập pháp, không có quyền thành lập hay bãi miễn chính phủ Tại Bru-nây, phải đến tháng 9 - 2004, Hội đồng lập pháp mới được thành lập lại sau 20 năm không tồn tại Các thành viên Hội đồng do Quốc vương bổ nhiệm, sau đó sẽ được thay thế bằng một Hội đồng mới với một số nghị
sỹ được bầu trực tiếp Chủ trì công việc của Hội đồng là Quốc vương Ô-man cũng
có một cơ quan lập pháp hai viện, nhưng trên thực tế chỉ đóng vai trò tư vấn Trừ Va-ti-căng là trung tâm Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã, ba nước quân chủ chuyên chế còn lại đều là các nước quân chủ Hồi giáo, tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Hồi, những tàn tích phong kiến còn lưu lại đậm nét trong đời sống xã hội Gần đây, mặc dù có một số cải cách dân chủ được thực hiện, nhưng sự phát triển toàn diện của đất nước vẫn phụ thuộc vào
“đấng minh quân”, người nắm giữ quyền lực tối cao trong bộ máy nhà nước Cơ quan lập pháp nếu có cũng chỉ là cơ quan tư vấn chứ không phải là một nhánh quyền lực đối trọng với Nhà vua
Quân chủ lập hiến là một hình thức tổ chức nhà nước mà trong đó tồn tại vua nhưng đa phần không nắm thực quyền, quyền lực thường nằm trong tay quốc hội do thủ tướng của đảng chiếm đa số ghế đứng đầu Trong các nhà nước theo chính thể quân chủ hạn chế thì quyền lực tối cao của nhà nước được trao một phần cho người đứng đầu nhà nước, còn một phần được trao cho một cơ quan cao cấp khác (như nghị viện trong nhà nước tư sản hoặc hội nghị đại diện đẳng cấp trong nhà nước phong kiến) Chính thể quân chủ hạn chế trong các nhà nước tư sản gọi là quân chủ lập hiến Trong các nhà nước tư sản theo chính thể quân chủ lập hiến, quyền lực của nguyên thủ quốc gia (vua, nữ hoàng) bị hạn chế rất nhiều Với tư cách nguyên thủ quốc gia, nhà vua chỉ mang tính chất tượng trưng, đại diện cho truyền thống, cho sự thống nhất của quốc gia, không có nhiều quyền hành trong thực tế, "nhà vua trị vị nhưng không cai trị" Chính thể quân chủ lập hiến theo quy mô hình đại nghị đang tồn tại ở nhiều nước phát triển như Nhật Bản, Vương quốc Anh, Thụy Điển, Đan Mạch, v.v do những nguyên nhân lịch sử nhất định
Là hình thức chính thể phổ biến hiện nay Việc tổ chức quyền lực nhà nước vừa có vua vừa có hiến pháp Nhà vua chỉ có quyền lực thật sự khi không có hiến pháp Một khi đã có hiến pháp thì nhà vua không có quyền lưc tuyệt đối, như trong chế độ phong kiến nữa lúc ban đầu những nguyên tắc cơ bản của quân chủ lập hiến
là dựa trên cơ sở của hoc thuyết phân quyền của Montesquieu: Lập pháp do nghị viện có cơ cấu hai viện, một viện thứ dân và một viện quý tộc; nắm hành pháp là hoạt động chỉ huy thực hiện bao giờ cũng phải nhanh nhạy nên do một ông vua tốt
Trang 8hơn là nhiều người đảm nhiệm Ngày nay khi nói đến những nhà nước vừa có vua vừa có hiến pháp, người ta gọi những “ông vua lập hiến”, tức là có hàm ý chỉ những ông vua hình thức, không có thực quyền theo công thức “ Nhà Vua trị vì nhưng không cai trị” Quyền lực nhà nước chủ yếu nằm trong tay bộ máy hành pháp và người đứng đầu hành pháp
Cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của chính thể quan chủ lập hiến không phải ở chổ có chế độ trách nhiệm hình sự của từng vị bộ trưởng trước nghị viện mà
là chế độ chịu trách nhiệm chính trị của toàn bộ chính phủ trước nghị viện Theo thông lệ, chính phủ ở các nước theo chính thể này chỉ chịu trách nhiệm trước Hạ nghị viện và được thành lập từ cơ sở của thành phần Hạ nghị viện
Quân chủ lập hiến có hai loại: Thứ nhất quân chủ nhị nguyên và loại thứ hai
là quân chủ đại nghị
Quân chủ nhị nguyên
Là loại hình tổ chức nhà nước, trong đó quyền lực nhà nước được chia đều cho hai cơ quan cơ bản của cấu trúc nhà nước - quyền lực nhà vua và quyền lực của nghị viện Đây là loại hình tồn tại không lâu ở thời đầu của cách mạng tư sản Thời
