THN TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO Sau khi phân tích các vấn đề về cung và cầu, trong chương này chúng tôi kết hợp các quyết định cung ứng của các doanh nghiệp riêng lẻ để hình thành đường
Trang 1Chương 8 THN TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO
Sau khi phân tích các vấn đề về cung và cầu, trong chương này chúng tôi kết
hợp các quyết định cung ứng của các doanh nghiệp riêng lẻ để hình thành đường cung của thị trường và sau đó xem xét tác động qua lại của nó đối với đường cầu của thị trường nhằm ấn định giá cả và sản lượng cho một ngành nói chung Trong chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu xem một doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo ra quyết định cung ứng như thế nào
và những quyết định đó chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào
8.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THN TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO
Trước tiên, chúng ta nên tìm hiểu các nhà kinh tế định nghĩa về thị trường cạnh tranh hoàn hảo như thế nào để từ đó chúng ta sẽ phát triển lý thuyết liên quan đến các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường này
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà trong đó các quyết định mua hay bán của từng người mua hay từng người bán riêng lẻ không ảnh hưởng gì đến giá cả trên thị trường
Từ khái niệm này, ta nhận thấy đặc điểm quan trọng của thị trường này
là số lượng sản phNm mà mỗi doanh nghiệp cung ứng không có ảnh hưởng gì đến giá cả trên thị trường Một doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo hoạt động như thể giá thị trường không phụ thuộc vào số lượng bán ra của doanh nghiệp và do vậy, doanh nghiệp được gọi là người chấp nhận giá
Do vậy, lượng cầu và cung của một chủ thể nhất định không ảnh hưởng
gì đến giá cả thị trường Đường cầu đối với hàng hóa của mỗi doanh nghiệp sẽ
là một đường nằm ngang do bất kể lượng cung của họ là bao nhiêu thì họ cũng nhận được giá cố định
Hình 5.1 mô tả sự chấp nhận giá của một doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo Đầu tiên, giá hàng hóa trên một thị trường cạnh
Trang 2tranh hoàn hảo, P0, được hình thành do quan hệ cung - cầu trên thị trường, như
đã trình bày trong Chương 2 Doanh nghiệp cạnh tranh là người chấp nhận giá
nên họ sẽ bán sản phNm của mình ra ở đúng mức giá P0 đó Dù số lượng doanh
nghiệp bán ra là bao nhiêu, họ cũng nhận được mức giá P0 cho sản phNm mà họ bán ra Do vậy, đường cầu của doanh nghiệp là đường thẳng nằm ngang ở mức
giá P0 Đó là đường d
Bởi vì doanh nghiệp không thể quyết định giá nên nó cũng không có ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp khác trong ngành Định nghĩa của các nhà kinh tế về thị trường cạnh tranh hoàn hảo có vẻ trái với ý nghĩa của từ cạnh tranh trong đời sống hàng ngày Các nhà kinh tế ngụ ý rằng mỗi doanh nghiệp hay người tiêu dùng riêng lẻ nhận thấy lượng cung hay cầu của mình là rất nhỏ so với số lượng của toàn bộ thị trường và như thế lượng mua và bán của
họ không ảnh hưởng gì đến giá cả trên thị trường Tuy nhiên, các doanh nghiệp
có thể dùng một số chiêu thức để thu hút khách hàng về phía mình Công ty P&G và Unilever cạnh tranh rất mãnh liệt trên thị Việt Nam nhưng ta không gọi chúng là cạnh tranh hoàn hảo Bởi vì mỗi công ty chiếm một thị phần rất lớn trên thị trường hàng tiêu dùng nên chúng có thể làm thay đổi giá cả trên thị trường bằng các quyết định về cung ứng của mình
Để tìm hiểu chi tiết hơn về sự chấp nhận giá của các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo và để mô tả đúng đường cầu đối với
Trang 3hàng hóa của các doanh nghiệp này, chúng ta xét đến 4 đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo
1 Số lượng các doanh nghiệp trong ngành là đủ lớn sao cho sản
lượng của mỗi doanh nghiệp là không đáng kể so với cả ngành nói chung Do vậy, thị phần của mỗi doanh nghiệp sẽ rất nhỏ và doanh
nghiệp không có khả năng chi phối giá cả trên thị trường bằng các quyết định cung ứng của mình
2 Sản phẩm của ngành phải tương đối đồng nhất và tính giá như
nhau, để cho sản phẩm của các doanh nghiệp có thể thay thế hoàn hảo cho nhau Sản phNm của các nhà sản xuất là giống nhau nên người tiêu
dùng có thể sử dụng sản phNm của bất kỳ nhà sản xuất nào cũng đều cảm thấy thỏa mãn như nhau Do vậy, nếu có một doanh nghiệp nào
muốn định giá sản phNm của mình cao hơn mức giá chung P0, nó sẽ không bán được sản phNm nào hết vì người mua sẽ mua sản phNm giống như vậy của doanh nghiệp khác
3 Thông tin hoàn hảo cho người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm
sao cho người mua nhận thấy những sản phẩm giống nhau của các doanh nghiệp khác nhau thực sự là như nhau Thậm chí các doanh
nghiệp sản xuất sản phNm đồng nhất, họ cũng có thể định giá sản phNm mình khác với người khác nếu người mua không có thông tin hoàn hảo
về chất lượng và đặc tính của sản phNm ấy Chẳng hạn, nếu bạn không hiểu nhiều về bột giặt, bạn sẽ nghĩ rằng bột giặt OMO nếu bán với giá 12.000 đồng/kg sẽ tốt hơn bột giặt DASO có giá 10.000 đồng/kg Do vậy, chúng ta phải giả định người mua có thông tin hoàn hảo về sản phNm để doanh nghiệp không có khả năng định giá khác với mức giá chung
4 Tự do nhập và xuất ngành sao cho không có sự cấu kết của các
doanh nghiệp hiện hành Tại sao các doanh nghiệp không liên kết lại
như các nước trong khối OPEC đã từng làm: hạn chế cung ứng để nâng
Trang 4giá? Chúng ta có thể trả lời là điều này là không thể do các lý do: (i) với quá nhiều doanh nghiệp trong ngành, việc tổ chức thành hiệp hội sẽ rất tốn kém, các nhà quản lý sẽ tốn nhiều thời gian để thương lượng với các doanh nghiệp khác hơn là để tổ chức sản xuất; (ii) nếu đường cầu thị trường rất co giãn, khả năng tăng giá của các doanh nghiệp là rất ít Thậm chí nếu các doanh nghiệp có thể cấu kết với nhau để tăng giá, điều này sẽ thu hút các doanh nghiệp mới nhập ngành và làm sản lượng tăng, dẫn tới giá sẽ lại giảm xuống Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, doanh nghiệp hoàn toàn tự do lựa chọn gia nhập hay rút khỏi ngành mà không có một trở ngại pháp lý nào cả hay không có các chi phí đặc biệt nào gắn với việc gia nhập
Thị trường nông sản là các ví dụ điển hình về thị trường cạnh tranh hoàn hảo Hầu hết thị trường nông sản đều mang đầy đủ 4 đặc điểm của thị
trường này, chẳng hạn như lúa gạo, trái cây, thủy hải sản, v.v Đối với các
mặt hàng công nghiệp, đặc điểm của mỗi sản phNm gắn liền với hình ảnh, nhãn hiệu của công ty sản xuất ra chúng nên sản phNm trong ngành là không đồng nhất Bên cạnh đó, đôi khi người tiêu dùng không có đầy đủ thông tin về sản phNm nên người bán có thể định giá khác nhau cho các sản phNm của mình Vì vậy, thị trường hàng công nghiệp khó có thể là thị trường cạnh tranh hoàn hảo
8.2 QUYẾT ĐNNH VỀ CUNG ỨNG TRONG CẠNH TRANH HOÀN HẢO
8.2.1 QUYẾT ĐNNH CUNG TRONG NHẤT THỜI
Nhất thời được định nghĩa là khoảng thời gian rất ngắn trong đó doanh
nghiệp không thể thay đổi sản lượng Trong nhất thời, doanh nghiệp không kịp thay đổi mức cung ứng của mình nên doanh nghiệp đã sản xuất ra sản lượng bao nhiêu thì phải cố gắng bán hết đó bất chấp sức mua của thị trường Do vậy đường cung của doanh nghiệp sẽ là đường thẳng đứng tại một mức sản lượng nhất định Giá sẽ được điều chỉnh để thị trường có thể bán hết hàng hóa trong một khoảng thời gian nào đó
Trang 5Hình 5.2 mô tả quan hệ cung - cầu ở thị trường cạnh tranh hoàn hảo
trong nhất thời Cung cố định ở mức Q* Với đường cầu D, giá cân bằng được xác định tại P1 Khi đường cầu dịch chuyển tới D’, giá cân bằng mới được thành lập tại P2 Một sự thay đổi của cầu làm cho giá thay đổi rất nhanh còn sản lượng cân bằng không đổi
Nhất thời không phải có ý nghĩa cho tất cả các trường hợp, mà nó chỉ ứng dụng trong trường hợp của các loại hàng hóa mau hỏng hay hàng hóa chỉ được sử dụng trong một thời điểm nhất định Ta có thể nhận thấy điều này
trong chợ hoa, dưa hấu, v.v ngày Tết hay thị trường bánh Trung thu Những
loaüi hàng hóa này phải được tiêu thụ hết trong một khoảng thời gian nhất định (một tuần chẳng hạn) Khoảng thời gian này tương đối ngắn, cho nên các nhà sản xuất không thể thay đổi sản lượng trong khoảng thời gian này được Nhìn chung, tính tức thời của thị trường thường được quan sát thấy ở các thị trường đối với hàng hóa mau hỏng và có tính thời vụ
8.2.2 ĐƯỜNG CUNG NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP
Trước hết, chúng ta hãy nghiên cứu lại khái niệm ngắn hạn Các nhà kinh tế định nghĩa như sau: ngắn hạn là khoảng thời gian dài đủ để các doanh nghiệp thay đổi sản lượng nhưng không đủ dài để các doanh nghiệp thay đổi quy mô sản xuất và rời bỏ hay gia nhập ngành
Trang 6Như đã xem xét trong chương trước, doanh nghiệp sẽ vận dụng điều kiện biên để tìm ra mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận Trong ngắn hạn, các doanh nghiệp sẽ lựa chọn mức sản lượng mà tại đó ,
với SMC là chi phí biên trong ngắn hạn Nét đặc biệt trong cạnh tranh hoàn hảo
là quan hệ giữa doanh thu biên và giá bán Do đường cầu nằm ngang nên cứ doanh nghiệp bán thêm một đơn vị sản phNm, họ sẽ nhận thêm một khoản tiền bằng với giá của sản phNm Chúng ta hãy xem xét một ví dụ về mối quan hệ giữa sản lượng, giá và doanh thu biên của một nông dân trồng lúa Giả sử giá của 1kg lúa là 2000 đồng, doanh thu và doanh thu biên của nông dân này được cho trong bảng 8.1
Bảng 8.1 Sản lượng, giá và doanh thu biên của một nông dân
Sản lượng
(Q: kg)
Giá (P: đồng/kg)
Doanh thu (TR: đồng)
Doanh thu biên (MR: đồng)
0 - 0 -
1 2000 2000 2000
2 2000 4000 2000
3 2000 6000 2000
4 2000 8000 2000 2000 2000
Dù cho người nông dân này bán ra một sản lượng bất kỳ, giá anh ta nhận được cho mỗi kg lúa vẫn là 2000 đồng Do vậy, khi bán ra thêm mỗi kg lúa, người nông dân này nhận thêm 2000 đồng nên doanh thu biên sẽ không dổi và bằng đúng với giá
Do vậy, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo doanh thu biên bằng với giá của sản phẩm:
MR = P (5.1)
Trang 7Như vậy, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ chọn mức sản lượng
mà tại đó giá bằng với chi phí biên của sản phNm:
P = SMC (5.2)
Hình 5.3 mô tả quyết định cung của doanh nghiệp trong ngắn hạn Giả
sử doanh nghiệp có đường chi phí biên SMC Như ta đã biết, đường SMC này
sẽ đi qua các điểm cực tiểu của đường SAC và SAVC của doanh nghiệp Chúng lần lượt là các điểm A và C
Giả sử doanh nghiệp đứng trước đường cầu nằm ngang tại mức giá P4
trong hình 5.3 Đẳng thức (5.2) ngụ ý rằng doanh nghiệp sẽ chọn mức sản
lượng Q4 tương ứng với điểm D vì tại đó giá bằng với chi phí biên
Khi giá sản phNm ở từ mức P3 trở lên, có nghĩa là giá lớn hơn chi phí trung bình cực tiểu, doanh nghiệp sẽ chọn một mức sản lượng tương ứng với
một điểm nào đó trên đường SMC từ điểm C trở lên, lúc đó giá lớn hơn chi phí trung bình Chẳng hạn nếu giá là P4, doanh nghiệp sản xuất tại mức sản lượng
Q4 Khi đó chi phí trung bình là SAC 4 Doanh nghiệp thu được lợi nhuận trong ngắn hạn vì lúc đó giá (P4) cao hơn chi phí trung bình (SAC4) Tương tự, tương
ứng với một mức giá nhất định, doanh nghiệp sẽ dựa vào đường SMC để chọn
ra mức sản lượng tối ưu
Trang 8Khi giá ở mức P3, doanh nghiệp sẽ chọn mức sản lượng tương ứng với
điểm C trên đường SMC, cũng là điểm cực tiểu của đường SAC Lúc này giá bằng chi phí trung bình cực tiểu, doanh nghiệp sẽ sản xuất mức sản lượng Q3
và khi đó doanh nghiệp hòa vốn Do vậy, ta còn gọi mức giá P3 là mức giá hòa vốn
Ở giữa hai điểm A và C, doanh nghiệp bị lỗ vì giá thấp hơn chi phí trung bình Tuy nhiên, nếu giá nằm giữa P 1 và P 2 , doanh nghiệp có thể bù đắp được
phần nào chi phí cố định nên doanh nghiệp vẫn tiếp tục sản xuất Chẳng hạn,
khi giá là P2, doanh nghiệp sẽ sản xuất mức sản lượng tương ứng với điểm B trên đường SMC là Q2 Tại sao doanh nghiệp bị lỗ mà vẫn không rút khỏi ngành? Doanh nghiệp có thể hoạt động và chịu lỗ vì hy vọng trong tương lai giá của sản phNm sẽ tăng hay có thể giảm được chi phí sản xuất nên doanh nghiệp có thể kiếm được lợi nhuận trong tương lai Thực tế, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai phương án: tiếp tục sản xuất hay tạm thời đóng cửa Doanh nghiệp sẽ chọn phương án nào có lợi hơn Nếu không sản xuất, doanh nghiệp sẽ chịu lỗ cả phần chi phí cố định Còn nếu tiếp tục sản xuất doanh nghiệp chỉ lỗ một phần chi phí cố định Khi đó, giá thấp hơn tổng chi phí trung
bình (P <SAC) nhưng vẫn còn cao hơn chi phí biến đổi trung bình (P > SAVC) nên doanh nghiệp có thể bù đắp được chi phí biến đổi (VC) và phần giá dôi ra
so với SAVC có thể dùng để bù đắp phần nào chi phí cố định Do vậy, doanh
nghiệp không lỗ hết phần chi phí cố định nên tiếp tục sản xuất vẫn có lợi hơn
Doanh nghiệp sẽ sản xuất ở bất kỳ mức giá nào cao hơn P1 (cũng chính là mức chi phí biến đổi trung bình cực tiểu) vì tại các mức giá đó, doanh nghiệp sẽ trang trải được chi phí biến đổi trong ngắn hạn và phần nào bù đắp được chi phí
cố định
Doanh nghiệp sẽ ngưng hoạt động khi giá thấp hơn P1 vì khi đó nếu tiếp tục sản xuất, doanh nghiệp thậm chí không bù đắp đủ chi phí biến đổi và sẽ lỗ
nặng hơn là khi ngưng sản xuất Mức giá P1 gọi là mức giá đóng cửa hay mức giá bắt đầu sản xuất
Trang 9Ở những mức giá khác nhau, doanh nghiệp sẽ chọn mức sản lượng
tương ứng với các điểm nằm trên đường SMC tại mức giá đó Hay nói cách khác, các điểm nằm trên đường SMC cho biết sản lượng mà doanh nghiệp sẽ cung ứng ở những mức giá nhất định Do vậy, ta có thể gọi đường SMC chính
là đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ bắt
đầu sản xuất khi giá từ chi phí biến đổi trung bình cực tiểu trở lên nên đường
cung chỉ tồn tại phía trên điểm A, tại đó đường SMC cắt ngang điểm thấp nhất trên đường SAVC
Chúng ta hãy xem xét một thí dụ về quyết định cung trong ngắn hạn của một doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo để hiểu rõ hơn về quá trình ra quyết định của doanh nghiệp
Thí dụ: Một doanh nghiệp cạnh tranh có hàm tổng chi phí trong ngắn
hạn như sau:
trong đó: q là sản lượng của doanh nghiệp và STC là tổng chi phí ngắn hạn
Với hàm chi phí như trên, ta có thể tìm được giá trị của các chi phí AVC,
AC, MC như trình bày trong bảng 5.2 Các mức sản lượng trong bảng được
chọn sao cho chúng có thể hiện rõ các mức chi phí biến đổi trung bình cực tiểu
và chi phí trung bình cực tiểu và không nhất thiết có bước nhảy giống nhau
Bảng 5.2 Các chi phí của doanh nghiệp cạnh tranh
30 330,00 300 30,00 10,00 1,00 11,00 1,0
Trang 10
Dựa vào bảng 5.2, ta thấy chi phí biến đổi trung bình cực tiểu là 1 đơn vị tiền và chi phí trung bình cực tiểu là 8,325 đơn vị tiền Doanh nghiệp sẽ có quyết định về cung ứng như sau:
Khi giá nhỏ hơn 1 đơn vị tiền, doanh nghiệp ngưng sản xuất vì nếu sản xuất doanh nghiệp sẽ bị lỗ nhiều hơn 300 đơn vị tiền
Khi giá là 1 đơn vị tiền, doanh nghiệp có thể chọn mức sản lượng
30 và chịu lỗ 300 đơn vị tiền
Khi giá lớn hơn 1 đơn vị tiền nhưng nhỏ hơn 8,325 đơn vị tiền, doanh nghiệp bị lỗ nhưng vẫn sản xuất vì sẽ lỗ ít hơn 300 đơn vị tiền Chẳng hạn, khi giá là 4 đơn vị tiền tương ứng với chi phí biên ở mức sản lượng 40 đơn vị tiền, doanh nghiệp sẽ sản xuất 40 đơn vị sản phNm và khi
đó doanh nghiệp bị lỗ 193,33 đơn vị tiền
Khi giá bằng đúng 8,325 đơn vị tiền, doanh nghiệp sẽ sản xuất 48,85 đơn vị sản phNm và hòa vốn
Khi giá lớn hơn 8,325 đơn vị tiền, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận trong ngắn hạn
Đường cung của doanh nghiệp chỉ tồn tại ở những mức giá từ 1 đơn vị tiền trở lên Ở những mức giá thấp hơn 1 đơn vị tiền, doanh nghiệp không sản xuất nên không tồn tại đường cung ở những mức giá này
8.3 ĐƯỜNG CUNG DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP
Trong phần này, chúng ta nghiên cứu khái niệm dài hạn Dài hạn là khoảng thời gian dài đủ để các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành thay đổi sản lượng, quy mô sản xuất hay rời bỏ ngành; đồng thời, các doanh nghiệp mới có thể tham gia vào ngành
Hình 5.4 cho biết quyết định cung của doanh nghiệp trong dài hạn được thực hiện như thế nào Tại một thời điểm trong ngắn hạn, đường cầu của doanh
nghiệp nằm ngang ở mức giá P0 Với các đường SAC và SMC như trong hình
vẽ 5.4, doanh nghiệp thu được lợi nhuận dương Đó là diện tích hình chữ nhật