Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc FAO cảnh báo, những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu và thời tiết, dân số tăng nhanh, tác động tiêu cực của dịch bệnh và xung đột
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHẠM LAN HƯƠNG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC TẠI XÃ VINH QUANG, TIÊN LÃNG,
HẢI PHÕNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHẠM LAN HƯƠNG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC TẠI XÃ VINH QUANG, TIÊN LÃNG,
HẢI PHÕNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Nguyễn Đức Ngữ
HÀ NỘI – 2017
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ
21 Những báo cáo gần đây của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã xác nhận rằng biến đổi khí hậu thực sự đang diễn ra và gây ra nhiều tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường tại nhiều nước trên thế giới Đặc biệt, khu vực Châu Á/ Thái Bình Dương đã có nhiều bằng chứng xác thực cả về cường độ lẫn tần suất của nhiều sự kiện cực đoan do BĐKH gây ra như sóng nhiệt, bão nhiệt đới, mùa khô kéo dài, lượng mưa dữ dội, lốc xoáy, lở tuyết, giông bão nghiêm trọng (IPCC, 2007)[26]
Theo số liệu thống kê của Cơ quan Liên hợp quốc về chiến lược giảm nhẹ nguy
cơ thiên tai (UNISDR), thiệt hại vật chất trung bình,1,6 tỷ USD/năm (bằng 1,8% GDP), gần 80% cư dân bị ảnh hưởng và hơn 3.100 người thiệt mạng Đó là những
"con số biết nói" về hậu quả của thảm họa thiên nhiên đối với các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương Con số thiệt hại cụ thể ở Inđônêxia là 1,2% GDP, ở Việt Nam là 1,8% GDP, ở Myanmar 1,9% GDP, Malaysia 1% GDP, Campuchia và Lào là 1,7% GDP (UNISDR) đánh giá trong năm 2012) Lũ lụt là thiên tai xảy ra thường xuyên nhất tại khu vực châu Á, chiếm đến 44% UNISDR cho rằng lũ lụt và bão tố vẫn là những mối đe dọa chính cho khu vực châu Á mà ví dụ là siêu bão Bopha hoành hành ở Philippin làm hơn 500 người thiệt mạng
Một trong các lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH là nông nghiệp
và an ninh lương thực Trong đó, an ninh lương thực là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay của toàn cầu.Bên cạnh các cuộc khủng hoảng về kinh tế, thế giới cũng đang phải đối mặt với nguy cơ cuộc khủng hoảng lương thực Theo Liên Hợp Quốc, dân số thế giới dự kiến sẽ tăng từ 7,2 tỷ người hiện nay lên 9,6 tỷ vào năm 2050; sản xuất nông nghiệp sẽ cần phải tăng 70% để đáp ứng nhu cầu vào thời điểm đó Có lẽ hơn lúc nào hết, thế giới đã nhận thức rõ ràng một nguy cơ mới ngày càng hiện hữu,
đó là một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu rất có thểxảy ra trong tương lai không xa, đặc biệt khi dân số thế giới đang tiến nhanh tới mốc 9 tỉ vào năm 2050
Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực;
nó tạo ra lương thực thực phẩm để con người sử dụng và nó cung cấp nguồn sinh kế chính cho 36% tổng số lao động trên thế giới Ở các quốc gia đông dân cư của Châu Á
Trang 4và Thái Bình Dương, tỷ lệ này chiếm khoảng 40-50%, và ở vùng cận Sahara – Châu Phi, 2/3 dân số lao động có nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp Nếu sản xuất nông nghiệp ở các nước có thu nhập thấp, các nước đang phát triển của Châu Á và Châu Phi
bị ảnh hưởng bất lợi do biến đổi khí hậu, đời sống của một số lượng lớn người nông dân nghèo sẽ bị đặt vào rủi ro và tình trạng dễ bị tổn thương của họ đến an ninh lương thực sẽ bị tăng lên (ILO,2007)[25]