kì quá độ chuyển chính quyền từ giai cấp phong kiến sang giai cấp tư sản Các bộ trưởng do nhà vua bổ nhiệm, vừa chịu trách nhiệm trước nhà vua, vừa chịu trách nhiệm trước nghị viện
Hiện nay, còn mười nước có hình thức chính thể quân chủ nhị nguyên: Mô-na-cô, Ma- rốc, Xoa-di-len, Nê-pan, Bu-tan, Cô-oét, Ba-ranh, Qua-ta, Gioóc-đa-ni
và Tông-ga Tại các nước này, mặc dù vị trí của Quốc vương vẫn là tối cao nhưng quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp phải chia sẻ cho các cơ quan khác Cơ quan lập pháp các nước này có quyền lực nhiều hơn so với cơ quan lập pháp các nước quân chủ chuyên chế cả trong lĩnh vực lập pháp cũng như kiềm chế quyền hành pháp Tuy nhiên, vai trò của cơ quan lập pháp tại các nước quân chủ nhị nguyên cũng không giống nhau.Tại Gioóc-đa- ni, Ma-rốc, Nghị viện có quyền lực đáng kể nhưng tại Ba-ranh, Qua-ta là những nước mới thành lập Nghị viện dân cử trong thời gian gần đây, cơ quan lập pháp trên thực tế vẫn chỉ đóng vai trò cơ quan tư vấn
Quân chủ đại nghị
Là loại quân chủ phổ biến hiện nay ở các nước tư bản kể cả các nước tư bản phát triển (Anh, Nhật, Tây ban nha,…) Ở chính thể này nguyên thủ quốc gia là các
vị hoàng đế được truyền ngôi cho con và chính phủ, bộ máy hành pháp được thành lập và được hoạt động khi nào vẫn còn sự tín nhiệm của Hạ nghị viện Các bộ trưởng và người đứng đầu hành pháp phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện (Hạ viện) Trên thực tế việc thành lập và hoạt động của chính phủ đều nằm trong tay đảng chiếm đa số ghế trong Hạ viện Nhà Vua hầu như không tham gia vào giải quyết các công việc của nhà nướctheo một loạt những nguyên tắc, mà sau này đã trở thành những thành ngữ dân gian:
"Nhà vua trị vì nhưng không cai trị"
"Nhà vua không bao giờ làm sai"
Trang 9"Nhà vua không hại ai cả"
"Nhà vua không chịu trách nhiệm gì"
"Nhà vua không có quyền nên không gánh vác trách nhiệm"
Nhà vua được tuyệt đối hoá trở thành một nhân vật siêu phàm, tượng trưng cho sự độc lập vĩnh hằng của dân tộc
Mô hình quân chủ Anh quốc được coi là xuất phát điểm của mọi mô hình tổ chức nhà nước hiện nay Có thể nói rằng, mọi thể chế dân chủ đương đại đều có gốc tích từ Anh quốc Và Anh quốc có thể được xem như là quê hương của các thiết chế dân chủ cổ điển Nhà nước Mỹ quốc hiện nay là điển hình của các nhà nước được tổ chức theo hình thức chính thể tổng thống cộng hoà, nhưng lại có sự rút kinh nghiệm
từ chính nhà nước Anh quốc
Điều kỳ lạ là ở chỗ, các thiết chế của nhà nước Anh quốc được hình thành và tồn tại cho mãi đến hiện nay, là kết quả của một sự vận động dần dần từng bước một của lịch sử thực tế, như “một bức tường gạch được xây nên, theo một nguyên tắc hết viên gạch thứ nhất, rồi mới được viên gạch thứ hai, không có điều ngược lại”, không theo một lý thuyết nào cho trước Chính Montesquieu, một trong những người sáng lập học thuyết phân quyền, đã quan sát thực tế việc tổ chức nhà nước Anh, chứ không phải của nước Pháp (quê hương ông) để phân tích sự phân chia quyền lực nhà nước Vì vậy, đặc điểm của loại hình quân chủ đại nghị cũng là đặc điểm của nhà nước Anh quốc
Nhà vua hay nữ hoàng bị tước bỏ dần dần mọi quyền năng Lúc đầu thì phải nhường quyền năng lập pháp cho Quốc hội, sau đó dần dần lại phải nhường tiếp quyền điều hành đất nước cho hành pháp (Chính phủ), mà đứng đầu là Thủ tướng Nhà vua hay nữ hoàng chỉ còn lại một phần của quyền hành pháp Đó là hành pháp tượng trưng Sự nhường quyền dần dần này của nhà vua hay nữ hoàng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thắng lợi của Cách mạng Tư sản
Khi còn ở thời kỳ đầu của cách mạng, giai cấp tư sản không đủ sức đánh đổ hoàn toàn giai cấp phong kiến nên buộc phải chia sẻ quyền lực nhà nước cho người đại diện giai cấp này là nhà vua Sau này, theo tiến trình lịch sử, cùng với sự khẳng định chỗ đứng của giai cấp tư sản và sự suy tàn của giai cấp phong kiến, đã dẫn đến vai trò ngày càng hình thức của nhà vua
