ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1 Câu hỏi 1: AnhChị hãy xác định Toà án nào có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp? Nêu căn cứ pháp lý? Trả lời: Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này. Căn cứ pháp lý: + Điểm a Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015; + Điển a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015; + Điểm đ Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 032012NQHHĐTP ngày 3122012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS Nguyên đơn – Công ty T là công ty của nước ngoài nhưng có văn phòng đại diện tại Việt Nam nên không thuộc trường hợp “đương sự ở nước ngoài”, do đó vụ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp quận, huyện. Bị đơn – Công ty M có trụ sở tại quận Hai Bà Trưng nên Toà án quận Hai Bà Trưng có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp này.
Trang 1ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1
Câu hỏi 1: Anh/Chị hãy xác định Toà án nào có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp? Nêu căn cứ pháp lý?
Trả lời:
- Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này
- Căn cứ pháp lý:
+ Điểm a Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015;
+ Điển a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015;
+ Điểm đ Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 03/2012NQ-HHĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS
Nguyên đơn – Công ty T là công ty của nước ngoài nhưng có văn phòng đại diện tại Việt Nam nên không thuộc trường hợp “đương sự ở nước ngoài”, do đó vụ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp quận, huyện Bị đơn – Công ty M có trụ sở tại quận Hai Bà Trưng nên Toà án quận Hai Bà Trưng có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp này
Câu hỏi 2: Nếu là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty M, anh/chị yêu cầu Khách hàng cung cấp những tài liệu gì?
Trả lời:
+ Tài liều về địa vị pháp lý của chủ thể (Giấy ĐKKD, Điều lệ,…)
+ Hợp đồng mua bán hàng hoá đã ký giữa hai bên
+ Bộ chứng từ mở L/C của người mua hàng (có thể trực tiếp mở L/C hoặc chỉ định chủ thể khác thay mặt mình mở L/C)
+ Các văn bản tài liệu hoặc thông tin trao đổi giữa các bên (qua email/fax,…) từ thời điểm hợp đồng được ký kết đến thời điểm gặp Luật sư
Câu hỏi 3: Anh/Chị xác định bên nào vi phạm hợp đồng? Hãy nêu căn cứ pháp
lý và lập luận để làm sáng tỏ vấn đề?
Trả lời:
+ Công ty T vi phạm hợp đồng
+ Sau khi Hợp đồng được ký kết, nghĩa vụ đầu tiên thuộc về người mua hàng, đó là việc
mở L/C phù hợp với hợp đồng (thời hạn mở L/C, nội dung L/C)
Trang 2+ Chứng minh L/C của Công ty T mở không phù hợp với hợp đồng: hợp đồng mua bán hàng hoá theo phương thức vận chuyển đường biển nhưng trong L/C lại thể hiện là vận đơn hàng không
+ Khi người mua chưa thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ mở L/C như đã cam kết trong hợp đồng thì người bán chưa phát sinh nghĩa vụ giao hàng
+ Việc Công ty M không giao hàng không bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng vì chưa xuất hiện nghĩa vụ giao hàng Vấn đề mở L/C sai với hợp đồng như trên, nếu Công ty M giao đủ hàng cho Công ty T tthì cũng không thể lấy được tiền vì Ngân hàng sẽ từ chối khi L/C sai biệt với HĐ
Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 34; Khoản 1 và 2 Điều 50 Luật Thương mại 2005
Câu hỏi 4: Anh/chị hãy phân tích và bình luận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với vụ án này?
Trả lời:
- Trong Hợp đồng số 01/HĐMB hai bên đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được Như vậy, việc Công ty T làm đơn khởi kiện Công ty M tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội là không phù hợp và trong trường hợp này Toà án phải từ chối thụ lý
- Cơ sở pháp lý:
+ Điều 6, Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010;
+ Điều 3, Điều 4 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/3014 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài Thương mại
(i) Trường hợp các bên đã có thoả thuận trọng tài nhưng không chỉ rõ hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể thì khi có tranh chấp, các bên phải thoả thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp
(ii) Nếu Công ty M và Công ty T không thoả thuận lại được về tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài sẽ thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn, Vì vậy, Công ty M sau đó đã khởi kiện Công ty T tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam là phù hợp với quy định của pháp luật
Căn cứ pháp lý: Khoản 5 Điều 43 Luật Trọng tài thương mại
Trang 3ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2
1 Theo anh/chị Công ty A phải làm gì để xác định lỗi và trách nhiệm gây ra cố.
- Theo Điều 57 Luật xây dựng 2003, trong quá trình thi công xây dựng công trình, chủ đầu tư có quyền
i “Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp để thực hiện các công việc trong quá trình thi công xây dựng công trình”
ii Thuê tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình khi cần thiết
- Điều 2, Nghị định 209 cũng khẳng định chủ đầu tư có quyền “ tổ chức kiểm định lại chất lượng công trình, hạng mục công trình, công trình xây dựng khi có nghi ngờ
về chất lượng”
Vì vậy, trong trường hợp này, công ty A có quyền yêu cầu các bên liên quan hợp tác
để xác định nguyên nhân và tìm ra bên chịu trách nhiệm đối với sự cố Nếu các bên không hợp tác hoặc không xác định được, công ty A có quyền mời một tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng (“Tổ tư vấn”) để kiểm định chất lượng công trình, xác định nguyên nhân gây ra sự cố và lỗi tương ứng của các bên liên quan Cần lưu ý rằng, nhà thầu C chỉ là nhà thầu phụ nên trong trường hợp sự cố xảy ra do lỗi của bên thiết kế phần mái thì công ty B vẫn phải chịu trách nhiệm giữa công ty
A trong việc khắc phục sự cố, bồi thường thiệt hại
2 Trong trường hợp các bên không tự giải quyết được thì công ty A có quyền khởi kiện doanh nghiệp nào để yêu cầu bồi thường thiệt hại? Anh/chị hãy xác định tư cách người tham gia tố tụng trong quan hệ tranh chấp?
Sau khi đã xác định được lỗi của bên gây ra sự cố như đã nêu tại câu 1 trên đây mà công ty A đã thông báo cho họ để khắc phục và nếu họ không khắc phục thì công ty
sẽ thuê công ty khác tiến hành khắc phục sự cố và khởi kiện ra cơ quan tài phán có thẩm quyền yêu cầu Công ty gây ra sự cố bồi thường thiệt hại Cụ thể:
Nếu xác định lỗi là của công ty C thì công ty A có quyền khởi kiện công ty B Trong trường hợp này, công ty B sẽ là bị đơn, Công ty C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người liên quan của công ty B tham gia với tư cách là người làm chứng;
Nếu xác định là lỗi của công ty D thì công ty A có quyền khởi kiện công ty D Trogn trường hợp này công ty D sẽ là người tham gia với tư cách bị đơn, những người liên quan của công ty B tham gia với tư cách là người làm chứng
Nếu xác định là do lỗi hốn hợp của cả công ty C và D thì công ty A sẽ khởi kiện B
và D ra tòa án Trong trường hợp này, công ty B và D sẽ là đồng bị đơn, công ty C
sẽ tham gia với tư cách có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
(Học viên chỉ cần xác định 1 trong 3 trường hợp hoặc cả 3 trường hợp)
Trang 43 Khi muốn thuê một công ty khắc phục sự cố Công ty A cần làm thế nào? Những chi phí cần để khắc phục sự cố do bên nào chịu?
Trước khi muốn thuê một công ty khác khắc phục sự cố, công ty A cần thuê một tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình
để xác định lỗi doanh nghiệp đã gây ra sự cố Sau đó, công ty A nên yêu cầu công ty gây ra sự cố phải khắc phục trong một khoảng thời gian nhất định Nếu quá thời hạn trên mà Công ty gây ra sự cố không khắc phục thì Công ty A sẽ thuê một công ty khắc phục sự cố
Về chi phí khắc phục sự cố, quan hệ thương mại giữa công ty A và Nhà thầu B và C
là quan hệ cung ứng dịch vụ và giữa công ty A và công ty D quan hệ cung ứng dịch
vụ và được điều chỉnh bởi luật thương mại 2005 Khoản 2, khoản 3 Điều 297, Luật thương mại 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng Trường hợp bên vi phạm giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch
vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm” và “Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch
và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý”
Do đó, sau khi xác định được bên vi phạm, công ty A có quyền yêu cầu bên vi phạm sửa chữa sự cố Nếu bên vi phạm không thực hiện, công ty A có quyền mời công ty khác đến sửa chữa Trong trường hợp này, mọi chi phí sửa chữa và chi phí liên quan
sẽ do bên vi phạm chịu
4 Theo anh/chị trong trường hợp này Công ty A phải khởi kiện ra cơ quan nào?
Vì sao?
Điều 10 Pháp lệnh số 08/2003/PL-UBTVQH11 về trọng tài thương mại ngày 25/2/2003 quy định:
“Thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong những trường hợp sau đây:
1…,
4 Thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên cũng không có thỏa thuận bổ sung;
Điểm a3, mục 1.2 phần 1 Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 31/7/2003 quy định:
Trang 5“ Đối với trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 10 Pháp lệnh, là trường hợp nếu theo thỏa thuận trọng tài thì không thể xác định được đối tượng tranh chấp cụ thể là
gì hoặc không thể xác định được Hội đồng trọng tài nào, Trung tâm trọng tài nào của Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ này, nếu sau đó các bên không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận bổ sung được về việc xác định đối tượng tranh chấp cụ thể hoặc Hội đồng trọng tài cụ thể nào của Việt Nam có thẩm quyền giải quyết” Theo thông tin trên, các bên không thể xác định được Trung tâm trọng tài nào của Việt Nam là cơ quan giải quyết tranh chấp Bởi vây, thỏa thuận trọng tài trong trường hợp này bị vô hiệu
Điều 10 Pháp lệnh số 08/2003/PL-UBTVQH11 về Trọng tài thương mại ngày 25/02/2003 quy định: “Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại tòa án, thì Tòa án phải từ chối thụ lý trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu”
Như vậy, trong trường hợp này công ty A có quyền khởi kiện công ty D ra tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật
5 Tư cách khởi kiện phải là công ty A
Nội dung đơn khởi kiện phải đảm bảo theo quy định của Bộ luật TTDS
Hồ sơ gửi kèm theo đơn khởi kiện gồm:
- Hợp đồng thi công phần mài ký giữa công ty A với công ty D;
- Hợp đồng thiết kế ký giữa công ty A và công ty B;
- Hồ sơ thiết kế Công trình
- Công văn trao đổi giữa các bên về sự cố (nếu có)
- Bản kêt luận của tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình về nguyên nhân gây ra Sự cố lỗi của bên liên quan
- Ảnh chụp phần mái công trình;
- Giấy CNĐKKD của Công ty A;
- Giấy ủy quyền của Công ty A cho luật sư
- Tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế
Trang 6ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3
Câu hỏi 1: Anh/chị cho biết các mối quan hệ pháp luật và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án này? Thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Toà án nào? Căn cứ?
Trả lời:
- Các mối quan hệ pháp luật trong vụ án này:
+ Quan hệ HĐ tín dụng (HĐTD giữa Công ty TNHH Đỗ Gia và Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh K)
+ Quan hệ HĐ thế chấp (HĐTC giữa Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh K và Đỗ Mình Tiến
+ Quan hệ tài sản chung của vợ chồng (Bà Nguyễn thị Kim Oanh và ông Đỗ Minh Tiến kết hôn 1990)
- Tư cách tham gia tố tụng:
+ Nguyên đơn: Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015)
+ Bị đơn: Công ty TNHH Đỗ Gia (Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015)
+ Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: ông Đỗ Minh Tiến và bà Nguyễn Thị Kim Oanh (Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015)
- Toà án có thẩm quyền giải quyết là: Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh K
+ Căn cứ tại Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35 và Điểm d Khoản 1 Điều 39
Câu hỏi 2: Sau khi hoà giải không thành, Toà án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ
thẩ Tại phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt
không lý do Theo anh/chị, trong trường hợp này Toà án phải hoãn phiên toà hay vẫn tiến hành xét xử bình thường? Tại sao?
Trả lời:
- Toà án phải hoãn phiên toà
- Vì: người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất thì HĐXX phải hoãn phiên toà, theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 227 BLTTDS 2015
Câu hỏi 3: Với tư cách là Luật sư của Chị Nguyễn Thị Kim Oanh, anh/chị hãy trình bày những ý kiến chính trong luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Oanh
Trả lời:
- Nhà đất 27 TND, thành phố B tuy do ông Đỗ Minh Tiến đứng tên chủ sở hữu nhưng là tài sản chung của vợ chồng ông Đỗ Minh Tiến và bà Nguyễn Thị Kim Oanh, vì được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân
Trang 7- Ông Đỗ Minh Tiến thế chấp nhà đất thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng để bảo đảm cho khoản vay tiền Ngân hàng của Công ty TNHH Đỗ Gia mà không có sự đồng ý của bà Nguyễn Thị Kim Oanh là vi phạm quy định của pháp luật về định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung, xâm phạm quyền tài sản của bà Oanh nên hợp đồng thế chấp vô hiệu
- Việc ông Đỗ Minh Tiến đứng tên một mình trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất và việc hợp đồng thế chấp có công chứng, có đăng ký giai dịch bảo đảm không làm mất đi quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Kim Oanh đối với nhà đất
27 TND, thành phố N
- Đề nghị Toà án:
+ Tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu
+ Bác yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp
+ Buộc Ngân hàng phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất 27 TNĐ, thành phố N cho bà Nguyễn Thị Kim Oanh và ông Đỗ Minh Tiến
Câu hỏi 4: Anh/chị hãy bình luận về nội dung trên của bản án sơ thẩm.
Trả lời:
- Bản án sơ thẩm tuyên như vậy là không chính xác
- Việc tính lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất nợ quá hạn đối với khoản vay của Ngân hàng, tổ chức tín dụng phải theo mức lãi suất thoả thuận trong hợp đồng và tính kể từ ký hợp đồng cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi phát sinh
- Do đó, trong trường hợp này, bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản nợ gốc cho đến khi thanh toán xong, theo mức lãi suất thoả thuận trong hợp đồng, chứ không phải theo lãi suất xơ bản
Lưu ý: Xem Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của HĐTP TANDTC ngày 11/1/2019 (áp dụng từ 15/3/2019) để áp dụng về lãi, lãi suất, phạt vi phạm
Trang 8ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 4
Câu hỏi 1:
Trả lời:
a) Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án và tư cách tham gia tố tụng trong vụ án?
- Thẩm quyền giải quyết vụ án: TAND Quận 1, TP H (Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 32; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015)
- Tư cách tham gia tố tụng:
+ Nguyên đơn: Anh Vinh (Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015)
+ Bị đơn: Công ty T (Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015)
+ Người làm chưng: đại diện BCH Công đoàn Công ty T (người đã tham gia phiên họp
xử lý kỷ luật lao động anh Vinh, căn cứ tại Điều 77 BLTTDS 2015)
b) Xác định loại tranh chấp lao động và thời hiệu khởi kiện? Căn cứ pháp lý?
- Loại tranh chấp lao động: Tranh chấp lao động cá nhân về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải (điểm a, khoản 1 Điều 201 BLLĐ 2012)
- Thời hiệu: 01 năm kể từ ngày phát hiện hành vi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại (Khoản 2 Điều 202 BLLĐ 2012)
Câu hỏi 2: Nếu là LS cho anh Vinh, anh/chị có nhận xét gì về trách nhiệm của người đại diện Ban chấp hành công đoàn Công ty T trong việc xử lý kỷ luật anh Vinh?
Trả lời:
- Ý kiến của đại diện BCH Công đoàn là một trong các căn cứ để xét kỷ luật lao động, khi Công ty không xem xét đến ý kiến đó (BCH Công đoàn đề nghị hình thức kéo dài thời hạn nâng lương) mà BCH công đoàn không báo cáo cho BCH Công đoàn cấp trên là không thực hiện đúng trách nhiệm của mình
(Khoản 7 Điều 10 Luật Công đoàn)
- Theo quy định tại Khoản 1, Điều 123 BLLĐ 2012 và Điều 30 Nghị định
05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 thì cuộc họp xét kỷ luật lao động phải có mặt người lao động Người
sử dụng lao động chỉ được quyền xử lý kỷ luật vắng mặt khi đã 03 lần thông báo bằng văn bản mà người lao động không đến
Trong khi anh Vinh mới chỉ vắng mặt lần đầu mà Công ty vẫn tổ chức phiên họp xử lý kỷ luật vắng mặt anh Vinh, nhưng đại diện BCH Công đoàn có mặt tại phiên họp không có ý kiến gì phản đối là không thực hiện hết vai trò, trách nhiệm của mình
(Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 hướng dẫn Nghị định 05/2015/NĐ-CP)
Câu hỏi 3: Nếu là LS của anh Vinh, anh/chị hãy trình bày nội dung chính trong luận
cứ bảo vệ quyền lợi cho anh Vinh tại phiên toà sơ thẩm?
Trang 9Trả lời:
1 Quan hệ lao động: Đến thời điểm anh Vinh bị kỷ luật sa thải, giữa anh Vinh và Công
ty T tồn tại HĐLĐ không xác định thời hạn
Vì: sau khi HĐLĐ ký ngày 1/3/2012 hết hạn vào ngày 1/3/2013, anh Vinh vẫn làm việc tại Công ty T, hai bên không ký kết HĐLĐ mới Theo quy định tại Khoản 2, điều 22, BLLĐ năm 2012 thì HĐLĐ đã giao kết trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn
2 QĐ kỷ luật sa thải anh Vinh là trái pháp luật
Vì Công ty T đã vi phạm quy định của pháp luật lao động về thủ tục xử lý kỷ luật sa thải
Cụ thể: Theo quy định tại Khoản 1, Điều 123 BLLĐ năm 2012 và Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì cuộc họp xét kỷ luật phải có mặt người lao động
Người sử dụng lao động chỉ được quyền xử lý kỷ luật vắng mặt khi đã 03 lần thông báo bằng văn bản mà người lao động không đến, trong khi anh Vinh mới chỉ vắng mặt lần đầu
3 Do quyết định xử lý kỷ luật là trái pháp luật nên đề nghị Toà án áp dụng Điều 42 BLLĐ
+ Buộc Công ty T phải nhận anh Vinh trở lại làm việc; nếu không muốn nhận anh Vinh làm việc thì phải bồi thường 2 tháng tiền lương
+ Bồi thường cho anh Vinh tiền lương trong thời hạn bị nghỉ việc trái pháp luật (từ ngày 1/12/2015 đến ngày Toà án xét xử) và 04 tháng lương theo mức lương 8 triệu đồng/tháng + Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho anh Vinh trong thời gian từ ngày 1/12/2015 đến ngày Toà án xét xử
+ Công ty T còn nợ 3 tháng lương (tháng 9,10,11) của anh Vinh Do đó, Công ty phải có trách nhiệm thanh toán cho anh Vinh 03 tháng lương theo mức lương 8 triệu đồng/tháng
Trang 10ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 05
Câu hỏi 1: Anh/chị hãy xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trọng vụ
án này.
Trả lời:
- Nguyên đơn: Ông G (Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015)
- Bị đơn: Cụ L (Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015)
- Người có quyền và lợi ích và nghĩa vụ liên quan
Ông H, bà M (Khoản 4, Điều 68 BLTTDS 2015)
Các con của bà N là anh X, chị Y, chị X và chồng bà N (Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015)
Câu hỏi 2: Theo anh/chị vụ án này có bắt buộc phải hoà giải tại UBND phường T, thị
xã N trước khi khởi kiện đến Toà án hay không? Giải thích tại sao?
Trả lời:
- Không bắt buộc phải tiến hành hoà giải tranh chấp đất đai tại UBND phường T
- Giải thích: Vì đây là tranh chấp di sản thừa kế chứ không phải tranh chấp quyền sử dụng đất để xác định ai có quyền có quyền sử sụng đất
- Căn cứ: Khoản 3, Điều 8, Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Câu hỏi 3: Tại phiên sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn
vắng mặt lần thứ 2 Theo Anh/chị, trong trường hợp này HĐXX sẽ xử lý như thế nào? Tại sao?
Trả lời:
- Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, trừ trường hợp sự vắng mặt của người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn do sự kiến bất khả kháng
- Giải thích: Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Khoản 3, Điều 228 và Khoản 2, Điểm d,đ Điều 127 BLTTDS 2015
- Và hướng dẫn tại Khoản 3, Điều 28 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Câu hỏi 4: Với tư cách là LS của cụ L, Anh/chị hãy trình bày nội dung cơ bản của luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ L.
Trả lời:
- Di chúc chung của cụ L và cụ E lập ngầy 18/12/2002 là hợp pháp
- Di chúc chung của vợ chồng chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng chết (Điều 671 BLDS 1995) Trong di chúc chung lập ngày 18/12/2002 cũng ghi rõ “Di chúc này chỉ có hiệu lực sau khi cả hai vợ chồng chúng tôi đều đã qua đơi”
Do đó, khi cụ L còn sống thfi di chúc chung của cụ L và cụ E chưa có hiệu lực