Làm sao để bảo đảm an ninh lương thực quả là bài toán vô cùng hóc búa của nhân loại, nhất là trong bối cảnh tình trạng xung đột và bất ổn, dịch bệnh và thời tiết đang diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) cảnh báo, những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu và thời tiết, dân số tăng nhanh, tác động tiêu cực của dịch bệnh và xung đột liên miên tại nhiều quốc gia đang khiến tình hình an ninh lương thực toàn cầu xấu đi.Mặc dù, hiện nay, cả thế giới chưa rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng như trong năm 2007-2008 nhưng đây là một nguy cơ có thể trở lại bất cứ lúc nào nếu các quốc gia
và cộng đồng quốc tế không nhanh chóng phối hợp hành động để đối phó với tình trạng giá lương thực đang tăng cao
Cũng theo FAO, 2008, BĐKH sẽ tác động đến cả 4 yếu tố của an ninh lương thực: nguồn lương thực sẵn có, khả năng tiếp cận lương thực, sử dụng lương thực và
hệ thống lương thực ổn định Nó sẽ tác động đến sức khỏe con người, khả năng sinh
kế, sản xuất lương thực thực phẩm và các kênh phân phối, tác động của nó bao gồm cả ngắn hạn, tác động ngày càng thường xuyên và mãnh liệt hơn với các hiện tượng thời tiết cực đoan; và dài hạn được biểu hiện qua việc thay đổi nhiệt độ và lượng mưa
Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn đã phát biểu:“Nền sản xuất lúa gạo Việt Nam đã có những bước tăng trưởng rất mạnh, ấn tượng trong một phần tư thế kỷ vừa qua Tuy nhiên, thu nhập của người nông dân trồng lúa hiện nay vẫn bấp bênh, không được đảm bảo Việc
đề xuất những chính sách an ninh lương thực bền vững hướng đến người trồng lúa, người nghèo là hết sức cần thiết”
Làm thế nào để có thể tìm ra nguồn lương thực phục vụ nhu cầu của người dân Việt Nam trong tương lai mà vẫn đảm bảo phát triển bền vững là vấn đề đặt ra đối với
Trang 5ngành nông nghiệp nước nhà khi phải đối phó trước nhiều áp lực Hiện nay, ngành nông nghiệp của Việt Nam đã đạt được các thành tựu rất đáng kể và đóng vai trò cực
kỳ quan trọng trong việc đảm bảo ANLT, chiếm gần 21% GDP của đất nước và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của gần 80% dân số cả nước Tuy vậy, trước vấn đề tăng nhanh của dân số đồng nghĩa với chi tiêu lương thực của các gia đình Việt Nam tăng cao Việc tìm ra nguồn lương thực lớn mà vẫn đảm bảo phát triển bền vững là một vấn
đề khó khăn của ngành nông nghiệp Việt Nam Ông Đào Quốc Luận, Vụ Phó Vụ Kế hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôncho biết: “Khó khăn lớn nhất mà ngành nông nghiệp nước nhà gặp phải đó chính là việc ứng phó với biến đổi khí hậu
và quá trình đô thị hóa đang tăng nhanh”
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thường xuyên phải đối mặt các loại hình thiên tai, làm thiệt hại to lớn về vật chất và con người Do vậy, sản xuất nông nghiệp cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều Điển hình, năm 2007, thiên tai đã làm 113.800
ha lúa bị thiệt hại Đầu năm 2008, trận rét lịch sử kéo dài 40 ngày đã làm hơn 150 nghìn hecta lúa, 9.600 ha mạ bị chết, chỉ tính riêng về giống thiệt hại đã lên tới 180 tỷ đồng(GS.TS Đào Xuân Học)[4].Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB), nước
ta có đường bờ biển dài với hai vùng đồng bằng lớn, khi mực nước biển dâng cao (0,2 – 0,6)m sẽ có từ (100.000 – 200.000)ha đất bị ngập và làm thu hẹp diện tích sản xuất nông nghiệp, nếu mực nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng 0,3 – 0.5 triệu ha tại đồng bằng Sông Hồng và những năm lũ lớn khoảng trên 90% diện tích của đồng bằng sông Cửu Long bị ngập từ 4-5 tháng, vào mùa khô khoảng trên 70% diện tích đất
bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l Ước tính Việt Nam sẽ bị mất khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số hơn 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến
an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân
Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài nghiên cứu: “Xây dựng mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng góp phần đảm bảo an ninh lương thực tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng”
2 Mục tiêu của đề tài
Tổng quan được các nghiên cứu về tình hình an ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên thế giới và tại Việt Nam
Trang 6Xác định và đánh giá được những tác động lâu dài của BĐKH cũng như những biểu hiện thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến ANLT của địa phương
Đề xuất được những giải pháp cụ thể và xây dựng được mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng nhằm đảm bảo ANLT bền vững cho địa phương nghiên cứu và có thể
áp dụng cho các địa phương có điều kiện tương tự
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sản xuất nông nghiệp, cụ thể là hoạt động canh tác lúa tại địa phương, các giai đoạn gieo trồng, thu hoạch của người dân trong tình hình BĐKH hiện nay
Đối tượng khảo sát của đề tài bao gồm: các yếu tố thời tiết, khí hậu; các điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội tại địa phương; hoạt động canh tác lúa tại địa phương nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, tỉnh Hải Phòng
Về thời gian: Luận văn được thực hiện từ tháng 3/2015 đến tháng 12/2016 Các
số liệu được tra cứu trong khoảng thời gian 30 năm trở lại đây
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu được đặt cho luận văn như sau:
1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của địa phương nghiên cứu có đặc điểm
gì nổi bật phù hợp để thực hiện đề tài nghiên cứu
2 Xu thế biến đổi của các yếu tố khí hậu chính (nhiệt độ, lượng mưa) tại xã Vinh Quang trong những năm gần đây như thế nào?
3 Những loại hình thiên tai nào tác động đến hoạt động canh tác lúa tại địa phương?
4 Những điều kiện thời tiết cực đoan diễn ra tại địa phương có tác động như thế nào đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa?
5 Những khó khăn hiện nay địa phương đang phải đối mặt trong hoạt động sản xuất lúa là gì?
6 Địa phương đã có những biện pháp gì để khắc phục những khó khăn đó và biện pháp phòng chống thiên tai đã áp dụng tại địa phương
Trang 75.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trong tình hình BĐKH hiện nay, nếu không tính đến các giải pháp thích ứnglâu dài, xây dựng mô hình thích ứng phù hợp với điều kiện địa phương, việc sản xuất và phát triển nông nghiệp nói chung và cụ thể là canh tác lúa của địa phương sẽ bị tác động đáng kể về năng suất, sản lượng; dẫn đến tình hình an ninh lương thực địa phương không được đảm bảo.Do đó, việc xây dựng mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng rất cần thiết, từ đó có những điều chỉnh toàn diện về cách thức sản xuất, thời gian gieo trồng, thu hoạch, giồng lúa…đảm bảo cho sản lượng và chất lượng lương thực địa phương ổn định
6 Ý nghĩa đề tài
Nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học và thực tiễn để địa phương áp dụng vào thực
tế, góp phần đảm bảo ANLT tại địa phương và có thể làm tài liệu tham khảo cho những khu vực có điều kiện tương đồng
7 Kết cấu luận văn
Luận văn có cấu trúc theo quy định, gồm:
Phần mở đầu: Đây là phần nêu lên tính cấp thiết của nghiên cứu, lý do cần phải thực hiện nghiên cứu này Đồng thời đưa ra các mục tiêu, đối tượng, phạm vi, giả thuyết, ý nghĩa và tóm tắt sơ lược về kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu – điều kiện tự nhiên xã hội của địa phương Nội dung của chương bao gồm các tài liệu được học viên thu thập và tham khảo, tổng quan các nghiên cứu về tác động của BĐKH đến an ninh lương thực trên thế giới và tại Việt Nam, các tài liệu khoa học về sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Phần cuối của chương tóm tắt về điều kiện tự nhiên – xã hội của địa phương nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và số liệu Nội dung của chương bao gồm tổng hợp và trình bày các phương pháp được học viên sử dụng trong đề tài nghiên cứu Các nguồn số liệu được học viên thu thập và sử dụng trong đề tài
Chương 3: Kết quả và thảo luận Chương này được học viên chia làm 2 phần Một là đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động canh tác lúa tại địa phương Trong phần này được học viên trình bày và phân tích cụ thể xu thế biến đổi của một số yếu tố khí hậu tại địa phương (nhiệt độ, lượng mưa) dựa vào các nguồn số liệu thu thập được từ trạm quan trắc Phù Liễn – Hải Phòng giai đoạn 1990 – 2015; tổng quan tình hình canh tác lúa của địa phương giai đoạn 2000 – 2014; phân tích kết quả mối
Trang 8tương quan giữa các yếu tố khí hậu với năng suất lúa tại địa phương để đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động canh tác lúa tại xã Vinh Quang, Tiên Lãng, Hải Phòng
Hai là mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng Từ việc phân tích, đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động canh tác lúa trong phần 1, học viên đã lập quy trình mô phỏng mối liên quan giữa tình hình an ninh lương thực tại địa phương với các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất lúa Từ đó, có định hướng để xây dựng
mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng địa phương
Kết luận – khuyến nghị: Phần này tóm tắt các kết quả chính thu được trong đề tài nghiên cứu và nêu lên một số khuyến nghị cho địa phương và các bên liên quan
Trang 9CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN XÃ HỘI
CỦA ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Khái niệm, định nghĩa:
An ninh lương thực
Theo Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) (2002), Trade reform and security food[23], hiện nay có hơn 200 định nghĩa về “An ninh lương thực”, mỗi cách tiếp cận đưa ra một quan niệm về an ninh lương thực khác nhau
Hội nghị Thượng đỉnh Lương thực Thế giới (WFS), dưới sự bảo trợ của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), năm 1996 đã đưa ra khái niệm về an ninh lương thực trong Kế hoạch hành động của mình như sau: “An ninh lương thực là trạng thái mà ở đó tất cả mọi người, tại mọi thời điểm, đều có sự tiếp cận
cả về mặt vật chất và kinh tế với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đủ dinh dưỡng, đáp ứng chế độ ăn uống và thị hiếu lương thực của mình, đảm bảo một cuộc sống năng động và khỏe mạnh.” (WFS, 1996) [32]
An ninh lương thực là kết quả của hệ thống thực phẩm xử lý tất cả dọc theo chuỗi thức ăn Khí hậu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực thông qua tác động của nó trên tất cả thành phần của toàn cầu, quốc gia và hệ thống lương thực của địa phương Biến đổi khí hậu là có thật, và tác động đầu tiên của nó được cảm nhận là ảnh hưởng đến con người, hệ thống thực phẩm bị tổn thương, một số nhóm sinh kế cần được hỗ trợ ngay lập tức.(FAO,2008)[24] Đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh BĐKH cũng là tránh sự gián đoạn hoặc giảm trong nguồn cung cấp lương thực toàn cầu và địa phương có thể xảy ra do sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, các loại sâu bệnh mới phát triển…Tăng năng suất lương thực từ việc cải thiện quản lý nước nông nghiệp, hiệu quả sử dụng nước, chất lượng đất, khả năng chống chịu với thời tiết khắc nghiệt…
