Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm đề xuất mô hình phù hợp và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng cho Đồng bằng sông Cửu Long. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Phạm Ngọc Anh
NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÀ MAU VÀ HẬU GIANG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hà Nội, 2021
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÀ MAU VÀ HẬU GIANG
Ngành: Biến đổi khí hậu
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong Luận án này là trung thực, không sao chép dưới bất kỳ hình thức nào từ bất kỳ một nguồn nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn tài liệu tham khảo theo đúng quy định
Tác giả Luận án
Phạm Ngọc Anh
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn
và Biến đổi khí hậu, Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới hai người thầy hướng dẫn khoa học là PGS TS Huỳnh Thị Lan Hương và TS Đỗ Nam Thắng đã tận tình giúp đỡ tác giả từ những bước đầu tiên xây dựng hướng nghiên cứu, cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Luận án Hai thầy cô đã luôn ủng hộ, động viên và hỗ trợ những điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành Luận án Tác giả trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Văn phòng Bộ và tập thể Cổng thông tin Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ trong thời gian nghiên cứu, hoàn thành Luận án
Tác giả chân thành cảm ơn các chuyên gia, các nhà khoa học của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Thủy lợi, Ủy ban Nhân dân, Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện tại hai tỉnh Cà Mau và Hậu Giang, các đồng nghiệp và các cơ quan hữu quan đã có những góp ý về khoa học cũng như
hỗ trợ nguồn tài liệu, số liệu cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện Luận án
Tác giả chân thành cảm ơn đề tài “Nghiên cứu mô hình cộng đồng quản lý tài nguyên nước bền vững tại đồng bằng sông Cửu Long (nghiên cứu trường hợp 0hai tỉnh:
Cà Mau và Hậu Giang” (Mã số: 2015.05.13) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả cùng tham gia nghiên cứu trong khuôn khổ của Đề tài và sử dụng số liệu của Đề tài
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới bố, mẹ và gia đình đã luôn ở bên cạnh, động viên cả về vật chất lẫn tinh thần, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả có
thể hoàn thành Luận án của mình
TÁC GIẢ
Phạm Ngọc Anh
Trang 5i
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Câu hỏi nghiên cứu 5
5 Luận điểm của Luận án 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án 7
7 Đóng góp mới của Luận án 8
8 Phương pháp nghiên cứu 8
9 Kết cấu của Luận án 9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 10
1.1 Quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu 10
1.2 Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng 11
1.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 15
1.4 Quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 17
Tiểu kết Chương 1 21
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 25
2.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 25
2.1.1 Cách tiếp cận trong quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 25
2.1.2 Nguyên tắc quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 26
2.1.3 Tiêu chí lựa chọn và các nhân tố ảnh hưởng đến mô hình quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 28
Trang 6ii
2.1.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2 Xây dựng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu 36
2.2.1 Sự cần thiết, yêu cầu và nguyên tắc xây dựng bộ chỉ số đánh giá 36
2.2.2 Đề xuất phương pháp đánh giá 39
2.2.3 Xác định phạm vi và nội dung đánh giá 46
2.2.4 Thiết lập các chỉ số đánh giá 48
2.2.5 Thu thập, thống kê dữ liệu 59
2.2.6 Tính toán và phân tích giá trị các chỉ số 60
Tiểu kết Chương 2 62
CHƯƠNG 3 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÀ MAU VÀ HẬU GIANG 65
3.1 Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước, quản lý tài nguyên nước tại Cà Mau, Hậu Giang 65
3.1.1 Hiện trạng tài nguyên nước, quản lý tài nguyên nước tỉnh Cà Mau 65
