THẾ TỤC HOÁ Bài dịch của Trần Thị Hiên Nguyễn Việt Nga Nguyễn Văn Thục Bùi Bích Hà GIỚI THIỆU Theo các nhà lý luận quá trình thế tục hoá trong các x héi công nghiệp hiện đại là vấn đề cần phải bàn, cá[.]
Trang 1THẾ TỤC HOÁ Bài dịch của: Trần Thị Hiên
Nguyễn Việt Nga Nguyễn Văn Thục
Bùi Bích Hà GIỚI THIỆU
Theo các nhà lý luận quá trình thế tục hoá trong các x· héi công nghiệp hiện đại là vấn đề cần phải bàn, các nhà lý luận xác định vị trí nguồn gốc của tôn giáo trong bối cảnh loài người Trong trường hợp của Berger, nếu tôn giáo đưa ra lực lượng bảo vệ chống lại cảm giác xa lánh, thế tục hoá có thể là như thế nào? nhiều nhà lý luận bao gồm Luckmann đã cố gắng phủ nhận rằng thế tục hoá đang diễn ra ở tất cả mọi nơi
Nó là một sự ảo tưởng được sinh ra bởi sự suy tàn hình thức truyền thống của tôn giáo Thay thế cho những hình thức đó, tuy nhiên, các nhà lý luận vẫn tranh luận những hình thức mới đang tiếp tục được phát triển Mặc dù ông đã có thay đổi cách nhìn nhiều hơn trong thời gian gần đây, trong hầu hết sự nghiệp của ông, tuy nhiên, Berger, chưa bao giờ phủ nhận thực tế của thế tục hoá và trong nhiều năm một trong những nhà lý luận đi đầu của hiện tượng này Trước khi xem xét những quan niệm của ông, tuy nhiên, một cần thảo luận một vài bối cảnh Ở chương này, cũng vậy, một số quan niệm khác về quá trình thế tục hoá sẽ để đối chiếu làm nổi bật những nghĩa lý luận như Berger
Sự để lại (truyền lại) của tôn giáo trong x· héi hiện đại được dự báo trước bởi nhiều nhà lý luận, đặc biệt, những nhà nghiên cứu ở thế kỷ 19 Tylor, Frazer, Marx, và sau đó là Freud, tất cả cho rằng tôn giáo phai tàn khoa học đã thay thế cách nghĩ của x· héi đương thời Những nhà nghiên cứu khác, những người nghĩ tôn giáo trong nhiều chức năng giới hạn, đã nhìn thấy trước được sự biến mất của những hình thức tôn giáo quen thuộc và truyền thống được thay thế bởi cái trên cơ sở không chủ nghĩa tự nhiên và không mơ hồ Comte phát minh ra một tôn giáo mới thiết lập dựa trên lý trí và có tính khoa học từ khoa học mới là x· héi học để lấp sự vô nghĩa Durkheim nhìn sự bắt đầu của một chức năng mới tương đương tôn giáo hiện tại trong giá trị của cuộc cách mạng Pháp
Nhiều nhà lý luận gần đây đã bác bỏ những ý kiến như vậy, tôn giáo là một phần của x· héi hiện đại như nó đã có trong bất kỳ x· héi nào trước đây, trong khi thừa nhận rằng nó là những hình thức đặc biệt có thể thay đổi thực tế Ví dụ Bellah (1971), đã tranh luận rằng, khái niệm của những hình thức thế tục hoá 1 phần lý thuyết của x· héi hiện đại khởi đầu Englichtenment phản ứng lại Thiên chúa giáo đặc tính tôn giáo truyền thống bởi những kinh nghiệm và nhấn mạnh trên niền tin chính thống Sự phát triển của lý thuyết những chức năng của thế tục hoá trong một chừng mực nào đó Bellah tranh luận, như một vật tưởng tượng cái tạo ra một sự cố kết tinh thần trong thực tế Trong ý thức nó là tự bản thân học thuyết mang tính tôn giáo hơn một khoa học Từ đó tôn giáo thực hiện những chức năng x· héi thiết yếu, nó sẽ lại di chuyển vào trung tâm những mối quan tâm mang tính văn hoá của chúng ta, Bellah tin tưởng Nhiều nhà lý luận khác, đặc biệt trong những năm gần đây, đứng trước sự nảy sinh của nhiều tôn giáo mới và của trào lưu chính thống, đưa
ra những kết luận tương tự (Crippen, 1988; Davie, 1994, Douglas, 1983; Glasner, 1977; Glock và Bellah, 1976; Greeley, 1973, 1989; Hadden, 1987; Luckmann, 1967, 1990; Martin, 1965b, 1991; Stark, 1999; Stark
và Bainbridge, 1985, 1987; Warner, 1993; Wuthnow, 1976a, 1076b) Đó là một vài nhà lý luận được tin tưởng, cũng như, tôn giáo sẽ không mất đi đặc tính huyền ảo, mặc dù chủ nghĩa duy lý và tính khoa học và nền tảng công nghiệp của x· héi hiện đại
Mặc khác, luận đề thế tục hoá tiếp tục nhận được nhiều sự ủng hộ và tranh luận của những ý kiến đối lập, thậm chí nếu một vài sự thừa nhận rằng thế tục hoá có thể không chắc chắn xảy ra hoặc là một quá trình không thay đổi (Berger, 1973; Bruce, 1992a, 1995a, 1996a, 1996b; Dobbelaere, 1981, 1987, 1999; Lechner, 1991; Wilson, 1966, 1982, 1985, 1992, 1998) Những người khác nhìn quá trình như sự hỗn hợp, đồng nhất của cả hai thế tục hoá và sự kháng cự hoặc thậm chí những lực lượng chống lại thế tục hoá (Beyer, 1997, 1999; Brown, 1992; Campbell, 1972, 1982; Casanova 1994; Chavez, 1994; Demerath và Williams, 1992; Duke và Johnson, 1992; Fenn, 1972, 1978, 1981; Hellemans, 1998; Lambert, 1999; Martin, 1978; Sharot, 1989; Sommerville, 1998; Voýe, 1999; Yamane, 1997)
Cuộc tranh luận về thế tục hoá vì vậy đưa ra cho chúng ta tình huống vượt ngoài khả năng Cái gì đưa ra như là một cái cớ trao đổi chủ yếu tiêu biểu x· héi hiện đại được đưa ra bởi những người khác không diễn ra ở tất cả Bởi nếu những nhà sử gia thuộc kinh tế đã tranh luận rất sâu như liệu cuộc cách mạng mang tính công nghiệp đã thực sự diễn ra Nó như thể rất rộng và vật thể hiển nhiên bị biến mất như thể ma thuật, lúc đầu bạn thấy nó, bây giờ bạn không thấy Rõ ràng, như chỉ dẫn ở trên, một tác phẩm văn học rộng lớn đã
Trang 2cho mỗi bên để thu lượm những xu hướng khác hoặc mơ tưởng Điều đó có thể đúng những người, người chống lại luận đề thế tục hoá không tấn công chính bản thân họ bởi tôn giáo trong khi những người người
mà chống lại nó là định hướng tôn giáo Một vài người đã tranh luận cho sự từ bỏ của giới hạn hoặc khái niệm (Martin, 1965b; Hadden, 1987; Stark, 1999; Stark và Iannaccone, 1994), thỉnh thoảng trong dân chúng
nó là một vũ khí được sử dụng bởi những người chống đối lại tôn giáo để làm suy yếu dần nó Điều này cũng không cần thiết đúng hơn để nói rằng khái niệm rộng của tôn giáo là vũ khí của những người người mà tìm ra quan điểm của thế tục hoá của x· héi đương thời một điều không thích hợp
Ý NGHĨA CỦA “SỰ THẾ TỤC HOÁ” (the meaning of “secularisation”)
Đây là câu hỏi về tôn giáo được định nghĩa như thế nào được xem xét là trọng tâm của cuộc tranh luận Liệu x· héi hiện đại được thế tục hoá hoặc phải trải qua quá trình thế tục hoá phụ thuộc rất nhiều vào những ý nghĩa của tôn giáo và cuối cùng là sự thế tục hoá Nhiều cuộc tranh luận với nhiều câu hỏi về thế tục hoá bắt nguồn từ thực tế có nhiều khái niệm cơ bản khác về tôn giáo là gì Wilson (1982) chỉ ra rằng những người, người theo chủ nghĩa chức năng luận xác định rõ khuynh hướng bác bỏ luận đề thế tục hoá trong khi những người sử dụng những lời định nghĩa có thật để chống lại nó Một vài điểm định rõ tôn giáo được hiểu bao gồm những giới hạn rằng sẽ luôn luôn là một thứ cái có thể coi như tôn giáo Như một số người viết thế tục hoá là một điều khó có thể xảy ra như nó là trái nguyên tắc thực ra (hầu như) bởi sự định nghĩa Bao gồm những lời định nghĩa như thế, tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, vấn đề này cần phải bàn luận
Thậm chí, khi một ai đó xác định rõ tôn giáo trong một cách có giới hạn hơn, những điểm còn không đồng ý trong câu hỏi về nghĩa của thế tục hoá Thuật ngữ được sử dụng trong một số cách khác nhau Shiner (1996) đã cung cấp một cuộc điều tra rất hữu ích Shiner phân biệt 6 nghĩa hoặc cách sử dụng thuật ngữ Đầu tiên dựa vào sự suy tàn của tôn giáo nhờ đó những biểu tượng mang tính tôn giáo được chấp nhận trước đây, những học thuyết tôn giáo và những thể chế tôn giáo mất uy tín và tầm quan trọng, lên đến cực điểm trong x· héi không có tôn giáo Thứ hai dựa trên sự thích hợp lớn hơn với “thế giới này” cái mà sự chú ý được bỏ đi từ cái siêu phàm và đối với tình trạng khẩn cấp của cuộc sống này và những vấn đề của điều đó
Những tổ chức và các nhóm tôn giáo trở nên không phân biệt từ những x· héi liên quan và những nhóm không tôn giáo Thứ ba, thế tục hoá có thể có nghĩa sự ràng buộc của x· héi từ tôn giáo Ở đây tôn giáo rút khỏi chính phạm vi hoạt động của nó và trở thành một vấn đề của cuộc sống riêng, toàn bộ đặc điểm bên trong và liên tục ảnh hưởng bất kỳ mặt nào của cuộc sống x· héi bên ngoài của chính tôn giáo Thứ tư, tôn giáo có thể phải trải qua một sự đổi chỗ của những niềm tin tôn giáo và những thể chế trong những hình thái không mang tính tôn giáo Điều này có liên quan đến sự biến đổi của sự hiểu biết, ứng xử và các thể chế
đó là đã một lần dựa trên quyền lực thánh thần trong sự phi thường của sự sáng tạo của loài người và trách nhiệm - một loại tôn giáo nhân học Nghĩa thứ năm là cái của thế tục hoá của thế giới Thế giới mất đi đặc tính thiêng liêng trong khi loài người và tự nhiên trở thành đối tượng của sự giải thích dựa trên nguyên nhân
và lý trí và lôi cuốn cái mà lực lượng siêu nhiên không đóng quá nhiều vai trò Cuối cùng, thế tục hoá có thể
có nghĩa đơn giản chuyển động từ một x· héi linh thiêng sang x· héi không linh thiêng trong sự từ bỏ cảm giác của bất kỳ việc đưa giá trị những truyền thống và hành vi, chấp nhận sự thay đổi và thiết lập tất cả những quyết định và hành động dựa trên lý trí và nền tảng thực tế Rõ ràng cách sử dụng thông thường này rộng hơn bất kỳ cái mà chỉ nói đến thay đổi vị trí của tôn giáo trong x· héi
Những nghĩa đó là, tất nhiên, bởi không nghĩa nào loại trừ lẫn nhau Tính đa dạng, tuy nhiên, mối liên kết những ý nghĩa đa dạng của tôn giáo và những người đứng đầu Shiner, Echoing Martin (1965b), nói rằng kết luận thích hợp đối chọi nhau là cách mà thuật ngữ nên bỏ qua hoàn toàn Trong khi sự đa dạng ý nghĩa của thuật ngữ gây ra sự lộn xộn lớn trong các cuộc tranh luận đang diễn ra trên những câu hỏi của thế tục hoá, dường như có phần vội vã từ bỏ khái niệm chung Chắc chắn, như Hanson (1997) chỉ ra rằng, sự đa dạng định nghĩa đó dẫn đến nhiều sự hiểu lầm và câu chuyện quá khứ khác Một nhà lý luận sẽ thường bình luận những cuộc tranh luận khác dựa trên cách hiểu khác nhau về thế tục hoá muốn nói gì và có liên quan đến thực tế nhằm tới sự bình luận của những người nắm giữ quan niệm hoàn toàn khác về nó Tuy nhiên, nghĩa trung tâm của thuật ngữ theo cách sử dụng thông thường của những nhà lý luận chính về thế tục hoá
có thể được thấy rõ
Từ việc xem xét lại phạm vi rộng những lý thuyết của thế tục hoá Tschannen (1991) có những kết luận rằng có 3 yếu tố trung tâm có thể được thấy rõ cái mà ông cho là sự phân biệt, sự duy lý hoá và tính chất trần tục Kết hợp với có một số những quá trình liên quan, cụ thể là, sự tự trị, tư hữu hoá, sự khái quát,
có nhiều lộc thánh và sự sụp đổ của quan niệm về thế giới Sự phân biệt là, theo sự phân tích của Tschannen,
Trang 3nguyên tắc cơ bản, rõ ràng hoặc hoàn toàn tất cả những lý thuyết thế tục hoá Những thành tố khác là phổ biến nhưng không phổ quát
Đưa ra điều quan trọng nhất, sự khác biệt, trước tiên, điều này muốn nói quá trình được tạo ra bởi tôn giáo và những thể chế tôn giáo đi đến phân biệt những lĩnh vực hoạt động khác Một ví dụ rõ ràng là sự ngăn cách của nhà thờ và nhà nước Sự duy lý hoá liên quan đến quá trình bởi cái, một sự chia cắt từ tôn giáo, những thể chế x· héi khác vận hành dựa trên những quy tắc duy lý liên quan đến những chức năng x· héi đặc biệt và không phụ thuộc những giá trị tôn giáo và quy chuẩn Ví dụ, đời sống kinh tế tăng thêm trong thế giới hiện đại đưa đến thống trị bởi lập luận của thị trường và bởi tính toán duy lý Cuối cùng, như những quá trình tác động trở lại chính tôn giáo cái trở nên ít liên quan với những chuyện huyền bí và trần tục hơn trong chính cách nhìn Nó ít tìm kiếm sự cứu rỗi những linh hồn và đem lại tâm lý thoải mái hơn
Sự khác biệt dẫn tới tôn giáo đang mất đi chính ảnh hưởng x· héi bao trùm nhiều mặt của x· héi Ví
dụ, điều này nó không còn chi phối hệ thống giáo dục nữa Sự tự trị dựa trên quá trình này bởi cái mà những thể chế x· héi trở thành tự trị và thoát khỏi sự ảnh hưởng của tôn giáo Kết quả là một sự gia tăng sự tư hữu hoá của tôn giáo điều này trở thành một vấn đề của sự lựa chọn và ý thức cá nhân hơn trách nhiệm và nghĩa
vụ của cộng đồng Mặt khác, tôn giáo có thể đảm nhận nhiều hơn nữa bản năng của mình với vai trò vốn có của mình, ví dụ những nghi thức thể chế của nhà nước và chính phủ cái được gọi là tôn giáo thường dân Tuy nhiên những thiết chế tôn giáo mất đi sự độc quyền hoặc gần như vị trí độc quyền chúng nắm giữ và tính đa nguyên của tôn giáo nắm giữ ưu thế Cuối cùng, sự sáp nhập và thực hành nghi lễ tôn giáo sẽ suy tàn
Sự duy lý hoá được liên kết với sự gia tăng của cách nhìn khoa học, sự suy yếu có vẻ hợp lý của những niềm tin tôn giáo và tiến tới bác bỏ chúng Như một kết quả, những đặc tính trần tục chiếm ưu thế hơn
Nhiều những thành tố của khái niệm thế tục hoá tiếp cận tới một số nghĩa khác của thuật ngữ của Shiner Những thành tố trung tâm gì của khái niệm không cần hàm ý, mặc dù theo Tschannen, là sự biến mất của tôn giáo Đây là một cái cái được nhấn mạnh bởi hầu hất những nhà lý luận hàng đầu của thế tục hoá Điều gì được hàm ý, và điều này dường như tóm gọn cái là trung tâm của khái niệm trong những cách sử dụng thông thường, như Chavez (1994) và Yamane (1997) tranh luận, sự suy tàn dần quyền lực của tôn giáo Những người ủng hộ này được xác định rất rõ mục đích bởi Wilson từ nhiều năm trước đây, cụ thể là, thế tục hoá đó nói đến quá trình bởi cái mà những thể chế tôn giáo, hành vi và ý thức mất đi ý nghĩa x· héi của chúng (1966, p.14) Nó cũng gợi lại khái niệm của sự thế tục hoá tương tự của Berger trước đây như quá trình bởi cái mà những lĩnh vực của x· héi và văn hoá khác biệt sự thống trị của những thể chế tôn giáo và những biểu tượng (Berger, 1973)
Điều này không có, tất nhiên, nói rằng ý niệm là đơn giản hoặc một điều không phức tạp hoặc cái đó được xem xét rõ ràng nó nhiều mặt khác nhau, những khái niệm khác hoặc những thuật ngữ không được quy định Sự khác nhau giữa những định nghĩa của Wilson và Berger là sự kết luận rộng của văn hoá như đối chọi với những thể chế x· héi bởi các những người sau đó Berger khá rõ ràng rằng thế tục hoá đơn thuần vượt ra ngoài giới hạn sự loại bỏ của tôn giáo thành lĩnh vực riêng kể cả sự suy tàn của niềm tin tôn giáo cá nhân và những viễn cảnh trong khi Wilson có khuynh hướng có phần mơ hồ (khó hiểu) trong điểm này Thế tục hoá, trong bất kỳ trường hợp nào, có thể theo đó ảnh hưởng đến những lĩnh vực khác nhau của đời sống x· héi và những chiều của x· héi và cách cư xử và có lẽ khác nhau Đặc biệt thành công ở khía cạnh này là
sự đóng góp của Dobbelaere tranh luận (1981, 1984, 1985, 1987, 1999) Ông phân biệt 3 chiều của thế tục hoá tương ứng với 3 mức độ của sự phân tích x· héi, cái của toàn bộ x· héi, cái của những thể chế tôn giáo
và các tổ chức và cái của cá nhân Ông sử dụng thuật ngữ “sự tách khỏi giới hạn” để nói tới sự thế tục thuộc
mức độ x· héi cái mà liên quan sự khác nhau của tôn giáo và các thể chế tôn giáo từ những nhân tố khác của
x· héi Thuật ngữ “sự thay đổi của tôn giáo” nói tới thế tục hoá ở mức độ của các thể chế tôn giáo nhờ đó chúng mất đi một vài đặc điểm đặc trưng của tôn giáo trở lên trần tục hơn Chavez (1994) gọi điều này “bản
chất của thế tục hoá” Ở mức độ cá nhân thuật ngữ “sự liên quan đến tôn giáo” được sử dụng và thế tục hoá
ở mức độ này liên quan tới sự suy tàn của những niềm tin tôn giáo (tín ngưỡng) cá nhân và hoạt động cá nhân như thành viên và tham gia vào những giáo hội và những giáo phái Sự thế tục hoá ở bất kỳ những mức
độ có thể biến đổi không lệ thuộc Quan điểm của Dobbelaere nó là thế tục hoá căn bản ở mức độ x· héi cái được phân biệt với luận đề thế tục hoá, rõ ràng hàm ý không cần sự biến mất của tôn giáo hoặc sự suy tàn của tín ngưỡng cá nhân tuy vậy những quá trình đó có thể giúp xoá bỏ tôn giáo từ trung tâm của x· héi
MỘT THỜI KỲ KHÔNG TÍN NGƯỠNG? (An Impious past)
Không có sự thoả thuận về việc có nên hay không thế tục hoá đang xảy ra đó không chỉ là một vấn
đề của các thuật ngữ và khái niệm Rõ ràng, yêu cầu tôn giáo là phải suy tàn so với trước đây Có nhiều
Trang 4tranh luận có nên trong x· héi hiện nay ít yếu tố tôn giáo hơn các x· héi trước, bất kể cái gì được hiểu bởi tôn giáo Điều đó được tranh luận bởi một vài cái, cái mà chúng ta có cái nhìn sai lầm về tôn giáo tự nhiên
của các x· héi trước đây và cái không nhiều tín ngưỡng như ngày nay Quan niệm về “thời đại của niềm
tin” là ảo tưởng một phần được tạo ra như một kết quả của sự tập trung vào những niềm tin tôn giáo (tín
ngưỡng) và thái độ về tầng lớp tinh hoa, cái mà chúng ta có nhiều thông tin, và nhược điểm để nhìn nhận những điều này của những người thông thường (Goodridge, 1975; Douglas, 1983; Stark, 1999 et al., 1995; Stark và Iannaccone, 1994, 1995) Chống lại điều này, những người viết giống như Wilson (1982, 1992, 1998), Bruce (1995b, 1995c, 1997) và Hanson (1997) đã đáp lại rằng quan điểm theo xu hướng dựa trên sự giả định rằng thế tục hoá tương tự như là không theo đạo Cơ đốc (de-Christianisation) Sự khẳng định rằng quá khứ thế tục không kém như hiện tại và do đó hiện tại có tôn giáo như quá khứ, thậm chí rốt cuộc khẳng định rằng quá khứ không quá nhiều đức tin vào đạo Cơ đốc hơn hiện tại và hiện tại do đó không ít đức tin
vào đạo Cơ đốc hơn quá khứ Nhưng sự tồn tại của ngoại giáo (không theo tôn giáo nào) và “tôn giáo dân
gian” chỉ là vẻ bề ngoài của những x· héi đức tin vào đạo Cơ đốc chứng tỏ đặc tính tôn giáo của họ hơn x·
héi hiện nay Trên cơ sở nhân chứng không chắc chắn rằng giai cấp nông dân xưa không tin vào đạo Cơ đốc,
điều này được thừa nhận bởi “quá khứ không tín ngưỡng” những nhà lý luận họ không liên quan đến tôn
giáo trong tất cả Nếu điều này cũng vậy, chúng ta sẽ phải kết luận rằng cha bề trên việc theo đạo thiên chúa
ở châu âu là tổng số sự vắng mặt của bất kỳ sự tham gia nào của tôn giáo Nó sẽ khó lòng làm được, cả hai, gạt bỏ ngoại giáo (những người không theo tôn giáo nào), tôn giáo dân gian và những niềm tin ma thuật và những thực hành của quá khứ không đúng ý nghĩa tôn giáo như Turner (1991b) đã làm Để làm được như
thế, qua hàm ý trên, ngoại trừ những hệ thống niềm tin của hầu hết những x· héi bộ tộc từ loại “tôn giáo” và
hạn chế quá chặt chẽ của nó chỉ thế giới những tôn giáo như: đạo Cơ Đốc, đạo Phật và đạo Hồi Thậm chí sau đó, đây sẽ là những vấn đề quan trọng trong quan hệ với dân tộc và cách hiểu phổ biến của những vấn đề này
Turner, tuy nhiên không đưa ra quan điểm đối lập thế tục hoá quá phức tạp Cả hai nhà lý luận thế tục hoá và đối lập sự thế tục đưa ra quan điểm, tranh luận Trong thời đại phong kiến, những tín đồ theo đạo
Cơ đốc có rất nhiều đặc tính của tầng lớp trên hoặc giới quý tộc nhưng người còn lại nằm trong số những nông dân (tá điền) Đó có thể là hoặc không phải là thời đại hoàng kim của tín ngưỡng chống lại cái mà có thể đối ngược hoàn cảnh hiện tại Đây là thời đại hoàng kim của tín ngưỡng tinh hoa, cái mà thực hiện chức năng lớn để cung cấp một hệ tư tưởng trụ cột cho hệ thống về quyền sở hữu và thừa kế Nó giúp tầng lớp địa chủ kiểm soát hoạt động tình dục, đặc biệt phụ nữ, như một cách bênh vực hệ thống tài sản phân phối trên
cơ sở con trai trưởng thừa kế để duy trì sự tập trung quyền sở hữu đất trong tay giới quý tộc Tầng lớp nông dân không có ruộng đất nhận thấy một chút hấp dẫn chúng trong đạo thiên chúa và vẫn thường thờ ơ hoặc thậm chí thù địch với nó và hoà hợp kẻ ngoại giáo hoặc những hành vi dân gian của sự mê tín hoặc loại ma thuật (cũng Abercrombie et al., 1980)
Trong khi thừa nhận những điểm khác biệt có thể giữa tầng lớp tinh hoa và nông dân và niềm tin và thực hành, một điều có thể khó lòng nghĩ đến đây là một tranh luận gay gắt chống lại luận đề sự thế tục cho
lý do đã được nói rõ Nó là, trong bấy kỳ trường hợp nào, một phần còn nghi ngờ để tranh luận rằng những ảnh hưởng rộng rãi của đạo Cơ đốc trong thời kỳ phong kiến dựa trên lý do căn bản về sự chuyển nhượng tài sản Trong khi nó có thể đặt điều này dử dụng bởi tầng lớp địa chủ và trong khi điều này có thể đòi hỏi làm sáng tỏ chắc chắn sự dạy bảo của đạo Cơ đốc, nó làm cho mê muội và sự phân tích không công bằng diễn ra đây là vai trò thiết yếu của đạo Cơ đốc xưa Chúng tôi chỉ nghĩ rằng sự sùng bái đức mẹ đồng trinh Mary và các thánh được nhìn nhận rằng điều này có ý nghĩa quan trọng lớn như một hình thức phổ biến của niềm tin