Sự hình thức này có một ví dụ điển hình là: Nữ hoàng Elizabeth II không những là nguyên thủ quốc gia của nước Anh, mà còn là nguyên thủ quốc gia của Canada và Australia Mặc dù là một quốc gia độc lập, Australia cũng như Canada vẫn duy trì mối quan hệ chặt chẽ với nước Anh và trung thành với nữ hoàng Anh -người về mặt danh nghĩa chính thức cũng là nữ hoàng của Australia và của Canada Giúp việc cho nữ hoàng ở các nước trên có chức danh Toàn quyền của nữ hoàng
Tính hình thức của nữ hoàng Anh quốc đã dẫn đến một sự kiện: Cách đây không lâu, khoảng năm cuối thế kỷ XX, một nghị sĩ thuộc Công đảng, ông W.Benn trình lên Nghị viện bản dự luật đề nghị xoá bỏ chế độ quân chủ khỏi đời sống chính trị - xã hội của nước Anh Nhưng xét thấy nữ hoàng vẫn còn có những vai trò quyết
Trang 10định trong xã hội, Nghị viện Anh đã gạt bỏ dự luật này Với đầu óc “hoài cổ thực dụng”, dân chúng Anh vẫn mến mộ nữ hoàng và hoàng gia Đây là biểu tượng của nước Anh thống nhất Trong lúc nội các tượng trưng cho uy quyền, thì nữ hoàng tượng trưng cho sự chính đáng
Với chức năng là biểu tượng cho sự bền vững của dân tộc, nguyên thủ quốc gia của các chính thể quân chủ có một vị trí rất quan trọng trong những thời điểm
mà nền an ninh, chủ quyền độc lập của các quốc gia bị xâm phạm Khi nền an ninh của các quốc gia bị vi phạm, với tư cách là người đứng đầu, biểu tượng cho sự bền vững của dân tộc, nhà vua phải đứng ra kêu gọi tinh thần yêu nước, sự hy sinh của thần dân bảo vệ đất nước
Đây cũng là một lý do quan trọng cho việc tồn tại của chế định nguyên thủ quốc gia trong chế độ quân chủ đại nghị Nguyên thủ quốc gia của các nhà nước này được nhiều nhà khoa học phân tích là hành pháp tượng trưng - một phần của hành pháp Trong khi đó, Thủ tướng là người đứng đầu hành pháp, có quyền điều hành thực sự - gọi là hành pháp thực quyền
Trong chính thể quân chủ đại nghị, nghị viện là cơ quan có vai trò tối cao Chính vì sự tối cao này mà mô hình tổ chức của nhà nước được gọi là chính thể đại nghị Nghị viện có quyền giải quyết mọi vấn đề của nhà nước, hay chí ít thì những vấn đề của nhà nước phải được giải quyết dựa trên cơ sở của nghị viện
Từ đặc điểm này mà một đặc điểm quan trọng của chính thể quân chủ đại nghị đã được hình thành: chính phủ phải được Nghị viện thành lập từ thành phần Hạ nghị viện Từ đó hình thành nên một đặc điểm quan trọng nhất của loại hình tổ chức nhà nước này: Chính phủ chỉ được hoạt động khi vẫn còn sự tín nhiệm của Nghị viện Trong trường hợp không còn sự tín nhiệm của Nghị viện, thì Chính phủ phải
từ chức, Nghị viện thành lập ra Chính phủ mới Trong trường hợp không thành lập được Chính phủ mới thì Nghị viện bị giải tán Mặc dù Nghị viện là cơ quan lập pháp, nhưng có một nhiệm vụ quan trọng trên hết và phải thực hiện trước khi lập pháp là phải thành lập ra Chính phủ, (trong trường hợp không thành lập được Chính phủ, Nghị viện có thể phải giải tán)
Khác căn bản với chế độ tổng thống, ngoài việc phải thực hiện chức năng cơ bản của mình là lập pháp, Nghị viện còn phải thành lập chính phủ và phải giám sát chính phủ Ở đây, chính phủ có thể bị lật đổ theo quyết định của Nghị viện, hoặc có thể tự rút lui theo quyết định của người đứng đầu chính phủ
Giải thích hiện tượng này, nhiều học giả viện lý do nguồn gốc của nó là xuất phát từ nước Anh Vì rằng, nước Anh không những có chế độ quân chủ lập hiến sớm nhất, mà còn là nơi thử nghiệm đầu tiên chế độ quân chủ nghị viện, một hình thức cao của quân chủ lập hiến, ở đó thực hiện một quyền lực nhà nước đầy đủ của giai cấp tư sản, nhưng vẫn tồn tại một nhà vua làm đại diện cho giai cấp địa chủ, phong kiến đã lỗi thời Trong khi đó, Nghị viện Anh được cơ cấu hai viện, chỉ có
Hạ viện mới được nhân dân trực tiếp bầu ra, thể hiện ý chí của giai cấp tư sản Vì