Theo chương trình lương thực thế giới WFP, an ninh lương thực là khi con người luôn có sẵn và được đáp ứng đầy đủ mọi lúc, an toàn, thực phẩm giàu dinh dưỡngđể duy trì một cuộc sống khỏe mạnh và năng động Các nhà phân tích an ninh lương thực nhìn vào sự kết hợp của 3 yếu tố chính sau đây:
Nguồn lương thực sẵn có: lương thực phải sẵn có và một tiêu chuẩn nhất quán Nó được xem như nguồn cung cấp và sản xuất trong một khu vực nhất định và khả năng vẩn chuyển lương thực đến một nơi khác thông qua thương mại và viện trợ
Trang 10 Tiếp cận lương thực: mọi người phải có khả năng được đáp ứng đầy đủ lương thực một cách đều đặn, liên tục thông qua việc mua, sản xuất, trao đổi hàng hóa, quà tặng, vay hay viện trợ lương thực
Sử dụng lương thực: Lương thực phải có một tác động tích cực đến dinh dưỡng của con người Nó đòi hỏi các quy trình nấu nướng, bảo quản, vệ sinh , y tế, nguồn nước, các hệ thống bảo vệ sức khỏe cộng đồng, sự cung cấp và bồi dưỡng trong gia đình
Tóm lại, an ninh lương thực hay an ninh lương thực quốc gia được hiểu là sự đảm bảo của mỗi quốc gia về nguồn cung cấp lương thực cho người dân để hạn chế và đẩy lùi tình trạng thiếu lương thực, nạn đói và tình trạng phụ thuộc vào nguồn lương thực nhập khẩu
Biến đổi khí hậu
“Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc khai thác sử dụng đất.” (IPCC,2007)[26]
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đối khí hậu (IPCC) cho rằng: Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước Như vậy, ở đây vấn đề thích ứng được nói đến chính là mức độ điều chỉnh với biến đổi cả về tính tự phát hay chuẩn bị trước
Còn với nghiên cứu của Burton (1998) lại cho rằng: Thích ứng với BĐKH là một quá trình mà con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe, đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại Ở đây thích ứng là làm thế nào giảm nhẹ tác động BĐKH, tận dụng những thuận lợi nếu
có thể
Như vậy, thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên hoặc xã hội trong ứng phó với tác nhân kích thích hiện tại hoặc dự báo hay tác động của chúng,
Trang 11nhằm mục đích làm nhẹ sự thiệt hại hoặc khai thác cơ hội thuận lợi mà nó mang lại (IPCC,2007); Thích ứng với BĐKH là giảm thiểu và ứng phó với những rủi ro BĐKH
đã gây ra đối với cuộc sống và sinh kế của người dân.(FAO,2008)[24]
Đểcó thểgiảm khảnăng bịtổn thương do biến đổi khí hậu, chúng ta phải tập trung xây dựng năng lực thích ứng, đặc biệt của những người dễbịtổn thương nhất; và trong một sốtrường hợp, làm giảm sự đối mặt hoặc sựnhạy cảm tới tác động khí hậu Chúng ta phải đảm bảo rằng những sáng kiến phát triển không làm tăng khảnăng bịtổn thương một cách tình cờ Chúng ta gọi quy trình này là sựthích ứng.(CARE International)[22]
Thích ứng với Biến đổi khí hậu là một quá trình, trong đó những giải pháp được triển khai và thực hiện nhằm giảm nhẹ hoặc đối phó với tác động của sự kiện khí hậu
và lợi dụng những mặt thuận lợi của chúng (IPCC, 2007)[26]
Trang 12 Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một quá trình hướng tới cộng đồng, dựa vào những ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng của cộng đồng nhằm trao quyền cho họ trong việc lập kế hoạch để ứng phó với những tác động của BĐKH Đồng thời, thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng cố gắng tính đến tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu lên sinh kế và giảm tình trạng dễ bị tổn thương với thiên tai bằng cách sử dụng tri thức bản địa và kiến thức khoa học về biến đổi khí hậu và tác động có thể có của nó (Care, 2009, CVCAhandbook)[22]
Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng là một cách tiếp cận quan trọng trong ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là ở các nước đang phát triển Biến đổi khí hậu tác động khác nhau lên mỗi khu vực địa lý, với mỗi đối tượng và nguồn sinh
kế Do vậy, chỉ có dựa vào cộng đồng thì mới hiểu rõ những tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu với họ và do đó mới có các giải pháp phù hợp đặc trưng và làm lợi cho chính họ (Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, 2014, Tài liệu hướng dẫn).[2]
Hình1.2 Cách thức tiếp cận trong thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
Nguồn:CARE (2009) [22]
Bảng1.1.Các hình thức tham gia của cộng đồng địa phương
Tham gia bị động
Người tham gia được thông báo về những gì đã, đang và
sẽ xảy ra Những thông tin này được cung cấp bởi chính quyền địa phương hay từnhững dự án Tuy nhiên, không có sự lắng nghe những ý kiến phản hồi từ cộng đồng Những thông tin được đem ra chia sẻ thuộc về những chuyên gia bên ngoài
Trang 13Tham gia thông
qua thảo luận
Người tham gia cùng thảo luận và các nhà khoa học/điều tra nghe những quan điểm này Những nhà khoa học này sẽ xác định các vấn đề và giải pháp, có thể có sự điều chỉnh nhỏ từ những phản hồi của người dân Tuy nhiên, quá trình tham vấn cộng đồng này lại không bao gồm quá trình ra quyết định, và những nhà khoa học này không bắt buộc phải xem xét tới quan điểm của cộng đồng
Tham gia với
Tham gia với chức
năng nhất định
Người dân tham gia bằng cách lập những nhóm phù hợp với những yêu cầu đặt ra trước đó của dự án Sự tham gia này không phải ngay từ giai đoạn đầu quá trình lập kế hoạch của
dự án mà thường sau khi những quyết định quan trọng đã được thông qua Phương thức này có tính phụ thuộc nhiều vào những đối tượng bên ngoài hơn là chính cộng đồng
Tham gia có tính
tương tác
Sự tham gia của cộng đồng ngay từ đầu quá trình xây dựng dự
án ở địa phương Do đó họ có thể có những quyết định liên quan tới các kế hoạch hành động,và thiết lập một tổ chức chính quyền địa phương mới – hay tăng cường năng lực cho chính quyền hiện tại Nó có xu hướng liên quan tới phương pháp nghiên cứu mang tính liên ngành – tức là xem xét tới nhiều quan điểm khác nhau, áp dụng quá trình nghiên cứu tổng hợp và có
Trang 14cấu trúc Nhóm tham gia này đại diện cho quyết định của cộng đồng, do đó đảm bảo cộng đồng có tác động trong việc duy trì cơ cấu tổ chức hay thực hiện chính sách
Nguồn: Pretty (1995), adapted from Pretty (1994), Satterthwaite (1995); Adnan et al.(1992),
Hart (1992)
1.2 Tổng quan các nghiên cứu về tác động của BĐKH và các mô hình thích ứng trong lĩnh vực an ninh lương thực:
1.2.1 Các nghiên cứu về giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hoan[10], trong suốt thời kỳ sinh trưởng, phát triển, cây lúa trải qua 3 thời kỳ lớn: thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, thời kỳ sinh trưởng sinh thực, thời kỳ hình thành hạt và chín Trong ba thời kỳ sinh trưởng của cây lúa trải qua
10 giai đoạn phát triển:
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: 4 giai đoạn(0-3)
Giai đoạn 0: từ nứt nanh đến nảy mầm, hạt lúa hình thành rễ và mầm
Giai đoạn 1: giai đoạn mạ, bắt đầu từ lá thật đầu tiên đến trước khi nhìn thấy nhánh thứ nhất, từ khi cây mạ có 1 lá đến khi có 4-5 lá thật
Giai đoạn 2: giai đoạn đẻ nhánh, bắt đầu từ khi cây lúa có nhánh đầu tiên đến khi cây lúa có nhánh tối đa là giai đoạn quyết định số nhánh và chất lượng nhánh
Giai đoạn 3: giai đoạn vươn lóng (giai đoạn làm đốt), bắt đầu từ cuối giai đoạn đẻ nhánh hoặc ngay trước giai đoạn hình thành đòng, lóng được hình thành và vươn dài
Giai đoạn 1,2,3 thuộc thời kỳ thứ nhất của cây lúa – thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng Giai đoạn này dài hay ngắn khác nhau tùy theo giống
Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: gồm 3 giai đoạn (4-6)
Giai đoạn 4: phân hóa đòng đến đòng già (giai đoạn làm đòng), khi trên đỉnh sinh trưởng hình thành bông nguyên thủy Từ giai đoạn bông nguyên thủy cây lúa còn hình thành được 2 lá nữa, không kể lá đòng Giai đoạn 4 kết thúc khi cây lúa có đòng già, chuẩn bị trỗ bông
Giai đoạn 5: giai đoạn trỗ bông, bắt đầu từ khi các hoa đầu tiên của bông nhô
ra khỏi đòng đến khi lóng trên cùng không dài thêm được nữa
Giai đoạn 6: giai đoạn nở hoa (lúa phơi màu hay giai đoạn phơi màu)
Trang 15Giai đoạn 4-6 thuộc thời kỳ thứ 2 của cây lúa Thời kỳ này kéo dài 35 ngày và ổn định ở tất cả các giống không phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng dài hay ngắn
Thời kỳ hình thành hạt và lúa chín: gồm 3 giai đoạn (7-9)
Giai đoạn 7: chín sữa Trong hạt lúa tích lũy dạng vật chất giống như sữa
Giai đoạn 8: chín sáp Hạt gạo đã hình thành rõ nhưng vẫn mềm, vật chất tích lũy giống như sáp
Giai đoạn 9: chín hoàn toàn Hạt gạo hoàn chỉnh với nội nhũ và phôi, vỏ trấu
có màu vốn có của giống (vàng, nâu, đen, tím…)
Giai đoạn 7-9 thuộc thời kỳ thứ 3 của cây lúa, bắt đầu từ khi lúa phơi màu đến khi hạt chín hoàn toàn kéo dài khoảng 30-35 ngày ở tất cả các giống
Theo chuyên mục “kiến thức trồng lúa” do website của Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vĩnh Phúc[33]: Mỗi một giai đoạn phát triển của cây lúa đều liên quan mật thiết đến yếu tố cấu thành năng suất
Năng suất hạt = Số bông/m2 X Số hạt/bông X Tỉ lệ hạt chắc/bông (%) X Khối lượng 1.000 hạt
Hầu như mỗi một yếu tố cấu thành năng suất lúa đều liên quan đến một giai đoạn phát triển cụ thể của cây lúa, mỗi một yếu tố đóng một vai trò khác nhau nhưng đều nằm trong một hệ quả liên hoàn tạo nên hiệu suất cao nhất mà trong đó các yếu tố đều có liên quan mật thiết với nhau Như vậy mỗi giai đoạn sinh trưởng, phát triển đều liên quan và tạo nên năng suất hạt sau này Vì vậy, chăm sóc, quản lý tốt ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây lúa là điều hết sức cần thiết để nâng cao hiệu suất và năng suất cây lúa Số nhánh lúa sẽ quyết định số bông và đó cũng là yếu tố quan trọng nhất để có năng suất cao Có thể nói số bông đóng góp trên 70% năng suất, trong khi đó số hạt/bông, số hạt chắc/bông và trọng lượng hạt đóng góp gần 30%
Theo Nguyễn Hữu Tề và cô ̣n g sự [6], Số bông/đơn vị diện tích hình thành bởi 3 yếu tố: mật độ cấy, số nhánh, điều kiện ngoại cảnh và yếu tố kỹ thuật (như phân bón, nhiệt độ, ánh sáng ) Số hạt/bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, số hoa phân hóa cũng như số hoa thoái hóa Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực Và số gié, số hoa phân hóa đư ợc quyết định ngay từ thời kỳ đầu của giai đoa ̣n làm đòng (bước 1-3) Thời kỳ này bị ảnh hưởng bởi sinh trưởng của cây lúa và điều kiện ngoại cảnh, các yếu tố này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự thoái hóa hoa Thời
kỳ thoái hóa hoa thường bắt đầu vào bước 4 đến bước 8 của giai đoạn làm đòng t ức là khoảng 10-12 ngày trước trỗ Nguyên nhân chủ yếu do thiếu dinh dưỡng ở thời kỳ làm
Trang 16đòng hoặc do ngoại cảnh bất thuận như trời rét, âm u, thiếu ánh sáng, bị ngập, hạn, sâu bệnh ngoài ra cũng có nguyên nhân do đặc điểm của một số giống
Tỉ lệ hạt chắc/bông (%): tăng tỉ lệ hạt chắc/bông hay nói cách khác là giảm tỉ lệ hạt lép/bông cũng là yếu tố quan trọng quyết định năng suất lúa Tỉ lệ hạt chắc trên bông được quyết định ở thời kỳ trước và sau trỗ, nếu gặp điều kiện bất thuận trong thời kỳ này thì tỉ lệ lép sẽ cao Tỉ lệ hạt lép/bông không chỉ bị ảnh hưởng của các yếu