và thực hành cái mà có liên quan đến những người nông dân như nó tiếp tục làm trong nhiều cộng đồng nông dân nông thôn ngày nay, đặc biệt ở những nước thuộc thế giới thứ 3 và những nước đang phát triển Và đúng như nó có thể có ảnh hưởng mạnh những người không theo tôn giáo bản xứ và những niềm tin dân gian và những thực hành trong những tôn giáo đó, vì vậy nó có thể cùng tồn tại tương tự với những người không theo đạo và tôn giáo dân gian trong thời kỳ phong kiến ở Châu Âu
Dòng thứ hai những bình luận của quan điểm không tín ngưỡng trước kia có liên quan đến việc sử dụng của những dữ liệu lịch sử bởi những người, người mà biện hộ cho cách nhìn này Bruce (1995b, 1997)
và Hanson, (1997) buộc tội chúng thiên vị, cường điệu và phương pháp sai lầm cách giải thích thuộc công việc của lịch sử trong định nghĩa của quá khứ và lờ đi những bằng chứng phong phú cái không phù hợp với luận đề của họ Như những cuộc tranh luận thật khó để giải quyết, một phần vì vậy khó có dữ liệu tin cậy nhưng một phần cũng vì đó là vấn đề lớn thế tục hoá xác định chính xác nghĩa là gì và kết quả tất yếu của điều đó – đánh giá nó bằng cách nào Stark hoặc, những cách tiếp cận cơ bản của họ tiếp cận trên lựa chọn
Trang 5của lý trí để nghiên cứu tôn giáo Có nhiều cách hiểu khác nhau ở sức mạnh của tôn giáo trong x· héi, họ cung cấp một bản phân tích biểu thị chính sách hạ mức thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư (xem chương 16) bởi cái mà sự tham gia mang tính tôn giáo được gia tăng bởi tính đa nguyên của tôn giáo (có nhiều lộc thánh của tôn giáo) và bị suy giảm bởi sự độc quyền của tôn giáo Tín ngưỡng, do đó được đánh giá bởi dự tham gia của các tổ chức tôn giáo Những người không theo bất kỳ một tôn giáo nào, xu hướng tôn giáo cá nhân và không có tổ chức đa số, do đó bị coi thường từ đó đây không phải sự thực tham gia hiện nay nhưng chỉ tiềm tàng tín ngưỡng không thấy rõ trong hình thức tổ chức do đó không thu hút được những sản phẩm giá trị để mở rộng thị trường tôn giáo (Stark và Iannaccone, 1994, 1995) Như Beyer (1998) đã chỉ
ra, khi lý thuyết sự lựa chọn duy lý nói về tôn giáo nó có nghĩa tôn giáo có tổ chức Tiếp cận sự lựa chọn duy lý không dễ dàng được cung cấp ngoài bối cảnh của mối quan hệ phức tạp, ý chí luận, những x· héi đa nguyên cái mà lý trí của sự lựa chọn cá nhân giữa những tổ chức khác có một vài ý nghĩa và là sự thực Với Bruce, mặt khác (1995b), bất kỳ loại tín ngưỡng nào dù có tổ chức hoặc không và bất chấp hình thức của tổ chức đó tính đến Quan điểm của Stark và Iannaccone đánh giá thấp khả năng của những người thông thường để cung cấp hoặc thiết lập cho chính những thể thức tôn giáo riêng của họ và những kiểu tôn giáo bên ngoài thể chế hoá được thừa nhận công khai thống nhất Họ có khả năng, trong những từ khác, cung cấp những dịch vụ tôn giáo cho chính bản thân họ bất chấp tình trạng của thị trường tôn giáo
ĐỨC TIN CÁ NHÂN?
Đó chính xác là hình thức nghi thức bình thường “DIY” của các hoạt động tôn giáo trong thế giới hiện đại Những hình thức khác của sự chỉ trích về luận điểm thế tục hóa về sự chống đối nó với chiều hướng căng thẳng Họ nhấn mạnh sự phổ biến rộng rãi của những thực hành tư nhân và cá nhân trong xã hội hiện đại bên ngoài bối cảnh của các tổ chức tôn giáo - sự cầu nguyện cá nhân, sự mê tín, …nghe từ những phát thanh viên tôn giáo trên radio, một sự quan tâm từ thuật Chiêm tinh và đang đọc lá số tử vi trên tờ tạp chí thay thế những phương thuốc trị liệu và chế độ ăn uống trưởng thành của cá nhân, những ý tưởng về linh hồn của tự nhiên và tính thiêng liêng của hệ sinh thái tâm linh
Sự che chở đó được gọi là “thời đại mới” thường được sử dụng để chứa đựng rất nhiều sự đa dạng
này Một lần nữa câu hỏi về định nghĩa của tôn giáo phát sinh từ đây Xu hướng ủng hộ về định nghĩa rộng
về một phần của chúng những người từ chối rằng sự thế tục hóa là một tính năng đặc biệt của xã hội hiện đại cho phép bao gồm các hình thức của hoạt động
Một vấn đề với tranh luận này như Wilson (1976) đã nhấn mạnh rằng nếu những tôn giáo bị cáo buộc
là cơ sở cho các hành động cá nhân không tìm thấy, biểu hiện trong bất kì tổ chức hội hoặc hình thức tập thể nào rằng trong bản thân nó chứng thực về vị trí không chắc chắn, bất minh của tôn giáo trong xã hội hiện đại Wilson công nhận rằng một vài cá nhân có thể, trong thực tế, vẫn có thể duy trì được một vài hình thức của niềm tin hay sự thực hành tôn giáo riêng tư trong một sự thế tục hoá xã hội rộng lớn Sự thế tục hoá là một quá trình được tạo bởi những tổ chức tôn giáo, những hành động và sự thiếu hiểu biết về ý nghĩa xã hội của chúng Sự thiếu hụt của ý nghĩa xã hội, tuy nhiên, có thể hay không thể có liên quan đến sự chấm dứt của tôn giáo cá nhân Dù là tất cả những khía cạnh đa dạng của các hoạt động đã được đề cập đến trong phần trước đó được tính đến như là tôn giáo hay không, thậm chí tôn giáo cá nhân, có thể được tranh luận rất nhiều Một vài tranh luận rằng những hiện tượng tôn giáo mới trong thời đại chúng ta, cái mà đã thay thế cho những hình thức truyền thống Klass là một ví dụ, (1995), ông đã nhìn thấy sự nổi lên của cái mà ông gọi là Phong trào duy lý như là một sản phẩm của sự xung đột giữa tôn giáo cái mà một mặt chấp nhận tất
cả những giáo lý của khoa học hiện đại, tôn giáo khoa học, mặt khác cũng chấp nhận cả những trào lưu tôn giáo chính thống Chủ nghĩa duy lý cự tuyệt chủ nghĩa giáo điều trên cả hai mặt, và tìm kiếm con dường ở giữa quyền lực đã được thiết lập khoa học và sự tin tưởng vào sự liên kết quyền lực của một sự giảng dạy truyền thống và cơ thể của Kinh thánh Những điều làm cho chúng ta không ưa thích đã được nhìn nhận rất nhiều trong những cái mà Thời đại mới đã bao gồm hoặc chủ nghĩa duy lý hoặc bất kỳ thuật ngữ nào đã được sử dụng, khi tôn giáo đơn giản là do tính không quen thuộc của nó và những gốc rễ sâu sắc của chúng
ta hơn là xu hướng phương tất về sự cân bằng tôn giáo với những giáo hội truyền thống có địa vị chính yếu Mặt khác, Wilson (1976) và Bruce (1996a, 1996b) đã thừa nhận rằng cho dù tôn giáo có hay không và thường xuyên chúng là không, thì những thực hành này cũng là rất mong manh và ít có ý nghĩa xã hội Trong trường hợp mà tôn giáo đã mất đi ý nghĩa xã hội của nó, tất nhiên một câu hỏi theo lối kinh nghiệm, nhưng nó rất khó được tìm thấy ý nghĩa tin cậy của cách đo lường này Thậm chí còn khó khăn hơn
để đo lường mức độ của tôn giáo cá nhân và tư nhân Số liệu về sự tham gia vào các Giáo hội là hiển nhiên không đáng tin cậy như chỉ số về sự thuyết phục tôn giáo hoặc của ý nghĩa của tôn giáo trong đời sống xã hội của chúng đối với những người mà đã tham dự Ở Mỹ là một ví dụ, sự tham gia Giáo hội là cao hơn
Trang 6nhiều so với ở Anh và phần lớn các đất nước ở Châu Âu nhưng điều dó có thể là bởi vì trong sự tham dự của người Mỹ tại các Giáo hội chỉ ra những thành viên trong cộng đồng, tuân thủ những giá trị của xã hội và quốc gia và được tôn trọng hơn nhiều so với điều đó ở Anh (Herberg, 1956; Wilson, 1966, 1982)
Ở một số mức độ nhất định những Giáo hội và giáo phái ở Mỹ đã được nội bộ thế tục hoá (Luckmann,1967, tr36), thậm chí duy trì hơn nữa và những người theo trào lưu giáo hội và giáo phái chính thống (Bruce, 1996b)
Ý nghĩa của việc tham gia vào các giáo hội biến đổi khác nhau giữa tôn giáo truyền thống và những giáo hội và trong những nơi khác nhau để so sánh về tỷ lệ tham dự có thể là chỉ báo làm cho nhầm lẫn (Wilson, 1992, 1998) Cho đến nay sự tham gia vào giáo hội không cho thấy bất cứ điều gì, sau đó, sự suy tàn chưa hẳn là không tất yếu hoặc trong chính bản thân nó cho biết sự suy tàn của tôn giáo…
Davie (1994) là một ví dụ, biểu thị tình huống trong xã hội Anh hiện đại như một niềm tin không phụ thuộc Tuy nhiên những nỗ lực để xác định tín ngưỡng thông các cuộc khảo sát có thể chịu nhường bước cho những kết quả làm cho mê muội Trả lời cho những câu hỏi về niềm tin với chúa trời là một ví dụ có thể cho thấy nhiều nhiều cách thức để đáp lại mà nghĩ rằng nó thích hợp để trả lời hoặc anh ấy hoặc cô ấy đã học như thế nào để trả lời các câu hỏi như vậy vì nó là sự kết tội trong thâm tâm của cá nhân
ĐO LƯỜNG SỰ THẾ TỤC HOÁ
Mang trong tâm trí về những vấn đề như vậy, những chỉ số đã được sử dụng này sẽ được đưa ra để nhìn nhận về tôn giáo, trong điều kiện chung, là trong sự suy tàn của hầu hết xã hội công nghiệp Phương tây,
ít nhất là cho đến khi chúng là Đạo Cơ đốc Tuy nhiên, sự suy tàn này xa hơn sự đồng bộ, đó là biến động theo thời gian và trong những trường hợp ngoại lệ đáng kể để trở thành xu hướng, đặc biệt là ở Hoa Kỳ Acquaviva (1979) kết luận từ một cuộc khảo sát về các dữ liệu liên quan đến Châu Mỹ La Tinh cũng như Hoa Kỳ và Châu Âu, trong đó, Đạo Cơ đốc trên toàn thế giới, cho rằng, ở mọi nơi và trong tất các các sở, ban, ngành, động lực của sự thực hành tôn giáo biểu lộ sự yếu ớt của tôn giáo ở xã hội Hy Lạp cổ xưa Và trong những giới hạn nhất định, của tất cả các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm cả các tín ngưỡng trong Thiên chúa giáo (trang 83) Một thống kê khá sâu sắc phân tích dữ liệu liên quan đến Hà Lan, Mỹ và Nhật Bản (Sasaki và Suzuki, 1987), điều mà đã kiểm soát độ tuổi và sự biến động định kỳ, tìm thấy rằng thành viên và sự tham gia vào các tổ chức tôn giáo đã suy tàn một cách đáng kể hơn bảy thập kỷ trước đó ở
Hà Lan, cho một kết luận đối với nhóm trẻ hơn ở Hoa Kỳ chứ không cho nhóm già hơn của Hoa Kỳ và không phải cho tất cả nhóm tuổi ở Nhật Bản Hout và Greely (1987) đã tìm thấy mối tương quan ổn định về hình mẫu của sự tham gia vào Giáo hội ở Hoa Kỳ qua hơn 50 năm Rất nhiều cuộc điều tra đã xác nhận những gì đã thể hiện, đó là: tỷ lệ ở Hoa Kỳ cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ này ở Châu Âu - khoảng 40% cho những người theo Đạo Tin Lành và khoảng 50% đối với những người theo Đạo Thiên chúa Sự suy tàn này diễn ra trong suốt những năm cuối thập niên 1960 và đầu năm 1970 một cách rộng lớn bởi một sự suy yếu
về sự tham gia vào Đạo thiên chúa, chúng được quy cho sự bất mãn như là kết quả của Humanae Viate, thông điệp đã được thâu tóm tư sự kiểm soát nhân sinh Năm 1975 sự suy tàn đã bị chấm dứt Một số nghiên cứu đã được xác nhân bởi những phát hiện của Hout và Greely
Chẳng hạn như những nghiên cứu dựa trên bản tự báo cáo tham dự, Hadaway… (1993) câu hỏi về độ tin cậy của những dữ liệu này ở Mỹ Họ đặt ra là làm như thế nào để xác định những bản báo cáo tham dự có mối liên quan với thực tế tham gia như thế nào? Đo lường sau đó bằng cách trực tiếp quan sát Họ kết luận rằng thực tế tham dự gần bằng ½ của bản báo cáo tham dự Sự tính toán về sự tham gia các giáo hội cái mà hầu hết các cuộc khảo sát đã dựa vào đó làm cơ sở Trong khi điều này không cho chúng tôi thấy sự thay đổi theo thời gian, điều đó có thể là thực tế tham gia đã bị suy tàn nhưng những báo cáo sự tham gia lại không
có lý giải xã hội đáng tin cậy
Điều này sẽ phù hợp với sự suy yếu nói chung của phần lớn các giáo phái và sự giảm xuống chậm chạp của sự trưởng thành trong việc bảo toàn những nhóm này Những chỉ trích về nghiên cứu này tập trung
và số liệu như vậy Những chứng cứ được luận chứng từ việc hỗ trợ cho vị trí của chúng Trong khi chưa có câu trả lời cuối cùng, dứt khoát những nghiên cứu này đã bỏ qua rất nhiều những nghi ngờ nghiêm trọng trước đó về việc chấp nhận hình ảnh về mức độ tham dự vao Giáo hội ở Mỹ nhưng lại để lại câu hỏi rằng làm như thế nào để thay đổi nó qua thời gian Những con số về sự tham gia ở Châu Âu nhìn chung thấp hơn nhiều Giá trị kiểm soát dữ liệu trên thế giới trong khoảng từ 2 – 3% đối với Aixơlen đến xuống dưới 81% đối với Ireland Nhìn chung, những người theo đạo tin lành Scandinavo cho thấy tỉ lệ thấp nhất, những đất nước Thiên chúa giáo có tỷ lệ cao nhất ở phần còn lại của Đạo tin lành ở Châu Âu Ở Anh sự tham gia này khoảng hơn 30% vào năm 1850 giảm xuống khoảng 10% ngày nay
Trang 7Như các thành viên của tổ chức tôn giáo, Finke và Star (Finke, 1992; Finke và Stark, 1992) yêu cầu đối với Mỹ vào khoảng thời gian của cuộc cách mạng Mỹ có mối liên hệ với việc một số người dân đến nhà thờ nhưng kể từ đó con số này đã có sự tăng trưởng ổn định ở khoảng 60% Một lần nữa đây lại là con số cao hơn phần lớn các quốc gia ở Châu Âu nơi mà nhìn chung đã từng trải qua sự suy tàn của các tổ chức Giáo hội Ở Anh con số này đã giảm xuống khoảng 27% từ năm 1850 xuống còn 12% ngày nay Tôn giáo, tín ngưỡng và sự tán thành để các học thuyết tôn giáo nhìn chung cao hơn so với điều này về sự tham gia và chỉ có các hành vi và những mối liên hệ còn lại cao hơn ở hầu hết các quốc gia Đó là những bằng chứng về
sự suy yếu, tuy nhiên, Gill… (1998) đã phân tích một số lượng lớn các cuộc khảo sát vào khoảng những năm 1920, đã đưa ra kết luận về sự xói mòn đáng kể của những niềm tin tôn giáo truyền thống đã xảy ra, đặc biệt là niềm tin đối với Chúa và đặc biệt là Chúa cá nhân, cuộc sống sau khi chết, ma quỷ và uy quyền của kinh thánh Một số khác những người không theo đạo thiên chúa, niềm tin chỉ là sự mê tín, thuật chiêm tinh
….Tuy nhiên nó đã thể hiện sự ổn định hay vượt trội trong một vài trường hợp ví dụ như: sự đầu thai, thậm chí là sự trưởng thành Ở Mỹ tỷ lệ người dân tin ở Thiên Chúa đã khá ổn định trên 90% cho hầu hết các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống
Những gì mà hầu hết những con số đã cho thấy sau đó đã là một sự đánh dấu suy yếu của tôn giáo hội nhập và tín ngưỡng truyền thống ở Châu Âu với sự suy yếu ít hơn, nếu có, ở Mỹ, Nhật và đến mức mà các
dữ liệu tồn tại, một vài người không theo đạo thiên chúa một phần của thế giới
LÝ THUYẾT VỀ SỰ THẾ TỤC
Giới thiệu
Chuyển sang phần lý thuyết và những giải thích đầu tiên về tổng thể của các chiều hướng theo thế tục hóa, một quá trình nhìn chung có sự liên kết với xã hội hiện đại và mức độ công nghiệp hóa Những mối liên
hệ này tuy nhiên xa hơn là sự đơn giản trong tương quan giữa công nghiệp hóa và sự thế tục có nghĩa là hoàn hảo Hoa Kỳ là một ví dụ, là một trong những quốc gia công nghiệp hóa nhưng chúng tôi đã thấy có nhiều nhất sự thế tục Nhiều hơn nữa có thể nói đến Nhật Bản, mức độ của sự thế tục hóa như là một hậu quả của phát triển xã hội phức tạp thay đổi liên quan với hoặc thêm vào đó cái mà đã đóng góp vào quá trình công nghiệp, hiện đại hóa để thể hiện tại sao nó lại xảy ra, chúng tôi đã phải mất rất nhiều sự so sánh và hi vọng trong tương lương, sự giải thích về quá trình này sẽ được giải thích bởi một số lý thuyết về quy luật của tôn giáo trong xã hội sẽ chiếm ưu thế
Sự giải thích cho sự suy yếu và sự biến mất của tôn giáo cũng phụ thuộc vào việc tính toán tại sao nó
đã hiện diện tại thời điểm ban đầu Nếu tôn giáo đã được giải thích như là kết quả hoặc là sự phản ứng đối với việc bị tước đoạt và áp bức, thì sau đó sự giải thích về thế tục sẽ được quy cho sự trưởng thành của nền dân chủ và sự sung túc Nếu nó là kết quả của sự thiếu hiểu biết thì sau đó sự thế tục sẽ là kết quả của sự tăng trưởng của khoa học Nếu nó là sản phẩm của sự sợ hãi và không chắc chắn thì sự thế tục sẽ là kết quả của sự phát triển khả năng giải thích và kiểm soát thế giới tự nhiên Nếu nó là một sự nổi loạn thần kinh để phản ứng lại với những hoàn cảnh của cuộc sống ở quy mô tập thể thì sau đó sự thế tục hóa là kết quả của thực tế cái mà chúng ta đã đạt đến giai đoạn trưởng thành của sự phát triển Nếu nó là một cái gì đó nắm giữ cùng xã hội thì sau đó sự thế tục sẽ là kết quả thực tế cái mà một vài giá trị được thiết lập tích hợp được yêu cầu trong xã hội hiện đại Nếu tôn giáo là con đường, cách thức mà trong đó nam giới và phụ nữ mang lại ý nghĩa cho sự tồn tại của họ thì sau đó sự thế tục có thể là kết quả của một sự khủng hoảng về ý nghĩa hoặc quá trình mà nhờ đó cách thức mới được cung cấp với ý nghĩa như vậy, thích hợp hơn để phổ biến những điều kiện đang tìm kiếm Sau đó, cuối cùng nếu chúng ta không có một lý thuyết hài lòng về tôn giáo, thì sau
đó chúng ta sẽ không có một sự thỏa mãn đầy đủ cho lý thuyết về sự thế tục
Mặt khác, nếu chúng ta có thể hiểu tại sao nó lại có ở trong Xã hội hiện đại mà xu hướng là suy yếu tôn giáo, chúng ta có thể đạt tới sự hiểu biết tốt hơn về sự hiện diện và sức mạnh của tôn giáo trong quá khứ
và trong các xã hội khác
Sau đó, câu hỏi về sự thế tục là các lý thuyết có ý nghĩa quan trọng Sự thế tục, mặc dù có liên hệ với công nghiệp hóa và đô thị hóa cần phải được nhìn thấy trong sự giới hạn của cơ sở và xã hội rộng không thay đổi mà cả hai đã thúc đẩy và mang lại kết quả từ sự phát triển này Có lẽ quan điểm chiếm ưu thế là quan điểm từ Weber về sự tăng trưởng hợp lý ở phương Tây Đây chính là chìa khóa trong quá trình thế tục Điều này sẽ giải thích một thực tế rằng những đất nước theo Đạo Tin lành phần lớn đều chịu những ảnh hưởng lớn nhất Có hai xu hướng cho phương pháp tiếp cận này ở mỗi cách đều có những nhấn mạnh khác nhau bởi các lý thuyết khác nhau Đầu tiên, có những nhân tố nằm trong bản chất của những người theo Đạo
Cơ đốc, theo quan điểm của Weber lên đến cực điểm trong Đạo Tin lành và đặc biệt là đạo tin lành Calvin
Trang 8Thứ 2, các yếu tố bên ngoài Đạo Cơ đốc và được kết hợp với sự tăng trưởng và sự phát triển của chế độ và quan điểm của thế giới cái mà phải lựa chọn Đạo cơ đốc thay vì tôn giáo nói chung
Peter Berger:
Việc thiết lập các nhân tố bên trong Đạo Cơ đốc truyền thống được nhấn mạnh bởi Berger trong phân tích ảnh hưởng của ông (1973), Berger đã quan tâm đến câu hỏi về mức độ mà các tôn giáo phương Tây truyền thống có thể mang đến những mầm mống của sự thế tục hoá bên trong nó (trang 116) Điều đó không
có nghĩa là ông nghĩ rằng đạo Cơ đốc đã tự động sẵn có một xu hướng để phát triển theo hướng của thế tục hóa Ông thừa nhận rằng phải có nhiều yếu tố xác đáng có liên quan, cái ở bên ngoài của những tôn giáo truyền thống, có nghĩa là các yếu tố kinh tế và xã hội Tuy nhiên trong quan điểm của ông các yếu tố có ảnh hưởng của chúng không nhiều đối với tôn giáo nói chung nhưng đối với Đạo cơ đốc nói riêng, chúng mang đến và đẩy mạnh khuynh hướng vốn có trong Đạo Cơ đốc truyền thống
Trong một môi trường xã hội đặc biệt của Đạo Cơ đốc biểu hiện khuynh hướng thế tục Nhưng trái lại trong trường hợp của những tôn giáo khác khuynh hướng vắng mặt và những tôn giáo này bởi vậy không phải là chủ đề cho quá trình thế tục, phát triển, hiện đại hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa biến mất trong xã hội này
Theo Berger, những khuynh hướng này trong đạo Cơ đốc trở thành gốc rễ những cái mà tất nhiên đã
có trong đạo Do thái Chúng bị kìm lại bởi đạo Cơ đốc nhưng lại mở ra bởi sự cải cách của đạo tin lành Sự cải cách này đã được liên kết với một sự thay đổi của cấu trúc giai cấp và sự thay thế của chế độ phong kiến Trong sự thay đổi của mình, nó đã giải thoát khỏi những lực lượng của trần tục trong Đạo Cơ đốc
Luận án này, tất nhiên, là sự hồi tưởng mạnh mẽ của Max Weber và Berger theo ông trong phân tích
của ông Tất cả để thay thế “sự duy lý” thành “lực lượng thế tục” và có Luận án thiết yếu của Weber trên sự
phát triển của Đạo Cơ đốc và của Xã hội Châu Âu
Berger, sau đó, nhân mạnh xu hướng liên kết với sự gia tăng hợp lý cái mà Weber đã gọi là “sự tỉnh
ngộ của Thế giới” Đạo Do Thái đã từ bỏ ma thuật, huyền ảo và do đó, điều này đã đưa nó trở thành Đạo Cơ
đốc khi đã như là đạo đức hợp lý của Đạo Do Thái
Giáo hội ban đầu của Đạo Cơ đốc, theo quan điểm của Berger đã mang đến một bước thụt lùi Nó đã giảm bớt thuyết một thần của Đạo Do Thái Nó tái lập một mức độ của sự huyền bí và tái giới thiệu lễ ban thánh thể/lễ ban phước và sức mạnh siêu nhiên huyền bí nhưng những lực lượng thúc đẩy một cách hợp lý quá mạnh để loại bỏ hoàn toán
Luân lý bên trong thế giới đã dược giữ và lưu giữa trong truyền thống Ngoái ra, cái bản chất tự nhiên của Đạo Cơ đốc, xu hướng của nó để tìm kiếm sự chuyển hoá thế giới, đã được lưu giữ qua Thời Trung cổ, bởi những nhóm người mà tìm kiếm trong nó cảm hứng, hy vọng và sự bào chữa cho sự nổi dây Bản chất của Đạo Cơ đốc ban đầu, và các mối quan tâm của nó đối với công lý, không bao giờ quên được
Những khuynh hướng hợp lý của Đạo Cơ đốc đã dược phát triển đến cực độ trong Đạo Tin lành và đặc biệt trong Đạo Calvin, hình thức hợp lý nhất của Tôn giáo để xuất hiện trong lịch sử con người, Theo Weber
ít nhất là trong giới hạn của hình thức hợp lý Nó là chủ nghĩa duy lí của Đạo Tin lành, cái mà nằm đằng sau
sự thế tục trong quan điểm của Berger Đạo Tin lành, do đó, cũng là khúc dạo đầu của sự thế tục Đạo Tin lành có thể mô tả trong giới hạnh của một mức độ hao hụt lớn trong phạm vi của thần thánh thiêng liêng trong thực tại như đã so sánh nó như là đối thủ của Đạo Thiên chúa (trang 117)
Đạo Tin lành có khuynh hướng của lễ ban phước và lễ nghĩa - những khía cạnh của Đạo Thiên chúa trong một mức độ rộng lớn Nó đã gạt bỏ sự huyền bí của ma thuật của chính bản thân nó Những quan niệm của Đức chúa trời là một điều tiên nghiệm hoàn toàn của một con người, mặc dù ông ta đã tạo ra thế giới Còn lại toàn bộ những phần riêng biệt từ nó Berger đã tranh luận rằng những tình trạng chia cắt hoàn toàn này của những buổi lễ thánh và phạm vi ngoại đạo trong Đạo Tin lành đã có ý nghĩa rất lớn Đạo Tin lành làm giảm mối quan hệ và liên kết giữa Đức chúa và con người đến mức độ mà nó không mang lại nhiều để chia cắt hoàn toán những liên kết mỏng manh Xu hướng này đã đi đúng trở lại với sự phát triển sớm nhất
trong Đạo Cơ đốc Judeo truyền thống “gốc rễ của sự thế tục đã được tìm thấy trong nguồn lực sẵn có sớm
nhất của Tôn giáo ở Israel cổ” Tuy nhiên trái lại với nó, nó đã là Tôn giáo lớn phục hồi và sự tăng cường
của Tôn giáo cái mà chúng ta biết đến như là sự cải tạo cái mà gieo mầm mống cho sự truyền lại của Tôn giáo
Một nhân tố trung tâm khác đối với Đạo Cơ đốc truyền thống là loại hình tổ chức Tôn giáo, cái mà nó
đã phát triển, có tên là, Giáo hội Nếu Berger đúng về điều này, nó đã là một cái gì đó mỉa mai kể từ khi nó
là một khía cạnh của Đạo Cơ đốc cái mà Kausky đã nhấn mạnh như là một sự tính toán đối với sự thành công lớn của Đạo Cơ đốc trong sự lan rộng ở khắp nơi và đang tồn tạo ở thế giới La Mã Giáo hội - loại tổ
Trang 9chức lãnh đạo cuối cùng trong sự hướng tới thế tục, theo Beyer, bởi vì loại tổ chức này đòi hỏi một tiềm năng chuyên môn hoá vốn có trong tổ chức Tôn giáo Điều này không phải là một đặc tính phổ biến trong lịch sự các Tôn giáo Những tác động của nó trong phạm vi khác của cuộc sống có thể là đã được được tăng dần sự loại bỏ đối với một khu vực riêng biệt và trần tục và bằng cách đó, do đó di chuyển giới hạn quản lý khỏi các buổi ban phước Điều đó có nghĩa là những phạm bi khác này có thể dễ dàng hơn để trở thành chủ
đề cho quá trình hợp lý hoá và ứng dụng những ý tưởng mới, hiểu biết và khoa học Giáo hội đã càng ngày càng trở nên ít có ý nghĩa hơn đối với việc quản lý cuộc sống và càng ít có sự thuyết phục hơn đối với sự giải thích thế giới
Những thiệt hại của sự độc quyền trong vấn đề Tôn giáo bởi một tổ chức, quá trình của giáo phái liên quan qua lại với Đạo tin lành, đóng một phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự thể tục
Wilson (1966) đồng ý với Berger về quan điểm này nhưng ông cũng cân nhắc rằng điều này không hề đơn giản để đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự thế tục nhưng sẽ là kết quả của chính nó Trong quan điểm của Wilson, giáo lý của Hội Giám lý có ý nghĩa lớn ở Anh từ quan điểm về sự hội nhập bởi vì nó
đã thu hút được giai cấp Công nhân Bởi vậy nó thúc đẩy mọi thứ liên quan đến tu sĩ của Đạo Tin lành trong một tầng lớp xã hội mới Nó làm cho sự thu nhận những kỷ luật bên trong xã hội mới dễ dàng hơn giữa những tầng lớp trong vị trí của kỷ luật vừa quyết định cuộc sống trong cộng đồng, cái mà đang biến mất như
là một hậu quả của cuộc Cách Mạng công nghiệp
Tôn giáo đa nguyên không chỉ là sự giúp đỡ trải rộng, phổ biến khuynh hướng hợp lý, nó còn là sự ảnh hưởng trực tiếp trong sự lãnh đạo/dẫn dắt xa hơn từ Tôn giáo Một trong những trường hợp có thể lựa chọn giữa việc làm sáng tỏ tôn giáo này và tôn giáo khác, nơi mà việc làm sảng tỏ những đối thủ và tổ chức hoàn
thành trong “thị trường của Tôn giáo” như Beyer đã nhận định, như là kết quả về một sự mất giá hay mất
mát quyền lực đối với quản điểm về Tôn giáo nói chung Trạng thái đa nguyên này nơi mà có thể chọn một Tôn giáo như là một tình huống nơi có thể chọn không phải tất cả Tôn giáo Khi mà học thuyết và tổ chức Tôn giáo độc lập để thống trị, nó hiếm khi khoan dung cho sự xuất hiện của những quan điểm Tôn giáo của một phần trong nhóm và thận chí là của các cá nhân, trong xã hội
Lý thuyết của Berger về thế tục hoá rất có sức thuyết phục và đã phù hợp với thực tế rằng nó là đạo Cơ đốc Thế giới và Đạo Tin lành Thế giới cái mà phải trải qua một mức độ lớn của sự thế tục Mặt khác, ông có
lẽ cũng nhấn mạnh thêm nhưng nhân tố bên trong đối với Đạo Cơ đốc Tầm quan trọng của Giáo hội - một loại hình tổ chức và của Tôn giáo đa nguyên có thể được công nhận Nhưng để nói rằng sự thế tục là kết quả của khuynh hướng cố hữu chỉ được mở ra bởi sự thay đổi tất nhiên của xã hội sau hơn 1500 năm
Hơn nữa, chúng ta cũng không nên quên rằng thuyết tôn giáo đa nguyên có thể bị cản trở, đến một phạm vi rộng, quá trình của sự trần tục trong việc cung cấp một Tôn giáo không thiết lập lối thoát cho sự bất mãn và giai cấp công nhân Hội Giám lý không những thúc đẩy sự phù hợp Wilson (1966) thừa nhận, nhưng đã thiết lập sự thức tỉnh lòng mô đạo quan trọng Tuy nhiên, về lâu dài, theo quan điểm này, tính đa nguyên thúc đẩy sự thế tục hơn là Tôn giáo Quá trình thế tục đã trải qua một giai đoạn của đa nguyên Tôn giáo và cần phải được nhìn nhận như là một khía cạnh quan trọng của quá trình này
Một luận điểm đã được củng cố bởi Bruce (1990, 1996b) người đã ngăn chặn câu hỏi hiển nhiên được nêu ra về lý do tại sao ở Mỹ đã lưu ý cho tính đa nguyên của nó, như vậy cho thấy sức sống của nó trong đời sống Tôn giáo Bruce đã tranh luận rằng trong khi Mỹ là nước theo thuyết đa nguyên rất chung chung và cảm giác trìu tượng, ở mức độ toàn xã hội, nó không phải ở tất cả đa nguyên ở cấp độ địa phương Những người bảo thủ và Đạo Tin lành ở phía Nam, là một ví dụ, không thể nói đến tính đa nguyên Tôn giáo có liên quan, ít hơn ở Châu Âu Ở Mỹ có thể thấy ở những nhóm khác nhau để tạo ra những nhóm của riêng mình, tương đối cô lập với sự thay thể Tôn giáo
SỰ THẾ TỤC VÀ LÒNG MỘ ĐẠO
Trong những năm gần đây ý tưởng là tính đa nguyên thúc đẩy sự thế tục đến sau sự thay đổi nghiêm trọng từ một vài lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý Stark, Finke và Iannaconne đã trành luận khá căng thẳng về
vị trí đối lập, cái mà Berger gọi là, tính đa nguyên thúc đẩy sự liên luỵ Tôn giáo và nó là Tôn giáo độc quyền
và cái mà xói mòn nó
Contra Bruce họ tranh luận rằng Hoa Kỳ đã chứng minh sự liên quan Tôn giáo với sức sống của nó
bởi vì nó mang tính đa nguyên Họ ưu ái hơn cho cách tiếp cận này Họ giả định rằng nhu cầu về các Tôn giáo là ổn định Mọi người luôn tìm kiếm và thấy ở tôn giáo câu trả lời cho các vấn đề khó khăn trong cuộc sống Điều đó để nói rằng chúng sẽ luôn tiềm ẩn, bí ẩn nếu không là Tôn giáo tích cực Hoặc là chúng là các hoạt động Tôn giáo hoặc sẽ không phụ thuộc dù sự tiềm ẩn Tôn giáo của chúng được huy động để cung cấp các sản phẩm Tôn giáo Nếu thị trường tôn giáo có cấu trúc như là để cung cấp sự lựa chọn sản phẩm dịch
Trang 10vụ Tôn giáo trong sự cạnh tranh với cái khác thì tiềm năng tiêu dùng sẽ thực sự thành người tiêu dùng Sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp trong việc đảm bảo các sản phẩm theo đề nghị kêu gọi cho người tiêu dùng
và rằng “các doanh nghiệp Tôn giáo” phục vụ cho những nhóm khác biệt của những nhóm khách hàng,
theo cách như vậy, tập thể sẽ đáp ứng cho toàn bộ những sở thích tôn giáo Sự cạnh tranh đó có nghĩa là không phải tích cực tìm kiếm để tuyển dụng các thành viên, thông qua một loạt các chiến lược thu hút họ Người độc quyền cung cấp và các quan điểm của Thị trường Tôn giáo thúc đẩy thị trường và bỏ đi để tập trung vào các sở thích và để tuyển dụng,
Những tổ chức độc quyền không thể phục vụ cho tính đa dạng của tôn giáo và tập trung vào những điều cần thiết của cộng đồng cái mà dẫn đến việc rút ra hoặc sự không tham gia vào các tổ chức của họ Điều đó không phải là có nhiều lời đề nghị trong tình huống đa nguyên nhưng điều đó là thúc đẩy và tiêu thụ một cách hăng hái Điều này đã được kiểm tra bằng cách sử dụng dữ liệu thống kê trong một số bối
cảnh nhất định (Finke, 1990, 1992,1997; Finke và Stark, 1988, 1989, 1999; Innaccone, 1991; Chavez và
Cann, 1992; Stark …, 1995; Stark và Innaccone, 1994; Hamberg và Pettersson, 1994) Công việc này đã
khuyến khích sự chỉ trích và tranh luận và một số kinh nghiệm nghiên cứu cái mà có hoặc không được hỗ trợ để tìm kiếm về lý thuyết lựa chọn hợp lý, đã tìm thấy chủng để giữ chỉ trong một số trường hợp, thay vì
đã được tìm thấy trong sự thực hiện vì giả thuyết truyền thống rằng tính đa nguyên không có gì tổn hại đển
sự thực hành Tôn giáo (Breault, 1989; Land, Deane và Blau, 1991; Blau…, 1992; Bruce, 1952b, 1995b,
2000; Beyer, 1997; Verweij …, 1997; Olson 1998, 1999; Olson và Hadaway; 1998; Perl và Olson, 2000)
Cả hai mặt này đã đặt ra những câu hỏi về phương pháp và sự giải thích về những điều khác với sự quan tâm đến những điều như làm như thế nào để đo lường tính đa dạng, sức sống hoặc thực hành, những đơn vị của phân tích đã được sử dụng
Trong khi những kinh nghiệm nghiên cứu để lại toàn bộ câu hỏi về tính đa nguyên và sức sống của Tôn giáo chưa được quyết định, sự lựa chọn hợp lý cách tiếp cận đã chắc chắn tiếp thêm sức sống mới cho
sự tranh luận về sự thế tục và chỉ ra những câu hỏi mới được đặt ra và những nguồn số liệu mới được mở ra
và được phân tích Chúng ta có thể sẽ có chiều hướng sẵn sàng đồng ý với Bruce về tính đa nguyên là có sự mối liên hệ rõ ràng với sức sông tôn giáo Đôi khi là như vậy và đôi khi cũng không phải là như vậy, điều đó còn phụ thuộc vào từng tình huống Tuy nhiên, thậm chí nếu nó chỉ là đôi khi, điều đó nằm trong chính bản thân nó một sự xem xét quan trọng vị trí mà trong một thời gian dài có thể có tính ưu trội, ảnh hưởng lớn Smilar, Breaulf (1989) thừa nhận rằng có thể tồn tại một sự suy yếu tôn giáo xa hơn trong một số ít cộng đồng và khu vực
Thuyết sự lựa chọn hợp lý đã có sự cải thiện, trong một số trường hợp, một số trong chúng có tác động cực kỳ sâu rộng Ví dụ như Finke và Stark (1988, 1989) giảm nhẹ một số yêu cầu của họ đối với những tôn giáo độc quyền suy yếu thường liên quan đến sự rắc rối và sức sống của Tôn giáo, trong những tình huống
mà có sự đồng nhất Tôn giáo Về phương diện địa lý, tập trung những nhóm thiểu số đã được bao quanh bởi nhóm đa số khác và về cơ bản các lực lượng thù địch Tôn giáo tín ngưỡng, Tôn giáo thường nhận được sức mạnh (sự hỗ trợ mạnh mẽ) như là tâm điểm của sự hội nhập và đoàn kết Điều này được xem đến trong một
số trường hợp ở Ai len và Ba Lan và liên quan đến Đạo Cơ đốc ở Mỹ và Mormons ở Utah Điều đó có thể được xem như là một tình huống khác, trong đó, không tôn giáo tín ngưỡng như là sự đoàn kết và hội nhập
đã được cung cấp bởi những tổ chức Tôn giáo, không biểu hiện sự thấp kém trong niềm tin Tôn giáo lợi ích không thích đáng trong cái hay khác được sàng lọc để giới thiểu để chỉ trích rằng không chỉ có sự độc quyền
và quyết định sự ép buộc lựa chọn Tôn giáo mà còn là sự lựa chọn các nhân tố xã hội khác (Bruce, 1992b, 1993).Ví dụ như những kinh nghiệm nghiên cứu về tính đa nguyên Tôn giáo và sức sống của Tôn giáo sẽ không bao giờ có thể giải thích được sự tham gia cao ở những quốc gia và cộng đồng Thiên chúa Điều này
có thể là do các yếu tố xã hội và chính trị tất nhiên đương phổ biến trong các vùng như Chavez và Cann thừa nhận Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý đã nhìn thấy điều này trong các điều kiện quy định của thị trường riêng biệt đang này sinh từ nhiều nhân tố (Stark…, 1996)
Những phát hiện ngược lại với những mong đợi của lý thuyết sự lựa chọn hợp lý đã chỉ ra cho Finke
và Stark (Finke…, 1996; Finke và Stark, 1998) thừa nhận rằng tính đa nguyên có thể không có ảnh hưởng quá lớn đến sự liên quan Tôn giáo trên những cấp độ nào đó Những ảnh hưởng của nó được xem như là sẽ chỉ có tác dụng với những cấp độ cao, tính đa nguyên được tăng cao sẽ không có ảnh hưởng lớn cho đến khi
nó không thể phát triển mức độ của sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Tôn giáo Chỉ có như vậy, chúng mới đủ điều kiện để dẫn dắt các quan điểm của họ về tính đa nguyên như là một biện pháp phù hợp đo lường đối thủ cạnh tranh Beyer (1996) xem xét rằng một điểm của vị trí lựa chọn hợp lý là trong thực tế, nó đã không có sự hài lòng với thước đo về bó khác hơn là sự thành công