VẤN ĐỀ 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT QUỐC TẾ I CÂU HỎI LÝ THUYẾT 1 Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của luật quốc tế? Gợi ý trả lời Luật quốc tế được hình thành và phát triển cùng với lị.
Trang 1VẤN ĐỀ 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT QUỐC TẾ
I CÂU HỎI LÝ THUYẾT
1 Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của luật quốc tế?
Khi nhà nước ra đời (hay nói cách khác, khi xã hội loài người bắt đầu hình thànhcác quốc gia độc lập) thì các quốc gia có nhu cầu liên kết, họp tác với nhau để giảiquyết các vấn đề như: phân định biên giới lãnh thổ, ký kết các thỏa thuận để trao đổihàng hóa, quan hệ ngoại giao, giải quyết các vấn đề về chiến tranh, hòa bình Cácquan hệ xã hội này khi hình thành đòi hỏi phải được điều chinh về pháp lý Do đó,dưới thời chiếm hữu nô lệ đã có những nguyên tắc, quy phạm pháp luật điều chỉnhquan hệ giữa các quốc gia và đó chính là những nguyên tắc, quy phạm đầu tiên củaluật quốc tế
Như vậy, luật quốc tế ra đời là do nguyên nhân khách quan của sự xuất hiện nhànước ở các khu vực địa lý khác nhau và nhu cầu cần có luật điều chỉnh quan hệ giữacác quốc gia
2 Luật quốc tế có phải là tư pháp quốc tế không?
Trang 2Luật quốc tế không phải là tư pháp quốc tế Luật quốc tế là một hệ thống pháp luậtđộc lập với hệ thống pháp luật quốc gia, điều chỉnh mối quan hệ (chủ yếu là quan hệmang tính chính trị) giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế Tư phápquốc tế là một ngành luật thuộc hệ thống pháp luật quốc gia, bao gồm các nguyên tắc
và quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân Sự (theo nghĩa rộng) có yếu tốnước ngoài Ví dụ như: quan hệ hôn nhân và gia đình giữa một bên là người Việt Namvới bên còn lại là người nước ngoài
3 Trình bày điểm khác biệt cơ bản giữa luật quốc tế và luật quốc gia?
G
ợi ý trả l ời :
Điểm khác biệt giữa luật quốc tế và luật; quốc gia được thể hiện qua những vấn đề
cơ bản sau:
Đối tượng điều
chỉnh
Quan hệ xã hội phát sinh trên tất
cả các lĩnh vực của đời sốngquốc tể và giữa các chủ thể củaluật quốc tế vói nhau
Ví dụ: quan hệ giữa các quốc giavới nhau để giải quyết tình trạngngười không quốc tịch hoặckhông rõ quốc tịch; quan hệ hợptác thương mại giữa các quốcgia; quan hệ giữa các quốc gia đểgiải quyết tình trạng lao động dicư
Quan hệ xã hội phát sinh trongphạm vi của một quốc gia, giữacác cá nhân, pháp nhân, tổ chtrc
và cơ quan nhà nước
Ví dụ, quan hệ giữa nhà nước vàngười xin gia nhập hoặc xin thôiquốc tịch; quan hệ thương mạigiữa cá nhân, doanh nghiệp củacác quốc gia khác nhau; quan hệgiữa người lao động và người sửdụng lao động
Chủ thể - Quốc gia; tổ chức quốc tế liên
quốc gia (còn gọi là tổ chức liênchính phủ, ví dụ ASEAN,WTO ); các dân tộc đang đấutranh giành
- Pháp nhân, cá nhân, nhà nước
Trang 3quyển tự quyết; một số vùnglãnh thổ có quy chế đặc biệtnhư: Tòa thánh Vatican, ĐàiLoan, Hồng Kông
- Các chủ thể này có địa vị pháp
lý quốc tế bình đẳng
chi phối địa vị pháp lý của chủthể khác bằng cách thiết lập cácnguyên tắc, quy phạm pháp luậtbắt buộc các chủ thể khác phảituân thủ và thực hiện
- Luôn tồn tại cơ quan lập pháp
- Cơ quan lập pháp là Quốc hội,Nghị viện thiết lập nên hệthống quy tắc xử sự, biểu hiện
và cụ thể hóa quan điểm, ý chí,lợi ích của giai cấp thống trị ởmột nhà nước nhất định
Ví dụ, Quốc hội ban hành Hiếnpháp, luật
Trang 4tuân thủ sở ý thức tự thực thi, tuân thủ và
vì lợi ích của chính chủ thể đó
- Không tồn tại bộ máy hànhpháp hoặc bộ máy tư phápchung, đứng tên các chủ thể luậtquốc tế để tổ chức, thực hiệnhoặc áp dụng biện pháp cưỡngchế thực thi luật quốc tế
- Các biện pháp cưỡng chế thựcthi, tuân thủ do chính các chủthể của luật quốc tế thực hiệndưới hình thtrc riêng lẻ hoặc tậpthể
Ví dụ, các quốc gia là thành viênLiên họp quốc phải tự nguyệnthực thi Hiến chương Liên hợpquốc (không dùng vũ lực, khôngcan thiệp vào công việc nội bộcủa quốc gia khác ) Nếu khôngthực hiện các
do cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành
- Tồn tại bộ máy hành pháp, tưpháp để tổ chức thực thi vàcưỡng chế thực thi luật quốc gia
- Cơ quan nhà nước có thẩmquyền (ví dụ, Tòa án, công an, thihành án ) cưỡng chế cá nhân,pháp nhân tuân thủ pháp luậtcủa quốc gia
Ví dụ, cá nhân phải tuân thù phápluật của nhà nước về nộp thuếthu nhập cá nhân Nếu vi phạmnghĩa vụ này, cá nhân có thể bịphạt hành chính hoặc bị truy tố bởi cơ quan thuế, kiểm sát, công
an, tòa án quốc gia
nghĩa vụ theo Hiến chương thìquốc gia vi phạm có thể bị cácquốc gia khác là thành viên Liênhọp quốc cưỡng chế thi hànhbằng các biện pháp phi vũ tranghoặc vũ trang
Trang 54 Khác với luật quốc gia, luật quốc tế không được xây dựng và cưỡng chế thực thi bởi các cơ quan chuyên trách, tại sao?
- Thực thi luật quốc tế thể hiện đặc trưng có tính bản chất của luật này là thôngqua cơ chế thỏa thuận hoặc sự tự điều chỉnh của từng quốc gia1 Luật quốc tế có cácchế tài nhưng việc áp dụng chế tài của luật quốc tế do chính quốc gia tự thực hiện bằngcách thức riêng lẻ hoặc tập thể
- Chủ thể luật quốc tế áp dụng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau để đảm bảocho việc thực hiện và tôn trọng đầy đủ các quy định của luật quốc tế Ví dụ: thông quabiện pháp ngoại giao, đàm phán ký kết điều ước quốc tế
5.Trong các chủ thể của luật quốc tế, quốc gia được coi là chủ thể cơ bản Tại sao?
- Lãnh thổ được xác định: Lãnh thổ quốc gia được hiểu
là một bộ phận của Trái Đất, bao gồm các bộ phận cấu thành là vùng đất, vùngnước, vùng trời và vùng lòng đất
- Dân cư thường xuyên: Dân cư là tổng hợp những người cư trú, sinh sống trênlãnh thổ quốc gia nhất định và chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đó Dân cưbao gồm 2 bộ phận: công dân (những người mang quốc tịch của quốc gia) và ngườinước ngoài (người không mang quốc tịch quốc gia nơi người đó đang sinh sống)
- Chính phủ hoạt động hiệu quả: Một chính phủ được coi là chính phủ hoạt độnghiệu quả khi thỏa mãn cùng lúc dấu hiệu được đa số nhân dân ủng hộ và có khảnăng duy trì quyền lực của mình trên toàn bộ lãnh thổ và dân cư mà không có sự canthiệp của quyền lực nước ngoài Chính phủ hoạt động hiệu quả là yếu tố để phân
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, NXB Công an nhân
dân, 2018, tr.14.
Trang 6biệt chính phủ của quốc gia với chính phủ của các dân tộc thuộc địa và chính phủlưu vong.
- Khả năng tham gia quan hệ quốc tế: Thực thể đó có khả năng tham gia quan hệquốc tế một cách độc lập, tự quyết định việc tham gia hoặc không tham gia vào quan
hệ quốc tế Tiêu chí này giúp phân biệt quốc gia với các bang và tiểu bang của mộtquốc gia theo kiểu liên bang hoặc vùng lãnh thổ đặt dưới chế độ quản thác của Liênhợp quốc
Quốc gia là chủ thể cơ bản của luật quốc tế vì:
- Trải qua sự phát triển của lịch sử, quốc gia là chủ thể đầu tiên và luôn đượcthừa nhận là chủ thể của luật quốc tế
- Quan hệ xã hội do luật quốc tế điều chỉnh trước tiên và chủ yếu là quan hệgiữa các quốc gia;
- Quốc gia là chủ thể có quyền năng đầy đủ khi tham gia vào các quan hệ doluật quốc tế điều chỉnh
6 Chủ quyền quốc gia là gì? Điểm khác biệt giữa quyền năng chủ thể luật quốc tế của quốc gia và quyền năng chủ thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế liên quốc gia?
G
ợ i ý trả lời:
Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị - pháp lý của quốc gia được thể hiệntrên hai phương diện: quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế
- Quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ quốc gia: trong phạm vi lãnh thổ củamình, quốc gia có quyền lực chính trị tối cao Quyền lực chính trị tối cao này thể hiệnqua các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của quốc gia; quyền quyết định mọi vấn
đề chính trị, kinh tế, xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của quốc gia và các quốc giakhác không có quyền can thiệp
- Quyền độc lập trong quan hệ quốc tế: quốc gia có quyền tự quyết định chínhsách đối ngoại mà không bị lệ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào Không một thực thể nàođược phép chi phối hay ngăn cản các quốc gia xây dựng quan hệ hợp tác với các chủthể khác Tuy nhiên, việc thực hiện chủ quyền của quốc gia không được xâm phạmđến lợi ích hợp pháp của chủ thể quốc tế khác
Điểm khác biệt giữa quyền năng chủ thể luật quốc tế của quốc gia và quyền năngchủ thể luật quốc té của tổ chức quốc tế liên quốc gia thể hiện qua các nội dung sau:
Trang 7có của quốc gia mà không do bất
kì chủ thể nào khác trao choquốc gia
Quyền năng phái sinh: Quyền năngchủ thể luật quốc tế của các tổ chứcquốc tế liên quốc gia được quy địnhtrong điều lệ của mỗi tổ chức (hiếnchương, quy chế ), trong đó quyđịnh rõ phạm vi quyền và nghĩa vụ cơbản của tổ chức này Do đó, các tổchtrc
Nội
dung
Quyền năng chủ thể luât quốc tế
của quốc gia
Quyền năng chủ thể luật quốc tế của
tổ chtrc quốc tế liên quốc gia
Một thực thể có đủ 4 yếu tố cấuthành (lãnh thổ, dân cư, chínhquyền và khả năng tham giaquan hệ quốc tế) thì được coi làquốc gia và là chủ thể luật quốctế
quốc tế khác nhau sẽ có chtrc năng,nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau
có thể tham gia đầy đủ vào cácquan hệ quốc tế trong mọi lĩnhvực, với mọi chủ thể luật quốctế
Quyền năng hạn chế Các tổ chtrcquốc tế liên quốc gia chỉ được thamgia vào các quan hệ quốc tế hoặcthực hiện các quyền và nghĩa vụ docác quốc gia thành viên quy định.Quyền năng chủ thể luật quốc tế củacác tổ chức quốc tế liên chính phủđược quy định trong điều lệ của mỗi
tổ chức (hiến chương, quy chế ),trong đó quy định rõ phạm vi quyền
và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức này
Do đó, các tổ chức quốc tế khác nhau
sẽ có chtrc năng, nhiệm vụ và quyềnhạn khác nhau
Trang 87 Mặc dù có tham gia vào một số quan hệ quốc tế nhưng cá nhân, pháp nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế Tại sao?
Gửi ý trả lòi:
,Chủ thể luật quốc tế không bao gồm các cá nhân, pháp nhân bởi vì:
- Đặc điểm của quan hệ pháp luật quốc tế là quan hệ giữa thiết lập ở cấp độ liênquốc gia, liên chính phủ
- Trong một vào quan hệ số trường hợp, cá nhân có thể tham gia vào quan hệ tốtụng hình sự quốc tế (ví dụ, xét xử tội phạm quốc tế tại các tòa án hình sự quốc tế)hoặc các tập đoàn kinh tế tham gia đầu tư hoặc giải quyết tranh chấp đầu tư với quốcgia tiếp nhận đầu tư Tuy nhiên, những cá nhân, pháp nhân tham gia vào các quan hệ
đó không với tư cách chủ thể của luật quốc tế
- Cá nhân, pháp nhân là đối tượng được hưởng những lợi ích từ những quan hệhợp tác giữa các quốc gia, chứ không phải là chủ thể của các quan hệ đó, vì cá nhân,pháp nhân không có năng lực chủ thể luật quốc tế: khi tham gia vào quan hệ đó, cánhân không có ý chí độc lập (lệ thuộc vào các chủ thể khác) và không có khả năng tựchịu trách nhiệm về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi của mình trong quan hệquốc tế
8 Trình bày các vấn đề pháp lý về công nhận quốc tế?
Gợ
i ý trả lời:
Công nhận quốc tế là hành vi chính trị - pháp lý của quốc gia công nhận dựa trênnền tảng động cơ nhất định (mà chủ yếu là động cơ chính trị, kinh tế, quốc phòng)nhằm xác nhận sự tồn tại của thành viên mới trong cộng đồng quốc tế, khẳng địnhquan hệ của quốc gia công nhận đối với chính sách, chế độ chính trị, kinh tế củathành viên mới và thể hiện ý định thiết lập quan hệ bình thường, ổn định với thànhviên mới của cộng đồng quốc tế trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cộng đồng quốc
tế2
Công nhận quốc tế bao gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
- Các thể loại công nhận quốc tế:
+ Công nhận quốc gia mới: Sự xuất hiện của quốc gia mới trên trường quốc tế(theo con đường truyền thống trên cơ sở hội tụ đủ các yếu tố cấu thành quốc gia hoặc
do chia tách, hợp nhất quốc gia ) đặt ra vấn đề công nhận Quốc gia là chủ thể mớicủa luật quốc tế ngay từ thời điểm mới thành lập Công nhận quốc gia mới chỉ đóngvai trò tuyên bố về sự tồn tại của chủ thể mới của luật quốc tế
+ Công nhận chính phủ mới: Dựa vào cơ sở pháp lý hình thành chính phủ, có thểphân chia chính phủ thành hai loại là chính phủ được thành lập phù hợp với hiến pháp
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, NXB Công an nhân dân, 2018, tr 67.
Trang 9(chính phủ de jure) và chính phủ được thành lập không phù hợp với hiến pháp (chínhphủ de facto).
Việc thành lập chính phủ de jure hoàn toàn là công việc nội bộ của quốc gia nêncác quốc gia khác không có quyền can thiệp Chính vì vậy, công nhận chính phủ mớithường được đặt ra với loại chính phủ de facto mới thành lập Công nhận chính phủmới nghĩa là công nhận người đại diện hợp pháp cho một quốc gia có chủ quyền trongquan hệ quốc tế
Ngày nay, luật quốc tế thừa nhận nguyên tắc hữu hiệu là cơ sở để công nhận cácchính phủ de facto mới thành lập Theo nguyên tắc này, một chính phủ mới de factochỉ được công nhận khi đáp ứng được các điều kiện: (i) được đông đảo quần chúngnhân dân tự nguyện, tự giác ủng hộ; (ii) có đủ năng lực để duy trì và thực hiện quyềnlực quốc gia trong một thời gian dài; (iii) có khả năng kiểm soát toàn bộ hoặc phần lớnlãnh thổ quốc gia một cách độc lập và tự chủ, tự quản lý và điều hành mọi công việccủa đất nước
+ Các thể loại công nhận khác: Công nhận dân tộc đang đấu tranh giành quyền tựquyết, công nhận các bên tham chiến Tuy nhiên, công nhận quốc gia và công nhậnchính phủ mới thành lập vẫn là những thể loại cơ bản của công nhận quốc tế
- Các hình thức công nhận quốc tế: các chủ thể thường sử dụng một trong các hìnhthtrc sau khi thực hiện hành vi công nhận quốc tế:
+ Công nhận De jure: Là công nhận quốc tế chính thức, ở mức độ đầy đủ nhất vàtrong một phạm vi toàn diện nhất
+ Công nhận De facto: Là công nhận quốc tế thực tế nhưng ở mức không đầy đủ,hạn chế và trong một phạm vi không toàn diện Sự khác nhau giữa công nhận De jure
và công nhận De facto chủ yếu về mặt chính trị Động cơ chính trị của bên công nhận
De facto thể hiện ở thái độ thận trọng của quốc gia công nhận đối với quốc gia hoặcchính phủ mới được thành lập trong nhiều vấn đề liên quan đến tình hình, bối cảnhtrong nước cũng như quốc tế
+ Công nhận Ad hoc: Là hình thức công nhận đặc biệt mà quan hệ giữa các bênchỉ phát sinh trong một phạm vi nhất định nhằm tiến hành một số công vụ cụ thể vàquan hệ giữa các bên sẽ chấm dứt ngay khi công việc đó được hoàn tất
Ví dụ, Việt Nam và Mỹ công nhận lẫn nhau ở mức độ đầy đủ và toàn diện nhất(công nhận De jure) và thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 7/1995 Tuy nhiên,trước thòi điểm này, Việt Nam và Mỹ đã công nhận nhau dưới hình thtrc Ad hoc đểgiải quyết một số vẫn đề như: tù binh chiến tranh và người mất tích trong chiến tranh Tùy vào mối quan hệ giữa các bên, các quốc gia có quyền lựa chọn hình thức đểcông nhận quốc gia mới nhưng việc công nhận đó phải phù hợp với các nguyên tắc cơ
Trang 10bản của luật quốc tế.
- Các phương pháp công nhận quốc tế:
+ Công nhận minh thị: Việc công nhận được thể hiện một cách rõ ràng bằng mộthành vi cụ thể, rõ rệt của quốc gia công nhận
+ Công nhận mặc thị: Việc công nhận được thể hiện một cách kín đáo, ngấmngầm mà bên được công nhận hoặc quốc gia và chính phủ khác phải dựa vào các quyphạm tập quán nhất định hay các nguyên tắc suy diễn trong sinh hoạt quốc tế mới làmsáng tỏ được ý định công nhận của bên công nhận
- Hệ quả pháp lý của công nhận quốc tế:
+ Công nhận là hành vi thể hiện quan điểm chính trị - pháp lý của quốc gia khi có
sự xuất hiện của chủ thể mới hoặc chính phủ mới trên trường quốc tế Điều này cónghĩa là công nhận hay không công nhận một quốc gia mới hoặc chính phủ mới làhành vi thể hiện chủ quyền quốc gia, xuất phát từ ý chí và sự tự nguyện của chủ thểluật quốc tế
+ Công nhận quốc tế không tạo ra quyền năng chủ thể luật quốc tế của chủ thểđược công nhận Quốc gia mới hình thành là chủ thể của luật quốc tế ngay từ thờiđiểm mới thành lập Tuy nhiên, công nhận sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì,thiết lập và thực hiện các quan hệ pháp lý quốc tế giữa các quốc gia và các chủ thể củaluật quốc tế
9 Quy phạm pháp luật quốc tế là gi? Phân biệt quy phạm pháp luật quốc tế với quy phạm chính trị trong quan hệ quốc tế?
G
ợi ý trả lòi;
Quy phạm pháp luật quốc tế là quy tắc xử sự, được tạo bởi sự thỏa thuận của cácchủ thể luật quốc tế và có giá trị ràng buộc các chủ thể đó đối với các quyền, nghĩa vụhay trách nhiệm pháp lý quốc tế khi tham gia quan hệ pháp luật quốc tế
Quy phạm pháp luật quốc tế khác với quy phạm chính trị trong quan hệ quốc tế ởmột số điểm cơ bản sau:
Điểm khác nhauQuy phạm pháp luật quốc tế Quy phạm chính trị trong quan hệ quốc
tế
Trang 11Sự hình thành Luật quốc tế (ví dụ, Công
ước Viên năm 1969 về luậtđiều ước giữa các quốc gia)điều chỉnh quá trình các chủthể của luật quốc tế tựnguyện, thỏa thuận xây dựngcác quy phạm pháp luật quốctế
Quá trình thỏa thuận hình thành các quyphạm chính trị dựa trên cơ sở bình đẳng
và tin cậy lẫn nhau Trình tự xây dựngcác quy phạm chính trị không phải tuântheo các quy định của luật quốc tế
Hình thức ghi
nhận
Thể hiện dưới hình thứcđiều ước quốc tế hoặc tậpquán quốc tế
Không thể hiện dưới hình thức điều ướcquốc tế hoặc tập quán quốc tế màthường được ghi nhận trong các vănkiện chính trị nhằm thể hiện ý chí bướcđầu của các bên Ví dụ như các quyphạm được ghi nhận trong Tuyên bốhòa hợp Bali (1976), Tuyên bố về cáchứng xử của các bên trên Biển Đông(2002)
Điểm khác nhau Quy phạm pháp luật quốc tế Quy phạm chính trị trong quan hệ quốc
Quyền và nghĩa vụ có tính chất đạođức chính trị, thường có tính địnhhướng, mềm dẻo, tạo khả năng rộnghơn cho các chủ thể luật quốc tế trongcác hoạt động thực tiễn
Trang 12Hậu quả pháp lý
khi vi phạm
Hành vi vi phạm quy phạmpháp luật quốc tế làm nảysinh trách nhiệm pháp lýquốc tế
Hành vi vi phạm quy phạm chính trịkhông làm phát sinh trách nhiệm pháp
lý cho quốc gia vi phạm Không thểkhởi kiện chủ thể thực hiện hành vi viphạm quy phạm chính trị ra cơ quan tàiphán quốc tế để yêu cầu bồi thườngthiệt hại Hành vi vi phạm quy phạmchính trị làm ảnh hưởng đến uy tín củaquốc gia trong quan hệ quốc tế, thểhiện sự thiếu thần thiện trong quan hệquốc tế và có thể bị trả đũa từ phía bị viphạm
10 Luật quốc tế có những loại quy phạm nào, cho ví dụ?
G
ợi ý trả lời:
Quy phạm pháp luật quốc tế là thành tố nhỏ nhất trong hệ thống cấu trúc của luậtquốc tế Quy phạm pháp luật quốc tế được hiểu là quy tắc xử sự, được tạo bởi sự thỏathuận của các chủ thể luật quốc tế và có giá trị ràng buộc các chủ thể đó đối với cácquyền, nghĩa vụ hay trách nhiệm pháp lý quốc tế khi tham gia quan hệ pháp luật quốctế
Quy phạm pháp luật quốc tế có thể được phân chia thành nhiều loại trên cơ sở cáctiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào hình thtrc biểu hiện của quy phạm, bao gồm:
+ Quy phạm điều ước (quy phạm thành văn): là những quy tắc xử sự được ghinhận trong điều ước quốc tế do các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏathuận xây dựng nên Ví dụ, quy phạm về phân chia vùng biển chồng lấn trong Hiệpđịnh phân định vịnh Bắc Bộ giữạ Việt Nam và Trung Quốc năm 2000 3
+ Quy phạm tập quán (quy phạm không thành văn): là những quy tắc xử sự chung,hình thành trong thực tiễn sinh hoạt quốc tế, được các chủ thể của luật quốc tế thừanhận là quy phạm có giá trị pháp lý bắt buộc Ví dụ: Quy phạm về cấm tra tấn, về ưuđãi miễn trừ
- Căn cứ vào giá trị hiệu lực của quy phạm, bao gồm:
+ Quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung (quy phạm jus cogens)
Theo Điều 53 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế giữa các quốcgia (Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế), quy phạm mệnh lệnh bắtbuộc chung được hiểu là quy phạm được toàn thể cộng đồng các quốc gia chấp thuận
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tể, NXB Công an nhân dầp, 2018, tr.17.
Trang 13và công nhận, là quy phạm không cho phép có bất kỳ sự vi phạm nào Quy phạm mệnhlệnh bắt buộc chung là quy phạm có giá trị tối cao đối với mọi chủ thể luật quốc tế và
là thước đo tính hợp pháp của tất cả các quy phạm khác của luật quốc tế
Hiện nay chưa có thống kê cụ thể về số lượng các quy phạm mệnh lệnh bắt buộc
chung (jus cogens), tuy nhiên, đã có sự thừa nhận chung rằng các quy phạm về hòa
bình giải quyết tranh chấp quốc tế, quy phạm về cấm sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng
vũ lực là các quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung của luật quốc tế
+ Quy phạm tùy nghi (quy phạm thông thường) là quy phạm cho phép các chủ thểliên quan có quyền tự xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ qua lại giữa các bên phù hợpvới hoàn cảnh thực tế Ví dụ: quy phạm về mức độ ưu đãi thuế quan, loại hàng hóa vàdịch vụ được miễn giảm thuế trong hiệp định giữa hai quốc gia Sự tồn tại của quyphạm tùy nghi thể hiện bản chất thỏa thuận của luật quốc tế
V ề mặt lý luận, mọi quy phạm pháp luật quốc tế đều do chủ thể của luật quốc tế
thỏa thuận xây dưng mà không phải do một cơ quan có thẩm quyền ban hành Do đó,nhìn chung các quy phạm pháp luật quốc tế có giá trị pháp lý ngang nhau, cho dù mụcđích và chủ thể xây dựng quy phạm đó khác nhau Mặc dù vậy, luật quốc tế không hạnchế ý chí của chủ thể trong việc thỏa thuận ưu tiên áp dụng một số quy phạm nhất định
để điều chỉnh quan hệ cụ thể phát sinh giữa các chủ thể đó (chẳng hạn ưu tiên áp dụngquy phạm điều ước so với quy phạm tập quán, ưu tiên áp dụng quy phạm của Hiếnchương Liên hợp quốc so với quy phạm của điều ước quốc tế khác ) Chính điều này
sẽ góp phần giải quyết mâu thuẫn, xung đột giữa các quy phạm pháp luật quốc tế vàthúc đẩy quá trình giao lưu hợp tác giữa các chủ thể của luật quốc tế
- Căn ctr vào phạm vi tác động của quy phạm, bao gồm:
+ Quy phạm đa phương (quy phạm đa phương toàn cầu Ví dụ, quy phạm đượcghi nhận trong Hiến chương UN; quy phạm đa phương khu vực (quy phạm đa phươnghạn chế) Ví dụ, quy phạm được ghi nhận trong Hiến chương ASEAN và các điều ướcquốc tế được ký kết trong khuôn khổ Liên minh châu Âu)
+ Quy phạm song phương: Ví dụ: quy phạm được ghi nhận trong Hiệp địnhthương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000
11 Phân tích mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia?
Trang 14đối ngoại của nhà nước.
- Vai trò của Nhà nước trong quá trình ban hành pháp luật quốc gia và xây dựngpháp luật quốc tế
- Sự thống nhất về chức năng của hai hệ thống pháp luật
- Nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servanđa).Thtr hai, mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia thể hiện qua các nội dung:
- Luật quốc gia có ảnh hưởng quyết định đến quá trình xây dựng, thực hiện vàphát triển luật quốc tế
Quá trình xây dựng luật quốc tế trước hết phải xuất phát từ lợi ích của mỗi quốcgia Hơn nữa, sự hình thành các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tể cũng nhưnội dung của chúng hoàn toàn tùy thuộc vào sự thỏa thuận, thương lượng giữa cácquốc gia Quan điểm của mỗi quốc gia trong quá trình thỏa thuận thương lượng đóphải dựa trên những nguyên tắc và quy phạm nền tảng của chính pháp luật quốc gia.Với ý nghĩa đó pháp luật quốc gia thể hiện sự định hướng về nội dung và tính chất củaquy phạm pháp luật quốc tế Mọi sự thay đổi hoặc phát triển tiến bộ của pháp luật quốcgia đều thúc đẩy sự phát triển của luật quốc tế theo hướng tích cực Khi bản chất pháp
lý của pháp luật quốc gia là tiến bộ dân chủ thì các nguyên tắc, quỵ phạm luật quốc tế
mà quốc gia tham gia xây dựng cũng mang bản chất đó
Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy, có rất nhiều quy phạm luật quốc tế được bắtnguồn từ các quy phạm luật quốc gia Ví dụ: Luật ngoại giao, lãnh sự dành quyền ưuđãi, miễn trừ cho viên chức ngoại giao, lãnh sự Những ưu đãi này trong luật quốc tế
có sự bắt nguồn từ Luật La Mã cổ đại với ưu đãi dành cho sứ giả
- Luật quốc gia là đảm bảo pháp lý quan trọng để các nguyên tắc, quy phạm luậtquốc tế được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Luật quốc gia quy định cụ thểcách thức thực thi luật quốc tế trên phạm vi lãnh thổ quốc gia (áp dụng trực tiếp hoặc
áp dụng luật quốc tế thông qua hoạt động nội luật hóa) Do đó, quá trình thực thi luậtquốc tế không thể thiếu vai trò của luật quốc gia
Tuy nhiên, luật quốc tế cũng tác động đến sự phát triển và hoàn thiện của luậtquốc gia
- Luật quốc tế thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc gia Các quyđịnh có nội dung tiến bộ của luật quốc tế sẽ dần được truyền tải vào trong các văn bảnpháp luật quốc gia và thúc đẩy sự phát triển của pháp luật quốc gia Ví dụ, quy địnhcủa Công ước quốc té về quyền trẻ em đã tác động đến sự hoàn thiện pháp luật củaViệt Nam về quyền trẻ em thông qua quá trình sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành luật trẻ
em, luật phổ cập giáo dục tiểu học
- Luật quốc tế không chỉ thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc gia
Trang 15mà còn tạo điều kiện đảm bảo cho luật quốc gia trong quá trình thực hiện Do sự pháttriển mạnh mẽ trong giao lưu quốc tể, nhiều vấn đề vượt ra khỏi phạm vi quốc gia trởthành vấn đề có tính toàn cầu như vấn đề bảo vệ môi trường, chống tội phạm xuyênquốc gia, giải trừ quân bị Những vấn đề này đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế thìmới có thể giải quyết một cách hiệu quả Chính vì vậy, xây dựng được một môi trườngpháp lý quốc tế dân chủ, tiến bộ là điều kiện tác động tích cực đến pháp luật quốc gia,đảm bảo cho việc xây dựng, hoàn thiện các quy phạm tương ứng của luật quốc gia,quyền ban hành luật quốc tế, các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế do các chủ thểluật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên.
2 Thỏa thuận ký kết điều ước quốc tế là phương thức duy nhất để hình thành các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế.
Sai Ngoài phương thức thỏa thuận ký kết điều ước, các nguyên tắc và quy phạmpháp luật quốc tế còn có thể được hình thành bằng phương thức thừa nhận (ngầm định)các quy tắc xử sự hình thành trong thực tiễn quan hệ có giá trị bắt buộc giữa các chủthể luật quốc tế Đó chính là cách thức hình thành tập quán quốc tế
3 Mọi tổ chức quốc tế đều là chủ thể của luật quốc tế.
Sai Xét về thành viên, tổ chức quốc tế có hai loại: (i) Tổ chức quốc tế phi chínhphủ (NGO), ví dụ như Tổ chức hòa binh xanh (Greanpeace), Tổ chức chữ thập đỏquốc tế (ICR.C), Tổ chức ân xá quốc tế (AIO) Thành viên của NGO là các cá nhân,pháp nhân đến từ các quốc gia khác nhau; (ii) tổ chức quốc tế liên quốc gia hay còngọi là liên chính phủ (IGO), ví dụ như Liên hợp quốc, ASEAN Tổ chức quốc tế liênquốc gia là thực thể liên kết các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế, đượcthành lập và hoạt động trên cơ sở điều ước quốc tế, cơ cấu tổ chức chặt chẽ và cóquyền năng chủ thể luật quốc tể riêng biệt so với các thành viên và các chủ thể khác4.Chỉ tổ chức quốc tế liên chính phủ mới là chủ thể của luật quốc tế
4 Chủ thể luật quốc tế có quyền năng như nhau khi tham gia vào quan hệ do luật quốc tế điều chỉnh.
Sai Các chủ thể của luật quốc tế có quyền năng khác nhau khi tham gia vào quan
hệ do luật quốc tế điều chỉnh: Quốc gia là chủ thể có quyền năng đầy đủ, tham gia vàomọi quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế Tổ chức quốc tế liên quốcgia và các chủ thể khác có quyền năng hạn chế (chỉ tham gia vào một số quan hệ doluật quốc tế điều chỉnh) Mỗi tổ chức quốc tế được thành lập với mục đích nhất địnhnên các quốc gia thành viên chỉ trao cho tổ chức quyền năng trong phạm vi để thựchiện mục đích đó Ví dụ, mọi hoạt động của WTO chỉ giới hạn trong lĩnh vực thươngmại quốc tể (diễn đàn để ký kết điều ước về thương mại quốc tế, giải quyết tranh chấp
4 Trường Đai hoc Luât Hà Nôi, Giáo trình Luât quốc tế, NXB Công an nhân dân 2018, tr.252.
Trang 16thương mại giữa các quốc gia thành viên WTO không tham gia vào quan hệ liên quanđến gìn giữ hòa bình an ninh quốc tế, phân định biên giới lãnh thổ
5 Tổ chức quốc tế liên quốc gia có thể khởi kiện hoặc kỷ kết điều ước với các quốc gia thành viên của tổ chức.
Đúng Với tư cách là thực thể đo các quốc gia thành lập, tổ chức quốc tế liên quốcgia có khả năng độc lập với các quốc gia thành viên trong việc thực hiện các quyền vànghĩa vụ pháp lý quốc tế của mình, đồng thời phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc
tế độc lập với các quốc gia thành viên của tổ chức Do cỏ quyền năng độc lập với cácquốc gia thành viên nên tổ chức quốc tế liên quốc gia có thể khởi kiện5 hoặc ký kếtđiều ước với các quốc gia thành viên của chính tổ chức đó Khởi kiện, ký kết điều ướcquốc tế là một trong những quyền của các chủ thể luật quốc tế Tổ chức quốc tế liênquốc gia là chủ thể của luật quốc tế nên tổ chức quốc tế đương nhiên có quyền này Ví
dụ, Liên hợp quốc ký Hiệp định năm 1947 với Mỹ về việc đặt trụ sở tại Mỹ; Liên hợpquốc cũng ký nhiều điều ước chuyên môn với các quốc gia thành viên
6 Quốc gia mới hình thành chỉ có tư cách chủ thể luật quốc tế sau khi được các quốc gia khác công nhận.
Sai Quốc gia mới hình thành là chủ thể của luật quốc tế từ khi ra đời Công nhận
quốc gia chỉ là thừa nhận, xác nhận sự tồn tại của chủ thể mới của luật quốc tế, thểhiện quan điểm của quốc gia công nhận đối với đường lối, chính sách, chế độ chính trị
- kinh tế - xã hội của bên được công nhận Công nhận tạo điều kiện thuận lợi để quốcgia mới hình thảnh tham gia vào quan hệ quốc tế và hiện thực hóa các quyền và nghĩa
vụ của chủ thể luật quốc tế
7 Chủ thể thực hiện hành vi công nhận quốc gia phải tuân thủ các quy định của luật quốc tế về phương pháp và hình thức công nhận.
Sai Công nhận quốc gia là hành vi thể hiện chủ quyền quốc gia, thể hiện thái độ
của quốc gia đưa ra hành vi công nhận đối với quốc gia mới (chủ thể mới của luậtquốc tế) Vì vậy, phương pháp và hình thức công nhận sẽ do quốc gia đưa ra hành vicông nhận quyết định
8 Công nhận quốc gia chính là việc thiết lập quan hệ hợp tác toàn diện giữa quốc gia công nhận và quốc gia được công nhận.
Sai Công nhận quốc gia là hành vi pháp lý đơn phương và là quyền của bên công
nhận Trong khi đó, việc thiết lập quan hệ hợp tác được tiến hành trên cơ sở thỏa thuậngiữa các quốc gia
Hơn nữa, việc công nhận một chủ thể mới của luật quốc tế được thể hiện quanhiều hình chức và phương chức khác nhau Việc thiết lập quan hệ hợp tác giữa các
5 Xem thêm, Reparation for Irỹuries Suffered in the Service of the United Nations, SummaryoftheAdvisoryOpinionof11 April 1949.
Trang 17bên hữu quan phụ thuộc hoàn toàn vào hình thức công nhận Do đó, không phải mọihành vi công nhận đều dẫn đến việc thiết lập quan hệ hợp tác toàn diện giữa quốc gia
công nhận và quốc gia được công nhận Ví dụ, công nhận ad hoc chỉ thiết lập quan hệ
để giải quyết những vụ việc nhất định
9 Các chủ thể của luật quốc tế có nghĩa vụ phải công nhận tư cách quốc gia cho một thực thể có đầy đủ các yếu tố cẩu thành quốc gia.
Sai Công nhận quốc gia là hành vi thể hiện quan điểm chính trị - pháp lý củaquốc gia khi có quốc gia mới xuất hiện Điều đó có nghĩa là công nhận hay khôngcông nhận một quốc gia mới là hành vi thể hiện chủ quyền quốc gia, xuất phát từ ý chí
và sự tự nguyện của các chủ thể luật quốc tế
10 Trong trường hợp quy phạm điều ước và quy phạm tập quán cùng điều chỉnh một quan hệ quốc tế thì quy phạm điều ước sẽ đương nhiên được áp dụng.
Sai Các quy phạm luật quốc tế đều do các chủ thể luật quốc tế thỏa thuận xâydựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng Vì vậy, quy phạm điều ước và quy phạmtập quán cỏ giá trị pháp lý như nhau Trong trường hợp quy phạm điều ước và quyphạm tập quán cùng điều chỉnh một quan hệ quốc tế thì các bên phải thỏa thuận ápdụng loại quy phạm nào Trên thực tế, các chủ thể luật quốc tế thường thỏa thuận ưutiên áp dụng quy phạm trong điều ước quốc tế mà các bên cùng ký kết hoặc gia nhập.Nếu không thỏa thuận được thì tại cơ quan tài phán quốc tế, nguyên tắc “luậtriêng thay thế luật chung”, “luật sau thay thế luật trước” được áp dụng như một giảipháp tạm thời nhằm giải quyết xung đột giữa các quy phạm bắt nguồn từ điều ước vàtập quán quốc tế1
11.Quy phạm tập quán trong luật quốc tế sẽ chấm dứt hiệu lực khi được ghi nhận trong điều ước quốc tế.
Sai Quy phạm tập quán tồn tại độc lập với quy phạm điều ước Khi quy phạm tậpquán được ghi nhận trong điều ước thì quy phạm tập quán vẫn tiếp tục tồn tại Ví dụ,
từ thời kỳ cổ đại đã hình thành quy phạm về quyền ưu đãi miễn trừ dành cho đại diệncủa các quốc gia tại quốc gia khác Khi quy phạm này được ghi nhận trong Công ướcViên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, nó vẫn tiếp tục tồn tại với tính chất là quy phạmtập quán và được áp dụng giữa các quốc gia không phải là thành viên của Công ước
12 Trong mọi trường hợp, quốc gia sẽ không bị ràng buộc bởi một tập quán quốc tế đã hình thành từ trước khi quốc gia đó ra đời.
Sai Quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung (jus cogen) là quy phạm có giá trị pháp
lý bắt buộc đối với mọi chủ thể luật quốc tế Trong trường hợp quy phạm jus cogen tồn
tại dưới hình thức quy phạm tập quán thì quy phạm đó sẽ có giá trị ràng buộc với tất cảcác quốc gia, kể cả quốc gia ra đời sau khi tập quán quốc tế đã hình thành
Trang 1813 Trong mọi trường hợp, quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung (jus cogens) không thể bị thay thế hoặc hủy bỏ.
Sai Xuất phát từ bản chất của luật quốc tế được xây dựng trên cơ sở tự nguyệnthỏa thuận, vì vậy, quy phạm jus cogens cũng có thể bị thay thế bằng một quy phạmmới có cùng tính chất (Điều 53 Công ước Viên 1969 về luật điều ước quốc tế)
Trang 1914 Quy phạm tùy nghi (quy phạm thông thường) trong luật quốc tế không có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các chủ thể luật quốc tế.
Sai Vì quy phạm tùy nghi trong luật quốc tể là quy phạm pháp luật thông thườngtrong quan hệ quốc tế nên chúng có giá trị pháp lý ràng buộc với các chủ thể luật quốc
tế Quy phạm tùy nghi là quy phạm cho phép các chủ thể liên quan có quyền tự xácđịnh phạm vi quyền, nghĩa vụ qua lại giữa các bên phù hợp với hoàn cảnh thực tế.III BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
1 Năm 1985, mật vụ quốc gia A đã đánh chìm tàu Rainbow Warrior của tổ chức Greenpeace (một tổ chức quốc tế phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực môi trường), khi tàu này đang đậu trong cảng của quốc gia B làm một thủy thủ trên tàu
bị chết Ngay sau đo, tổ chức Greenpeace và quốc gia B đã yêu cầu quốc gia A bồi thường thiệt hại Quốc gia B bắt giữ hai mật vụ của quốc gia A, buộc tội và kết án
họ 10 năm tù vì gây ra vụ chìm tàu trên Quốc gia A yêu cầu quốc gia B thả các mật vụ.
Để dàn xếp tranh chấp, quốc gia A đã ký một thỏa thuận với quốc gia B và một thỏa thuận với tổ chức Greenpeace, theo đó quốc gia A cam kết sẽ bồi thường 7 triệu USD cho quốc gia B và tổ chtrc Greenpeace Đổi lại, quốc gia B sẽ chuyển giao hai mật vụ cho quốc gia A để thi hành án 3 năm tù giam tại một căn cứ quân
sự của quốc gia A ở Thải Bình Dương Hãy cho biết:
- Quan hệ về bồi thường thiệt hại và ký kết thỏa thuận giữa quốc gia A và tổ chức Greenpeace có phải là quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế?
- Quan hệ về bồi thường thiệt hại và ký kết thỏa thuận giữa quốc gia A và quốcgia B là quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế vì là quan hệ giữa các chủthể luật quốc tế trong việc thiết lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên
2 Tỉnh A trước đây là một phần lãnh thổ của nước Cộng hòa X ở châu Phi Sau một cuộc trưng cầu dân ý, ngày 9/7/2011, tỉnh A tách ra khỏi Cộng hòa X và ngay lập tức được Cộng hòa X công nhận là một quốc gia độc lập Tuy nhiên, nhiều quốc gia khác chưa đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về sự kiện A tuyên bố là một quốc gia độc lập Hỏi:
Trang 20- Tư cách chủ thể luật quốc tế của quốc gia A có bị ảnh hưởng do nhiều quốc gia chưa đưa ra tuyên bố công khai công nhận hay không? Giải thích tại sao?
- Nếu chưa được công nhận rộng rãi, quốc gia A sẽ gặp những khó khăn gì khi tham gia quan hệ quốc tể? Giải thích tại sao?
G
ợ i ý trả lờ i :
- Tư cách chủ thể luật quốc tế của quốc gia A không bị ảnh hưởng do nhiều quốcgia chưa đưa ra tuyên bố công khai công nhận A là quốc gia Bởi vì,
+ Công nhận của quốc gia khác chỉ có ý nghĩa xác nhận sự ra đời của quốc gia A
và thể hiện thái độ với đường lối, chính sách của quốc gia A Quốc gia A có tư cáchchủ thể luật quốc tế ngày từ khi ra đời, không phụ thuộc vào sự công nhận của cácquốc gia khác
+ Có thể hiểu, việc các quốc gia khác không tuyên bố công khai công nhận quốcgia A nhưng cũng không bày tỏ quan điểm phản đối và vẫn thiết lập quan hệ kinh tế,ngoại giao với quốc gia A là hình thức công nhận mặc thị
- Nếu chưa được công nhận rộng rãi, quốc gia A sẽ gặp khó khăn trong việc thiếtlập quan hệ quốc tế với các quốc gia khác, nhất là các quốc gia không công nhận A làmột quốc gia; việc quốc gia A tham gia vào các tổ chức quốc tế cũng có thể bị cảntrở
Trang 21VẤN ĐỀ 2 NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
I CÂU HỎI LÝ THUYẾT
1 Nguồn của luật quốc tế là gì? Cơ sở xác định các loại nguồn của luật quốc tế?
G
ợ i ý trả l ờ i:
- Khái niệm nguồn của luật quốc tế
+ Theo nghĩa hẹp: Nguồn của luật quốc tế là những hình thức chứa đựng haybiểu hiện sự tồn tại của các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế do các chủthể của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳngnhằm điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau
+ Theo nghĩa rộng: Nguồn của luật quốc tế không chỉ bao gồm các hình thứcchứa đựng hoặc biểu hiện sự tồn tại của các nguyên tắc, các quy phạm pháp luậtquốc tế mà
còn bao gồm tất cả những yếu tố là nguồn gốc hình thành các nguyên tắc và quy phạmpháp luật quốc tế
- Cơ sở xác định các loại nguồn của luật quốc tế
Việc xác định các loại nguồn của luật quốc tế dựa vào cơ sở sau:
+ Cơ sở pháp lý
Quan điểm chung và phổ biến hiện nay đều cho rằng khoản 1 điều 38 Quy chếTòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc là cơ sở pháp lý để xác định các loại nguồncủa luật quốc tế Theo khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế có thể xácđịnh 5 loại nguồn của luật quốc tế, bao gồm:
(i) Điều ước quốc tế
(ii) Tập quán quốc tế
(iii) Nguyên tắc pháp luật chung
(iv) Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế
(v) Học thuyết về luật quốc tế
+ Cơ sở thực tiễn:
Thực tiễn áp dụng luật quốc tế còn thừa nhận sự tồn tại của một số nguồn khácchưa được đề cập đến tại khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế, bao gồm:(i) Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ
(ii) Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia
2 Trong các nguồn của luật quốc tế, nguồn nào được áp dụng trực tiếp để điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế?
G
ợ i ý trả l ờ i:
Trang 22Trong các nguồn của luật quốc tế, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế được ápdụng trực tiếp để điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế do chúng chứađựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế Vì vậy, điều ước quốc tế và tậpquán quốc tế được gọi là nguồn cơ bản của luật quốc tế.
Các nguồn khác, bao gồm phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế, học thuyết vềluật quốc tế, nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ được gọi là nguồn bổtrợ (hoặc phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế - nếu hiểu khái niệm nguồn theonghĩa hẹp)
Khác với nguồn cơ bản, nguồn bổ trợ không trực tiếp chứa đựng quy phạm phápluật quốc tế Tuy nhiên, nguồn bổ trợ có vai trò trong việc chứng minh sự tồn tại củacác nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế được ghi nhận trong các nguồn cơ bản;giải thích nội dung các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế chứa đựng trong cácnguồn cơ bản Trong một số trường họp, nguồn bổ trợ còn góp phần hình thành nêncác nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế và có thể được thỏa thuận áp dụng khikhông có quy phạm pháp luật quốc tế tương ứng điều chỉnh
Ví dụ, căn cứ vào quy định của Công ước luật biển năm 1982 và Phụ lục VI củaCông ước (tức là căn cứ vào điều ước quốc tế), Tòa trọng tài giải quyết vụ Philippineskiện Trung Quốc đã đưa ra phán quyết khẳng định Tòa có thẩm quyền giải quyết vụkiện này (phán quyết ngày 29/10/2015) Đồng thời, Tòa cũng căn cứ vào thực tiễn củacác quốc gia và phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế (tức là nguồn bổ trợ) để giảithích và làm sáng tỏ nội dung, mục đích thực sự của Điều 121 Công ước luật biển năm
1982 Trong vụ Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969, Tòa Công lý quốc tế của Liên hợpquốc (ICJ) đã phân tích thực tiễn quốc gia và phán quyết của các cơ quan tài phán để
từ đó kết luận rằng, luật quốc tế chưa hình thành tập quán quốc tế về việc phân địnhvùng biển chồng lấn giữa các quốc gia phải sử dụng phương pháp cách đều Như vậy,trong vụ việc này, nguồn bổ trợ được sử dụng để chứng minh sự tồn tại/không tồn tạicủa các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế
3 Điều ước quốc tế là gi? Phân biệt điều ước quốc tế với các văn kiện chính trị trong quan hệ quốc tế?
Gợi ý t rả l ờ i:
Điều ước quốc tế là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốcgia và các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vàoviệc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều vănkiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những vănkiện đó6
6 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, NXB Công an nhân dân, 2018, tr.87.
Trang 23Điều ước quốc tế và tuyên bố chính trị trong quan hệ quốc tế đều điều chỉnh quan
hệ xã hội nảy sinh trong đời sống quốc tế Tuy nhiên, điều ước quốc tế khác với tuyên
bố chính trị trong quan hệ quốc tế ở những điểm cơ bản sau:
Điểm khác nhau Điều ước quốc tế Tuyên bố chinh trị trong quan hệquôc tế
Chủ thể
Chủ thể của luật quốc tế: quốc gia,
tổ chức quốc tế liên quốc gia (còngọi là tổ chức quốc tế liên chínhphủ); các dân tộc đang đấu tranhgiành quyền tự quyết, một số chủthể đặc biệt
Các chủ thể của luật quốc tế, các
tổ chức quốc tế phi chính phủ
Phương thức xây
dựng Thỏa thuận ký kết trên cơ sở tựnguyện và bình đẳng Quá trình ký
kết và thực hiện phải tuân theo cácquy định của luật quốc tế Ví dụ,ngày 15 tháng 4 năm 1994, cácquốc gia và các chủ thể của luậtquốc tế thỏa thuận ký kết Hiệp địnhMararkesh thành lập tổ chtrcthương mại thế giới (WTO) Đây làmột điều ước quốc tế Quá trình kýkết điều ước này phải tuân thủ luậtquốc tế, cụ thể là Công ước viênnăm 1969 về luật điều ước giữa cácquốc gia
Có thể thỏa thuận ký kết hoặcđơn phương đưa ra tuyên bố Quátrình ký kết các tuyên bố chínhtrị không bắt buộc phải tuân theoquy định của luật quốc tế về trình
tự và thủ tục ký kết Ví dụ,Tuyên bố chung của các quốc giatại Rio năm 1992 về môi trường
và phát triển, Tuyên bố về cáchứng xử của các bên trên BiểnĐông (DOC) năm 2002 giữaASEAN và Trung Quốc, Tuyên
bố của Đại hội đồng Liên hợpquốc năm 1970 về các nguyên
Điểm khác nhau Điều ước quốc tế
Trang 24tắc của luật quốc tế điều chỉnhquan hệ hữu nghị và hợp tác giữacác quốc gia là các văn kiệnchính trị Trình tự và thủ tục kýkết hoặc đưa ra các tuyên bố trênkhông phải tuân thủ luật điều ướcquốc tế.
Nội dung Chứa đựng các cam kết về quyền
và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên Không chứa đựng các cam kết về
quyền và nghĩa vụ pháp lý giữacác bên mà chỉ thể hiện sự tíchcực, thiện chí của các bên vềphương diện chính trị
Giá trị pháp
lý
Có giá trị ràng buộc về mặt pháp
lý Hành vi vi phạm điều ước làmnảy sinh trách nhiệm pháp lý quốc
tế của chủ thể vi phạm
Không có giá trị ràng buộc vềmặt pháp lý Hành vi vi phạmtuyên bố chính trị không làm phátsinh trách nhiệm pháp lý quốc tế
Nó thể hiện sự thiếu thân thiệntrong quan hệ quốc tế nên có thể
bị trả đũa bởi bên bị vi phạm
4 Phân biệt điều ước quốc tế (theo Luật Điều ước quốc tế năm 2016) với các hình thức thỏa thuận quốc tế khác (theo Pháp lệnh số 33/2007/PL-BTVQH11 về ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế của Việt Nam)?
G
ợ i ý trả l ờ i:
Điểm khác nhau Điều ước quốc tế Các hình thức thỏa thuận quốc
tế khác
Trang 25Chủ thể Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (Nhà nước hoặc Chínhphủ) với quốc gia, tổ chức quốc tếliên quốc gia hoặc các chủ thểkhác được công nhận là chủ thểcủa luật quốc tế
v ề phía Việt Nam là các cơ quan
nhà nước ở trung ương (Quốc hội,Tòa án nhân dân tối cao ), cơquan cấp tỉnh (Hội đồng nhân dân,
ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương), cơ quantrung ương của tổ chức với mộthoặc nhiều bên ký kết nước ngoài.Nội dung Cam kết về quyền và nghĩa vụ
pháp lý, trong mọi lĩnh vực củađời sống quốc tế
Cam kết về quyền và nghĩa vụpháp lý nhưng không bao gồm cácnội dung sau:
- Hòa bình, an ninh, biên giới,lãnh thổ, chủ quyền quốc gia;
- Quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân;
Điểm khác nhauĐiều ước quốc tế Các hình thức thỏa thuận quốctế khác
- Tham gia tổ chức quốc tế liênchính phủ;
- Hỗ trợ phát triển chính thứcthuộc quan hệ cấp Nhà nước hoặcChính phủ Việt Nam;
- Các vấn đề khác thuộc quan hệcấp Nhà nước hoặc Chính phủtheo quy định của pháp luật
Trang 26dụ, quá trình đàm phán Hiệp định
về phân định biên giới lãnh thổgiữa Việt Nam và các quốc gialáng giềng được điều chỉnh bởiCông ước Viên năm 1969 về luậtđiều ước giữa các quốc gia
Quá trình ký kết và thực hiện thỏathuận quốc tế phải phù hợp với cácđiều ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên quy định về cùng mộtlĩnh vực; phù hợp với Hiến pháp
và pháp luật của các bên
Ví dụ, quá trình đàm phán ký kétthỏa thuận hợp tác giữa Tòa ánnhân dân tối cao Việt Nam vớiTòa án nhân dân tối cao của Cộnghòa dân chủ nhân dân Lào khôngtrái với các điều ước mà hai
Điểm khác nhau Điều ước quốc tế Các hình thức thỏa thuận quốc tế khác
bên đã ký kết, phù hợp với Hiếnpháp và pháp luật quốc gia của haibên ký kết
Giá trị pháp lý Làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền và nghĩa vụ củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam theo pháp luật quốc tể
Chỉ có giá trị ràng buộc đối với cơquan đã ký kết thỏa thuận quốc tế;không làm phát sinh quyền, nghĩa
vụ pháp lý quốc tế của Nhà nướchoặc Chính phủ Việt Nam
5.Trình bày các hành vi làm hình thành văn bản điều ước quốc tế?
V ề cách thức: Có nhiều cách thức đàm phán khác nhau, ví dụ như: đàm phán
trên cơ sở của dự thảo văn bản mỗi bên đã chuẩn bị trước hoặc cùng đàm phán để trựctiếp xây đựng văn bản điều ước
Trang 27Kết quả đàm phán phụ thuộc vào ý chí và thiện chí của các bên, có thể rất nhanhchóng, thành công hoặc kéo dài hay thất bại Ví dụ, Hội nghị lần thứ ba của Liên hợpquốc về luật biển phải kéo dài trong gần 10 năm (1973 - 1982) để có được văn bảncuối cùng.
Hình thức đàm phán: có nhiều hình thức đàm phán: Đàm phán thông qua các vịđại diện toàn quyền; Đàm phán thông qua cơ quan đại diện ngoại giao; Đàm phán tạicác tổ chức quốc tế hoặc hội nghị quốc tế
- Soạn thảo văn bản điều ước quốc tế:
Trong trường họp đàm phán thành công, văn bản điều ước sẽ được soạn thảochính thtrc để các bên thông qua Đây là phương thức đàm phán để ra văn bản (đàmphán - soạn thảo) Các bên cũng có thể đàm phán trên cơ sở văn bản (soạn thảo - đàmphán) Trong trường hợp này, việc soạn thảo văn bản do một bên tiến hành sau đó cácbên sẽ cùng đàm phán, thảo luận về từng điều khoản
Với điều ước quốc tế song phương, các bên thường cử đại diện tham gia soạnthảo Đối với điều ước quốc tế đa phương thì việc soạn thảo thường sẽ được giao chomột cơ quan do các bên thống nhất lập ra
- Thông qua văn bản điều ước: là việc các bên thể hiện sự nhất trí của mình đốivới văn bản điều ước đã được soạn thảo
V ề nguyên tắc thông qua văn bản điều ước: văn bản điều ước quốc tế có thể được
thông qua theo nguyên tắc đa số (khi có hơn 1/2 hoặc có 2/3 số quốc gia bỏ phiếu tánthành) hoặc nguyên tắc nhất trí (khi tất cả các bên tham gia bỏ phiếu tán thành) hoặcnguyên tắc đồng thuận (không quốc gia nào phản đối, ví dụ, phiếu trắng, không thểhiện quan điểm)
V ề hình thức thông qua văn bản điều ước: việc thông qua văn bản điều ước có
thể được thực hiện bằng nhiều hình thức như biểu quyết thông qua bỏ phiếu kín hoặcbiểu quyết công khai
6 Hành vi thông qua văn bản điều ước quốc tế có làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế không?
G
ợ i ý trả lời:
Trong quá trình ký kết điều ước quốc tế, thông qua văn bản điều ước quốc tế làhành vi cuối, cùng của giai đoạn hình thành văn bản điều ước Việc thông qua văn bảnđiều ước không làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế, tức là các quốc gia chưachịu sự ràng buộc của điều ước quốc tế
Việc thông qua văn bản điều ước có ý nghĩa xác thực nội dung văn bản điều ước
đã được soạn thảo đúng với kết quả đã đàm phán của các bên
Văn bản điều ước quốc tế được các bên nhất trí thông qua là văn bản cuối cùng,
Trang 28các bên không được phép đơn phương sửa đổi, chỉnh lý hoặc thay đổi bất kỳ quy địnhnào của văn bản khi tiến hành các hành vi tiếp theo trong quá trình ký kết điều ướcquốc tế.
7 Trình bày các hành vi thể hiện sự đồng ý chịu sự ràng buộc với điều ước quốc tế?
G
ợi ý trả lời:
Một chủ thể của luật quốc tế có thể biểu thị sự đồng ý chịu sự ràng buộc với điềuước quốc tế thông qua các hành vi sau:
- Ký điều ước quốc tế
Ký là một bước không thể thiếu trong trình tự ký kết điều ước quốc tế Có 3 hìnhthtrc ký điều ước quốc tế, đó là:
+ Ký tắt: Là chữ ký của các vị đại diện quốc gia tham gia đàm phán nhằm xácnhận văn bản dự thảo điều ước quốc tế Ký tắt chưa làm phát sinh hiệu lực của điềuước
+ Ký Ad Referendum: Là chữ ký của các vị đại diện với điều kiện có sự đồng ýtiếp sau đó của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật quốc gia Hìnhthức ký này có thể làm phát sinh hiệu lực của điều ước nếu cơ quan có thẩm quyền củaquốc gia tỏ rõ sự chấp thuận chữ ký này
+ Ký đầy đủ (ký chính thức): Là chữ ký của các vị đại diện vào văn bản dự thảođiều ước Hình thức ký đầy đủ sẽ làm phát sinh hiệu lực của điều ước, trừ trường hợpđiều ước quy định phải tiến hành phê chuẩn, phê duyệt thì sau hành vi phê chuẩn, phêduyệt điều ước mới có hiệu lực thi hành
Trong các hình thức ký trên thì ký đầy đủ là hình thức phổ biến nhất và được ápdụng cho cả điều ước song phương, đa phương
- Phê chuẩn hoặc phê duyệt điều ước quốc tế
Là những hành vi do chủ thể của luật quốc tế tiến hành nhằm xác nhận sự đồng ýràng buộc của chủ thể với một điều ước quốc tế nhất định Việc áp dụng thủ tục phêchuẩn hay phê duyệt đối với một điều ước quốc tể thường do các bên thỏa thuận vàđược ghi rõ ngay trong nội dung của điều ước hoặc được xác định trong văn bản phápluật quốc gia
V ề thực chất, phê chuẩn và phê duyệt đều thể hiện sự chấp nhận ràng buộc của
quốc gia với điều ước quốc tế đã phê chuẩn hoặc phê duyệt Do đó, chỉ cần thực hiệnmột trong hai thủ tục này nhằm ràng buộc với điều ước quốc tế Tuy nhiên giữa phêchuẩn và phè duyệt cũng có điểm khác nhau ở loại điều ước quốc tế và thẩm quyềnthực hiện hành vi Phê duyệt cũng khác với ký đầy đủ ở chỗ, nếu ký đầy đủ là việc các
vị đại diện của các bên ký vào văn bản điều ước thì phê duyệt là văn bản của cơ quan
Trang 29hành pháp có thẩm quyền thừa nhận hiệu lực pháp lý của điều ước mà các vị đại diện
đã ký tượng trưng vào văn bản
Theo luật quốc tế, việc ký văn bản không bao hàm nghĩa vụ dứt khoát phải phêchuẩn hoặc phê duyệt điều ước quốc tế Phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế haykhông phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế là quyền của các bên tham gia
8 Trình bày các điều kiện có hiệu lực của điều ước quốc tế và hệ quả của việc
vi phạm các điều kiện này?
G
ợ i ý trả lời:
Điều ước quốc tế có hiệu lực khi đáp ứng được các điều kiện sau:
- Được ký kết trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng giữa các bên kết ước:Xuất phát từ tự do ý chí, các chủ thể luật quốc tế tham gia ký kết điều ước quốc tế trên
cơ sở tự nguyện và bình đẳng, không bị lừa dối, ép buộc, cưỡng, bức hoặc đe dọa sửdụng vũ lực
- Nội dung của điều ước quốc tế phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế: Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là cơ sở nền tảng và là khuôn mẫu pháp lý cho
sự tồn tại và phát triển của luật quốc tế Chính vì vậy, bất cứ điều ước quốc tế nào có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống luật quốc tế thi sẽ không có giá trị pháp lý
- Được ký kết phù hợp với quy định của pháp luật các bên về thủ tục và thẩm quyền ký kết: Việc ký kết điều ước quốc tế tuân theo trình tự, thủ tục luật định, đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật các bên ký kết là cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể đó ràng buộc với các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà điệu ước quốc tế quy định
Vì vậy, nếu điều ước quốc tế được đàm phán, ký kết không đúng thủ tục, thẩm quyềntheo quy định của pháp luật các bên ký kết sẽ không có giá trị pháp lý
Những điều ước không đáp ứng các điều kiện trên sẽ bị coi là vô hiệu Tùy mức
độ vi phạm những điều kiện trên mà điều ước quốc tế có thể bị coi là vô hiệu tuyệt đốihoặc vô hiệu tương đối
Nếu điều ước quốc tế được ký kết vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng thỏathuận giữa các bên ký kết hiệp ước hoặc nội dung của điều ước quốc tế trái với nhữngnguyên tắc cơ bản của luật quốc tế thì điều ước đó sẽ vô hiệu tuyệt đối, tức là vô hiệungay từ khi ký kết (Điều 51 - Điều 53 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước giữacác quốc gia) Nếu điều ước quốc tế được ký kết vi phạm quy định của pháp luật cácbên về thủ tục và thẩm quyền ký kết thì điều ước đó chỉ vô hiệu tương đối, tức là điềuước quốc tế vẫn có thể có hiệu lực nếu sự vi phạm đó không ảnh hưởng nghiêm trọng
Trang 30đến nội dung của điều ước và nếu như có sự nhất trí của các bên (Điều 46 - Điều 50Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước giữa các quốc gia).
9 Tập quán quốc tế là gì? Phân tích các yếu tố cấu thành tập quán quốc tế?
G
ợ i ý trả l ờ i:
Tập quán quốc tế (tập quán trong luật quốc tế) là hình thức pháp lý chứa đựng quytắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể luậtquốc tế thừa nhận là luật7
Tập quán quốc tế được cấu thành bởi yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần:
- Yếu tố vật chất (còn gọi là yếu tố khách quan): là sự tồn tại của quy tắc xử
sự được hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được áp dụng lặp đi lặp lạinhiều lần tạo thành quy tắc xử sự chung, thống nhất Tuy nhiên, luật quốc tế khôngquy định thực tiễn phải lặp lại bao nhiêu lần và trong thời gian bao nhiêu lâu nhữngthực tiễn đó phải nhất quán Luật quốc tế cũng không yêu cầu quy tắc xử sự chungphải được thực hiện bởi tất cả quốc gia nhưng nó phải thể hiện tính phổ biến, đại diện
- Yểu tố tinh thần (còn gọi là yếu tố chủ quan): quy tắc xử sự phải được cácchủ thể luật quốc tế thừa nhận là “luật”, tức là sự thừa nhận giá trị pháp lý bắt buộccủa quy tắc xử sự đó Tuy nhiên, luật quốc tế không đòi hỏi sự thừa nhận của tất cả cácquốc gia trên thế giới mà như phán quyết của Tòa công lý quốc tế trong vụ thềm lụcđịa biển Bắc đã khẳng định “một quy tắc có thể được công nhận là tập quán ngay khi
có sự thừa nhận của những đại diện, miễn sao bao gồm cả những quốc gia bị ảnhhưởng trực tiếp từ việc áp dụng quy tắc đó”1 Yếu tố tinh thần đóng vai trò quan trọngtrong việc phân biệt, tập quán quốc tế với một quy tắc lễ nghi thông thường, chẳng hạnnhư: nghi thức đón tiếp các đoàn ngoại giao hay tàu chuyền chào nhau trên biển Mặc
dù được áp dụng rộng rãi và lâu dài nhưng các quy tắc lễ nghi đó chưa được coi là tậpquán quốc tế vĩ không được các chủ thể luật quốc tế “thừa nhận là luật”
Tóm lại, khi xác định một tập quán trong luật quốc tế cần chứng minh được sựtồn tại của hai yếu tố nêu trên
10 Tập quán quốc tế được hình thành từ những nguồn nào? Cho ví dụ minh họa?
G
ợ i ý trả l ờ i;
Tập quán trong luật quốc tế được hình thành từ thực tiễn quan hệ quốc tế đượccác chủ thể luật quốc tể áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần một cách thống nhất về hành vi
và liên tục về thời gian cho đến khi một thông lệ ra đời và được thừa nhận là “luật”
Như vậy, tập quán trong luật quốc tế có thể được hình thành từ những nguồn
7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, NXB Công an nhân dân, 2018,
tr.28.
' https://www.icj-cij.org/files/case-related/51/051 -19690220-JUD-01 -00- EN.pdf
Trang 31- Từ thực tiễn thực hiện hành vi xử sự trong quan hệ giữa các chủ thể của luậtquốc tế: Ban đầu, tập quán quốc tế được thể hiện dưới dạng những quy tắc xử sự domột hay một số quốc gia đưa ra, sau đó các quốc gia khác cùng áp dụng Quá trình nàydiễn ra nối tiếp, liên tục về mặt thời gian và nhất quản về mặt hành vi cho đến khi mộttiền lệ được tạo dựng Tiền lệ này được hàu hết các chủ thể luật quốc tế áp dụng vàthừa nhận giá trị pháp lý bắt buộc Như vậy, một tập quán quốc tế mới được hìnhthành
Ví dụ: các quốc gia dành quyền ưu đãi miễn trừ cho đại diện của nhau Việcdành quyền ưu đãi, miễn trừ như vậy được đa số các quốc gia thực hiện, lặp đi lặp lạiqua thời gian và trở nên nhất quán Khi dành quyền ưu đãi miễn trừ cho đại diện củaquốc gia khác, các quốc gia có ý thức rằng làm như vậy là phù hợp với yêu cầu củaluật quốc tế hoặc luật quốc tế yêu cầu phải làm như vậy Trong trường họp này, quytắc tập quán về ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự đã hình thành từ thực tiễn quan hệgiữa các quốc gia
- Từ thực tiễn thực hiện nghị quyết của các tổ chức quốc tế: Sau chiến tranh thếgiới thứ hai, nhiều tổ chức quốc tế liên chính phủ ra đời Trong quá trình hoạt động,các tổ chức quốc té liên chính phủ đưa ra các nghị quyết có tính chất khuyến nghị vềnhững vấn đề quan trọng trong quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế Cách thức
xử Sự đã được ghi nhận trong nghị quyết của tổ chức quốc tế được các quốc gia cùngđồng tình làm theo, lặp đi lặp lại và với ý thức thừa nhận là “luật” thì một tập quánquốc tế mới đã xuất hiện
Ví dụ: Định nghĩa hành vi xâm lược được đưa ra trong Nghị quyết 3314(XXIX) ngày 14/12/1974 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã được các quốc gia đồngtình và hành động theo chuẩn mực được quy định trong Nghị quyết Các quy tắc đượcđưa ra trong Nghị quyết trở thành tập quán quốc tế
- Từ thực tiễn thực hiện điều ước quốc tế:
+ Tập quán quốc tế được hình thành từ các điều ước quốc tế pháp điển hoá Nhữngđiều ước này rất lâu mới có hiệu lực Trong khoảng thời gian chưa có hiệu lực, chưaràng buộc quyền, nghĩa vụ đối với các quốc gia, nhưng các quốc gia có thể thừa nhậncác quy tắc xử sự được nêu ra trong điều ước quốc tế đó là tập quán quốc tế Ví dụ:Công ước luật biển năm 1982 bắt đầu có hiệu lực tháng 11 năm 1994 nhưng trước thờiđiểm này có rất nhiều quy tắc xử sự trong Công ước đã được thừa nhận là tập quánquốc tế, ví dụ như quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải, đặc quyền đánh cá củaquốc gia ven biển ở vùng biển phía ngoài lãnh hải mà không phải là biển quốc tế
+ Tập quán quốc tế hĩnh thành từ các điều ước quốc tế đa phương phổ cập, ví
Trang 32dụ như Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước về các quyền dân sự chính trị năm1966 Những quốc gia chưa phải là thành viên của những điều ước đó chịu sự ràngbuộc của quy tắc xử sự ghi nhận trong điều ước với tư cách là tập quán quốc tế.
- Từ học thuyết về luật quốc tế: Tập quán quốc tế hình thành từ các học thuyếtcủa các luật gia danh tiếng về luật quốc tế về cơ bản cũng tương tự như cách thức hìnhthành tập quán quốc tế truyền thống hoặc từ thực tiễn thực hiện nghị quyết của tổ chứcquốc tế Điểm đặc trưng của cách thức này đó là cách thtrc xử sự ở đây chính là quanđiểm của các luật gia danh tiếng về luật quốc tế được ghi nhận trong các công trìnhnghiên cứu Khi có nhiều quốc gia đồng tình với quan điểm đó, thực hiện một cách lặp
đi lặp lại và thừa nhận là luật thì khi đó một tập quán quốc tế mới được hình thành
Ví dụ: Trong tác phẩm “Tự do biển cả”, luật gia người Hà Lan Huggo Grotius
đã đưa ra quan điểm biển cả phải để ngỏ cho tất cả các quốc gia Nhiều quốc gia đồngtình với quan điểm này (bày tỏ ý kiến đồng tình hoặc không phản đối) và thừa nhậnquy tắc xử sự này là hợp pháp, là bắt buộc Như vậy, quan điểm về tự do biển cả củaHuggo Grotius là cơ sở hình thành nên tập quán về nguyên tắc tự do biển cả, trong đótrao quyền cho tất cả các quốc gia kể cả quốc gia không có biển
- Từ thực tiễn thực hiện phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế: Phán quyếtcủa cơ quan tài phán quốc tế giải quyết các vụ việc cụ thể, trong đó có đề cập đến cáchthức xử sự nhất định Nhiều quốc gia làm theo cách xử sự được nêu trong phán quyết
đó, lặp đi lặp lại và với ý thức thừa nhận là luật Khi đó, một tập quán quốc tế có thểđược hình thành
Ví dụ: Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế giải quyết tranh chấp giữa Anh vàNauy năm 1951, trong đó Tòa thừa nhận cách thức Nauy hoạch định đường cơ sởthẳng Sau đó, nhiều quốc gia hoạch định đường cơ sở thẳng theo cách mà phán quyết
đề cập Khi hoạch định đường cơ sở thẳng, các quốc gia có ý thức rằng việc làm nhưvậy là được luật quốc tể cho phép Như vậy, tập quán quốc tế về xác định đường cơ sởthẳng được hình thành từ nguồn gốc ban đầu là phán quyết của cơ quan tài phán quốctế
Trong vụ eo biển Corhi, Tòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc đã làm sáng
tỏ khái niệm pháp lý về eo biển; quốc tế và nguyên tắc quyền qua lại không gây hạiqua eo biển quốc tế Tòa cho rằng, các quốc gia vào thời kỳ hoà bình đều có quyền chotàu chiến của họ đi qua eo biển mà không phải thông báo trước; quốc gia ven biểnkhông được cản trở quyền này nếu việc đi qua eo biển quốc tế không làm ảnh hưởngđến hòa bình, an ninh, chủ quyền, các quyền tài phán khác của quốc gia ven biển.Quốc gia ven biển có nghĩa vụ thông báo cho tàu thuyền qua lại eo biển về bất kỳ mốinguy hiểm nào như mìn, đá ngầm Sau đó, quyền này được ghi nhận trong Công ước
Trang 33Gionevo về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải và phát triển thành quyền quá cảnh qua
eo biển quốc tế trong Công ước Luật biển 1982
11 Nguồn bổ trợ của luật quốc tế được viện dẫn như thế nào?
G
ợ i ý trả lời :
Nguồn bổ trợ của luật quốc tế không trực tiếp chtra đựng quy phạm pháp luậtquốc tế Vì vậy, trong một quan hệ quốc tế, luôn luôn phải xem xét đến nguồn cơ bảnquỳ định thế nào Nếu nguồn cơ bản đã quy định rõ ràng, các bên áp dụng trực tiếpnguồn cơ bản để điều chỉnh quan hệ nảy sinh Nếu không chắc chắn về sự tồn tại củanguồn cơ bản (đặc biệt là tập quán quốc tế) hoặc nguồn cơ bản quy định không rõràng, cụ thể thì xem xét viện dẫn nguồn bổ trợ để chứng minh sự tồn tại hoặc giảithích, làm sáng tỏ nội dung của nguồn cơ bản
Như vậy, nguồn bổ trợ có thể được viện dẫn để:
- Giải thích, làm sáng tỏ nội dung các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tếđược ghi nhận trong nguồn cơ bản;
- Chtrng minh sự tồn tại của các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế đượcghi nhận trong nguồn cơ bản;
- Trong một số trường hợp còn góp phần hình thành nên các nguyên tắc, quyphạm pháp luật quốc té được ghi nhận trong nguồn cơ bản
12 Phán quyết của cơ quan tài phản quốc tế có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các chủ thể khác của luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp quốc tế có nội dung tương tự không?
Goi ý trả lời:
Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế là kết quả quá trình cơ quan tài phánquốc tế vận dụng các nguyên tắc, quy phạm luật quốc tế giải quyết tranh chấp quốc téđược đệ trình lên cơ quan này Vì vậy, pháp quyết của cơ quan tài phán quốc tế khôngphải là luật quốc tế do các chủ thể của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên Các phánquyết này là chung thẩm và có giá trị ràng buộc chỉ đối với các bên trong một tranhchấp quốc tế cụ thể chứ không có giá trị ràng buộc với các chủ thể khác của luật quốc
tế trong các tranh chấp quốc tế có nội dung tương tự xảy ra về sau Tuy nhiên, các chủthể luật quốc tế có thể viện dẫn phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế với tính chất
là nguồn bổ trợ nhằm giải thích, làm sáng tỏ nội dung, chtrng minh sự tồn tại của cácnguyên tắc và các quy phạm pháp luật quốc tế
13 Khi điều ước quốc tế và tập quán quốc tế quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng nguồn nào?
G
ợ i ý trả l ờ i :
Do điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều được hình thành trên cơ sở thỏa
Trang 34thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế nên chúng có giá trị pháp lý như nhau Vì vậy,khi điều ước quốc tế và tập quán quốc tế quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì ápdụng nguồn nào hoàn toàn do các chủ thể luật quốc tế thỏa thuận quyết định.
Trên thực tế, các chủ thể luật quốc tế thường thỏa thuận áp dụng điều ước quốc
tế Tuy nhiên, việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế so với tập quán quốc tế không cónghĩa là điều ước quốc tế có giá trị pháp lý cao hơn tập quán quốc tế Sở dĩ có sự lựachọn này vì xét về giá trị áp dụng, điều ước quốc tế có nhiều ưu điểm so với tập quánquốc tế hoặc quy định trong điều ước là trường hợp cụ thể, ngoại lệ đối với tập quánquốc tế là quy tắc xử sự chung
14 Quy phạm tập quán quốc tế còn tồn tại và có hiệu lực không khi nó được ghi nhận trong điều ước quốc tế?
G
ợ i ý trả lời :
Một quy phạm tập quán trong luật quốc tế vẫn có hiệu lực ngay cả khi được ghinhận trong điều ước quốc tế, bởi vì tập quán quốc tế và điều ước quốc tế là hai loạinguồn của luật quốc tế tồn tại độc lập với nhau Quy phạm tập quán quốc tế vẫn tiếptục tồn tại và có hiệu lực giữa các bên sau khi quy phạm đó được ghi nhận trong điềuước quốc tế Sự tồn tại của một điều ước quốc tế không có ý nghĩa loai bỏ giá trị ápdụng của tâp quán quốc tế tương đương về nội dung, mặc dù điều ước quốc tế cónhững ưu thế hơn so với tập quán quốc tế
Xét về mặt lý luận cơ sở của sự độc lập này là sự thỏa thuận theo hai cách thứckhác nhau trong quá trình các chủ thể luật quốc tế tham gia xây dựng luật quốc tế Sựkhác nhau không phải là ở bản chất mà là ở phương thtrc đạt được thỏa thuận và hìnhthức thể hiện của chúng Xét về mặt pháp lý, Điều 38 Quy chế Tòa án Công lý quốc tế
đề cập; đến điều ước và tập quán quốc tế V ề thực tiễn, trước và sau khi điều ước
quốc tế ra đời thì tập quán quốc tế đã tồn tại độc lập
Sự tồn tại của tập quán quốc tế khống làm chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc
tế và ngược lại Trên thực tế, sau năm 1945, với sự ra đời của Liên hợp quốc, rất nhiềutập quán trong luật quốc tế được tập hợp và ghi nhận trong điều ước quốc tế nhưng sựhiện diện của điều ước không làm mất đi hiệu lực của quy phạm tập quán Ví dụ như,các quy phạm tập quán về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho viên chức ngoại giao vẫntồn tại dưới hình thức tập quán bên cạnh tồn tại dưới hình thức điều ước được ghi nhậntrong Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao
15 Phân tích mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế?
G
ợ i ý trả lời:
Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có mối quan hệ biện chứng và tác độngqua lại lẫn nhau:
Trang 35- Tập quán quốc tế là cơ sở để hình thành điều ước quốc tế và ngược lại:
Ví dụ, thông qua quá trình pháp điển hoá, nhiều quy phạm điều ước có nguồngốc từ quy phạm tập quán:
Quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao lãnh sự ban đầu là quy phạm tập quán quốc
tế, sau đó được pháp điển trong Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao vàCông ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự; Quy định về cách xác định đường cơ sởthẳng được pháp điển trong Công ước luật biển 1958 và sau này là Công ước luật biển1982
Ngược lại, thực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tế hoàn toàn có thể tạo ratiền lệ xử sự mới là cơ sở cho việc hình thành tập quán quốc tế
- Tập quán có thể bị thay đổi, huỷ bỏ bởi điều ước quốc tế và cá biệt, cũng cóthể có trường hợp, điều ước quốc tế bị thay đổi huỷ bỏ bởi tập quán quốc tế
Ví dụ, xuất hiện Jus cogens mới của luật quốc tế dưới hình thtrc tập quán quốc
tế sẽ làm chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế
- Tập quán quốc tế tạo điều kiện mở rộng hiệu lực của điều ước quốc tế
Ví dụ, các quốc gia không ký kết hoặc tham gia những công ước phổ cập nhưngviện dẫn, áp dụng các quy phạm của công ước, coi đó là các quy phạm pháp lý ràngbuộc mình với tư cách là luật tập quán quốc tế
Như vậy, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế cùng bổ sung cho nhau để điềuchỉnh các vấn đề nảy sinh trong đời sống quốc tế Những vấn đề điều ước quốc tế chưaquy định, tập quán quốc tế điều chinh Điều ước quốc tế ghi nhận những tập quán quốc
tế được thừa nhận rộng rãi và tập quán quốc tế là cơ sở để xây dựng và thực hiện điềuước quốc tế
II CÂU HỎI BÁN TRẮC NGHIỆM
1 Mọi cá nhân đại diện cho quốc gia tham gia vào quá trình ký kết điều ước quốc tế đều phải có thư ủy quyền.
Sai Những người sau đây được coi là đại diện cho quốc gia của họ và khôngcần xuất trình thư ủy quyền:
- Các Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu Chính phủ và Bộ trưởng BộNgoại giao trong mọi hành vi liên quan đến việc ký kết điều ước;
- Các Trưởng đoàn ngoại giao trong việc thông qua văn bản của một điều ướcgiữa quốc gia cử và quốc gia nhận đại diện Những đại diện được cử của một quốc giatại một hội nghị quốc tế hoặc tại một tổ chức quốc tế hoặc tại một cơ quan của tổ chứcnày, trong việc thông qua văn bản của một điều ước trong hội nghị quốc tế đó, trong tổchức quốc tế đó hay trong cơ quan của tổ chức quốc tế đó (Điều 7 Công ước Viên năm
1969 về luật điều ước giữa các quốc gia)
Trang 362 Điều ước quốc tế chấm dứt hiệu lực nếu nội dung cửa điều ước đó trái với một quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung (jus cogens) mói hình thành của luật quốc tế.
Đúng Nếu một quy phạm mới bắt buộc của pháp luật quốc tế chung nảy sinh, thìmọi điều ước hiện hữu mâu thuẫn với quy phạm đó sẽ trở thành vô hiệu và sẽ chấmdứt
Mọi điều ước mà khi được ký kết xung đột với một quy phạm bắt buộc của phápluật quốc tế chung đều là vô hiệu Một quy phạm bắt buộc của pháp luật quốc tế chung
là một quy phạm được toàn thể cộng đồng các quốc gia chấp thuận và công nhận làmột quy phạm không thể vi phạm và chỉ có thể sửa đổi bằng một quy phạm mới kháccủa pháp luật quốc tế chung có cùng tính chất (Điều 53 và Điều 64 Công ước Viênnăm 1969 về luật điều ước giữa các quốc gia)
3.Trong mọi trường hợp, điều ước quốc tế có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia thành viên của điều ước quốc tế.
Sai “Một điều ước sẽ ràng buộc mỗi bên trong phạm vi toàn lãnh thổ của bên đó,trừ khi có một ý định khác xuất phát từ điều ước hoặc thể hiện bằng một cách khác”(Điều 29 Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước giữa các quốc gia)
Như vậy, về nguyên tắc, điều ước quốc tế có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ quốcgia thành viên Ví dụ, Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (2000), cáccông ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên có hiệu lực trên toànlãnh thổ của Việt Nam và các quốc gia thành viên Tuy nhiên, các bên của điều ước cóthể thỏa thuận phạm vi tác động của điều ước quốc tế chỉ giới hạn ở một phần lãnh thổquốc gia hoặc mở rộng ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia Ví dụ, theo Tuyên bố năm
1987 của Đan Mạch, Công ước về vận chuyển hàng hóa quốc tể không áp dụng đối vớiquần đảo Faroe của Đan Mạch mặc dù Đan Mạch là thành viên của Công ước này.Công ước luật biển năm 1982 có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ thuộc chủ quyền,quyền chủ quyền của các quốc gia thành viên và cả đối với biển quốc tế và Vùng
4 Trong mọi trường hợp, quốc gia có quyền viện dẫn hành vi vi phạm nghiêm trọng điều ước quốc tế song phương của bên kia để chấm dứt hiệu lực của toàn
bộ điều ước quốc tế đó.
Sai Đối với điều ước quốc tế song phương, khi một bên có hành vi vi phạm
nghiêm trọng điều ước quốc tế thì bên còn lại có quyền viện dẫn sự vi phạm đó đểchấm dứt hoặc tạm đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ điều ước (Điều 60 (1)Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước) Tuy nhiên, hành vi vi phạm nghiêm trọngmột điều ước (dù là song phương hay đa phương) không thể được viện dẫn là căn cứ
để không thực hiện những quy đinh liên quan đến việc bảo hộ con người được ghi
Trang 37nhận trong các điều ước quốc tế có tính chất nhân đạo, đặc biệt đối với những quy địnhcấm mọi hình thức trả đũa liên quan đến những người được bảo hộ bởi các điều ước đó(Khoản 5 Điều 60 của Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế).
5 Điều ước quốc tế đa phương sẽ đương nhiên chấm dứt hiệu lực khi có hành vi của một quốc gia thành viên v phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của điều ước quốc tế đó.
Sai Theo Điều 60(2) Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế:
“Một sự vi phạm nghiêm trọng điều ước nhiều bên bởi một trong các bên sẽ tạoquyền:
a) Cho các bên khác, tiến hành theo một thỏa thuận chung, tạm đình chỉ việc thihành một phần hoặc toàn bộ hoặc chấm dứt điều ước:
(i) Trong quan hệ giữa các bên đó với quốc gia vi phạm; hoặc
(ii) Giữa tất cả các bên;
b) Cho một bên bị thiệt hại đặc biệt do vi phạm, nêu lên sự vi phạm đó như là lý
do cho việc tạm đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ điều ước trong quan hệ giữabên này và quốc gia vi phạm;
c) Cho bất kỳ bên nào, mà không phải là quốc gia vi phạm, nêu lên sự vi phạmnhư là lý do cho việc tạm đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ điều ước quan hệvới bên đó, trong trường hợp này một vi phạm nghiêm trọng các quy định của điềuước bởi một bên sẽ gây ra thay đổi triệt để tình hình của mỗi bên liên quan đến việc thihành sau đó những nghĩa vụ theo điều ước
Như vậy, theo quy định trên, hành vi vi phạm của một bên chỉ tạo điều kiện chocác bên khác, tiến hành thỏa thuận về việc chấm dtrt hiệu lực của điều ước đa phượngvới quốc gia vi phạm hoặc giữa tất cả các bên
6 Trong trường hợp tất cả thành viên của điều ước trước đều là thành viên điều ước sau về cùng một vấn đề thì điều ước sau phải được áp dụng trong quan
hệ giữa các bên.
Sai Tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên và nội dung của điều ước trước và
điều ước sau có mâu thuẫn với nhau đến mtrc không thể thực hiện được đồng thờihay không Cụ thể, nếu tất cả thành viên của điều ước trước đều là thành viên điềuước sau về cùng một vấn đề thì điều ước sau được áp dụng khi:
- Xuất phát từ điều ước sau hoặc có sự thể hiện bằng cách khác rõ ràng theo ýđịnh của các bên vấn đề thực chất phải được điều ước sau điều chỉnh; hoặc
- Những quy định của điều ước sau mâu thuẫn với các quy định của điều ướctrước đến mức mà không thể thi hành cả hai cùng một lúc
Việc thi hành điều ước trước sẽ chỉ được xem là tạm thời bị đình chỉ nếu đó là
Trang 38việc xuất phát từ điều ước sau hoặc có sự thể hiện rõ bằng cách khác rằng đó là ýđịnh của các bên (Điều 59 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế).
7 Bảo lưu điều ước quốc tế là hành vi pháp lý đơn phương của một bên nhằm chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế đó.
Sai
“Bảo lưu điều ước quốc tế là hành động đơn phương bất kể cách viết hoặc tên gọi như thế nào của một quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế, nhằm qua đỏ loại bỏ hoặc sửa đổi hiệu lực pháp lý của một hoặc
một số quy định của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó” (Điều
2(1) Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế) Như vậy, bảo lưu điều ước quốc tế không nhằm chấm dứt hiệu lực của điều ước mà chỉ nhằm loại bỏ hoặc sửa đổi hiệu lực pháp lý của một hoặc một số quy định của điều ước trong việc áp dụng với quốc gia đưa ra tuyên bố bảo lưu.
8.Các quốc gia chỉ được đưa ra bảo lưu đối với điều ước quốc tế khi điều ước
đó có điều khoản cho phép bảo lưu hoặc các quốc gia đã đồng ý bằng các cách khác thể hiện sự đồng ý cho phép các bảo lưu.
Sai Khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập một điều ước, một
quốc gia có thể đề ra một bảo lưu, trừ khi:
- Điều ước đó ngăn cấm việc bảo lưu;
- Điều ước đó quy định rằng chỉ có thể cỏ những bảo lưu cụ thể, trong số đókhông có bảo lưu đã đề cập nói trên;
- Bảo lưu không phù hợp với đối tượng và mục đích của điều ước, ngoài haitrường hợp nêu trên (Điều 19 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế)
9 Sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh là yếu tố tác động làm chấm dứt hiệu lực của mọi điều ước quốc tế.
Sai Sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh được hiểu là sự thay đổi của hoàn cảnh
tại thời điểm thực hiện so với thời điểm ký kết điều ước mà các bên không thể lườngtrước được khi ký kết Sự tồn tại của những hoàn cảnh đó là cơ sở chủ yếu để các quốcgia thành viên đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của điều ước và sự thay đổi của hoàncảnh đó làm thay đổi cơ bản phạm vi các nghĩa vụ mà các bên vẫn còn phải thi hànhtheo điều ước Tuy nhiên, một sự thay đổi cơ bản các hoàn cảnh sẽ không thể được nêulên làm lý do để chấm dứt hoặc rút khỏi một điều ước nếu đó là một điều ước quy định
về đường biên giới ” (Điều 62 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế)
10 Điều ước quốc tế có thể tạo ra quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc đối với bên không là thành viên của điều ước.
Đúng Điều ước quốc tế có thể có hiệu lực đối với bên không phải là thành viên
Trang 39của điều ước quốc tế (bên thứ ba) trong trường hợp sau:
- Điều ước quy định quyền và nghĩa vụ đối với bên thứ ba và được bên thứ bađồng ý chấp thuận Trong trường hợp điều ước quy định nghĩa vụ cho bên thứ ba thì sựđồng ý của bên thứ ba phải được thể hiện rõ ràng bằng văn bản (Điều 35, Điều 36Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế)
- Điều ước quốc tế được bên thứ ba viện dẫn áp dụng với tính chất của tập quánquốc tế (Điều 38 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế)
- Điều ước quốc tế có điều khoản tối huệ quốc
- Điều ước quốc tế tạo ra hoàn cảnh khách quan
11 Mọi điều ước quốc tế đều phát sinh hiệu lực ngay sau khi các quốc gia thành viên thực hiện hành vi thể hiện sự đồng ý ràng buộc với điều ước quốc tế.
Sai Khi thực hiện các hành vi thể hiện sự đồng ý ràng buộc với điều ước quốc tế(bao gồm ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập) tức là các quốc gia sẽ trở thành thànhviên của điều ước quốc tế Thời điểm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế phụthuộc vào những thể thức và vào thời điểm mà điều ước ấn định hoặc theo sự thỏathuận của các quốc gia tham gia đàm phán (Điều 24 Công ước Viên năm 1969 về luậtđiều ước quốc tế)
Ví dụ, Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ quyđịnh: “Công ước này có hiệu lực kể từ ngày thứ 30 sau khi văn bản phê chuẩn hoặc gianhập thứ 20 được Tổng thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu” (Khoản 1 Điều 27)
12 Điều ước quốc tế đương nhiên chấm dứt hiệu lực khi có điều ước quốc tế mới về cùng một vấn đề được ký kết
Sai Điều ước quốc tế trước không đương nhiên chấm dứt hiệu lực khi có điều ướcquốc tế mới điều chỉnh về cùng một vấn đề được ký kết, bởi vì phải căn cứ vào thànhviên và nội dung của các điều ước quốc tế đó (Điều 30(3)(4) Công ước Viên năm 1969
về luật điều ước quốc tế)
- Khi tất cả các bên tham gia điều ước trước cùng đồng thời là các bên tham giađiều ước sau, trong khi điều ước trước chưa chấm dứt hiệu lực hoặc chưa bị đình chỉthực hiện thì điều ước trước chỉ áp dụng trong chừng mực mà các quy định của nó phùhợp với điều ước sau
- Khi không phải tất cả các bên tham gia điều ước trước đều tham gia điều ướcsau: Trong quan hệ giữa các quốc gia tham gia hai điều ước thì điều ước trước chỉ ápdụng trong chừng mực mà các quy định của nó phù hợp với điều ước sau; Trong quan
hệ giữa một quốc gia tham gia hai điều ước mà một quốc gia chỉ tham gia một tronghai điều ước, thì điều ước mà cả hai quốc gia đều tham gia điều chỉnh những quyền vànghĩa vụ lẫn nhau của họ
Trang 4013 Trong trường hợp điều ước quốc tế không quy định, trên cơ sở chủ quyền quốc gia, quốc gia có quyền quyết định cách thức thực hiện điều ước quốc tế trong phạm vì lãnh thể quốc gia.
Đúng Luật quốc tế chỉ đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia phải tận tâm thiện chíthực hiện điều ước quốc tế (Điều 26 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốctế) Vì vậy, trong trường hợp điều ước quốc tế không quy định, trên cơ sở chủ quyềnquốc gia, quốc gia có quyền quyết định cách thức thực hiện điều ước quốc tế trongphạm vi lãnh thổ quốc gia
Hai cách thức thực hiện điều ước quốc tế phổ biến là áp dụng trực tiếp và chuyểnhóa điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia
-Áp dụng trực tiếp: Điều ước quốc tế có hiệu lực trực tiếp đối với các lĩnh vựcthuộc phạm vi điều chỉnh tại quốc gia thành viên Theo đó, khi điều ước quốc tế phátsinh hiệu lực thì sẽ được áp dụng trực tiếp tại quốc gia mà không cần ban hành văn bảnpháp luật mới hoặc bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành để chuyển hóa điều ướcquốc tế thành nội luật (trừ khi chính điều ước quốc tế đó có quy định)
-Chuyển hóa điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia: Lạ thủ tục do luật quốc giaquy định để đảm bảo cho điều ước quốc tế được thực hiện một cách đầy đủ trong điềukiện quốc gia Việc chuyển hóa điều ước quốc tế được thực hiện thông qua ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luậthiện hành
Bên cạnh đó, một số quốc gia áp dụng kết hợp cả hai cách thức Ví dụ, pháp luậtViệt Nam về vấn đề này có quy định tại Điều 6 Luật điều ước quốc tế năm 2016 nhưsau: Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịchnước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế, đồngthời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hay một phần điều ước quốc tế đó đối với cơquan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chitiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành vănbản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó
III BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
1 Năm 1960, quốc gia A gửi cho quốc gia B công hàm đề nghị hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của quốc gia B với vùng lãnh thổ C mà quốc gia A đang là đại diện trong quan hệ quốc tế Trong công hàm đó, quốc gia A nêu rõ nguyên tắc, cách
th ứ c hoạch định và có bản đồ hoạch định đính kèm Trong công hàm trả lời, quốc gia B bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị của quốc gia A Hai quốc gia cũng đã tổ
ch ứ c họp báo thông báo về kết quả thỏa thuận đã đạt được và cam kết thực hiện những nội dung được ghi nhận trong công hàm.