tố nói trên mà còn bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của giống Thường tỉ lệ hạt lép biến động tương đối lớn, trung bình từ 5-10 %, ít là 2-5 %, cũng có khi trên 30 % hoặc thậm chí còn cao hơn nữa
Từ những phân tích trên, ta thấy rõ những yếu tố ngoại cảnh bất thuận do thời tiết ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa Đặc biệt, những yếu tố ngoại cảnh này sẽ ảnh hưởng rõ rệt trong các giai đoạn phát triển của cây lúa: giai đoạn làm đòng; giai đoạn lúa trỗ
Theo Shouichi Yoshida [29], nhiệt độ, bức xạ mặt trời, lượng mưa ảnh hưởng trực tiếp bằng việc tác động đến quá trình sinh lý liên quan đến sản lượng lương thực,
và gián tiếp thông qua các bệnh và côn trùng Các yếu tố này thường khó tách biệt với nhau
Từ phương pháp điều tra thực địa và phương pháp điều tra xã hội học, tác giả thu thập được thông tin về thời gian canh tác hai vụ sản xuất lúa chính của địa phương: vụ chiêm bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 6 hàng năm, vụ mùa từ tháng 7 đến 10
Hình 1.3 Phân bố các vụ lúa tại 3 miền trong cả nước (Nguồn: [35])
Trang 17Hình 1.4 So sánh 3 giai đoạn sinh trưởng của cây lúa có thời gian
sinh trưởng khác nhau (Nguồn:Nguyễn Ngọc Đệ,[7])
Theo Nguyễn Ngọc Đệ [7], quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa được chia theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn tăng trưởng: bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu
là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn
Trang 18 Giai đoạn sinh sản: bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trỗ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 – 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều
Giai đoạn lúa chín: bắt đầu từ lúc trỗ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới
Theo Shouichi Yoshida (1981)[29], thời gian sinh trưởng của cây lúa chia làm 2 giai đoạn chính là sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Tuy nhiên, có thể chia thành 3 giai đoạn là sinh trưởng dinh dưỡng, sinh thực và chín Thời gian sinh trưởng của cây lúa thường chiếm từ 90 – 180 ngày từ khi nảy mầm cho đến khi chín, thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào giống và môi trường sinh trưởng Trong điều kiện nhiệt đới, giai đoạn sinh trưởng sinh thực (thời kỳ làm đòng) cần khoảng 30 ngày, thời kỳ chín chiếm 30 ngày và thời gian còn lại dành cho giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng
Từ việc xác định chính xác thời vụ dựa vào quy trình sinh trưởng phát triển của cây lúa thông qua các tài liệu nghiên cứu khoa học đã được dẫn chứng nêu trên và điều tra thực địa giúp tác giả xác định được các khoảng thời gian trong các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa tại xã Vinh Quang như sau:
Bảng 1.2 Các giai đoạn phát triển của cây lúa trong từng vụ canh tác
Giai đoạn gieo mạ
Giai đoạn làm đòng
Giai đoạn lúa trỗ Giai đoạn thu
hoạch
Vụ xuân Tháng 2 Tháng 3, tháng 4 Tháng 5, tháng 6 Tháng 6
Vụ mùa Tháng 7 Tháng 8, tháng 9 Tháng 9, tháng 10 Tháng 10 Theo TS Nguyễn Ích Tân [13], điều kiện ngoại cảnh tác động lên cây lúa bao gồm:
Nhiệt độ: cây lúa là cây ưa nóng nên sinh trưởng, ra hoa, kết quả tốt trong điều kiện nhiệt độ trên 20oC Tuy nhiên, tùy giai đoạn sinh trưởng, phát triển cây lúa yêu cầu nhiệt độ khác nhau Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng nhiệt độ thích hợp 28-
32oC Thời kỳ sinh trưởng sinh thực nhiệt độ thích hợp là 24-28oC khi nhiệt độ > 40oC làm hạt phấn chết hoặc ngừng phân hóa Nếu nhiệt độ < 20oC làm hạt lúa bị lép nhiều Phản ứng của cây lúa với điều kiện nhiệt độ thể hiện ở bảng sau: