1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đa dạng sinh học

94 365 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đa Dạng Sinh Học
Trường học Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Chuyên ngành Môi trường và Bảo vệ Môi trường
Thể loại báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 3,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iv 5MHRP Chương trình 5 triệu ha rừng ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á BAP Kế hoạch hành động đa dạng sinh học BirdLife International Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế Bộ GD&ĐT

Trang 1

Bộ Tài nguyên và Môi trường

83 Nguyễn Chí Thanh

Hà Nội, Việt Nam

Trang 3

ii

Bộ Tài nguyờn và Mụi trường, Ngõn hàng Thế giới (WB) và Cơ quan Hợp tỏc Phỏt triển Quốc tế Thụy Điển (Sida) đó phối hợp xõy dựng bỏo cỏo này Đõy là bỏo cỏo thứ tư trong loạt bỏo cỏo diễn biến mụi trường Bỏo cỏo là sản phẩm của một quỏ trỡnh tham gia và tư vấn nhiều bờn liờn quan như cỏc cơ quan chớnh phủ, viện nghiờn cứu, tổ chức xó hội, cỏc nhà tài trợ và

tổ chức phi chớnh phủ Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiờn nhiờn (WWF) Chương trỡnh Việt Nam đó cựng với cỏc đối tỏc và chuyờn gia tư vấn trong nước thu thập cỏc thụng tin, dữ liệu từ nhiều nguồn khỏc nhau và cung cấp toàn bộ ảnh minh họa cho báo cáo Cỏc cuộc họp của nhúm kỹ thuật và cỏc cuộc họp bàn trũn với cỏc chuyờn gia trong nước và quốc tế cũng đó được thực hiện để thu nhận cỏc ý kiến đúng gúp và hướng dẫn trong giai đoạn viết dự thảo của bỏo cỏo Cuối thỏng 6 năm

2005, một cuộc hội thảo tư vấn cấp quốc gia để lấy ý kiến đúng gúp cho bản dự thảo bỏo cỏo đó được tổ chức với sự tham gia của cỏc Bộ, ngành trung ương, cỏc cơ quan nghiờn cứu, tổ chức phi chớnh phủ, vườn quốc gia và cỏc cơ quan tài trợ Cỏc nhận xột gúp ý, qua phỏt biểu và nhận xột bằng văn bản trong và sau hội thảo, từ cỏc Bộ Nụng nghiệp và Phỏt triển Nụng thụn, Thủy sản, Ngoại giao, Tài chớnh, Kế hoạch và Đầu tư, và nhiều nhà nghiờn cứu và quản lý bảo tồn tại Việt Nam đó được thu nhận

Bộ TN&MT, thụng qua Cục Bảo vệ mụi trường, đó tham gia trực tiếp vào quỏ trỡnh xõy dựng bỏo cỏo này, với sự tham gia của cỏc ụng/bà Trần Hồng Hà, Phựng Văn Vui, Dương Thi Tơ, Lờ Thanh Bỡnh, Hoàng Dương Tựng, Tụ Kim Oanh, Lờ Hoàng Anh Bộ Tài nguyờn và Mụi trường đó thành lập Hội đồng thẩm định chuyờn mụn để gúp ý cho bản dự thảo cuối cựng của bỏo cỏo Hội đồng thẩm định gồm cú cỏc ụng Nguyễn Ngọc Sinh, Vừ Quý, Đặng Huy Huỳnh, Đường Hồng Dật, Nguyễn Bỏ Thụ, Nguyễn Xuõn Lý, Trần Hồng Hà, Hoàng Văn Thắng, Đỗ Quang Tựng

Đúng gúp của Sida thụng qua cỏc ụng/bà Rolf Samuelsson và Đỗ Thị Huyền (Đại sứ quỏn Thụy Điển tại Hà Nội) và Maria Berlekom (cụng ty SwedBio)

Nhúm chuyờn trỏch xõy dựng bỏo cỏo của WB gồm cú cỏc ụng/bà Trần Thị Thanh Phương (trưởng nhúm), Phillip Brylski, Tony Whitten, John Morton, Lars Lund, Dan Biller, Ron Zweig và Bryony Morgan Bỏo cỏo được nhận xột chuyờn mụn bởi cỏc bà Kathy Mackinnon và Susan Shen Cụ Lờ Thanh Hương Giang đó đúng gúp cỏc hỗ trợ hậu cần Cỏc ụng Bruno Bonansea và Jeffrey Lecksell chịu trỏch nhiệm thiết kế cỏc bản đồ.Cỏc ý kiến đúng gúp và cố vấn được nhận từ cỏc ụng /bà Magda Lovei, Rob Swinkels, Nina Bhatt, và Keiko Sato của Ngõn hàng Thế giới

Nhúm xõy dựng bỏo cỏo của WWF cú cỏc ụng/bà Richard McNally, Phạm Hồng Nguyờn, Barney Long, Trần Minh Hiền, Keith Symington, Đỗ Thị Thanh Huyền, Chris Dickinson, Mai Kỳ Vinh, Fergus Mac Donald, Trần Chớnh Khuụng, Roland Eve, Christian Anderson, Lờ Cụng Uẩn, Ashleigh Lezard

Cỏc chuyờn gia tư vấn quốc gia gồm cỏc ụng/bà Vũ Văn Dũng, Nguyễn Văn Sản, Nguyễn Hữu Dũng, Vũ Thu Hạnh, Vũ Xuõn Nguyệt Hồng, Nguyễn Thế Chinh, Vũ Trung Tạng, Nguyễn Tất Cảnh, Phạm Bỡnh Quyền, Vũ Hữu Tuynh, Trần Thị Hũa, Lờ Minh Tuệ

Cỏc ụng/bà Jeremy Carew-Reid của ICEM, Andrew ‘Jack’ Tordoff và Jonathan Eames của BirdLife International, Mark Infield của Fauna and Flora International, Bernard O'Callagan của IUCN, và Julie Thomson của TRAFFIC đó cú những đúng gúp quan trọng cho bỏo cỏo này

Chỳng tụi đỏnh giỏ cao và cảm ơn sự ủng hộ và khích lệ của ụng Mai Ái Trực, Bộ trưởng và ụng Phạm Khụi Nguyờn, Thứ trưởng của Bộ Tài nguyờn và Mụi trường, ụng Klaus Rohland, Giỏm đốc quốc gia của Ngõn hàng Thế giới tại Việt Nam, bà Teresa Serra, Giỏm đốc Ban Phỏt triển Mụi trường và Xó hội, Khu vực Đụng Á và Thỏi Bỡnh Dương của Ngõn hàng Thế giới, bà Anna Lindsedt, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền của Thụy Điển tại Việt Nam

Cỏc quan điểm được thể hiện trong Bỏo cỏo Diễn biến Mụi trường Việt Nam hoàn toàn là những quan điểm của cỏc tỏc giả và khụng được trớch dẫn nếu không xin phép trước Cỏc quan điểm này khụng nhất thiết phản ánh các quan điểm của Ngõn hàng Thế giới, các Giỏm đốc điều hành của Ngõn hàng Thế giới hoặc của nước mà họ đại diện Thông tin trong bỏo cỏo được thu thập từ nhiều nguồn đỏng tin cậy, tuy vậy vẫn ch−a hẳn là đầy đủ và có thể còn ch−a chắc chắn

Trang 4

Việt Nam là một trong cỏc quốc gia cú tớnh đa dạng sinh học cao nhất trờn thế giới Đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các ngành kinh tế của Việt Nam nh− lâm nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, y tế, công nghiệp và du lịch Nú tạo ra sự ổn định và khả năng chống chịu cho nền kinh tế và cũng tạo ra cỏc cơ hội

để nõng cao sản lượng, phỏt triển ngành nghề và tạo thu nhập Đa dạng sinh học cũn là nền tảng cho cuộc sống của một số người nghốo nhất, cho cỏc cộng đồng ở những vựng xa xụi cỏch trở nhất và dễ bị tổn thương nhất của đất nước Tớnh đa dạng sinh học đó được thấm nhuần trong cỏc truyền thống văn húa và tinh thần của đất nước, là giỏ trị mà Việt Nam cần phải bảo tồn, nhằm gỡn giữ được cỏc khớa cạnh xó hội đặc biệt và độc đỏo của đất nước

Sự tăng trưởng kinh tế rất nhanh của Việt Nam đó giỳp giảm nghốo đỏng kể và cải thiện điều kiện sống cho hầu hết mọi người dõn Cựng với đà phỏt triển này là sự mở rộng cỏc vựng đụ thị, thay đổi nhanh chúng mục đớch sử dụng đất và tăng khai thỏc cỏc nguồn tài nguyờn thiờn nhiờn, do đú tạo một sức ộp lớn lờn mụi trường Đất nước đang thay đổi rất nhanh và sõu rộng Nếu khụng được quản lý chặt chẽ, thỡ cú thể sự mất mỏt về đa dạng sinh học sẽ cản trở sự phỏt triển trong tương lai của quốc gia và gõy thiệt hại cho cỏc di sản thiờn nhiờn và văn húa của đất nước

Chớnh phủ Việt Nam, cỏc nhà tài trợ quốc tế và cỏc tổ chức bảo tồn đó thấy rừ tầm quan trọng của việc bảo tồn

đa dạng sinh học Sự hợp tỏc giữa cỏc bờn đó được tiến hành trờn phạm vi toàn quốc để thực hiện cỏc chớnh sỏch

và chương trỡnh nhằm hỗ trợ chớnh quyền địa phương, cỏc cộng đồng và tổ chức tư nhõn bảo vệ cỏc hệ sinh thỏi

tự nhiờn mà cuộc sống của mọi người đều phụ thuộc vào đú Mặc dự đó đạt được nhiều tiến bộ, Việt Nam cũn rất nhiều cụng việc phải làm để lụi cuốn được nhiều người hưởng lợi từ việc quản lý tốt cỏc giỏ trị đa dạng sinh học

Bỏo cỏo Diến biến Mụi trường Việt Nam (VEM) là loạt bỏo cỏo hàng năm về cỏc xu hướng biến đổi, thỏch thức

và mục tiờu ưu tiờn mà Việt Nam đang đối mặt trong lĩnh vực quản lý mụi trường Là bỏo cỏo thứ tư trong loạt VEM, bỏo cỏo diễn biến mụi trường năm nay xem xột kỹ hơn cụng tỏc bảo tồn đa dạng sinh học, là nguồn tài nguyờn mụi trường nhạy cảm và độc đỏo nhất của đất nước Cỏc bỏo cỏo trước tập trung phõn tớch cỏc điều kiện mụi trường núi chung (năm 2002), tài nguyờn nước (năm 2003) và chất thải rắn (năm 2004), cũn bỏo cỏo năm nay đỏnh giỏ trung thực hiện trạng và xu hướng của đa dạng sinh học, làm nổi bật những vẫn đề quan trọng, xỏc định những kinh nghiệm và bài học quý giỏ, để từ đú giỳp cỏc nhà hoạch định chớnh sỏch đưa ra cỏc hành động

ưu tiờn trong thời gian tới nhằm cải thiện cụng tỏc quản lý cỏc hệ sinh thỏi, cỏc loài và cỏc nguồn gien của Việt Nam

Bỏo cỏo này nhằm khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là một khớa cạnh quan trọng trong tiến trỡnh phỏt triển bền vững của Việt Nam Trong khi bỏo cỏo này mong muốn đưa ra thụng điệp rằng tớnh đa dạng sinh học cú thể được thấy và cần được bảo tồn trong tất cả cỏc hệ sinh thỏi, kể cả những hệ sinh thỏi đó bị tỏc động mạnh của con người như cỏc hệ sinh thỏi nụng nghiệp, trọng tõm của bỏo cỏo vẫn là tớnh đa dạng sinh học của cỏc hệ sinh thỏi tự nhiờn Đồng thời, việc đề cập tới cỏc nhúm loài như bũ sỏt, lưỡng cư, vi sinh vật và đa dạng về di truyền cũng chưa được đầy đủ trong bỏo cỏo này, do cỏc nghiờn cứu và dữ liệu thu được cũn hạn chế

Bỏo cỏo này là nỗ lực chung của Bộ Tài nguyờn và Mụi trường, Ngõn hàng Thế giới và Cơ quan Hợp tỏc Phỏt triển Quốc tế Thụy Điển, nhằm hướng tới đụng đảo độc giả, để cung cấp thụng tin cho cỏc nhà hoạch định chớnh sỏch và cỏc nhà quản lý, nghiờn cứu, và mọi người dõn Việt Nam, cũng như cỏc nhà tài trợ, đầu tư và cỏc nhà nghiờn cứu quốc tế Hy vọng rằng, tài liệu này sẽ được sử dụng như một cụng cụ quản lý cho cỏc cấp ra quyết định và để nõng cao nhận thức chung của xó hội, đúng gúp vào việc thực hiện Chiến lược 10 năm về phỏt triển kinh tế - xó hội 2001-2010 của quốc gia và giải quyết được một số vấn đề mụi trường núng bỏng của đất nước

Anna Lindstedt

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Thụy Điển tại Việt Nam

Trang 5

iv

5MHRP Chương trình 5 triệu ha rừng

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BAP Kế hoạch hành động đa dạng sinh học

BirdLife

International

Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế

Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ KH&ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn

Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ VH&TT Bộ Văn hóa và Thông tin

CITES Công ước về buôn bán quốc tế các loài

động thực vật hoang dã nguy cấp

CPRGS Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và

xóa đói giảm nghèo

CRES Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi

Danida Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch

ECO ECO Viện Kinh tế sinh thái

FFI Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế

GSPC Chiến lược toàn cầu về bảo tồn thực

vật

ICEM Trung tâm quốc tế về quản lý môi trường

ICDP Dự án Bảo tồn kết hợp Phát triển

INGO Tổ chức phi chính phủ quốc tế

IUCN Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới

KBT Khu bảo tồn

LTQD Lâm trường quốc doanh

MAB Chương trình Con người và Sinh

quyển

NGO Tổ chức phi chính phủ

NTFPs Lâm sản ngoài gỗ

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức

PES Chi trả cho các dịch vụ của hệ sinh thái

Ramsar Công ước Ramsar

SEA Đánh giá Môi trường Chiến lược

Sida Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế

Thụy Điển

SNV Tổ chức Phát triển Hà Lan

Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn

Sở TN&MT Sở Tài nguyên và Môi trường

SPAM Tăng cường quản lý các khu bảo tồn ở

Việt Nam

UBND Ủy ban Nhân dân

UNCCD Công ước chống sa mạc hóa của Liên Hợp

Viện ĐTQHR Viện Điều tra và Quy hoạch rừng

Viện KT&QHTS Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản

Viện ST&TNSV Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

VIỆT NAM AT Tổng cục Du lịch Việt Nam

WWF Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên

Trang 6

Lời nói đầu iii

Các cụm từ viết tắt iv

Phiếu đánh giá quản lý đa dạng sinh học viii

Tóm tắt ix

CHƯƠNG 1: ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 1.1 Đa dạng sinh học của Việt Nam là gì? 2

1.2 Đa dạng của các hệ sinh thái 3

Các hệ sinh thái trên cạn Các hệ sinh thái đất ngập nước Các hệ sinh thái biển 1.3 Đa dạng loài và đa dạng di truyền 10

1.4 Các giá trị kinh tế và xã hội của đa dạng sinh học 13

Nông nghiệp Ngư nghiệp Lâm nghiệp Các giá trị văn hóa 1.5 Đa dạng sinh học và giảm nghèo 18

CHƯƠNG 2: CÁC XU HƯỚNG VÀ CÁC MỐI ĐE DỌA ĐỐI VỚI ĐA DẠNG SINH HỌC 2.1 Các xu hướng của hệ sinh thái 22

Các hệ sinh thái rừng Các hệ sinh thái biển và ven biển Các vùng đất ngập nước nội địa 2.2 Các xu hướng của đa dạng loài và đa dạng di truyền 26

2.3 Các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học 28

Buôn bán động, thực vật hoang dã Các hoạt động đánh bắt thủy sản mang tính hủy diệt Khai thác gỗ trái phép Phát triển cơ sở hạ tầng Sự khai phá của đất nông nghiệp Các loài sinh vật ngoại lai xâm hại Cháy rừng CHƯƠNG 3: CÁC ĐÁP ỨNG VỀ CHÍNH SÁCH, TỔ CHỨC, THỂ CHẾ VÀ QUẢN LÝ 3.1 Khung chính sách và thể chế quốc gia cho bảo tồn đa dạng sinh học 34

Các kế hoạch hành động đa dạng sinh học Các công ước môi trường đa phương (MEA) Khung tổ chức và thể chế Quá trình phân quyền Các tổ chức nghiên cứu và phi chính phủ 3.2 Hệ thống các khu bảo tồn quốc gia 37

Mở rộng hệ thống các khu bảo tồn quốc gia Nhân sự trong các khu bảo tồn

Trang 7

vi

Các cộng đồng dân cư sống trong các khu bảo tồn

3.3 Bảo tồn bên ngoài các khu bảo tồn 43

Các vùng đệm Lập kế hoạch và quản lý ở cấp độ cảnh quan Đưa vấn đề đa dạng sinh học vào các ngành kinh tế 3.4 Cung cấp tài chính cho bảo tồn đa dạng sinh học 50

Cung cấp tài chính từ Chính phủ và các nhà tài trợ Cung cấp tài chính từ khu vực tư nhân Chi trả cho các dịch vụ của hệ sinh thái (PES) 3.5 Cộng đồng tham gia công tác bảo tồn đa dạng sinh học 55

Cộng đồng là những người quản lý tài nguyên thiên nhiên Cộng đồng tham gia vào du lịch sinh thái CHƯƠNG 4: CÁC THÁCH THỨC VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỂ ĐỔI MỚI 4.1 Cải thiện hệ thống khu bảo tồn và hiệu quả quản lý của hệ thống này 58

4.2 Tăng cường quyền và năng lực của cộng đồng để quản lý tài nguyên thiên nhiên 59

4.3 Cải thiện việc lồng ghép các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học vào phát triển kinh tế 59

4.4 Kiểm soát buôn bán động, thực vật hoang dã 60

4.5 Tăng cường, đa dạng hóa, và quản lý có hiệu quả việc cung cấp tài chính cho bảo tồn 61

Các phụ lục I Các chỉ số phù hợp với Mục tiêu chiến lược của công ước ĐDSH đến năm 2010 63

II Mô tả các vùng đa dạng sinh học củaViệt Nam 66

III Mô tả các hệ sinh thái trên cạn củaViệt Nam 67

IV Các công ước môi trường đa phương chính mà Việt Nam là thành viên 70

V Các cơ quan cấp tỉnh và trung ương chịu trách nhiệm về bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH 71

VI Các dự án lớn về bảo tồn đa dạng sinh học đang thực hiện và trong kế hoạch ở Việt Nam 72

VII Việt Nam - Thông tin chung 77

Các hình 1.1 Diện tích các kiểu rừng ở Việt Nam 4

2.1 Thay đổi trong thành phần rừng tự nhiên: 1990-2004 .22

2.2 Thay đổi diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam trong giai đoạn 1943 – 1999 24

2.3 Các xu hướng sản xuất chung (đánh bắt tự nhiên và nuôi trồng thủy sản) và lượng đánh bắt

thuỷ sản mỗi mẻ ở Việt Nam 26

2.4 Số đếm tối đa của loài cò mỏ thìa trú đông tại khu Ramsar Xuân Thủy 26

2.5 Áp lực tích lũy lên các khu bảo tồn trong Vùng sinh thái dãy Trường Sơn 28

3.1 Các cơ quan trung ương và cấp tỉnh có trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học 36

3.2 Sự tăng số lượng các khu rừng đặc dụng: 1962-2004 37

3.3 Nhân sự của 7 khu bảo tồn của Việt Nam 40

3.4 Các xu hướng đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học: 1996-2004 50 3.5 Cung cấp tài chính của chính phủ cho các khu bảo tồn ở các nước phát triển và đang phát triển.53

Trang 8

Các bản đồ

1.1 Các vùng đa dạng sinh học ở khu vực nghiên cứu Việt Nam 5

1.2 Các vùng sinh thái trên cạn của Việt Nam và các nước láng giềng 6

1.3 Mật độ các loài thú và lưỡng cư ở Việt Nam, Lào và Cam Pu Chia 7

1.4 Các vùng có tính đa dạng sinh học cao nhất trên đất liền ở Việt Nam 8

1.5 Lợi ích kinh tế của các khu bảo tồn ở tỉnh Thừa Thiên – Huế 14

1.6 Nghèo đói và các khu bảo tồn ở đất liền của Việt Nam 20

2.1 Thay đổi độ che phủ rừng Việt Nam giai đoạn 1983-2004 23

3.1 Hệ thống các khu bảo tồn ở khu vực nghiên cứu Việt Nam 38

3.2 Cảnh quan bảo tồn Trung Trường Sơn 46

Các hộp 1.1 Sự phát hiện các loài thú mới trong thời gian gần đây 11

1.2 Các loài lan hài của Việt Nam .12

1.3 Các loài tre nứa của Việt Nam 16

1.4 Cảnh quan núi đá vôi – di sản văn hóa và tự nhiên của Việt Nam 17

1.5 Các rừng thiêng và bảo tồn đa dạng sinh học 18

1.6 Nâng cao trọng tâm giảm nghèo trong chiến lược ngành lâm nghiệp Việt Nam 19

2.1 Các xu hướng của ngành thủy sản nước ngọt 25

2.2 Các loài bị tác động bởi nạn buôn bán động, thực vật hoang dã 29

2.3 Sáng kiến liên biên giới cấp tỉnh nhằm ngăn chặn buôn bán động, thực vật hoang dã 31

2.4 Các tác động của loài cây xâm hại Mai dương (Mimosa pigra) ở Vườn Quốc gia Tràm Chim.31 3.1 Quỹ bảo tồn Việt Nam (VCF) 39

3.2 Dự án bảo tồn thực vật Việt Nam 41

3.3 Trung tâm đào tạo da dạng sinh học Cúc Phương 41

3.4 Bảo tồn bên ngoài các khu bảo tồn: kinh nghiệm từ các vùng chim quan trọng 43

3.5 Các yếu tố đảm bảo thành công cho các dự án bảo tồn kết hợp phát triển (ICDP) ở Việt Nam.44 3.6 Một tiếp cận ở cấp độ cảnh quan trong lập kế hoạch bảo tồn 45

3.7 Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (Chương trình 661) 48

3.8 Dự án phát triển ngành lâm nghiệp 49

3.9 Liên minh SUCCESS Việt Nam: Đa dạng hóa và đa dạng sinh học trong hệ thống trồng dừa.49 3.10 Sự đầu tư của khu vực tư nhân vào quản lý khu bảo tồn biển 52

3.11 Các bài học về bảo tồn dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam 55

3.12 Sản xuất hoa phong lan cộng đồng ở Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng .56

3.13 Du lịch sinh thái ở cảnh quan núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương 56

Các bảng 1.1 Sự giàu có về các loài sinh vật đã biết ở Việt Nam trong một số nhóm phân loại 10

1.2 Nguồn lợi và dịch vụ từ những khu bảo tồn ở tỉnh Thừa Thiên Huế 13

2.1 Độ che phủ rừng ở Việt Nam 1995-2004 22

2.2 Số lượng các loài bị đe dọa ở cấp quốc gia và cấp toàn cầu ở Việt Nam 26

2.3 Ước lượng quần thể của một số loài bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu ở Việt Nam, minh họa cho tính chất đặc biệt hiếm của một số loài 27

2.4 Sự suy giảm diện tích và mất các giống cây trồng bản địa từ năm 1970 tới 1998 27

2.5 Tầm quan trọng tương đối của các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học 28

2.6 Các tác động tiềm tàng của xây dựng đường và đập đối với đa dạng sinh học 30

3.1 Các rừng đặc dụng đã được công bố và đề xuất 37

3.2 Tỷ lệ quần thể một số loài động vật bị đe dọa trong các rừng đặc dụng 37

3.3 Nguồn thu bình quân đối với 66 rừng đặc dụng do tỉnh quản lý (2000-2002) 51

Trang 9

viii

Phiếu đánh giá đơn giản này nhằm tóm tắt về tiến bộ của Việt Nam trong việc đáp ứng các chỉ số củ37a mục tiêu 7 phát triển thiên niên kỷ về đa dạng sinh học Một số các chỉ số cụ thể cho thấy bức tranh về các khu bảo tồn, nhằm đáp ứng một phần nhu cầu giám sát bảo tồn ở Việt Nam Năm 2002, Các nước thành viên Công ước Đa dạng Sinh học (CBD) và Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền

vững đã thoả thuận tới năm 2010 sẽ giảm đáng kể tỉ lệ mất đa dạng sinh học ở cấp toàn cầu, khu vực

và quốc gia, điều được coi như một sự đóng góp vào việc đạt các mục tiêu giảm nghèo và vì lợi ích cho toàn bộ sự sống trên trái đất 1 Các nước thành viên cũng thông qua bảy “vùng trọng điểm” nhằm

hỗ trợ đánh giá tiến trình hướng tới mục tiêu năm 2010 và thoả thuận rằng mỗi nước cần xây dựng một bộ chỉ số riêng để phục vụ mục tiêu này Như phần phân tích các xu hướng trong Chương 2 của báo cáo này đưa ra, Việt Nam đã sử dụng một loạt các biện pháp giám sát đa dạng sinh học Cần phải quan tâm nhiều hơn tới việc xây dựng một khung giám sát hoàn chỉnh, theo các trọng tâm của công ước ĐDSH2 Phụ lục 1 tóm tắt về một tài liệu hướng dẫn của ban thư ký Công ước ĐDSH có tiêu đề:

Đề xuất các chỉ số đa dạng sinh học phù hợp cho mục tiêu năm 2010, như là bước đầu tiên để Việt

Nam thực hiện được một khung giám sát riêng, làm thành một phần của báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia hàng năm, đồng thời thực hiện được các trách nhiệm quốc tế trong công ước

Mục tiêu 7 phát triển thiên niên kỷ

phát 2005 Xu hướng

Độ che phủ rừng (% tổng diện tích đất) 28,3 (1995) 37,3 Ï tăng 32%

Độ che phủ của các khu bảo tồn (tức là độ che phủ của rừng

đặc dụng (%tổng diện tích đất) 4,1 (1999) 5,5 Ï tăng 34%

Các chỉ số đóng góp liên quan tới các khu bảo tồn

Các công ước quốc tế liên quan Chỉ số Vạch xuất

khu bảo tồn Số khu bảo tồn biển được thành lập 0 (1995) 1 Ï tăng

Công ước Ramsar Số khu Ramsar 1 (1995) 2 Ï tăng 100% Công ước Di sản Thế giới Số khu Di sản thiên nhiên

thế giới 1 (1995) 2 Ï tăng Chương trình Con người và Sinh

quyển

Số Khu bảo tồn con người

và sinh quyển

0 (1995) 4 Ï tăng Tuyên bố về các v−ên di sản

ASEAN Số v−ên di sản ASEAN 0 (1995) 4

Ï tăng

1 Quyết định VI/26 về Kế hoạch Chiến lược thực hiện Công ước Đa dạng Sinh học

2 Thư ký chấp hành Công ước ĐDSH, 2003, Đề xuất các chỉ số đa dạng sinh học phù hợp cho mục tiêu năm 2010, Bản ghi của Thư ký chấp hành, Cơ quan Hỗ

trợ Tư vấn Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ, Hội nghị Montreal lần thứ 9, 10-14/11/2003, Mục 5.3 và 7.2 của chương trình nghị sự trù bị,

UNEP/CBD/SBSTTA/9/NF/2629 Tháng 10 2003

Trang 10

Việt Nam là một trong các quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, được công nhận là một quốc gia ưu tiên cao cho bảo tồn toàn cầu Các hệ sinh thái của Việt Nam giàu có và đa dạng với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô giàu và đẹp, cùng tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú trên toàn cầu Nhiều loài động, thực vật độc đáo của Việt Nam không có ở nơi nào khác trên thế giới, đã khiến cho Việt Nam trở thành nơi tốt nhất – trong một số

trường hợp là nơi duy nhất – để bảo tồn các loài đó

Độ che phủ rừng của Việt Nam, gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng, chiếm hơn 37% tổng diện tích đất đai cả nước Khoảng 18% trong đó là rừng trồng Chỉ có 7% diện tích rừng còn lại là rừng nguyên sinh và gần 70% là rừng thứ sinh nghèo Đất ngập nước của Việt Nam đa dạng, bao gồm sông suối, ao

hồ, đầm lầy, rừng ngập nước và bãi rong tảo Có 39 kiểu đất ngập nước đã được thống kê, bao gồm rừng ngập mặn, các loại rừng giữa vùng triều, các đầm phá nước lợ, thảm cỏ biển, rạn san hô, đều là các hệ sinh thái giàu có về loài và có năng suất cao Môi trường biển có 20 kiểu hệ sinh thái đặc thù - trong đó có nhiều hệ rất độc đáo về các đặc trưng hải dương học Các hệ sinh thái này là môi trường sống của hơn 11.000 loài sinh vật Khoảng 1.100 km2 rạn san hô phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam, với những rạn lớn nhất và có tính đa dạng sinh học cao nhất tại miền Trung và miền Nam Các rạn san

hô của Việt Nam có gần 400 loài san hô tạo rạn, tương đương với những hệ sinh thái đa dạng nhất trên thế giới

Việt Nam là một trong 8 “trung tâm giống gốc” Vavilov của cây trồng gia dụng, và có độ đa dạng cao

về các loại cây trồng, vật nuôi Chẳng hạn, Việt Nam có hàng chục giống của 14 loài gia súc và gia cầm chính Các loài cây trồng gia dụng rất đa dạng, với hơn 700 loài cung cấp lương thực, thuốc men

và vật liệu xây dựng

Trong những thập kỷ gần đây, các nhà khoa học đã giúp mở rộng đáng kể kiến thức về đa dạng sinh học ở Việt Nam, bổ sung vào danh sách thêm nhiều loài mới, bao gồm một số loài mới đối với khoa học, 5 loài thú mới và 3 loài chim mới được mô tả cho vùng lục địa Đông Nam Á trong vòng 30 năm qua Cũng trong thời kỳ này, nhiều loài mới thuộc các lớp bò sát, lưỡng cư, cá và động vật không xương sống cũng đã được mô tả, trong đó có 6 loài cua mới Trong 10 năm tính tới 2002, về thực vật

có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới loài mới đã được mô tả

Đối với Việt Nam, các hệ sinh thái tự nhiên, các loài và nguồn gen di truyền là một phần cấu thành của nền kinh tế và văn hoá của đất nước Đa dạng sinh học có tác dụng đóng góp to lớn đối với nhiều lĩnh vực phát triển như lâm nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản, y tế, công nghiệp và du lịch Sự hấp dẫn về mặt thẩm mỹ và vẻ đẹp của các loài sinh vật hoang dã ngoài thiên nhiên mang lại những lợi ích kinh

tế đáng kể cho đất nước và người dân địa phương thông qua phát triển hinh thức du lịch thiên nhiên Các hệ sinh thái tự nhiên của Việt Nam cung cấp các dịch vụ môi trường quan trọng như bảo vệ đất

và lưu vực sông, làm cho đất đai màu mỡ, hỗ trợ giao thông đường thuỷ, tưới tiêu và thuỷ điện Chúng cũng góp phần điều hoà khí hậu địa phương và toàn cầu Các vùng rừng ven biển và các rạn san hô có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ vùng ven bờ cũng như là nơi cư trú cho nhiều loài có giá trị kinh tế Tóm lại, ViÖt Nam không thể để cho đa dạng sinh học của mình bị suy thoái

Các hệ sinh thái và đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái đó phục vụ nhiều nhu cầu sống cơ bản của những người nghèo, như lương thực, chất đốt, thuốc men và nước sinh hoạt Chúng cũng đảm bảo giúp người nghèo tránh được các thiên tai Khoảng 25 triệu người Việt Nam sống dựa vào các hệ sinh thái rừng và khoảng 8 triệu người có nguồn thu nhập chính của hộ gia đình phụ thuộc vào khai thác thủy, hải sản 12 triệu người khác có một phần thu nhập từ ngư nghiệp Việc thừa nhận và hiểu rõ những giá trị của đa dạng sinh học có thể giúp mang lại các cơ hội kiếm sống, cải thiện điều kiện dinh dưỡng, sức khoẻ và nước sinh hoạt cho người nghèo Hơn 85% các khu bảo tồn ở Việt Nam nằm ở những vùng có tỉ lệ nghèo đói cao Quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh học do vậy có quan hệ chặt chẽ với các công tác giảm nghèo

Trang 11

x

Các xu hướng về đa dạng sinh học và các mối đe doạ

Độ che phủ rừng đang tăng lên, với mục tiêu của Chính phủ là 43% vào năm 2010 Tuy nhiên, rừng tự nhiên đang bị chia cắt và suy thoái về chất lượng Hơn 2/3 diện tích rừng tự nhiên ở Việt Nam được coi là rừng nghèo và tái sinh Mất rừng và suy thoái rừng là những lý do chính gây nên sa mạc hoá và suy kiệt đất, tạo nên hàng loạt các tác động tiêu cực, như lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng ngày càng gia tăng, diện tích đất màu giảm Việc chuyển đất ngập nước vào những mục đích sử dụng khác đang diễn

ra với tốc độ cao Những vùng đất ngập nước còn lại đang bị sử dụng quá mức và chịu sức ép lớn từ các nhu cầu phát triển Độ che phủ của rừng ngập mặn có vẻ được ổn định tại một số vùng, nhưng suy thoái của các rạn san hô vẫn diễn ra trên quy mô rộng

Gần 700 loài bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp quốc gia, trong khi đó trên 300 loài bị đe dọa tuyệt chủng cấp độ toàn cầu Có 49 loài bị đe dọa ở cấp toàn cầu tại Việt Nam thuộc loại “cực kỳ nguy cấp”, nghĩa là chúng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao trong tự nhiên trong một tương lai rất gần Các nguồn lợi thủy sản cũng đang suy giảm, đặc biệt đối với các hệ sinh thái thủy sinh trong đất liền và gần bờ, đe dọa tới sự tồn tại của một số loài Nếu với xu hướng tiếp diễn như hiện nay, thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 có thể sẽ phải chứng kiến một làn sóng tuyệt chủng đối với một số loài động, thực vật hoang dã của Việt Nam ở một mức độ chưa từng thấy trong lịch sử, kèm theo các tác hại tiềm tàng về môi trường và kinh tế

Các xu hướng đó phản ánh các mối đe dọa gia tăng đối với đa dạng sinh học Khi nền kinh tế của đất nước được mở rộng và dân số gia tăng, tình trạng mất sinh cảnh, sinh cảnh bị chia cắt, ô nhiễm và các loài ngoại lai xâm hại cũng gia tăng Các mối đe doạ này càng nghiêm trọng vì thiếu các cơ chế tổ chức rõ ràng để bảo tồn đa dạng sinh học, thiếu năng lực và cam kết thực hiện các chính sách đúng đắn, cũng như thiếu quyền quản lý tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng địa phương

Việc tiêu dùng động vật hoang dã, đặc biệt là thói quen ẩm thực, ở Việt Nam không bền vững Săn bắt

là một trong những mối đe doạ lớn nhất đối với các khu bảo tồn và được coi là mối đe doạ lớn nhất đối với đa dạng sinh học ở Đông Nam Á Năm 2002, buôn bán động thực vật hoang dã nội địa và liên biên giới ở Việt Nam lên tới khoảng 3.050 tấn, trị giá 66 triệu đô la Mỹ Những nguy cơ khác gồm có các phương pháp đánh bắt thủy sản có tính huỷ diệt, như dùng chất nổ, chất độc và sốc điện, gây hại cho hơn 80% rạn san hô ở Việt Nam Nạn khai thác gỗ trái phép diễn ra tại những nơi không được bảo

vệ chặt chẽ Từ 0,5 đến 2 triệu m3 gỗ bị khai thác trái phép hằng năm từ tất cả các loại rừng, gồm cả rừng đặc dụng Tỉ lệ khai thác đã vượt mức bền vững khoảng 70%

Các tác động không chủ ý của việc xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các hệ sinh thái đang dẫn tới mất

đa dạng sinh học và bắt đầu bộc lộ rõ những tác động tiêu cực đối với năng suất của các ngành kinh tế

và nền kinh tế nói chung, nhưng vẫn chưa có những đánh giá đầy đủ Các hệ sinh thái rừng bị mất do

bị xâm lấn để lấy đất canh tác và du canh du cư Các vùng đất ngập nước như các đồng cỏ ngập nước theo mùa, cũng đang bị đe doạ chuyển thành ruộng lúa Sự gia tăng thương mại toàn cầu, du lịch và vận chuyển hàng hoá qua biên giới, cũng như phát triển các cơ sở hạ tầng, như đường giao thông, đã tạo điêu kiện cho sự xâm nhập của các loài ngoại lai xâm hại Mặc dù cho tới nay, các hệ sinh thái trên cạn có vẻ như chưa bị tác động nghiêm trọng bởi các loài ngoại lai xâm hại, các hệ sinh thái nước ngọt và nông nghiệp, bị các loài ngoại lai xâm hại nghiêm trọng hơn rất nhiều, gây ra những thiệt hại đáng kể về kinh tế

Có khoảng 6 triệu ha rừng ở Việt Nam được đánh giá là dễ bị cháy Trong khoảng thời gian

1992-2002, trung bình có 6.000 ha rừng bị mất hàng năm do cháy Trong khoảng ba năm trở lại đây, Bộ NN&PTNT báo cáo rằng có 134.000 vụ vi phạm các quy định về phòng chống cháy rừng

Trang 12

Cỏc đỏp ứng về chớnh sỏch, thể chế và quản lý

Chớnh phủ Việt Nam cựng với cỏc đối tỏc đang đỏp ứng cỏc nhu cầu bảo tồn khẩn cấp Cỏc nỗ lực của Chớnh phủ, cỏc nhà tài trợ và cỏc tổ chức bảo tồn quốc tế là rất lớn và đó tạo ra nhiều thành tựu cú tớnh then chốt Việt Nam đó thiết lập được khung luật phỏp và thể chế vững chắc Từ cuối những năm 80,

Việt Nam đó cam kết xõy dựng cỏc luật cần thiết để bảo vệ đa dạng sinh học Năm 1995, Kế hoạch hành động đa dạng sinh học quốc gia (BAP) đó được phờ chuẩn, hướng dẫn và tập trung cho cỏc nỗ

lực bảo tồn Một KHHĐ ĐDSH mới cho giai đoạn từ nay tới năm 2015 và định hướng năm 2020 đang được Bộ TN&MT xõy dựng và dự kiến sẽ được ban hành vào đầu năm 2006 Luật về đa dạng sinh

học cũng đang được dự thảo Những kế hoạch khỏc để bảo tồn đa dạng sinh học gồm cú Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010, được Chớnh phủ thụng qua năm

2003, Kế hoạch hành động về bảo tồn và phỏt triển bền vững đất ngập nước 2004-2010 và dự thảo Kế hoạch hành động cỏc khu bảo tồn biển, hy vọng sẽ được phờ chuẩn vào đầu năm 2006 Cỏc quy định

để hỗ trợ thực hiện cỏc kế hoạch này đang được cỏc Bộ NN&PTNT, Thủy sản và TN&MT soạn thảo

Trỏch nhiệm về nhiều phương diện của cụng tỏc bảo tồn đa dạng sinh học đang được phõn quyền tới cấp tỉnh và chớnh quyền địa phương, tạo cơ hội cải thiện hoạt động quản lý Tuy nhiờn, việc phõn quyền này cũng tạo ra một loạt trở ngại đối với bảo tồn đa dạng sinh học Cỏc trỏch nhiệm và thẩm quyền quan trọng được giao cho cỏc cơ quan chưa cú đủ năng lực, kỹ năng và điều kiện hành chớnh thực hiện cỏc trỏch nhiệm này Việc thực hiện diễn ra cũn chậm, trong khi năng lực thể chế, cỏc qui định và thủ tục đó dần được hỡnh thành Vẫn cũn cỏc rào cản quan trọng trong khung tổ chức và thể chế, do điều phối liờn ngành cũn yếu, sự chồng chộo và chưa rừ ràng về chức năng nhiệm vụ

Trong vài thập kỷ qua, hệ thống cỏc khu bảo tồn ở Việt Nam đó được mở rộng nhanh chúng với việc hỡnh thành 126 khu rừng đặc dụng (RĐD), gồm cỏc vườn quốc gia, khu bảo tồn thiờn nhiờn và khu bảo vệ cảnh quan Trong khi cỏc hệ sinh thỏi biển và ven biển cú trong một số rừng đặc dụng, việc lập

kế hoạch toàn diện cho một hệ thống cỏc khu bảo tồn biển (BTB) quốc gia chỉ mới bắt đầu trong những năm gần đõy Năm 2001, đã có dự án xây dựng Vịnh Nha Trang thành khu BTB đầu tiờn của Việt Nam Một hệ thống gồm 17 khu BTB đang được đề xuất thành lập, trong đú cú khu Di sản Thế giới Vịnh Hạ Long Việc bảo vệ cỏc khu đất ngập nước vần cũn đang nằm trong giai đoạn lập kế hoạch Việc quản lý cỏc khu vực này đang được cải thiện, nhưng vẫn đang phải đối mặt với những hạn chế, bao gồm thiếu sự hỗ trợ nhất quỏn từ cỏc chớnh quyền địa phương và nguồn kinh phớ hạn hẹp Số lượng cỏn bộ và trỡnh độ chuyờn mụn của họ khụng phự hợp để đỏp ứng yờu cầu quản lý cỏc khu BTB Chớnh phủ và cỏc tổ chức phi chớnh phủ đó đều thừa nhận nhu cầu tiếp tục đào tạo nguồn nhõn lực của cỏc khu bảo tồn

Khoảng 80% rừng đặc dụng cú cỏc cộng đồng sống bờn trong, mặc dự điều này trỏi với quy định trong Luật bảo vệ và phỏt triển rừng năm 2004 Tỡnh hỡnh này sẽ khỏc đối với cỏc Khu bảo tồn biển (BTB) và cỏc khu bảo tồn đất ngập nước Khỏi niệm cỏc vựng sử dụng đa mục đớch và vựng cộng đồng gắn liền với cỏc khu bảo tồn này đó được đưa vào Luật Thủy sản và dự thảo quy chế cỏc khu BTB Nhỡn chung, cỏc chớnh sỏch của Chớnh phủ liờn quan tới cộng đồng và cỏc khu bảo tồn đang được cải thiện

Chỉ cú 7% diện tớch đất nước nằm trong cỏc khu bảo tồn, trong khi đa dạng sinh học tại cỏc vựng tự nhiờn ngoài cỏc khu bảo tồn cũng cực kỳ quan trọng đối với việc bảo tồn dài hạn đa dạng sinh học Vai trũ của cỏc vựng đệm trong việc ngăn chặn và giảm thiểu sự xõm lấn cỏc khu bảo tồn đó được đề cập trong cỏc quy định của Chớnh phủ từ cuối những năm 80, nhưng chưa cú cỏc ranh giới, cũng như mục tiờu và chế độ quản lý rừ ràng Việc cú nhiều khu bảo tồn được quy hoạch và quản lý ở cấp độ cảnh quan hoặc vựng sinh thỏi đó thể hiện cỏch tiếp cận hệ sinh thỏi, theo khuyến cỏo của Cụng ước ĐDSH mà Việt Nam là một nước thành viờn Phương phỏp tiếp cận này nhằm đưa cụng tỏc bảo tồn

Trang 13

xii

vượt ra bên ngoài các vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt của các khu bảo tồn Lập quy hoạch bảo tồn

ở cấp độ cảnh quan đã được thực hiện tại nhiều vùng ở Việt Nam để khuyến khích bảo tồn các các sinh cảnh nối liền các khu bảo tồn

Mặc dù vẫn còn thiếu sự công nhận các giá trị của đa dạng sinh học trong các kế hoạch và chiến lược của các ngành khác, ngày càng có nhiều ví dụ - trong nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp- về sự lồng ghép các vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học Đặc biệt, ngành lâm nghiệp đã đưa vấn đề bảo tồn và

sử dụng bền vững vào các chính sách, luật và các chương trình quốc gia Các chính sách bao gồm Luật bảo vệ và phát triển rừng (1991 và 2004), Luật Đất đai (1993 và 2003), chính sách “đóng cửa rừng tự nhiên”, và các chương trình giao đất lâm nghiệp được tiến hành sau khi ban hành Luật Đất đai năm 1993 Tiêu điểm để thực hiện các chính sách này là Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (5MHRRP), hay còn gọi là Chương trình 661 Chương trình nghị sự quốc gia 21, Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 và Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi, Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia đến

2010 và định hướng đến 2020, Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 34/2005-QĐ/TTg ngày 22/02/2005 ban hành Chương trình Hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW cung cấp những định hướng và những chiến lược tiếp theo

để lồng ghép các vấn đề môi trường vào trong các kế hoạch và các chương trình của Chính phủ, trong

đó chú trọng đánh giá tác động môi trường từ các giai đoạn sớm của quy hoạch phát triển

Đầu tư quốc gia và quốc tế cho các dự án bảo tồn ở Việt Nam đang tăng lên, với 261 triệu đô la Mỹ trong khoảng từ năm 1996 đến 2004 Tổng đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học trong năm 2005 có thể đạt tới 51,8 triệu đô la, gấp 10 lần so với một thập kỷ trước Trong khi ODA vẫn chiếm phần lớn chi phí dành cho đa dạng sinh học, phần đầu tư của Chính phủ tăng từ 26% lên 40% tổng đầu tư trong giai đoạn 1996-2004 Dù đã tăng như vậy, chi phí trung bình cho đa dạng sinh học chỉ chiếm 0,4% tổng chi phí từ ngân sách quốc gia, và 2% tổng ODA cho lĩnh vực môi trường, và chỉ chiếm 0,3% tổng ODA cho Việt Nam Mặc dù đã có sự cam kết mạnh hơn đối với việc lồng ghép trách nhiệm môi trường và xã hội từ phía các doanh nghiệp tư nhân trên toàn cầu, cùng một số các hoạt động thí điểm đáng khích lệ, khu vực tư nhân vẫn chưa hoàn toàn tham gia vào bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam

Cả hai nguồn đầu tư ODA và của Chính phủ cho bảo tồn đa dạng sinh học vẫn nghiêng về một số hệ sinh thái, các điểm và các cách tiếp cận cụ thể Hơn 66% tổng kinh phí của Chính phủ cho đa dạng sinh học được dành cho các dự án đầu tư cơ bản và không phải là ưu tiên cho bảo tồn

Chi trả cho các dịch vụ môi trường là một nguồn tài trợ bảo tồn có tính sáng tạo, với tiềm năng thực hiện cao trong bối cảnh của Việt Nam Việc xây dựng các chính sách mới và sửa đổi bổ sung, như Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004) và Luật đa dạng sinh học, sẽ tạo cơ sở cho việc chi trả cho các dịch vụ sinh thái và cách tiếp cận ‘người sử dụng phải trả tiền’ đối với những người hưởng lợi về thương mại từ đa dạng sinh học

Vai trò của các cộng đồng trong bảo tồn đa dạng sinh học đang tăng lên Với một số lớn cộng đồng nghèo sống dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đặc biệt là tại các vùng rừng núi

xa xôi và các khu bảo tồn, mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và các cộng đồng có ý nghĩa cốt yếu đối với cả sự nghiệp xoá đói giảm nghèo và bảo tồn Tiến bộ trên mặt trận này đang tăng lên nhờ các dự

án trên cơ sở cộng đồng và nhận thức của đa số nhân dân đã được nâng cao, tuy nhiên vẫn còn thiếu một cách tiếp cận có hệ thống cần thiết để có tác động thực sự sâu rộng hơn

Trang 14

Các thách thức và các định hướng để đối mới

Cải thiện hệ thống khu bảo tồn và hiệu quả quản lý của hệ thống này Hệ thống khu bảo tồn là cốt

lõi của chương trình bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam Các ưu tiên nhằm mở rộng hệ thống khu bảo tồn để đưa vào các sinh cảnh chưa được đại diện đầy đủ trong hệ thống như các rừng thường xanh vùng thấp, các hệ thống sông, đất ngập nước ven biển và các vùng biển Cần có một sự rà soát lại hệ thống khu bảo tồn để xác định các tính chất đầy đủ, phù hợp và đại diện của hệ thống khu bảo tồn đối với tất cả các vùng sinh học biển và trên đất liền nhằm xác định các điều chỉnh và bổ sung cần thiết Điều cốt yếu là phải có một quá trình quy hoạch quản lý để tập trung các nguồn tài trợ hạn hẹp vào các nhu cầu bảo tồn Cần có các điều khoản và thủ tục pháp lý để (i) quy hoạch, xác lập ranh giới và phân vùng, (ii) cộng tác với các cộng đồng địa phương sống trong và xung quanh các khu bảo tồn, (iii) thiết lập các vùng đệm với quy chế rõ ràng và (iv) cho phép các ban quản lý khu bảo tồn có thể tự lập, quản lý và sử dụng quỹ

Tăng cường quyền h¹n và năng lực của các cộng đồng để quản lý tài nguyên thiên nhiên Đối với

các khu bảo tồn biển và đất ngập nước và một số loại hình rừng nhất định, khung pháp lý cần được

mở rộng để quy định các vùng sử dụng đa mục đích và các thỏa thuận quản lý mang tính hợp tác Các

cơ chế quản lý tài nguyên thiên nhiên và sử dụng bền vững bởi cộng đồng cần được xây dựng; cần xây dựng năng lực cho các đơn vị khuyến lâm và cán bộ nhân viên của các khu bảo tồn trong việc thực hiện một vai trò mới là tiếp cận và hỗ trợ cộng đồng Cần có những sự chuẩn bị đặc biệt để quản

lý các hình thức sử dụng khu bảo tồn, bao gồm các cơ cấu và thủ tục quản trị để lôi cuốn sự tham gia của các cộng đồng, cho phép các hình thức sử dụng tài nguyên trong các khu bảo tồn theo truyền thống và để mưu sinh, với điều kiện đã thống nhất về kế hoạch, phân vùng và chương trình giám sát Thách thức chính là ở chỗ các cán bộ quản lý khu bảo tồn và các cộng đồng phải xác định mức độ sử dụng sao cho vẫn duy trì được các hệ thống tự nhiên và không làm phương hại đến đa dạng sinh học

Cải thiện việc lồng ghép các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học vào khu vực phát triển kinh tế

Phát triển cơ sở hạ tầng và mở rộng khai thác tài nguyên thiên nhiên đang có những tác động lớn tới

đa dạng sinh học ở cấp độ điểm và cảnh quan Cần có ba chiến lược ưu tiên là – i) quy hoạch đa dạng sinh học cấp vùng để thiết lập các chương trình khung bảo tồn cho hoạt động phát triển, cả bên trong

và bên ngoài các khu bảo tồn (ii) áp dụng nghiêm ngặt hơn các thủ tục đánh giá tác động môi trường (EIA) để đảm bảo các tiêu chuẩn và hướng dẫn bảo tồn được tuân thủ, và các vùng cần được duy trì trạng thái tự nhiên sẽ không bị xâm hại, và (iii) các chính sách ‘người sử dụng phải trả tiền’ đối với việc khai thác thương mại đa dạng sinh học và các lợi ích của hệ sinh thái

Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đặc biệt trong việc kiểm soát buôn bán trái phép động thực vật hoang dã Việt Nam là một trong những thị trường quốc tế lớn ở châu Á về các loài động thực vật

nguy cấp Việt Nam vừa là nhà cung ứng, vừa là điểm trung chuyển buôn bán giữa các nước lân cận trong khu vực Đối với Việt Nam, để đáp ứng được các nghĩa vụ pháp lý quốc tế, cần thực hiện hàng loạt kế hoạch hành động, bao gồm thực thi pháp luật, thông tin cho công chúng và nâng cao nhận thức của họ Điều này đòi hỏi nâng cao quyền hạn cho các cơ quan kiểm lâm trong việc thực thi pháp luật, cải thiện sự điều phối với chính quyền địa phương và các cơ quan thực thi pháp luật liên quan, nâng cao hiểu biết về luật pháp và năng lực thực thi pháp luật

Tăng cường, đa dạng hóa và quản lý hiệu quả việc cung cấp tài chính cho bảo tồn Đầu tư cho bảo

tồn đa dạng sinh học đã tập trung vào một số tương đối ít vùng và để xây dựng cơ sở hạ tầng và đường đi lại trong các khu bảo tồn Để đảo ngược xu thế mất đa dạng sinh học như hiện nay, cần (1) tăng tổng mức đầu tư của Chính phủ cho công tác bảo tồn; (2) tập trung đầu tư mang tính chiến lược hơn, đáp ứng các nhu cầu bảo tồn Một ưu tiên khác là đánh giá và phát triển các cơ hội cho những người nghèo được hưởng lợi từ việc cung cấp các dịch vụ sinh thái, đặc biệt là du lịch sinh thái, bảo

Trang 15

và duy trì được các đặc trưng cốt lõi cho bảo tồn đa dạng sinh học Các nhà quản lý của các khu bảo tồn phải được trao quyền, sự tin cậy và các nguồn lực để xây dựng được mối quan hệ làm việc với các ngành phát triển và cộng đồng địa phương, qua đó cho phép họ sử dụng kiến thức và kỹ năng vào các lĩnh vực sản xuất quanh các khu bảo tồn Việc tăng cường mối quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước láng giềng và cộng đồng quốc tế là một động lực mạnh mẽ cho sự đổi mới và tiến bộ trong công tác quản lý các khu bảo tồn

Sự tuyệt chủng của các loài sinh vật, ở qui mô rộng hơn là sự mất sinh cảnh, là không thể đảo ngược

Vì vậy, các quyết định hiện tại, liên quan tới vấn đề này, sẽ có tác động quan trọng tới các thế hệ tương lai Sự khôn khéo và thừa nhận thiếu sót là cần thiết, để đảm bảo các di sản thiên nhiên đặc biệt của Việt Nam được quản lý đúng đắn, sao cho những lợi ích và tiến bộ của tiến trình phát triển mà Việt Nam đang thực hiện sẽ không phải trả giá bằng sự mất đi vĩnh viễn các tài sản chung có ý nghĩa toàn cầu

Trang 17

2

“Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái”

(Công ước Đa dạng sinh học, 1992)

1.1 Đa dạng sinh học của Việt Nam là gì?

Đa dạng sinh học của Việi Nam là sự khác biệt

của tất cả các dạng sống hiện hữu trên mọi

miền của đất nước – các loài động, thực vật và

vi sinh vật khác nhau, các gien của các loài đó,

và các hệ sinh thái mà các loài đó góp phần tạo

nên Đa dạng sinh học không tĩnh tại, mà

thường xuyên thay đổi; nó tăng lên do sự biến

đổi về gen và các quá trình tiến hoá và giảm

bởi các quá trình như suy thoái và mất sinh

cảnh, suy giảm quần thể, và tuyệt chủng Nó

bao hàm các môi trường trên cạn, dưới biển và

các môi trường nước và các quan hệ tương tác

với nhau Đa dạng sinh học của Việt Nam

được thể hiện ở:

đa dạng di truyền – là tính đa dạng của

các thông tin di truyền chứa trong tất cả

các cá thể thực vật, động vật và vi sinh

vật Đa dạng di truyền có ở bên trong và

giữa các quần thể của các cá thể tạo nên

một loài, cũng như giữa các loài.;

đa dạng loài – là tính đa dạng của các loài

sinh vật khác nhau;

đa dạng về hệ sinh thái – là tính đa dạng

của các sinh cảnh, các quần xã sinh vật và

các quá trình sinh thái

Năm 1992, Trung tâm giám sát bảo tồn thế

giới đã xác định Việt Nam là một trong 16

nước có tính đa dạng sinh học cao nhất trên

thế giới.3 Việt Nam là một trong những nước

quan trọng nhất trên thế giới đối với việc bảo

tồn một số nhóm động, thực vật nhất định Ví

dụ, Việt Nam được xếp hàng thứ tư trên thế

giới về bảo tồn các loài linh trưởng vì là nơi cư

trú của 5 trong số 25 loài linh trưởng bị nguy

cấp nhất trên thế giới.4

3

WCMC (1992) Xây dựng chỉ số ĐDSH quốc gia Bài tham luận của

Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới, Cambridge, UK Chưa xuất bản

4 CI, MMBF, IUCN/SSC và IPS (2002) 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất

thế giới Washington DC: Conservation International, Tổ chức ĐDSH

Margot Marsh, Nhóm chuyên gia linh trưởng IUCN/SSC và Hiệp hôi linh

trưởng quốc tế

Việt Nam được công nhận là một trung tâm đặc hữu về loài, chứa đựng một phần hoặc toàn bộ trong số 5 vùng chim đặc hữu (EBA)

do Birdlife International xác định,5 3 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu do WWF xác định6 và 6 trung tâm đa dạng về thực vật do IUCN xác định. 7 Toàn bộ đất nước Việt Nam nằm trong điểm nóng Inđô-Bơ Ma

do tổ chức Bảo tồn Quốc tế xác định, là một trong những vùng sinh học bị đe doạ nhất và giàu có nhất trên trái đất8

5 Stattersfield, A J., Crosby, M J., Long, A J và Wege, D C (1998) Các vùng chim đặc hữu trên thế giới: các ưu tiên bảo tồn Cambridge, UK: BirdLife International

6 Olson, D M và nnk., (2000) Global 200: một tiếp cận bảo tồn các hệ sinh thái đặc trưng trên trái đất Washington, D.C.: Chương trình khoa học bảo tồn WWF-US

7

Davis, S D., Heywood, V H và Hamilton, A C bs (1995) Các trung tâm đa dạng thực vật: hướng dẫn và chiến lược bảo tồn Tập 2: Châu Á,

Úc và Thái Bình Dương, U.K.: Phòng xuất bản của IUCN

8 Mittermeier Russel A, Robles Gil, P và nnk, bs (2004) Các điểm nóng

được rà soát lại: Các hệ sinh thái trên cạn giàu có nhất về sinh học và nguy cấp nhất trên trái đất Monterrey: CEMEX; Washington D.C.:

Conservation International; và Mexico: Agrupación Sierra Madre

Trang 18

Đối với Việt Nam, đa dạng sinh học không chỉ

là các loài sinh vật hoang dã và sinh cảnh của

chúng trong các khu bảo tồn thiên nhiên Nó

còn là các hệ thống hỗ trợ cuộc sống, có ý

nghĩa then chốt đối với phát triển cũng như

phúc lợi xã hội Nó bao gồm các động vật, thực

vật, các vi sinh vật được sử dụng trực tiếp hay

gián tiếp để làm thức ăn và cho nông nghiệp

(bao gồm cây lương thực và hoa màu, vật nuôi,

lâm nghiệp và ngư nghiệp) Nó bao gồm đa

dạng về các nguồn gen di truyền (ví dụ như các

phân loài, các giống, nòi khác nhau), các loài

được sử dụng để lấy sợi, chất đốt, dược liệu

Nó cũng bao gồm sự đa dạng về các loài không

được thu hoạch trực tiếp, nhưng lại hỗ trợ sản

xuất (như các vi sinh vật trong đất, các loài

thiên địch và các loài giúp thụ phấn) và cả

những môi trường rộng lớn hơn có tác dụng hỗ

trợ các hệ sinh thái nông nghiệp (nông nghiệp,

đồng cỏ, rừng, nước), cũng như sự đa dạng của

chính các hệ sinh thái nông nghiệp Một môi

trường giàu có về đa dạng sinh học sẽ mang lại

nhiều cơ hội cho hoạt động kinh tế bền vững,

nuôi dưỡng con người và giúp đáp ứng được

với các thay đổi

Các lợi ích mà Việt Nam được hưởng từ đa

dạng sinh học không chỉ là khai thác liên tục

các nguồn tài nguyên, mà còn là được đảm bảo

được cung cấp và duy trì một loạt các chức

năng sinh thái Có thể kể ra vài chức năng sinh

thái như sau: duy trì chu trình nước (phục hồi

nước ngầm, bảo vệ lưu vực và làm đệm chống

lại những hiện tượng thái quá), điều hoà khí

hậu, sản sinh và làm màu mỡ cho đất, bảo vệ

chống xói mòn, tích trữ và tái tạo chất dinh

dưỡng, phân hủy và hấp thu các chất gây ô

nhiễm Chúng có ý nghĩa nền tảng đối với chất

lượng cuộc sống và nền kinh tế, nhưng lại

thường không được đánh giá thích đáng theo

các thuật ngữ kinh tế

Một lợi ích của bảo tồn đa dạng sinh học là

giúp tránh được việc tăng phí tổn do hậu quả

của sự suy thoái các hệ sinh thái, như mất sản

lượng và mất các chất dinh dưỡng Các giá trị

thẩm mỹ và văn hoá của các hệ sinh thái tự

nhiên và các cảnh quan của Việt Nam cũng

đóng góp vào cuộc sống tinh thần của một xã

hội đang bị đô thị hóa Cả hai lợi ích giải trí

chủ động và thụ động của các hệ sinh thái đều

ngày càng được nhiều người đánh giá cao, tạo

cơ sở cho ngành công nghiệp du lịch dựa vào

thiên nhiên

1.2 Đa dạng các hệ sinh thái

Đất nước Việt Nam trải dài trên 1650 km theo hướng Bắc - Nam, từ 80 tới 230 vĩ bắc, và có

độ cao địa hình từ 0 m lên tới độ cao lớn nhất

là 3143 m so với mực nước biển, trên dãy núi Hoàng Liên Ba phần tư diện tích đất nước là đồi núi, và các vùng đồng bằng châu thổ của hai con sông lớn là sông Hồng ở miền Bắc và sông Cửu Long ở miền Nam Điều kiện địa lý như vậy đã tạo nên sự đa dạng của các chế độ khí hậu, thổ nhưỡng và địa hình và do đó là sự

đa dạng của các hệ sinh thái Mỗi hệ sinh thái

đó lại có các đặc trưng riêng về khu hệ động, thực vật

Tại Việt Nam, sự phân bố của đa dạng sinh học trên khắp cả nước không đều nhau Sự biến thiên của đa dạng sinh học trên cả nước

có thể được minh hoạ bằng một số cách khác nhau, phụ thuộc vào số lượng các yếu tố được đưa vào xem xét Định nghĩa đa dạng sinh học hoặc các vùng sinh thái là một cách hữu hiệu

để mô tả các vùng đất hay vùng nước có một

hệ các quần xã tự nhiên đặc trưng, có chung phần lớn các loài, các động lực và các điều kiện môi trường Bản đồ 1.1 xác định 10 vùng

đa dạng sinh học trên cạn và 9 vùng đa dạng sinh học biển và ven biển, theo ranh giới của các tỉnh – với các đặc trưng riêng biệt của từng vùng được tóm tắt trong Phụ lục II.9 Sự biến thiên này cũng được phản ánh trong Bản đồ 1.2 về các vùng sinh thái trên cạn của Việt Nam, trong đó có nhiều vùng chung với các nước láng giềng Các đặc trưng về đa dạng sinh học của 14 vùng sinh thái này được trình

9

Năm 1999, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và UNDP đã tập hợp một nhóm các chuyên gia Việt Nam nhằm xác định một loạt vùng đa dạng sinh học trên cạn và biển như một phần của nghiên cứu viện trợ môi trường và để hỗ

trợ Chính phủ và các đối tác quốc tế thiết lập các ưu tiên cho hành động

bảo tồn MPI và UNDP, 1999, Một nghiên cứu viện trợ lĩnh vực môi trường ở Việt Nam, UNDP Hà Nội, thang 11, 1999

Trang 19

4

bày trong phụ lục III Sự biến thiờn của cỏc

kiểu sinh cảnh được trỡnh bày trong Bản đồ

1.3, cho thấy tầm quan trọng của vựng Tõy

Nguyờn đối với cỏc loài lưỡng cư và vựng Tõy

Bắc đối với cỏc loài thỳ

Cỏc cỏch mụ tả cỏc hệ thống tự nhiờn và đa

dạng sinh học của Việt Nam ngày càng tốt hơn,

cung cấp cỏc nguồn thụng tin cú độ tin cậy cao

hơn và cỏc chương trỡnh giỏm sỏt tốt hơn đó

được thực hiện Điều quan trọng đối với Việt

Nam là chớnh thức phờ chuẩn và tuõn theo một

số cỏch phõn vựng đa dạng sinh học để hỗ trợ

cho cụng tỏc quy hoạch, đưa ra cỏc ưu tiờn đầu

tư và lồng ghộp tốt hơn cỏc giỏ trị của đa dạng

sinh học vào phỏt triển kinh tế- xó hội

Tương tự như vậy, cỏc phương phỏp xỏc định

cỏc vựng quan trọng nhất về đa dạng sinh học ở

Việt Nam đang được cải thiện và trở nờn toàn

diện hơn khi cú đủ những thụng tin chi tiết

Một phõn tớch mới đõy do Quỹ đối tỏc hỗ trợ

cỏc hệ sinh thỏi trọng yếu (CEPF) thực hiện

cho khu vực Đụng Dương đó tiến hành chồng

ghộp cỏc dữ liệu về cỏc loài và cỏc sinh cảnh

để xỏc định cỏc ‘vựng đa dạng sinh học chủ

chốt’ và cỏc ‘hành lang bảo tồn’ nối liền cỏc

vựng đú.10 Cỏc vựng đa dạng sinh học chủ chốt

cú cỏc loài bị đe dọa cấp độ toàn cầu Ở Việt

Nam, 65% cỏc vựng này là toàn bộ hay một

phần của cỏc khu bảo tồn đó được thành lập

(Bản đồ 1.4) Cỏc hành lang bảo tồn được xỏc

định để bảo tồn cỏc loài nằm trong cảnh quan

và duy trỡ cỏc quỏ trỡnh sinh thỏi và tiến hoỏ

Cỏc hệ sinh thỏi trờn cạn – cỏc hệ sinh thỏi

rừng là đa dạng nhất từ miền nỳi cao tới miền

biển

Cỏc hệ sinh thỏi trờn cạn tự nhiờn của Việt

Nam bao gồm rừng thường xanh (vựng thấp và

vựng nỳi), rừng nửa thường xanh, rừng rụng

lỏ, rừng trờn nỳi đỏ vụi, cỏc đụn cỏt và bói cỏt

ven biển

10 Quỹ Hợp tỏc Hỗ trợ cỏc Hệ sinh thỏi Quan trọng (2005), Túm tắt về

cỏc Hệ sinh thỏi, Cỏc điểm núng về Đa dạng Sinh học Indo-Miến điện,

Khu vực Đụng Dương, dự thảo cuối của Birdlife International trỡnh lờn

Nhúm Cụng tỏc CEPF

Bờn cạnh đú, trải qua quỏ trỡnh lịch sử lõu dài

về sử dụng đất đai, đó cú hàng loạt cỏc hệ sinh thỏi nhõn tạo, như cỏc cảnh quan nụng nghiệp

và cỏc vựng đụ thị Trong cỏc hệ sinh thỏi tự nhiờn trờn cạn, cỏc hệ sinh thỏi rừng chiếm diện tớch lớn nhất và cũng là cỏc hệ sinh thỏi

cú tớnh đa dạng sinh học cao nhất

Hỡnh 1.1 Diện tớch cỏc kiểu rừng ở Việt Nam

Rừng ngập mặn 68.035 ha (1%) Rừng hỗn giao, 682.642 ha (6%) Rừng tre nứa 799.130 ha (6%)

Rừng trồng, 2.218.570 ha (18%) Rừng trên núi đá vôi

611.657 ha (5%)

Rừng cây gỗ, 7.926.825 ha (64%)

Nguồn: Cục KL/ Bộ NN và PTTN (2004)

Trang 20

Bản đồ 1.1

Trang 21

6

Bản đồ 1.2

Trang 22

B�n �� 1.3 M�t �� các loài thú và l��ng c� � Vi�t Nam, CHDCND Lào và Cam Pu Chia

(D�a trên s� li�u s� b� do IUCN cung c�p)

Trang 23

8

Bản đồ 1.4 Các vùng có tính đa dạng sinh học cao nhất

Trang 24

Các số liệu chính thức gần đây nhất (sử dụng

các phương pháp đo đếm mới) đã xác định độ

che phủ rừng của Việt Nam, bao gồm cả rừng

tự nhiên và rừng trồng, là 12,3 triệu ha, chiếm

hơn 37% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc

(Hình 1.1) Khoảng 18% diện tích này là rừng

trồng.11 Chỉ có 7% diện tích rừng còn lại là

rừng ‘nguyên sinh’ và gần 70% diện tích rừng

còn lại được coi là rừng thứ sinh nghèo

Các hệ sinh thái đất ngập nước – sông, suối,

hồ và ao đầm

Việt Nam có mạng lưới các con sông dày đặc,

trong đó 2.360 con sông có độ dài trên 10km

Tám con sông có lưu vực lớn với diện tích bao

phủ trên 10.000 km2 Mạng lưới sông ngòi này

bao gồm nhiều con sông bắt nguồn từ các

nước khác Có khoảng hai phần ba sông của

Việt Nam bắt nguồn từ bên ngoài lãnh thổ nên

Việt Nam dễ bị ảnh hưởng bởi các quyết định

liên quan đến nguồn nước của các quốc gia ở

vùng thượng nguồn Các vùng đất ngập nước

của Việt Nam 12 bao gồm nhiều loại: sông

ngòi, ao hồ, đầm lầy, rừng ngập nước, và các

đồng cỏ ngập nước Có 39 kiểu hệ sinh thái đất

ngập nước đã được ghi nhận ở Việt Nam, bao

gồm 30 vùng đất ngập nước tự nhiên và 9

vùng đất ngập nước nhân tạo.13 Bộ TN&MT

đã xác định 68 khu đất ngập nước có tầm quan

trọng quốc gia

Các sông ngòi của Việt Nam chứa đựng sự đa

dạng của các hệ sinh thái và các loài động,

thực vật: sông chảy xiết ở các vùng núi, khe

suối, thác ghềnh, sông trong hang động, và các

con sông lớn chảy hiền hòa Các vùng đất

ngập nước ngọt thuộc loại nguy cấp có tầm

quan trọng cao về đa dạng sinh học là các

11 Theo thống kê chính thức của Bộ NN và PTNT, 2004

12

Công ước Ramsar xác định đất ngập nước là những vùng đất mềm, lầy

lội, than bùn, hoặc ướt, dù là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay

tạm thời, có nước không chảy, hoặc chảy, ngọt, lợ hoặc mặn, bao gồm

các vùng biển có độ sâu tại điểm thuỷ triều xuống thấp nhất không vượt

quá 6m Các loại đất ngập nước được phân loại trong Ramsar

13 Viện ĐTQHR, 1999 Xây dựng Cơ sở Quy hoạch các Khu bảo tồn Đất

ngập nước của Việt Nam Hà Nội

vùng nhỏ đầm lầy than bùn và đồng cỏ ngập nước còn lại của đồng bằng sông Cửu Long, hầu hết các vùng này đã bị chuyển thành đất nông nghiệp

Với bờ biển dài trên 3260 km và và hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, chẳng có gì ngạc nhiên khi Việt Nam có các hệ sinh thái duyên hải rất giàu

có và đa dạng Các hệ sinh thái này bao gồm rừng ngập mặn và các loại rừng trong vùng triều, các đầm phá nước lợ, các thảm cỏ biển, các rạn san hô Tất cả các hệ sinh thái này đều giàu có về các loài sinh vật và có năng suất cao

Các hệ sinh thái biển – nguồn nuôi dưỡng

quốc gia

Việt Nam có một vùng đặc quyền kinh tế biển khoảng 1 triệu km2, với khoảng 20 kiểu hệ sinh thái biển đặc trưng Nhiều hệ sinh thái biển trong số đó có những đặc trưng riêng biệt

về hải dương học Các hệ sinh thái này nuôi dưỡng trên 11.000 loài sinh vật bao gồm gần 2.500 loài cá biển (gồm 130 loài cá có giá trị kinh tế cao), 225 loài tôm, hơn 500 loài thực vật nổi; gần 700 loài động vật nổi; gần 100 loài thực vật rừng ngập mặn; 15 loài cỏ biển;

và hơn 6000 loài động vật đáy không xương sống Thêm vào đó, các hệ sinh thái biển này còn là môi trường sống quan trọng của 5 loài rùa biển, 15 loài rắn biển, 25 loài thú biển và

43 loài chim biển14 Với các khảo sát đang được tiến hành, tổng số loài sinh vật biển của Việt Nam vẫn còn đang tăng lên Việt Nam có khoảng 1.122 km2 rạn san hô, được phân bố rộng rãi từ bắc tới nam, với diện tích lớn nhất

và tính đa dạng sinh học cao ở miền Trung và miền Nam Các nghiên cứu của Việt Nam về san hô đã ghi nhận gần 400 loài san hô tạo rạn tại các vùng Vịnh Nha Trang, Ninh Thuận, và Côn Đảo, mỗi nơi có hơn 300 loài Điều này chứng tỏ sự phong phú của các loài san hô ở vùng biển Việt Nam Có tới 90% các loài san

hô cứng của vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương có mặt ở Việt Nam và các loài san hô mềm thuộc

giống Alcyonaria là đa dạng nhất trong vùng

Tây Ấn Độ-Thái Bình Dương Với số loài san

hô đã biết, nhóm các loài san hô của Việt Nam

có thể so sánh với các vùng san hô đa dạng nhất trên thế giới.15

14 Nguyễn Chu Hồi, 2001 Hiện trạng và cơ chế quản lý các khu bảo tồn biển ở Việt Nam Trong Tạp chí Khoa học Kỹ thuật biển, Tập 1; và Viện nghiên cứu Thủy sản, 2005 Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá, Nhà xuất bản Nông nghiệp

15 Võ Sỹ Tuấn, 2005 “Kế hoạch Hành động Quốc gia về Quản lý các Rạn san hô ở Việt Nam tới năm 2015”, được trình bày tại cuộc họp lần thứ 6

của Nhóm Công tác Tiểu ban San hô của UNEP/Dự án GEF:“ Đảo ngược

các Chiều hướng Suy thoái Môi trường tại Biển Đông và Vịnh Thái Lan”,

Masinloc, Philippines, 22-25/8/2005

Trang 25

10

1.3 Đa dạng loài và đa dạng di truyền

Đa dạng các hệ sinh thái của Việt Nam được

tạo bởi sự giầu có tương tự về loài – có 11.458

loài động vật, 21.017 loài thực vật và khoảng

3.000 loài vi sinh vật đã được ghi nhận, trong

đó rất nhiều loài được sử dụng để cung cấp vật

liệu di truyền (Bảng 1.1)

Một trung tâm giống gốc các loài cây trồng

Việt Nam là một trong 8 “Trung tâm giống

gốc” Vavilov của các loài cây trồng, và có một

số lượng phong phú các loài vật nuôi và cây

trồng Ví dụ, Việt Nam có hàng chục giống

của 14 loài gia súc và gia cầm chính.16 Cây

trồng ở Việt Nam cũng rất đa dạng do lịch sử

quản lý và sử dụng cây trồng lâu dài trong

nhiều hệ sinh thái nông nghiệp khác nhau Việt

Nam có trên 700 loài cây trồng (thuộc 79 họ

thực vật), với các mục đích sử dụng khác nhau

như làm thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh và

xây dựng.17

Nhìn chung, Việt Nam có nguồn gen di truyền

phong phú Đặc biệt là các nguồn lúa và

khoai– là những loài được coi có gốc từ Việt

Nam Nguồn gien duy nhất này là cơ sở cho sự

tiếp tục phát triển và cải tiến các giống lúa và

cây lương thực trên thế giới

Nguồn gen cây lúa được biết rõ nhất và có ý

nghĩa quan trọng nhất trong số các loài cây

lương thực trong nước Việc ứng dụng các kỹ

thuật phân tử mới cho thấy các giống lúa ở

Việt Nam có các đặc tính quan trọng và là một

trong những nguồn gen lúa phong phú nhất

trên thế giới Giống lúa thơm Japonica đặc biệt

quan trọng cho mục đích nhân giống.18 Các

giống lúa bản địa ở Việt Nam là yếu tố chính

tạo nên sự đa dạng về gen di truyền Bên cạnh

số lượng giống cao, các giống bản địa có xu

hướng khác biệt về di truyền so với các giống

cây thương mại - điều cho thấy tầm quan trọng

của việc bảo tồn chúng như những nguồn quý

giá để phát triển các giống thương mại có giá

trị trong tương lai

16

Lê Thi Thúy, Nguyễn Văn Vang, 2003 Báo cáo khoa học Hội nghị

toàn quốc lần thứ hai về các nghiên cứu cơ bản trong y học, sinh học và

nông nghiệp Huế 25-26/7/2003 NXB KHKT Hà Nội

17 Nguyễn Đăng Khôi, 2000 Các kết quả bảo tồn nguồn gien nông

nghiệp Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội

18 Lưu Ngọc Trình (1996) và Đào Thế Tuấn (1999) trong Việt Nam Môi

trường và Cuộc sống, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004

Các hoạt động nông nghiệp truyền thống đã giúp giữ được các giống bản địa Trong lịch sử canh tác lâu dài, người dân Việt Nam đã tích luỹ nhiều kiến thức về sử dụng và quản lý các giống lúa Các giống lúa khác nhau được trồng cho những mục đích sử dụng khác nhau và theo cách khác nhau Tương tự như đối với cây lúa, các giống khoai khác nhau cũng đã được nông dân lưu truyền theo những đặc điểm và công dụng của chúng

Bảng 1.1 Sự giàu có về các loài sinh vật đã biết ở Việt Nam trong một số nhóm phân loại

Nhóm loài Số loài đã biết ở

Việt Nam

Số loài được mô

tả toàn cầu (khoảng)

Tỷ lệ % các loài toàn cầu

có ở Việt Nam

Nguồn: Đặng Huy Huỳnh, 2005 19 và các nguồn khác

* - hầu như chắc chắn chưa xác định đầy đủ

Các loài mới tiếp tục được phát hiện

Trong vài thập kỷ vừa qua, các nhà khoa học

đã giúp mở rộng kiến thức về tính đa dạng sinh học của Việt Nam, bổ sung thêm nhiều loài mới vào danh sách các loài của Việt Nam, bao gồm một số loài mới đối với khoa học Có

5 loài thú mới (xem Hộp 1.1), và 3 loài chim mới được mô tả cho vùng lục địa Đông Nam Á trong vòng 30 năm.20 Cũng trong thời kỳ này, nhiều loài mới thuộc các lớp bò sát, lưỡng cư,

cá và động vật không xương sống cũng đã được mô tả, trong đó có 6 loài cua mới.21

19 Đặng Huy Huỳnh, 2005 Hiện trạng và tình hình quản lý đa dạng sinh

học ở Việt Nam Báo cáo trong Hội nghị toàn quốc về các vấn đề về môi

trường và xã hội, Hà Nội, tháng 4/2005 (chưa xuất bản)

20

Khướu vằn đầu đen Actinodura sodangorum, Khướu Ngọc Linh Garrulax ngoclinhensis và khướu Kon Ka Kinh G konkakinhensis

21 Nhiều tác giả, 2003 Các vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự

sống Báo cáo Khoa học Hội nghị toàn quốc lần thứ 2 về các nghiên cứu

cơ bản trong sinh học,nông nghiệp và y học Huế, 25-26/7/2003 Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội

Trang 26

Hộp 1.1 Sự phát hiện các loài thú mới trong thời gian

gần đây

Sao La (Pseudoryx nghetinhensis)

Là một loài duy nhất của một giống mới, Sao La chỉ

phân bố ở các phần phía Tây của dãy Trường Sơn Vùng

phân bố của loài này kéo dài từ tỉnh Nghệ An tới Quảng

Nam và bao gồm cả một số khu vực của Lào Dù có ít

thông tin chi tiết về quần thể của loài này nhưng người ta

cho rằng quần thể Sao La khá nhỏ và đang bị suy giảm

Mang lớn (Muntiacus vuquangensis)

Là một trong số nhiều loài mang mới được phát hiện ở

các vùng núi của khu vực Đông Nam Á trong thập kỷ

vừa qua Loài Mang lớn phân bố ở khắp các rừng núi

thuộc dãy Trường Sơn của Việt Nam và Lào và cũng có

ở một phần nhỏ của Cam Pu Chia

Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis)

Loài này chỉ phân bố ở các vùng rừng núi của dãy

Trường Sơn, tuy nhiên phân bố chính xác của loài này

đến nay còn chưa rõ ràng Mang Trường Sơn trông rất

giống một loài mang nhỏ sẫm màu khác của vùng Đông

Nam Á, chưa được phân loại rõ ràng (Ảnh mang Trường

Sơn chụp bằng bẫy ảnh do VQG Pù Mát cung cấp)

Chà vá Chân xám (Pygathrix cinerea)

Loài này chỉ phân bố ở 5 tỉnh miền Trung của Việt Nam Quần thể toàn cầu của Chà vá Chân xám được cho là chỉ khoảng 600 cá thể Do đó, loài này được xếp là một trong

25 loài thú linh trưởng nguy cấp nhất trên thế giới

Thỏ vằn Trường Sơn (Nesolagus timminsi)

Loài thỏ này được thấy có ở khắp các vùng rừng núi thuộc dãy Trường Sơn của Việt Nam và Lào Một loài khác duy nhất thuộc giống này chỉ có ở vùng rừng núi trên đảo Sumatra

Trang 27

12

Một trong những vùng triển vọng nhất cho

các nhà khoa học để tìm ra các loài mới là

các hệ sinh thái núi đá vôi (trên bề mặt,

trong đất và trong các hang động ướt hoặc

hang động khô) Các cảnh quan núi đá vôi

này khó xâm nhập nên chưa được nghiên

cứu kỹ Chúng bao gồm nhiều hệ sinh thái

bị cách ly và tương đối kín Thậm chí các

núi gần nhau cũng có thể có các loài sinh

vật khác nhau

Trong những năm vừa qua, nhiều loài thực

vật mới đã được phát hiện ở Việt Nam

Trong giai đoạn 1993-2002, có 13 chi, 222

loài và 30 taxon dưới loài đã được mô tả

Thêm vào đó có 2 họ, 19 chi và hơn 70 loài

được ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt

Nam Tỷ lệ phát hiện loài mới đặc biệt cao

ở họ Lan với 3 chi mới và 62 loài mới được

mô tả; 4 chi và 34 loài lần đầu tiên được

ghi nhận ở Việt Nam (Hộp 1.2) Cũng có

một chi mới và 3 loài mới cho khoa học

thuộc ngành Hạt trần được mô tả; 2 chi và

12 loài được bổ sung vào danh lục thực vật

của Việt Nam22

22 Jacinto Regalado Jr và nnk, 2003 Các chi mới cho khoa học của thực

vật bậc cao có mạch và bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam (1993-2002)

Báo cáo khoa học Hội nghị toàn quốc lần thứ 2 về các nghiên cứu cơ bản

trong sinh học, nông nghiệp và y học Huế, 25-26/7/2003 Nhà xuất bản

Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội

Hộp 1.2 Các loài lan hài của Việt Nam

Không có nơi nào mà sự đa dạng của các loài lan hài lại cao hơn ở Việt Nam Có thể thấy 18

loài lan hài thuộc chi Paphiopedilum cùng với

vô số các dạng lai tự nhiên của chúng Năm trong số các loài lan hài chỉ có ở Việt Nam mà không có ở nơi nào khác Nhu cầu tiêu thụ các loài hoa lan có màu sắc sặc sỡ này rất lớn, nên những người đi tìm hoa lan sẵn sàng trèo lên những vỉa đá dốc ở những vùng xa xôi hẻo lánh

để thu hái chúng Việc thu hái như vậy đã gây nên những tác động tàn phá nghiêm trọng Một loài lan hài đã bị tuyệt chủng ở Việt Nam, một loài bị đe dọa ở mức độ cực kỳ nguy cấp, và 15 loài khác ở mức độ nguy cấp (trong đo hầu hết các loài đã rất gần với mức độ cực kỳ nguy cấp)

Paphiopedilum hangianum - loài lan hài đặc hữu

của Việt Nam chỉ có trong một vùng có diện tích

ở phía bắc của tỉnh Tuyên Quan Trước năm

1999 loài này rất phong phú ở địa phương, quần thể toàn cầu của loài này hầu như đã bị xóa sổ vào năm 2000-2001 khi người dân địa phương thu hái hàng trăm ngàn cây để đáp ứng nhu cầu của những người buôn bán hoa phong lan, hầu hết đều bị xuất khẩu bất hợp pháp ra nước ngoài Bởi vì có các quần thể tự nhiên tương đối lớn và mức độ khai thác thương mại rất ồ ạt khó tin nên giá của loài hoa này đã giảm đến mức có bán ở các chợ hoa ở Hà Nội với giá chỉ 10.000 đồng/cây Sau 2 năm, tất cả các quần thể được biết của loài này đã bị khai thác hết, và loài này hiện nay đã ở trong tình trạng rất gần với bị tuyệt chủng trong tự nhiên

Nguồn: Leonid Averyanov, Phillip Cribb, Phan Kế Lộc, Nguyễn Tiến Hiệp, 2003 Lan hài Việt Nam: cùng với giới thiệu về hệ thực vật của Việt Nam

Trang 28

1.4 Các giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa

của đa dạng sinh học

Các giá trị kinh tế của các hệ sinh thái tự nhiên

có thể phân chia sơ bộ thành: giá trị khai thác

trực tiếp (chẳng hạn làm thức ăn, lấy sợi, dược

liệu); giá trị không khai thác trực tiếp (giải trí);

giá trị gián tiếp (điều hoà khí hậu, bảo vệ lưu

vực, chất lượng đất); và các giá trị phi sử dụng

(thẩm mỹ, tinh thần và văn hoá) Bản đồ 1.5 và

Bảng 1.2 mô tả các giá trị kinh tế của đa dạng

sinh học ở tỉnh Thừa Thiên Huế Các sản

phẩm và các dịch vụ của các khu bảo tồn và

các vùng đa dạng sinh học tại tỉnh này là tiền

đề cho các lợi ích kinh tế cấp địa phương, cấp

tỉnh, cấp quốc gia và toàn cầu

Năm 2003, ngành nông nghiệp đã đóng góp

một phần quan trọng trong GDP - khoảng 21%

- với các sản phẩm lương thực truyền thống và

các giống lai mới giúp nâng cao sản lượng

lương thực Ngành lâm nghiệp đóng góp

khoảng 1,1% GDP, trong khi ngành thủy sản

đóng góp 4% GDP.23

Nông nghiệp – đa dạng sinh học tạo ra tính

bền vững và khả năng chống chịu cho nông

nghiệp

Đa dạng sinh học là cơ sở của nền nông nghiệp

ở Việt Nam Vùng núi và trung du phía Bắc,

vùng núi Tây Nam của Việt Nam đặc biệt đa

dạng về các giống, loài bản địa và các loài là

họ hàng hoang dã của chúng trong tự nhiên,

liên quan tới các nhóm cây trồng quan trọng

như lúa, khoai sọ, chè, vải, nhãn, các giống

cam chanh và đậu

23 Tổng cục Thống kê Con số này không tính tới các lợi ích gián tiếp của

rừng; nếu tính gộp vào thì con số này sẽ cao hơn nhiều

Bảng 1.2 Nguồn lợi và dịch vụ từ những khu bảo tồn ở tỉnh Thừa Thiên Huế

Giá trị kinh tế Các vùng đa dạng sinh học

cung cấp các lợi ích kinh tế Các giá trị sử dụng trực tiếp

Các sản phẩm gỗ Rừng sản xuất Lâm sản phi gỗ Khu BTTN Phong Điền và các

khu rừng phòng hộ đầu nguồn

Du lịch ƒ Tất cả các khu bảo tồn đều

đóng góp cho du lịch

ƒ VQG Bạch Mã có chức năng

tổ chức du lịch Giáo dục, Nghiên cứu ƒ Tất cả các khu bảo tồn đều có

tiềm năng giáo dục và nghiên cứu

ƒ VQG Bạch Mã có tiện nghi phục vụ nghiên cứu và đào tạo

Các giá trị sử dụng gián tiếp

Chức năng cung cấp nguồn dinh dưỡng – đánh bắt và nuôi trồng thủy sản ven bờ

Phá Tam Giang, Đầm Cầu Hai

Dịch vụ thủy lợi Chống hiện tượng bồi

Ngăn sạt lở đất, vd

Đầm Cầu Hai, gần quốc lộ 1 và đường sắt

Các rừng đặc dụng và rừng phòng hộ

Duy trì chất lượng nước, cung cấp nước sạch, nhà máy bia, nhà máy chế biến cá

Sông Hương

Nước đóng chai Phong Điền và sông Bồ Cung cấp nước cho

Cầu Hai và một số thị trấn khác

Thủy điện và thủy lợi Bạch Mã và Hồ Truồi

Hương

ƒ Phong Điền và sông Bồ, sông

Ô Lâu Đảm bảo lưu lượng

nước trong mùa khô và duy trì độ mặn của đầm phá

ƒ VQG Bạch Mã và Hồ Truồi

ƒ Sông Bồ, sông Ô Lâu, sông Hương và phá Tam Giang Cung cấp nước ngầm ƒ VQG Bạch Mã và các giếng

khoan

ƒ Rừng phòng hộ và các giếng khoan

ƒ Khu BTTN Phong Điền và các giếng khoan

Bảo vệ vùng ven biển Phá Tam Giang Hấp thu cácbon VQG Bạch Mã, Khu BTTN

Phong Điền, và các khu Rừng phòng hộ đầu nguồn

Bạch Mã, Phong Điền

Nguồn: ICEM, 2003 Các nghiên cứu thực địa: Các lợi ích kinh tế của các khu bảo tồn Rà soát các khu bảo tồn và phát triển ở vùng hạ lưu sông Mê Kông, Indooroopilly, Queensland Australia

Trang 30

Đa dạng sinh học mang tính quan hệ tương hỗ

và những liên kết này có lợi ích to lớn cho nông

nghiệp Chẳng hạn, lợi ích của các hệ sinh thái

rừng đối với phát triển nông nghiệp do chúng

bảo vệ nguồn nước, cung cấp nước ngầm và

nước mặt, tích trữ nước khi hạn hán và hạn chế

lũ, lụt, cản gió, giúp thụ phấn cho cây trồng,

cung cấp các loài thiên địch tiêu diệt sâu hại, và

điều hòa khí hậu địa phương (tiểu khí hậu) nhờ

tạo bầu không khí ẩm trong thời tiết khô ráo

Tuy nhiên, các chức năng này thường không

được ý thức rõ ràng cho đến khi rừng bị suy

thoái, dẫn tới việc các chức năng sinh thái của

chúng bắt đầu suy giảm, gây hậu quả giảm sản

lượng nông nghiệp Ví dụ, năm 2005 Tổ chức

Nông lương Thế giới (FAO) ước tính tình trạng

mất đất do xói mòn trên các vùng đất dốc của

Việt Nam là khoảng 2 tỉ tấn/năm Thiệt hại kinh

tế kèm theo là rất lớn, do mất năng suất cây

trồng, phải nạo vét lòng sông, xử lý nước và lũ

lụt

Ngành thủy sản – đa dạng sinh học duy trì

nghề cá

Năng suất của ngành thủy sản phụ thuộc một

cách trực tiếp và gián tiếp vào đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học cung cấp nguồn prôtein chính

cho người dân Việt Nam Ước tính nghề cá ở

Việt Nam mang lại nguồn thu nhập chính cho 8

triệu người và một phần thu nhập cho khoảng

12 triệu người khác

Các hệ sinh thái rạn san hô và rừng ngập mặn là

những tài sản lớn của quốc gia Trong điều kiện

tự nhiên, giá trị của chúng dựa trên:

ƒ các sinh cảnh mà chúng cung cấp cho các

loài sinh vật biển - một phần của năng suất

đánh bắt thuỷ sản gần bờ;

ƒ các tài nguyên sinh học (cá, cua, động vật

thân mềm, củi đốt, gỗ xây dựng, dược liệu)

là những tài nguyên được khai thác trực tiếp

từ các hệ sinh thái này;

ƒ chức năng chống bão của chúng cho bờ biển

và dân cư ven biển

ƒ khả năng hấp thu và xử lý ô nhiễm, giữ trầm

tích;

ƒ sự bền vững và khả năng chống chịu do đa

dạng sinh học ven biển mang lại cho nền

kinh tế địa phương

Người dân Việt Nam từ lâu đời đã tham gia vào các loại hình nuôi trồng thuỷ sản Đó là những hoạt động chỉ ảnh hưởng ít tới môi trường tự nhiên và sử dụng các loài địa phương Chủ yếu là sử dụng các kỹ thuật nuôi trồng đơn giản, được gọi nôm na là “nghề nuôi

cá biển” Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ sản nước lợ đã trở nên phổ biến Nuôi tôm có năng suất cao với giá cả hấp dẫn trên thị trường quốc tế Những đóng góp về kinh tế, xã hội của nghề nuôi cá biển và các hình thức nuôi trồng ít ảnh hưởng tới môi trường thường bị bỏ qua khi lợi ích kinh tế lớn của các đầm nuôi trồng thủy sản lấn át Tuy nhiên, thậm chí các đầm nuôi trồng thủy sản vẫn phải phụ thuộc vào các hệ sinh thái và các quá trình sinh thái vì chúng có vai trò điều hoà số lượng và chất lượng nước và các chất dinh dưỡng

Việc bảo tồn sinh cảnh và hệ sinh thái đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động của ngành thủy sản Chỉ có duy trì tốt các sinh cảnh cho các loài thuỷ sản và các hệ thống tự nhiên xung quanh, cũng như quản lý bền vững việc khai thác nguồn tài nguyên này, thì giá trị kinh tế của các ngành nghề thủy sản

và sự tồn tại lâu dài của nó mới được cải thiện

Vịnh Vĩnh Hy ở miền Trung

Trang 31

16

Lâm nghiệp –các hệ sinh thái rừng mang lại

cho nhiều ngành khác nhiều lợi ích còn bị

đánh giá thấp

Giá trị của các sản phẩm rừng, như gỗ, song

mây, hoa quả, cây thuốc, là dễ dàng nhận

thấy và được các cộng đồng địa phương và

các thị trường quốc tế và trong nước công

nhận Chẳng hạn, Việt Nam có tới 300 loài

tre nứa, phần lớn các loài này có giá trị

kinh tế đối với địa phương (Hộp 1.3) Theo

Cục chế biến Nông lâm sản và Nghề muối -

Bộ NN&PTNT (2004), trong các năm

2001-2003, lượng lâm sản thu hoạch đạt khoảng

3 triệu m3 gỗ, 500.000 tấn tre và 20.000 tấn

lâm sản phi gỗ (ví dụ, nhựa thông, song

mây, véc-ni, sao hồi, dầu thông và nhựa

thông, quế và các loại cây thuốc) Năm

2003, giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 567

triệu đôla Mỹ và ước tính đạt 1 tỉ đôla Mỹ

trong năm 2004 Hiện tại có khoảng 25

triệu người sống trong hoặc gần rừng và

khoảng 20% thu nhập hộ gia đình của họ là

từ lâm sản phi gỗ

Việc định lượng giá trị kinh tế của các sản

phẩm này và xác định những ai quan tâm

trả tiền cho chúng là khá dễ dàng Giá trị

của các chức năng sinh thái như cung cấp

nước sạch, ổn định sườn dốc và nhiều chức

năng khác khó định lượng hơn Cũng khó

xác định được những người hoặc những

cộng đồng hưởng lợi từ các chức năng này

theo các khu rừng cụ thể Trên thực tế, có

nhiều người không biết được những công

dụng của các hệ sinh thái Vì những lý do

đó, sự đóng góp của ngành lâm nghiệp cho

nền kinh tế quốc dân đã được đánh giá

không đúng mức Ước tính chính thức,

đóng góp của ngành lâm nghiệp khoảng 1%

GDP là chưa tính đến sự đóng góp của lâm

nghiệp cho sản xuất công nghiệp, gỗ củi

(đóng góp 7% cho nhu cầu năng lượng quốc

gia), hoặc hàng loạt các hàng hoá và chức

năng môi trường khác như hấp thu các bon

và du lịch sinh thái Con số đó cũng chưa

tính đến các nguồn gỗ khai thác “trái phép”,

là nguồn có thể chiếm tới 50% tổng lượng

cung cấp gỗ tròn toàn quốc.24

Bảo vệ các hệ sinh thái rừng giúp cung cấp

nhiều giá trị gián tiếp cho các lĩnh vực phát

triển, như,: (i) cung cấp “sự an toàn” về

24 Bộ NN&PTNT (2005) Báo cáo Quốc gia tại phiên họp đầu tiên của

Diễn đàn LHQ về Rừng, Việt Nam, tháng 1 2005

kinh tế cho các cộng đồng nghèo sống trong

và xung quanh các khu bảo tồn; (ii) ngăn chặn lũ lụt đối với các vùng hạ lưu và cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu; (iii) bảo vệ lưu vực của các đập thuỷ điện và cung cấp cho các ngành công nghiệp nước sạch và năng lượng ổn định; (iv) bảo tồn tính đa dạng sinh học nông nghiệp bản địa quan trọng và cung cấp bãi ươm cho các quần thể cá; (v) hỗ trợ bảo tồn đa dạng di truyền, các loài và cảnh quan cho các thế hệ mai sau (Bảng 1.2).25

Hộp 1.3 Tre nứa ở Việt Nam

Tre nứa có lẽ là lâm sản ngoài gỗ quan trọng nhất ở Việt Nam Nó được dùng nhiều trong đời sống hàng ngày, cung cấp măng ăn, làm hàng

mỹ nghệ và ván sàn xuất khẩu, làm nguyên liệu chế bột giấy Tre nứa đã góp phần tích cực trong

sự phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm

và phát huy vai trò quan trọng trong chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam Chỉ 15 năm trước người ta cho rằng có 102 loài tre nứa thuôc 19 chi ở Việt Nam Tuy nhiên vào năm

2003, các nhà thực vật của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, kết hợp với các chuyên gia phân loại tre nứa của Trung Quốc đã phát hiên 23 loài tre mới cho khoa học; 6 chi và 21 loài tre lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam Phát hiện này cùng với các phát hiện khác đã đưa tổng số loài tre nứa của Việt Nam lên gần 150 loài Nếu được điều tra có hệ thống, số loài tre nứa của Việt Nam có thể cao tới 250-300 loài

Nguồn: Vũ Văn Dũng, trong Việt Nam, Môi trường và Cuộc sống, 2004

25 ICEM (2003) Báo cáo Quốc gia của Việt Nam về các khu bảo tồn và phát triển: Đánh giá các khu bảo tồn và phát triển tại khu vực hạ lưu Mê

Kông

Trang 32

Các giá trị văn hóa – sự phong phú và đa

dạng của nền văn hóa gắn liền với đa dạng

sinh học

Mối quan hệ giữa con người, cảnh quan và

thiên nhiên được thể hiện qua những giá trị văn

hóa ở một mức độ sâu sắc nhất Rất nhiều giá

trị văn hóa đã tồn tại qua chiều dài lịch sử và

được chuyển từ những vùng nông thôn và rừng

núi tới các vùng thành thị và xã hội hiện đại

Hiểu rõ những mối liên hệ khăng khít giữa môi

trường thiên nhiên và xã hội, hiểu được các mối

quan hệ đó đã góp phần tạo nên các truyền

thống và phong tục tập quán như thế nào, và

bằng cách nào nó có thể trở thành một động lực

mạnh mẽ trong việc sử dụng và duy trì đa dạng

sinh học, là cực kỳ quan trọng đối với công tác

bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam

Ở nhiều vùng thuộc miền Bắc và miền Trung

Việt Nam, cảnh quan núi đá vôi rất phổ biến

và được coi là những yếu tố quan trọng của di

sản thiên nhiên của đất nước Cảnh quan rất

đặc thù của núi đá vôi đã đi vào chiều sâu văn

hoá của người dân Việt Nam Việc gắn liền

văn hóa với thiên nhiên có thể được minh họa

bởi một cảnh quan văn hóa do người Việt Nam

tạo dựng, qua hàng nghìn năm gắn bó giữa tín

ngưỡng, tập quán và các hệ thống tự nhiên

(Hộp 1.4)

Nhiều cộng đồng dân tộc ít người ở Việt Nam

có các tín ngưỡng tôn giáo và tập tục truyền

thống gắn với rừng, các giống loài và các hệ

sinh thái tự nhiên khác Đây là lý do thúc đẩy

họ bảo tồn đa dạng sinh học Mặc dù đã bị thu

nhỏ đáng kể về diện tích, song trong hơn 40

năm qua, rừng “thiêng” vẫn đóng vai trò quan

trọng trong cuộc sống của các cộng đồng thiểu

số người Thái ở tỉnh Sơn La, và là một chủ để

giáo dục và nỗ lực bảo tồn ở địa phương (Hộp

1.5)

Một trong các lý do khiến cho việc sử dụng

các loài động, thực vật hoang dã trở nên phổ

biến xuất phát từ quan niệm của y học cổ

truyền của Việt Nam, cho rằng để có sức khỏe

tốt thì cơ thể cần phải được cân bằng, nhờ ăn

các loài động, thực vật có tính nóng, lạnh khác

nhau Việc tìm giải pháp đối với việc khai thác

không bền vững động thực vật hoang dã đòi

hỏi phải phân tích các khía cạnh văn hóa và

các giá trị bên trong của vấn đề Hành vi của

con người, nhiều khi là do yếu tố văn hóa thúc

đẩy, chứ không phải là do nhu cầu dinh dưỡng,

hay dựa trên những hiểu biết khoa học về sức

khỏe cá nhân Nhu cầu thể hiện quyền lực và sức mạnh trong các xã hội truyền thống và hiện đại cũng góp phần quyết định hành vi này của con người Hiểu được hành vi sử dụng động, thực vật hoang dã dưới góc độ văn hóa

là một yêu cầu then chốt để tác động đến hành

vi đó và giữ nó trong một giới hạn bền vững

Hộp 1.4 Các cảnh quan núi đá vôi – di sản văn hóa và tự nhiên của Việt Nam

Phong cảnh đặc trưng của các cảnh quan núi đá vôi được thấy rất rõ nét trong nhiều truyện cổ tích và truyền thuyết của Việt Nam, quen thuộc

nhất là “Sự tích trầu cau” và “Đường lên trời”

Trong truyện “Đường lên trời”, một người anh hùng đã vượt qua nhiều núi đá vôi hiểm trở để lên được tới thiên đường mà anh ta hằng mơ ước Phong cảnh những dãy núi đá vôi cũng được khắc họa rõ nét trong thơ ca và hội họa của Việt Nam Trong nhiều tác phẩm hội họa cổ và hiện đại của Việt Nam, phong cảnh núi đá vôi đã được lý tưởng hóa và gần như đã trở thành khuôn mẫu

Núi đá vôi gắn liền với phật giáo và nho giáo, là các tín ngưỡng căn bản nhất của nhiều người Việt Nam Nhiều đền chùa nổi tiếng đã được xây dựng trên các núi đá vôi Chùa Hương là một ví dụ Để tới được chùa chính phải đi thuyền trên suối, luồn lách qua nhiều khối núi đá vôi hùng vĩ, sau đó lại phải tiếp tục trèo lên các bậc đá đến khi mệt lử Mỗi năm có tới hàng trăm ngàn du khách đến thăm Chùa Hương

Quan niệm về vũ trụ của người Việt Nam coi trọng sự cân bằng âm dương, được tượng trưng bằng núi và nước (sơn, thủy) Vì vậy, nhiều gia đình và công sở ở Việt Nam bày hòn non bộ làm cảnh và làm bệ thờ Hòn non bộ chính là hình ảnh của núi đá vôi thu nhỏ, với mặt nước bao quanh

Vịnh Hạ Long – Di sản thiên nhiên Thế giới UNESCO

Trang 33

18

1.5 Đa dạng sinh học và giảm nghèo

Đa dạng sinh học và sinh kế cho người

nghèo gắn bó với nhau

Các hệ sinh thái và đa dạng sinh học của các

hệ sinh thái đó đáp ứng phần lớn các nhu cầu

cơ bản của người nghèo ở nông thôn, như

lương thực, chất đốt, thuốc chữa bệnh và

nước sinh hoạt Chúng duy trì các chức năng

sinh thái như ngăn chặn thiên tai mà người

nghèo là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất

Nhận thức được và hiểu rõ giá trị này của đa

dạng sinh học đối với người nghèo có thể

giúp tạo ra các cơ hội kiếm sống, cải thiện

điều kiện dinh dưỡng, sức khoẻ và cấp nước,

cũng như giảm tác động của thiên tai

Các địa điểm quan trọng nhất về đa dạng

sinh học ở Việt Nam thường là những nơi mà

tác động của con người còn ở mức độ thấp,

như các khu rừng tự nhiên lớn còn lại (Bản

đồ 1.6) Nhiều vùng đa dạng sinh học quan

trọng nằm ở những vùng cao xa xôi chỉ có

người dân tộc thiểu số sinh sống Họ là

những người nghèo nhất và dễ bị ảnh hưởng

nhất ở Việt Nam Trên 85% các khu bảo tồn

ở Việt Nam nằm ở các vùng nghèo trung bình

và rất nghèo.26

Sự xa cách với các vùng đô thị là một điều

kiện thuận lợi cho công tác bảo tồn, nhưng các

vùng sâu, vùng xa thường lại là những vùng

nghèo, nên luôn có sự mâu thuẫn nhất định

giữa các mục tiêu xoá đói giảm nghèo và bảo

tồn đa dạng sinh học Các vùng sâu, vùng xa

giàu có về tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng

là nơi có nhiều người nghèo nhất và chịu nhiều

thiệt thòi nhất Việc thiếu các lựa chọn kinh tế

thay thế, cùng với việc gắn chặt với các tập

quán, tín ngưỡng và văn hoá truyền thống đã

khiến cho các cộng đồng thiểu số phụ thuộc

nặng nề vào các điều kiện tự nhiên Do đó,

quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh học có

tác động qua lại chặt chẽ với các công tác

giảm nghèo (Hộp 1.6)

Có nhiều phương pháp khác nhau để vừa sử

dụng tài nguyên rừng vừa hỗ trợ xoá đói

giảm nghèo Trong đó có việc duy trì độ che

phủ và chất lượng rừng, mặc dù trong những

trường hợp khác, mối quan hệ này kém rõ

ràng hơn Gỗ và các lâm sản phi gỗ có thể là

26 ICEM, 2003 Báo cáo Khu vực về các Khu bảo tồn và Phát triển Đánh

giá các khu bảo tồn và phát triển tại khu vực hạ lưu Mê Kông

Indooroopily, Queensland, Australia

những nguồn sống tốt cho người nghèo và là một “nguồn an sinh xã hội” nếu được quản

lý tốt và hỗ trợ về thể chế và kĩ thuật Các lợi ích từ các chức năng môi trường do rừng cung cấp, các cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến lâm sản và các lợi ích gián tiếp khác, như cải thiện sinh kế và đầu tư giảm đói nghèo của Chính phủ cho các cộng đồng sống trong và gần rừng, cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong công tác xoá đói giảm nghèo Một phần, chiến lược này cần giúp đỡ các cộng đồng nghèo sử dụng tốt hơn các nguồn tài nguyên liên quan tới các sinh kế cơ bản và nắm được các cơ hội thị trường Điều quan trọng là chiến lược này phải xây dựng các phương thức chi trả hiệu quả các khoản thu từ các dịch vụ sinh thái, như một sự công nhận về mặt tài chính

sự đóng góp của các cộng đồng nghèo đối với bảo tồn đa dạng sinh học

Hộp 1.5 Các khu rừng thiêng và bảo tồn

đa dạng sinh học

Một nghiên cứu tại các cộng đồng người Thái ở tỉnh Sơn La cho thấy về mặt truyền thống họ công nhận hai loại rừng thiêng Loại thứ nhất là rừng để thờ, nơi mọi người thực hành lễ nghi tôn giáo Do mất rừng, ngày nay kiểu rừng thiêng này đã suy thoái nặng nề với qui mô trung bình

là 1.000 m2/cộng đồng Tuy nhiên, rừng thiêng vẫn đóng các vai trò tinh thần và văn hoá và có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục môi trường đối với các thế hệ trẻ ở các vùng miền núi Loại thứ hai là rừng ma và rừng làm nghĩa địa Mỗi bản làng có khoảng 5 hecta rừng ma được bảo vệ tốt

và được người dân địa phương tôn trọng Có khoảng 12.000 hecta rừng ma ở tỉnh Sơn La được người dân địa phương bảo vệ thông qua luật truyền thống của người Thái cùng những qui định mới của bản làng Nếu quản lí thích đáng, các rừng thiêng có thể tiếp tục đóng góp đáng kể cho việc bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học Ngành lâm nghiệp và địa chính nên đề cập vấn đề này khi xây dựng ngân sách

Nguồn: Hoàng Việt Anh và cộng sự (2003) Mối liên

hệ giữa rừng thiêng và bảo tồn đa dạng sinh học: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Sơn La, Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái Rừng và Viện Khoa học Môi trường Rừng Việt Nam, dự án do TREELINK- APAFRI

Trang 34

Trả tiền cho người nghèo để duy trì các chức

năng của hệ sinh thái

Trả tiền cho các hoạt động bảo tồn là một

hướng rộng mở, tạo cơ hội cho người nghèo

sinh sống trong các vùng đệm tăng thêm thu

nhập Ví dụ như trả tiền cho cá nhân hay

cộng đồng để họ trồng cây, bảo vệ vùng đầu

nguồn Ở Việt Nam, hoạt động này đã được

thực hiện thông qua các chương trình 327

(1992), 556 (1995) và Chương trình trồng 5

triệu hecta rừng (661) Chính phủ đã cố gắng

khuyến khích những người nghèo nhất tham

gia vào các chương trình này Các chương

trình này đến nay đã giúp che phủ được 1,6

triệu hecta và thu hút 270.000 hộ gia đình

tham gia 27 Các chương trình này cũng đã

kết hợp tạo điều kiện cho công tác xoá đói

giảm nghèo.28

Với dân số đông tập trung tại các vùng ven

biển, sống dựa vào nghề cá và đa dạng sinh

học biển và ven bờ, các tác động tiêu cực lâu

dài của việc quản lý kém hiệu quả biển và

ven bờ có thể gây ra những tác động bất lợi

cho các nhóm người nghèo phụ thuộc vào tài

nguyên Ví dụ, các vùng đất ngập nước ven

biển đã bị mất rất nhiều rừng ngập mặn, làm

giảm trữ lượng cá, mất nguồn chất đốt, gỗ

xây dựng cũng như khả năng ngăn cản bão,

lụt Tình trạng nghèo đói tiếp tục sẽ làm tăng

sức ép đối với các nguồn tài nguyên biển và

sự xung đột giữa những người sử dụng

27 Bộ NN&PTNT (2001) Chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng, Báo

cáo Tổng hợp Hà Nội, Việt Nam, Vụ Hợp tác Quốc tế - Bộ NN&PTNT

28 Sundelin, W.D và Huỳnh Thu Ba (2005), Xoá đói Giảm nghèo và

Rừng ở Việt Nam, CIFOR, Inđônêsia

Hộp 1.6 Tăng cường trọng tâm giảm nghèo trong

Chiến lược ngành lâm nghiệp Việt Nam

Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút các cộng đồng tham gia vào các hoạt động giảm nghèo Các khó khăn này gồm: các luật quốc gia được thực thi như thế nào tại địa phương; các lợi ích gì dành cho người địa phương; phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý; thiếu nguồn tài chính thích đáng để hỗ trợ cải cách chính sách; những sự khác biệt về văn hoá

và cách giải thích các hoạt động Các phương pháp tiếp cận thành công trong công tác giảm nghèo bao gồm:

• Chia sẻ các lợi ích bình đẳng hơn để tạo điều kiện cho công tác đồng quản lý các nguồn tài nguyên rừng;

• Kiểm soát tốt hơn các nguồn tài nguyên rừng được vận chuyển qua các cộng đồng địa phương;

• Minh bạch hơn trong quá trình giao đất lâm nghiệp;

• Thực hiện hiệu quả các qui định về chia sẻ lợi ích;

• Các động cơ quản lý, bảo vệ rừng, cùng các biện pháp thực thi pháp luật phù hợp;

• Xây dựng năng lực và nghiên cứu để xác định cách quản lý rừng tốt nhất đem lại đa lợi ích;

• Khắc phục các rào cản thể chế về buôn bán lâm sản

mà có tác động ngược lên những người sản xuất lâm nghiệp qui mô nhỏ

Bốn chiến lược chính cần được xây dựng để cải thiện đời sống của người nghèo thông qua quản lý rừng Đó là: Phát triển các loài bản địa có giá trị cao; tập huấn cho người dân từ miền núi về quản lý rừng; phát triển vai trò của các ngành sản xuất – chế biến lâm sản qui

mô nhỏ, như các ngành thủ công; phát huy vai trò của việc thu phí dịch vụ môi trường nhằm tạo nguồn thu

bổ sung cho các cộng đồng địa phương

Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2005), Shranks, E và S.O’Reilly Tăng cường Trọng tâm Giảm nghèo trong Chiến lược ngành lâm nghiệp Hà Nội, Ngân hàng Thế giới

Trang 35

20

Bản đồ 1.6 Nghèo đói và các khu bảo tồn ở Việt Nam

Trang 36

Chương 2

Các xu hướng và Các mối đe doạ đối với

Đa dạng Sinh học

Chương 2

Các xu hướng và Các mối đe doạ đối với

Đa dạng Sinh học

Trang 37

22

2.1 Các xu hướng của hệ sinh thái

Các hệ sinh thái rừng - độ che phủ rừng tăng

lên nhưng chất lượng rừng đang suy giảm

Cách đây một thế kỷ, Việt Nam còn rất

nhiều rừng giàu chất lượng cao, che phủ

gần như cả nước Năm 1943, độ che phủ

rừng giảm xuống chỉ còn 14,3 triệu hecta,

hoặc 43% diện tích lãnh thổ Kể từ đó, rừng

không ngừng suy giảm với một tốc độ

nhanh chóng, đặc biệt là trong những năm

chiến tranh và giai đoạn 1976 – 1985

Chính phủ ước tính tới năm 1990, độ che

phủ rừng đã giảm xuống còn 10,88 triệu

hecta, hoặc 28,2 % Từ năm 1993, các

chương trình quốc gia lớn như 327, 556 và

661 đã đẩy mạnh phủ xanh, tái trồng rừng

và cải thiện công tác quản lý rừng, góp

phần làm xoay chuyển chiều hướng tiêu cực

đó Theo thống kê chính thức năm 2004, độ

che phủ rừng đã tăng tới 12,3 triệu hecta

hoặc 37,3% (Bảng 2.1 và Bản đồ 2.1).29

Chương trình 5 triệu hecta rừng (hay 661)

nhằm mục đích tái lập độ che phủ 43% vào

năm 2010

Tuy nhiên, chất lượng của các khu rừng tự

nhiên tiếp tục bị suy giảm và bị chia cắt

Hơn hai phần ba diện tích rừng của Việt

Nam là rừng nghèo hoặc rừng đang phục

hồi, trong khi đó rừng giàu và rừng kín chỉ

chiếm 3,4% (năm 2000) và 4,6% (năm

2004) tổng diện tích rừng (Hình 2.1) Hầu

như không còn các khu rừng ở các vùng

thấp với tính đa dạng sinh học còn nguyên

vẹn Các cơ hội để phục hồi hoàn toàn đang

giảm đi nhanh chóng vì các vùng rừng giàu

đã bị chia cắt và cô lập thành những mảnh

nhỏ

Năm 2005, đoàn đại biểu Chính phủ đi dự

kì họp lần thứ 5 của Diễn đàn LHQ về rừng

đã báo cáo rằng: bên cạnh tình trạng mất

rừng, hàng năm hàng nghìn hecta rừng đang

bị suy thoái – “mất rừng và suy thoái rừng

là những nguyên nhân chính gây hiện tượng

sa mạc hoá và làm nghèo đất, tạo ra hàng

loạt các tác động tiêu cực và các thách thức

cho sự phát triển kinh tế, xã hội và môi

trường, như gây lũ lụt và hạn hán nghiêm

trọng, gây khó khăn trong lĩnh vực cung

29 Bộ NN&PTNT, Thống kê chính thức: Một nửa số này tăng do tăng

diện tích trồng rừng, làm giảm giá trị đa dạng sinh học Những thay đổi

trong các phương pháp được sử dụng để đo đếm độ che phủ rừng cũng

góp phần làm tăng con số về độ che phủ rừng

ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất trồng khiến cho tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở khu vực nông thôn càng đáng lo hơn”.30

Bảng 2.1 Độ che phủ rừng Việt Nam 1995-2004

Độ che phủ rừng (%)

28,2 33,1 37,3

Tổng diện tích rừng (triệu ha)

9,3 10,9 12,3

Rừng tự nhiên (triệu ha)

8,2 9,4 10,1

Rừng trồng (triệu ha)

1,1 1,5 2,2

Nguồn: Bộ NN và PTNT, 2001 và 2005 Báo cáo Kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc Ban chỉ đạo điều tra trung ương Hà Nội, tháng 1/2001; và Quyết định số 1116/QD/BNN-KL ngày 18/5/2005 của Bộ trưởng Bộ NN

và PTNT về công bố diện tích rừng và đất chưa sử dụng toàn quốc năm 2004

* Xem chú thích 29 ở cuối trang

Hình 2.1 Thay đổi trong thành phần rừng tự nhiên 1990-2004

0 2 4 6 8 10 12

Rõng phôc håi/th−a/ nghÌo - Nhãm IIIa1, IIa, Iib

Rõng kÝn tõng phÇn chÊt l−îng trung b×nh Nhãm IIIa2 Rõng kÝn/giµu Nhãm IIIa3, IV

Trang 38

THAY ��I �� CHE PH� R�NG VI�T NAM TRÊN ��T LI�N TRONG GIAI �O�N 1983 - 2004

Phòng B�n �� c�a Ngân hàng Th� gi�i gi�i, màu s�c, ��a danh và b�t k� thông tin khác trình bày trên b�n �ò này không bao hàm b�t k� s� phán quy�t nào ��i v�i hi�n tr�ng Pháp lý c�a b�t k� vùng lãnh th� nào, ho�c b�t k� s� ch�p thu�n hay ch�p nh�n nào ��i v�i các ���ng ranh gi�i �ó.

Phòng B�n �� c�a Ngân hàng Th� gi�i xây d�ng b�n �� này Các ���ng ranh gi�i, màu s�c, ��a danh và b�t k� thông tin khác trình bày trên b�n �ò này không bao hàm b�t k� s� phán quy�t nào ��i v�i hi�n tr�ng Pháp lý c�a b�t k� vùng lãnh th� nào, ho�c b�t k� s� ch�p thu�n hay ch�p nh�n nào ��i v�i các ���ng ranh gi�i �ó

Trang 39

24

Các hệ sinh thái biển và ven bờ - rừng ngập

mặn đang ổn định nhưng hệ san hô và nguồn

lợi thủy sản tiếp tục bị suy thoái

Các khu rừng ngập mặn có vai trò trọng yếu

đối với sự bền vững của ngành thủy sản của

Việt Nam vì đây là sinh cảnh của nhiều loài

cá biển, cá rạn san hô và giáp xác Do đó,

điều đáng quan ngại là các khu rừng ngập

mặn của Việt Nam đã và đang bị suy thoái

nghiêm trọng Trong giai đoạn từ 1943 đến

1999, diện tích rừng ngập mặn trên phạm vi

toàn quốc đã giảm từ 409.000 ha xuống

155.000 ha, tương đương với 62%, trước hết

do sự tàn phá của chiến tranh, và sau đó là do

việc phát triển hàng loạt các vùng nuôi tôm

(Biểu 2.2). 31

Từ năm 1991 đến 2001, tổng diện tích nuôi

trồng thủy sản vùng biển và ven bờ ở Việt

Nam tăng gần gấp đôi.32 Tỉ lệ mất rừng ngập

mặn do các hoạt động sản xuất trong giai

đoạn 1985-2000 ước tính 15.000ha/năm33

Tuy nhiên, rừng ngập mặn đã được cố gắng

trồng lại ở một số nơi Ví dụ, khu Dự trữ sinh

quyển Cần Giờ, nằm ở huyện ven biển phía

nam thành phố Hồ Chí Minh, đã trở thành

một trong những điểm phục hồi rừng ngập

mặn lớn nhất thế giới Khu này có diện tích

tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, gồm Cà Mau,

Bạc Liêu, Sóc Trăng và Trà Vinh Việc chặt

hạ các rừng ngập mặn hiện nay đã được kiểm

soát chặt chẽ hơn Tháng 9 năm 2005, sự thiệt

hại đối với đê biển ở một số tỉnh bị ảnh

hưởng bởi cơn bão Damrey (có tên Việt Nam

là bão số 7) đã chứng minh vai trò bảo vệ của

rừng ngập mặn đối với bờ biển, điều các nhà

khoa học Việt Nam đã cảnh báo từ lâu Đợt

kiểm kê toàn quốc gần đây nhất về rừng ngập

mặn là vào năm 1999 Nhiều dữ liệu về các

điểm cụ thể cho thấy việc kiểm soát phối hợp

và các chương trình trồng rừng ngập mặn ở

tất cả các vùng đã làm chậm lại quá trình suy

giảm rừng trong một vài năm qua

33 Võ Sỹ Tuấn, 2005 Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về Khai thác, Chế biến

và Dịch vụ hậu cần nghề cá, Nhà xuất bản Nông nghiệp

Hình 2.2 Thay đổi diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam trong giai đoạn 1943 – 1999

408500 290000

252000 156608

0 100000 200000 300000 400000 500000

Rừng ngập mặn tại VQG Xuân Thủy (một khu Ramsar)

Trang 40

Trong vòng 10 năm trở lại đây, trên 200 khu

vực san hô dọc bờ biển Việt Nam đã được

khảo sát Các khảo sát này đã cho thấy, nhìn

chung, độ che phủ trung bình của san hô

thấp Theo đánh giá của English và nnk

(1997),34 chỉ có 1% rạn san hô là ở trong điều

kiện tốt (độ che phủ >75%), trong khi đó trên

30% ở trong điều kiện kém (độ che phủ

<25%) Các rạn san hô có độ che phủ trung

bình chiếm khoảng 41% và các rạn có độ che

phủ trên trung bình chiếm 26% Các rạn san

hô nằm ở ngoài khơi hoặc xa các khu có dân

cư sinh sống có thể vẫn còn ở trong điều kiện

tương đối tốt Độ che phủ của san hô sống ở

những rạn tại những khu vực phân bố chủ

yếu trong vùng biển của Việt Nam đã và

đang suy giảm Ở một số nơi độ che phủ của

san hô đã giảm 30% Xu hướng chung là sự

suy thoái san hô sẽ diễn ra trên quy mô

lớn.35

Tương tự, các thảm cỏ biến và sinh cảnh biển

khác cũng đang bị suy giảm, đe dọa sinh kế

của các cộng đồng phụ thuộc vào các tài

nguyên này Hậu quả của việc các rạn san hô

bị suy thoái và khai thác quá mức là sự đa

dạng, cũng như trữ lượng của các loài kinh tế

và sinh vật cảnh đã suy giảm, như tôm hùm

(Panulirus sp.), hải sâm, (Holothuria

scabra), ốc tù và (Hemafusus colosseus), bào

ngư (Haliotes spp.), điệp (Chalamys spp.),

mực (Loligo spp.) sò (Tridacna maxima).36

Các nguồn lợi thủy sản đang suy giảm, đặc

biệt đối với các hệ sinh thái thủy sinh trong

đất liền và gần bờ, đe dọa tới sự tồn tại của

một số loài Điều này có thể thấy rõ ở ngành

hải sản Hiện nay một ngư dân phải mất công

gấp đôi để bắt được một tấn cá so với năm

1990 (Hình 2.3) Tương tự, các nghiên cứu

về bốn con sông ở miền bắc đã cho thấy giờ

đây người dân phải đi xa hơn, so với 10-20

năm trước đây, để bắt cá, lượng cá bắt được

hàng ngày ít đi, và cá bắt được cũng có kích

thước nhỏ hơn trước (Hộp 2.1).37

34 English, S C Wilkinson và V Baker (1997) Hướng dẫn điều tra Tài

nguyên biển Nhiệt đới Viện Khoa học biển Australia, Townsville,

Australia

35 Võ Sỹ Tuấn, 2005 “Kế hoạch Hành động Quốc gia về quản lý rạn san

hô ở Việt Nam tới năm 2015”, được trình bày ở Cuộc họp lần thứ 6 của

Nhóm công tác vùng về tiểu hợp phần San hô của dự án UNEP/GEF:

“Đảo ngược xu hướng suy thoái môi trường ở Đông Nam Á và Vịnh Thái

Lan” Masinloc, Philippines, 22 – 25/8/2005, Dự án Biển Đông của

UNEP, GEF

36 Võ Sỹ Tuấn (2002) Hợp phần San hô – Ngăn chặn sự Suy thoái Môi

trường ở Đông Nam Á và vịnh Thái Lan

37 Dựa vào các điều tra RRA dọc bốn dòng sông chính (Lô, Đà, Se San và

Hộp 2.1 Các xu hướng của ngành thủy sản nước ngọt

Trong quá khứ, nghề cá nước ngọt có tầm quan trọng đối với nền kinh tế đất nước tại nhiều khu vực Trong những năm 70, có tới 70 hợp tác xã đánh cá với sản lượng nhiều nghìn tấn/năm Tuy nhiên, việc khai thác quá mức đã dẫn tới tình trạng suy kiệt nguồn tài nguyên này làm cho nhiều hợp tác xã phải giải thể Đánh bắt nội địa (trên các sông, hồ, đập, và ruộng lúa) vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với cư dân nông thôn tại nhiều nơi Nguồn số liệu chính về nghề cá nội địa do Tổng cục Thống kê cung cấp, cho thấy sản lượng cao nhất là 244.000 tấn vào năm

2001, giảm xuống còn 209.000 vào năm 2003,

có thể là do hạn hán và do môi trường vùng thượng lưu bị thay đổi Các con sông của Việt Nam nói chung đều có năng suất sinh học cao Chẳng hạn sông Mê Kông cung cấp 30.000 tấn

cá hằng năm, và có thể đạt tới 48.000 tấn tại 250

xã (theo Quy hoạch Tổng thể của Bộ Thủy sản) Tuy nhiên, đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc, nơi có trước kia có năng suất cao, giờ đây hầu như không còn cá, do các biện pháp kiểm soát lũ lụt diện rộng và mất các vùng đẻ và ươm cá con

Ngày đăng: 10/04/2014, 10:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Diện tích các kiểu rừng ở Việt Nam - Đa dạng sinh học
Hình 1.1 Diện tích các kiểu rừng ở Việt Nam (Trang 19)
Bảng 1.1 Sự giàu có về các loài sinh vật đã biết ở  Việt Nam trong một số nhóm phân loại - Đa dạng sinh học
Bảng 1.1 Sự giàu có về các loài sinh vật đã biết ở Việt Nam trong một số nhóm phân loại (Trang 25)
Bảng 1.2 Nguồn lợi  và dịch vụ từ những khu bảo  tồn ở tỉnh Thừa Thiên Huế - Đa dạng sinh học
Bảng 1.2 Nguồn lợi và dịch vụ từ những khu bảo tồn ở tỉnh Thừa Thiên Huế (Trang 28)
Bảng 2.1  Độ che phủ rừng Việt Nam 1995-2004 - Đa dạng sinh học
Bảng 2.1 Độ che phủ rừng Việt Nam 1995-2004 (Trang 37)
Hình 2.1 Thay đổi trong thành phần rừng tự  nhiên  1990-2004 - Đa dạng sinh học
Hình 2.1 Thay đổi trong thành phần rừng tự nhiên 1990-2004 (Trang 37)
Hình 2.2 Thay đổi diện tích rừng ngập mặn  ở  Việt Nam trong giai đoạn 1943 – 1999 - Đa dạng sinh học
Hình 2.2 Thay đổi diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam trong giai đoạn 1943 – 1999 (Trang 39)
Bảng 2.2 Số lượng các loài bị đe dọa ở cấp quốc  gia và cấp toàn cầu ở Việt Nam - Đa dạng sinh học
Bảng 2.2 Số lượng các loài bị đe dọa ở cấp quốc gia và cấp toàn cầu ở Việt Nam (Trang 41)
Hình 2.4 Số đếm tối  đa của loài cò mỏ thìa trú  đông tại khu Ramsar Xuân Thủy - Đa dạng sinh học
Hình 2.4 Số đếm tối đa của loài cò mỏ thìa trú đông tại khu Ramsar Xuân Thủy (Trang 41)
Hình 2.3 Các xu hướng sản xuất chung (đánh  bắt tự nhiên và nuôi trồng thủy sản) và lượng  đánh bắt thuỷ sản mỗi mẻ ở Việt Nam - Đa dạng sinh học
Hình 2.3 Các xu hướng sản xuất chung (đánh bắt tự nhiên và nuôi trồng thủy sản) và lượng đánh bắt thuỷ sản mỗi mẻ ở Việt Nam (Trang 41)
Bảng 2.3 Ước lượng quần thể của một số loài bị  đe dọa ở cấp độ toàn cầu ở Việt Nam, minh họa  cho tính chất đặc biệt hiếm của một số loài - Đa dạng sinh học
Bảng 2.3 Ước lượng quần thể của một số loài bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu ở Việt Nam, minh họa cho tính chất đặc biệt hiếm của một số loài (Trang 42)
Bảng 2.4 Sự suy giảm diện tích và mất các giống  cây trồng bản địa từ năm 1970 tới 1998 - Đa dạng sinh học
Bảng 2.4 Sự suy giảm diện tích và mất các giống cây trồng bản địa từ năm 1970 tới 1998 (Trang 42)
Bảng 2.5 Tầm quan trọng tương đối của các mối  đe doạ đối với đa dạng sinh học - Đa dạng sinh học
Bảng 2.5 Tầm quan trọng tương đối của các mối đe doạ đối với đa dạng sinh học (Trang 43)
Bảng 2.6 Các tác động tiềm tàng của xây dựng  đường và đập đối với đa dạng sinh học - Đa dạng sinh học
Bảng 2.6 Các tác động tiềm tàng của xây dựng đường và đập đối với đa dạng sinh học (Trang 45)
Hình 3.1 Những cơ quan trung ương chủ chốt có trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học - Đa dạng sinh học
Hình 3.1 Những cơ quan trung ương chủ chốt có trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học (Trang 51)
Hình 3.2 Sự  tăng số  lượng các khu rừng  đặc  dụng trong thời gian 1962-2004 - Đa dạng sinh học
Hình 3.2 Sự tăng số lượng các khu rừng đặc dụng trong thời gian 1962-2004 (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w