3.1.2 Hiện trạng tài nguyên nước, quản lý tài nguyên nước tỉnh Hậu Giang75 3.2 Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước, quản lý tài nguyên nước tại Cà Mau và Hậu Giang 83
3.2.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước tại Cà Mau và Hậu Giang 83
3.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu và yêu cầu quản lý tài nguyên nước thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng tại Cà Mau và Hậu Giang 94
3.3 Đánh giá mô hình quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại Cà Mau và Hậu Giang 98
3.3.1 Đánh giá mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại tỉnh Cà Mau 98
3.3.2 Đánh giá mô hình quản lý nước tưới thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hậu Giang 107
3.4 Đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng cho Đồng bằng sông Cửu Long 118
3.4.1 Ứng dụng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 118
3.4.2 Đề xuất giải pháp, chính sách quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long125 Tiểu kết Chương 3 135
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137
1 Kết luận 137
Trang 7iii
2 Kiến nghị 138
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC 146
Phụ lục 1 Bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý tài nguyên nước thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 147
Phụ lục 2a Thay đổi lưu lượng trung bình mùa lũ tương ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu 158
Phụ lục 2b Thay đổi lưu lượng trung bình mùa cạn tương ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu 161
Phụ lục 2c Thay đổi lưu lượng trung bình tháng nhỏ nhất tương ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu 164
Phụ lục 3 Một số hình ảnh khảo sát thực địa tại Cà Mau và Hậu Giang 167
Phụ lục 4 Mẫu Phiếu điều tra 169
Phụ lục 5 Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát 180
Phụ lục 6 Danh sách chuyên gia tham vấn 182
Trang 8iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BSC Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard)
CBWRM Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia
Trang 9v
QLRRTT Quản lý rủi ro thiên tai
QLTNN Quản lý tài nguyên nước
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
TT NS&VSMTNT Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn
UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 10vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đánh giá tính bền vững của mô hình cộng đồng quản lý tài
nguyên nước tại Cà Mau và Hậu Giang 14
Bảng 2.1 Đánh giá sự phù hợp từ Bộ chỉ số của các tác giả trong và ngoài
nước liên quan đến hướng nghiên cứu của Luận án 40
Bảng 2.2 Bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý tài nguyên nước thích ứng
với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt tại Cà Mau và tưới tiêu trong nông nghiệp tại Hậu Giang 55
Bảng 3.1 Vị trí đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên
nước tỉnh Cà Mau và Hậu Giang 85
Bảng 3.2 Thay đổi lưu lượng trung bình mùa lũ ứng với các kịch bản biến
đổi khí hậu tại các trạm Cần Thơ, Vị Thanh, Phụng Hiệp, Cà Mau 87
Bảng 3.3 Thay đổi lưu lượng trung bình mùa cạn tương ứng với các kịch
bản biến đổi khí hậu tại các trạm Cần Thơ, Vị Thanh, Phụng Hiệp, Cà Mau 88
Bảng 3.4 Thay đổi lưu lượng trung bình tháng nhỏ nhất ứng với các kịch
bản biến đổi khí hậu tại trạm Cần Thơ, Vị Thanh, Phụng Hiệp, Cà Mau 89
Bảng 3.5 Thiệt hại do mưa lũ, ngập lụt tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2010 -
2020 93
Bảng 3.6 Tổng hợp các chỉ số đánh giá mô hình quản lý cấp nước sinh
hoạt thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng - tỉnh Cà Mau 99
Bảng 3.7 Kết quả đánh giá mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt thích ứng
với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại tỉnh Cà Mau 10707
Bảng 3.8 Tổng hợp các chỉ số đánh giá mô hình quản lý nước tưới thích
ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hậu Giang 108
Trang 11vii
Bảng 3.9 Kết quả đánh giá mô hình quản lý nước tưới trong nông nghiệp
thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hậu Giang 117
Bảng 3.10 Khuyến nghị hoàn thiện mô hình cấp nước sinh hoạt thích ứng
với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 12020
Bảng 3.11 Khuyến nghị hoàn thiện Mô hình quản lý nước tưới nông
nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng 12222
Trang 12viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Quản lý tài nguyên nước - Thích ứng với biến đổi khí hậu: Hành
động từ địa phương đến quốc gia, khu vực và toàn cầu 11
Hình 1.2 Sơ đồ nghiên cứu của Luận án 24
Hình 2.1 Mô hình đánh giá thẻ điểm cân bằng (Balanced scorecard - BSC) 45 Hình 2.2 Khung Bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt tại Cà Mau 49
Hình 2.3 Khung bộ chỉ số quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trong lĩnh vực quản lý nước tưới tại Hậu Giang 54 Hình 3.1 Bản đồ mạng lưới trạm cấp nước sinh hoạt tỉnh Cà Mau 69
Hình 3.2 Mô hình cấp nước sinh hoạt tập trung tại tỉnh Cà Mau 72
Hình 3.3 Trạm cấp nước Loại 1 73
Hình 3.4 Trạm cấp nước Loại 2 73
Hình 3.5 Mô hình tổ hợp tác dùng nước tại tỉnh Hậu Giang 81
Hình 3.6 Bản đồ mạng lưới trạm bơm tỉnh Hậu Giang 82
Hình 3.7 Mạng thủy lực mô hình ISIS 84
Hình 3.8 Bản đồ vị trí đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước tỉnh Cà Mau và Hậu Giang 85
Trang 13Nghiên cứu tác động của BĐKH đối với TNN được thực hiện bắt đầu
từ những năm 1980 Năm 1985, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) công bố báo cáo đánh giá tác động của BĐKH đến TNN Sau đó, WMO đưa ra một số phương pháp thử nghiệm, đánh giá và công bố báo cáo phân tích độ nhạy của tác động BĐKH đối với thủy văn và TNN Vào năm 1987, WMO đã tóm tắt các vấn đề về độ nhạy cảm trong hệ thống TNN cho tương lai và BĐKH hiện đại Để đẩy nhanh tiến trình nghiên cứu, WMO và Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) thành lập Uỷ ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) vào năm 1988 IPCC chuyên về đánh giá BĐKH và đã hoàn thành 5 báo cáo đánh giá vào năm 1990, 1995, 2001 và 2007 và 2013 Các báo cáo của IPCC
là tài liệu khoa học tin cậy cung cấp các hiểu biết về vấn đề BĐKH và tác động đến TNN
Ở Việt Nam, theo các nguồn thống kê cho thấy, BĐKH gây ra các tác động đến dòng chảy năm; tác động đến dòng chảy mùa lũ ở phần lớn các sông
có xu hướng tăng (trừ sông Đồng Nai); tác động gia tăng mức độ nguy hiểm của lũ lụt (thể hiện ở lưu lượng đỉnh lũ và tổng lượng lũ tăng lên); tác động đến dòng chảy mùa cạn (tất cả các sông có xu hướng giảm, nhưng mức giảm
Trang 142
khác nhau giữa các sông); tác động đến lũ lụt, ngập lụt; tác động đến xâm nhập mặn (XNM) Đặc biệt, ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong 50 năm tới, diện tích bị XNM với nồng độ trên 4g/l chiếm 45% diện tích; gần 4/5 diện tích vùng bán đảo Cà Mau bị XNM; và tác động đến nhu cầu dùng nước của các ngành (nông nghiệp, thủy điện,…)… [19]
Nhiều chính sách và giải pháp được nghiên cứu, đề xuất thực hiện ở quy mô cấp quốc gia, vùng hay địa phương, cụ thể như: Quản lý tổng hợp TNN theo lưu vực sông trong điều kiện BĐKH; củng cố, nâng cấp các công trình khai thác nước; hoàn chỉnh, nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống quan trắc,
dự báo, cảnh báo lũ, lụt; tăng cường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; điều tra, khảo sát, quan trắc và đánh giá TNN; hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức quản lý TNN hiệu quả,… Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều hình thức QLTNN ứng phó với những thay đổi của khí hậu như áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng nước, chung sống với lũ bão bằng cách đắp đê bao, quy hoạch khu dân cư đồng bằng ven biển thường bị bão lũ hay khu vực miền núi thường bị lũ quét,…
Đối với ĐBSCL, trong đó có hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang đang gặp phải các vấn đề, thách thức về TNN, đặc biệt trong bối cảnh BĐKH và suy giảm nguồn nước do phát triển thượng nguồn; trong khi cách thức QLTNN hiện hành chưa hiệu quả, đòi hỏi phải có sự thích ứng, dựa trên sự tham gia của cộng đồng Cộng đồng không chỉ tham gia vào việc thực thi, triển khai các chính sách, quy định về TNN, QLTNN hiệu quả hơn, mà họ còn có thể tham gia cùng với Nhà nước quản lý các mô hình, công trình cấp nước; tham gia giám sát, quản lý, vận hành hiệu quả các công trình này Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá về vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong QLTNN nói chung và ĐBSCL nói riêng, tuy nhiên, thực tiễn cho thấy sự tham gia của cộng đồng trong các mô hình QLTNN này còn thiếu tính
Trang 15mà quan trọng là trên cơ sở đó sẽ giúp cho việc phân tích và đề xuất được các hoạt động, giải pháp cho cộng đồng quản lý TNN hiệu quả hơn, bền vững hơn, qua đó, giúp cộng đồng nâng cao năng lực quản lý TNN của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu đánh giá mô hình cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Cà Mau và mô hình sử dụng nước tưới cho nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang:
(i) Lĩnh vực cấp nước sinh hoạt đối với tỉnh Cà Mau
Cà Mau là tỉnh duy nhất trong vùng ĐBSCL và cả nước có 3 mặt giáp biển, kéo dài từ biển Đông sang biển Tây với bờ biển dài 254km Phần lớn diện tích của tỉnh thuộc vùng đất ngập nước ven biển, có nhiều cửa sông, cửa biển; dân cư sống rải rác, dễ bị ảnh hưởng trước tác động của BĐKH và NBD, nên công tác phòng, tránh thiên tai, bảo vệ sản xuất, phát triển kinh tế, đặc biệt cung cấp nước ngọt phục vụ đời sống nhân dân gặp không ít khó khăn, tốn kém
Trang 164
Việc quản lý, đảm bảo cấp nước sinh hoạt là nhu cầu cơ bản, cần thiết của người dân, tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn nước và mạng lưới dịch vụ nước ngày càng khó khăn
Đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn nước ngọt, người dân Cà Mau buộc sử dụng khai thác nước ngầm là chính, đặc biệt trong các tháng mùa khô
Để giải quyết nhu cầu về nước sinh hoạt của gia đình, các hộ dân đã tự thực hiện việc khoan giếng lấy nước, khi đó những giếng này thường khai thác ở tầng nông và không đảm bảo yêu cầu về chất lượng (bị nhiễm phèn, mặn, mùi hôi…) Đồng thời, việc khai thác nước ngầm với lưu lượng lớn không theo quy hoạch làm ô nhiễm các tầng nước dưới đất, đặc biệt là hạ thấp mực nước ngầm dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn của nước biển vào các tầng nước dưới đất gây nhiễm mặn Hệ lụy của việc khoan giếng tràn lan là gây sụt giảm, cạn kiệt và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm [21]
(ii) Lĩnh vực sử dụng nước tưới cho nông nghiệp đối với tỉnh Hậu Giang
Hậu Giang ở vị trí trung tâm giữa vùng thượng lưu châu thổ sông Hậu (An Giang, TP Cần Thơ) và vùng ven biển Đông (Sóc Trăng, Bạc Liêu), đồng thời là vùng trung tâm của hệ thống sông Hậu (chịu ảnh hưởng triều biển Đông) và hệ thống sông Cái Lớn (chịu ảnh hưởng triều biển Tây) Là địa phương có phần lớn sinh kế người dân là nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sử dụng nước lớn nhất và hiệu quả sử dụng nước của ngành này sẽ quyết định nguồn cung nước cho các mục tiêu sử dụng khác trong khu vực Tuy nhiên, trước những diễn biến khó lường của thời tiết, các biểu hiện khí hậu cực đoan thì tỉnh Hậu Giang cũng đã chịu nhiều tác động đến kinh tế cũng như đời sống sinh hoạt của người dân, thể hiện qua nguy cơ mất diện tích đất nông nghiệp và thổ cư, cùng với những thiệt hại lớn về sản xuất nông, lâm, ngư…Bên cạnh đó, nông nghiệp đặc biệt dễ bị tổn thương bởi
Trang 175
các rủi ro liên quan tới khí hậu, chủ yếu là do những thay đổi không chắc chắn về nguồn cấp nước
4 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung vào giải đáp các câu hỏi sau:
- ĐBSCL nói chung và hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang nói riêng đã, đang
và sẽ phải đối mặt với những vấn đề, thách thức nào về TNN, QLTNN trong điều kiện hiện tại và trong điều kiện BĐKH? Mô hình QLTNN nào phù hợp cho khu vực nghiên cứu trong bối cảnh BĐKH?
- Cộng đồng có vai trò như thế nào trong sử dụng, QLTNN tại khu vực nghiên cứu? Có nên phát triển QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng tại khu vực ĐBSCL nói chung và hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang nói riêng?
- Làm thế nào để triển khai được các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng tại đây? Triển khai các mô này như thế nào để có hiệu quả?
5 Luận điểm của Luận án
Các luận điểm bảo vệ của Luận án gồm:
Luận điểm 1: Trong điều kiện BĐKH, TNN tại hai tỉnh Cà Mau, Hậu
Giang sẽ khó đảm bảo về số lượng và chất lượng cho nhu cầu của địa phương; đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức QLTNN phù hợp, hướng đến điều chỉnh nhu cầu sử dụng nước (của cộng đồng) phù hợp với khả năng cung về nước trong điều kiện mới (nghĩa là QLTNN thích ứng với BĐKH) Trong đó, dựa vào cộng đồng là phương thức quản lý phù hợp cho hai tỉnh nói riêng và ĐBSCL nói chung
Luận điểm 2: Sự tham gia của cộng đồng trong QLTNN ở ĐBSCL nói
chung và tỉnh Cà Mau (trong cấp nước sinh hoạt) và Hậu Giang (trong quản
lý nước tưới cho nông nghiệp) là chưa thực sự có ý nghĩa và hiệu quả Do vậy,
Trang 186
sẽ có hiệu quả nếu xây dựng được một bộ công cụ giúp cộng đồng quản trị các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH, đồng thời có vai trò quan trọng, giúp nâng cao năng lực cộng đồng tham gia QLTNN và thích ứng với các rủi
ro do BĐKH trong hiện tại và tương lai
Luận điểm 3: Để cộng đồng có thể tham gia nhiều hơn, hiệu quả hơn
trong QLTNN, đồng thời nâng cao được năng lực thích ứng với BĐKH, sẽ cần những giải pháp, hướng dẫn, hành động cụ thể, giúp cộng đồng quản trị được mô hình QLTNN của mình; đồng thời cũng cần những giải pháp chính sách để phát triển, nâng cao hiệu quả các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cho hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung
Trên cơ sở các luận điểm nêu trên, Luận án tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:
- Để chứng minh Luận điểm nghiên cứu 1, Luận án tập trung phân tích tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng Tiếp theo, Luận án đánh giá hiện trạng và tác động của BĐKH đến TNN, QLTNN tại hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang
- Để chứng minh Luận điểm nghiên cứu 2, Luận án đã đánh giá hiện trạng các mô hình QLTNN dựa vào cộng đồng tại khu vực nghiên cứu, bao gồm, mô hình cấp nước sinh hoạt có sự tham gia của cộng đồng tại tỉnh Cà Mau, mô hình quản lý nước tưới trong nông nghiệp có sự tham gia của cộng đồng tại tỉnh Hậu Giang Từ đó, tiến hành xây dựng cơ sở lý luận của QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng gồm: cách tiếp cận; nguyên tắc; tiêu chí lựa chọn mô hình; phương pháp đánh giá mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng Để đánh giá, Luận án đã xây dựng Bộ chỉ
số đánh giá mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng và áp dụng Bộ chỉ số đánh giá mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH tại tỉnh Cà
Trang 197
Mau (cho lĩnh vực cấp nước sinh hoạt) và Hậu Giang (cho lĩnh vực quản lý nước tưới trong nông nghiệp)
- Để chứng minh Luận điểm nghiên cứu 3, trên cơ sở các phân tích về
cơ sở khoa học và thực tiễn trên, Luận án đã đề xuất giải pháp ứng dụng Bộ chỉ số nhằm nâng cao năng lực QLTNN, đồng thời hỗ trợ cộng đồng quản trị các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH Ngoài ra, Luận án cũng phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp hoàn thiện, các đề xuất cải tiển, phát triển các mô hình QLTNN Một cách tổng quát, Luận án đã đề xuất giải pháp, chính sách phát triển QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cho hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Ý nghĩa khoa học
Xây dựng luận cứ khoa học và phương pháp luận cho việc đánh giá các
mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình QLTNN dựa vào cộng đồng có xét đến tác động của BĐKH cho ĐBSCL
Xây dựng Bộ chỉ số đánh giá các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng, làm cơ sở cho việc QLTNN thích ứng với BĐKH cho khu vực ĐBSCL
Ý nghĩa thực tiễn
Các đề xuất của Luận án về mô hình, giải pháp QLTNN dựa vào cộng đồng; các giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình QLTNN dựa vào cộng đồng có ý nghĩa thực tiễn trong hỗ trợ cộng đồng và chính quyền địa phương hoàn thiện mô hình QLTNN dựa vào cộng đồng phù hợp cho ĐBSCL trong điều kiện BĐKH
Trang 208
7 Đóng góp mới của Luận án
Luận án đã xác định được phương pháp luận và xây dựng được Bộ chỉ
số đánh giá các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
Đánh giá được tác động của BĐKH đến TNN; đánh giá và đề xuất phát triển các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cho hai
tỉnh Cà Mau và Hậu Giang
Luận án đã kiến nghị, đề xuất được các giải pháp hỗ trợ cộng đồng quản trị mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH; các giải pháp, chính sách phát triển mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cho các
tỉnh ĐBSCL
8 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận án gồm:
Phương pháp tổng quan, phân tích tài liệu được sử dụng trong nghiên
cứu tổng quan các cơ sở lý thuyết, mô hình QLTNN dựa vào cộng đồng
Phương pháp điều tra, khảo sát được thực hiện để thu thập thông tin
thực tiễn liên quan đến các mô hình QLTNN dựa vào cộng đồng tại hai tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu vào lĩnh vực cấp nước sinh hoạt tại tỉnh Cà Mau và
cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp tại tỉnh Hậu Giang
Phương pháp tổng hợp, thống kê và phân tích trong đánh giá hiện trạng
TNN, QLTNN; đánh giá tác động của BĐKH đến TNN, QLTNN; xây dựng
Bộ chỉ số đánh giá mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng; đánh giá các mô hình QLTNN có sự tham gia của cộng đồng hiện có tại hai tỉnh Cà Mau và Hậu Giang; đề xuất mô hình và giải pháp QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cho khu vực nghiên cứu
Phương pháp mô hình toán Luận án đã sử dụng mô hình ISIS để tính
toán thủy lực cho khu vực Mekong (từ Kratie trở xuống bao gồm hồ Tonle Sap và sông Vàm Cỏ) Đồng thời, kịch bản BĐKH mới nhất (RCP4.5, 6.0
Trang 21Phương pháp Delphi được tiến hành trong nghiên cứu giúp cho việc
lựa chọn các Chỉ số thành phần (Chỉ số cấp II); đề xuất, hoàn thiện Bộ chỉ số QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cho khu vực nghiên cứu được lựa chọn
9 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Luận án gồm 3 Chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về quản lý tài nguyên nước thích
ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
Chương 2: Phương pháp luận đánh giá mô hình quản lý tài nguyên
nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
Chương 3: Quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa
vào cộng đồng tại Cà Mau và Hậu Giang
Trang 2210
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
1.1 Quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu
QLTNN có mối quan hệ, tác động tới BĐKH BĐKH kéo theo những thay đổi về TNN và các dịch vụ về nước CapNet (2014) đưa ra những dẫn luận cụ thể về tác động của BĐKH đến các đối tượng/lĩnh vực sử dụng nước (nông nghiệp, thủy sản, cấp nước và sức khỏe, năng lượng, thương mại, công nghiệp, hạ tầng nước, môi trường và đa dạng sinh học…); cũng như ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của con người [26] TNN được coi là thành phần/yếu tố chuyển giao đầu tiên các tác động của BĐKH đến xã hội và môi trường; là trung gian để BĐKH tác động đến con người, hệ sinh thái và nền kinh tế [26], [29] Các áp lực khí hậu (sự tăng nhiệt độ; hạn hán; thay đổi lượng mưa; bão; mực nước biển gia tăng) được đặt trong mối quan hệ với các
áp lực phi khí hậu (dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt, thủy lợi yếu kém, cơ sở
hạ tầng nghèo nàn lạc hậu; hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng thiếu sự công bằng; thiếu hệ thống xử lý chất thải; bất bình đẳng về thông tin/thông tin liên quan tới TNN; quản lý nước yếu kém; đông dân và tỉ lệ tăng trưởng dân số cao; tình trạng nghèo đói và thất nghiệp tăng cao…) [25], [41]
QLTNN thích ứng với BĐKH bảo gồm 05 nguyên tắc cơ bản: (i) Sự
hiểu biết kiến thức; (ii) Đầu tư không hối tiếc; (iii) Khả năng chống chịu; (iv) Giảm thiểu và thích ứng; (v) Tài chính; đồng thời thừa nhận có mối quan hệ trong QLTNN thích ứng với BĐKH từ địa phương đến quốc gia, khu vực và toàn cầu, trong đó nhấn mạnh, cộng đồng địa phương và những bên liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công Khung QLTNN thích ứng với BĐKH (APWF, 2012 [25]) (Hình 1.1)
Trang 2311
Hình 1.1 Quản lý tài nguyên nước - Thích ứng với biến đổi khí hậu: Hành động từ địa phương đến quốc gia, khu vực và toàn cầu
1.2 Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Trên thế giới, cộng đồng tham gia vào quá trình QLTNN được xem như
là một quy luật tất yếu Năm 1977, tại Hội nghị Thế giới về Nước ở Achentina cho Chương trình quốc tế Thập kỷ về cung cấp nước sạch và vệ sinh đã nêu lên vai trò của cộng đồng; sau đó, ý tưởng về quản lý nước bởi cộng đồng và phi tập trung hóa trong cấp nước tiếp tục được thử nghiệm, củng cố và lan rộng, đặc biệt sau Hội nghị tư vấn toàn cầu về nước sạch tổ chức ở New Delhi (1990) và Tuyên bố Dublin về nước và phát triển bền vững (1992), Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất ở Rio de Janiero (1992); Hội nghị quốc tế về nước ngọt ở CHLB Đức (2001)
Theo Molle (2005), QLTNN dựa vào cộng đồng (Community-based Water Resource Management - CBWRM) là một quá trình có sự tham gia, trong đó cộng đồng chính là trung tâm của hệ thống quản lý nước có hiệu quả;
từ việc lập kế hoạch, vận hành, tới duy trì các hệ thống cấp nước mà cộng đồng được hưởng lợi Sự tham gia này có thể được xem như một công cụ (để quản lý tốt hơn) hoặc một quá trình (để trao quyền cho cộng đồng) [37]; có
Trang 2412
thể xác lập dưới dạng các hội người tiêu dùng, các nhóm hành động cộng đồng ở khu vực thành thị cho đến các nhóm sử dụng nước và hợp tác xã thủy lợi ở vùng nông thôn [26]
Ngoài ra, nhấn mạnh tới năng lực của cộng đồng trong CBWRM, Madeleen (1998) đề cập đến khả năng đóng góp về kỹ thuật, nhân công và tài chính, cũng như sự hỗ trợ của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện và duy trì tính bền vững của hệ thống cung cấp nước Tuy nhiên, CBWRM không hàm ý cộng đồng phải có trách nhiệm đối với tất cả các khía cạnh trong hệ thống nước mà họ đang sử dụng (Họ có thể phải tham gia vào một, một vài hoặc tất cả công việc quản lý, vận hành, kỹ thuật và tài chính của một hệ thống cấp nước) Mức độ tham gia của cộng đồng rất đa dạng, từ việc đơn thuần chia sẻ thông tin về kế hoạch nước, cho đến thảo luận để đưa ra các
ý tưởng; hoặc từ việc tham gia như hình thức “nhân công giá rẻ” hoặc là “chia
sẻ chi phí”, hoặc tham gia để xây dựng quyết định dựa trên sự đồng thuận đến chuyển giao trách nhiệm và quyền để kiểm soát hệ thống tại địa phương Đặc biệt, cộng đồng còn có vai trò quyết định trong giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong sử dụng, khai thác và QLTNN bền vững [36]
Ở Việt Nam, theo Nguyễn Việt Dũng (2006), sự tham gia của cộng
đồng trong QLTNN đã có lịch sử từ lâu, đặc biệt là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
và Nam Bộ - nơi hằng năm lũ lụt từ sông Hồng và sông Mekong thường gây
ra thiệt hại về người, tài sản, mùa màng và đất đai Nhờ sự tham gia của cộng đồng, rất nhiều km đê, nhiều đập, hồ chứa nước nhân tạo, kênh mương và giếng làng đã được xây dựng ở nhiều nơi Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong QLTNN có sự khác biệt tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường, thể chế chính trị và tổ chức xã hội của mỗi địa phương, vùng miền;
trong những giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước Có 2 cách tiếp cận
cơ bản: Thứ nhất, coi nước là tài sản chung: thường gặp ở các địa phương
Trang 2513
vùng cao, miền núi và ở một số vùng đồng bằng; cư dân bản địa thường gắn liền với các nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, và việc QLTNN gắn liền với quản lý tài nguyên đất đai, rừng và đa dạng sinh học Luật tục truyền thống có vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi của cộng đồng về
quản lý TNN Thứ hai, coi nước như một loại hàng hóa: hướng tới mục đích
sử dụng đa mục tiêu cho nông nghiệp, sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp, dịch vụ, Điển hình của cách tiếp cận này là hình thức Quản lý thủy lợi có sự tham gia (PIM) được áp dụng ở Việt Nam từ đầu những năm 1990 sau khi Chính phủ chính thức quyết định chuyển giao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình thông qua chính sách “Khoán 10” Đây là một phương pháp hiệu quả cho QLTNN có sự tham gia của người dân, bởi vì các cộng đồng hưởng lợi sẽ cùng tham gia với tư cách là người sử dụng nước, người quản lý và bảo vệ nguồn nước, nhất là đối với các hệ thống tưới tiêu quy mô nhỏ PIM đã được áp dụng thử nghiệm ở nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Tây, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Hậu Giang…
Một điển hình khác là Hệ thống cấp nước sinh hoạt Ở nông thôn, có 2
loại hình cấp nước sinh hoạt thường gặp là hợp tác xã (HTX) cấp nước nông thôn (có sự phối hợp quản lý giữa một cơ quan nhà nước như Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (TT NS&VSMTNT) và một tổ chức dựa vào cộng đồng) và trạm cấp nước do cộng đồng quản lý Ở các thành phố lớn, việc cấp nước sinh hoạt hầu như do các công ty và doanh nghiệp dịch vụ nhà nước đảm nhận (công ty cấp nước sạch, TT NS&VSMT); một số địa bàn vùng ven đô do các công ty cấp nước tư nhân và HTX điều hành [13]
Đối với ĐBSCL, "Nghiên cứu mô hình cộng đồng QLTNN bền vững tại đồng ĐBSCL - Nghiên cứu trường hợp hai tỉnh: Cà Mau và Hậu Giang" đã tổng hợp các mô hình cộng đồng QLTNN ở Việt Nam và ĐBSCL cho các
Trang 2614
lĩnh vực sử dụng nước, trong đó có lĩnh vực cấp nước sinh hoạt và nông
nghiệp Nghiên cứu cho thấy, hầu hết các mô hình cộng đồng QLTNN tại đây
được đánh giá là tương đối bền vững, hoặc kém bền vững (Bảng 1.1) [15]
Sự tham gia của cộng đồng chưa thực sự ý nghĩa; bên cạnh đó, các chỉ số
thành phần chưa đánh giá được khả năng tiếp cận nguồn cung cấp nước; mức
độ đáp ứng nhu cầu sử dụng nước; khả năng ảnh hưởng của môi trường; khả
năng giữ nước; khả năng ứng phó với các rủi ro do tự nhiên gây ra;… là các
yếu tố tác động đặc thù liên quan đến BĐKH, rủi ro do thiên tai và thách thức,
rủi ro khác liên quan đến TNN trong khu vực Tuy nhiên, các kết quả này cho
thấy QLTNN dựa vào cộng đồng là cách thức QLTNN hữu ích cho ĐBSCL
nói chung và cho hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang nói riêng
Bảng 1.1 Đánh giá tính bền vững của mô hình cộng đồng quản lý
tài nguyên nước tại Cà Mau và Hậu Giang [15]
Chỉ số
cấp I Chỉ số cấp II
Đánh giá tính bền vững của mô hình
cộng đồng QLTNN Lĩnh vực cấp nước
sinh hoạt (tại Cà Mau)
Lĩnh vực nông nghiệp (tại Hậu Giang)
Mức độ sẵn sàng chi trả của người dân đối
Khả năng chi trả của người dân đối với việc
Xã hội
Tỷ lệ tham gia của người dân vào việc lấy ý
Trang 27Tần suất gặp sự cố phải ngưng hoạt động
Tỷ lệ MH được kiểm tra và bảo dưỡng định
Ghi chú: BV: bền vững; TĐBV: tương đối bền vững; KBV: không bền vững
1.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
Từ 2005 đến nay, thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng (Community-Based Adaption - CBA) là diễn đàn thường niên, xuất phát từ mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức giữa các nhà nghiên cứu,
ra quyết định, tài trợ và cộng đồng trong giải quyết các vấn đề BĐKH; đồng thời, khẳng định tầm quan trọng của CBA trong cuộc chiến với BĐKH Trong các diễn đàn này, QLTNN và thích ứng với BĐKH được đề cập như là một hợp phần quan trọng nhằm giải các quyết thách thức lớn về TNN, bao gồm mâu thuẫn giữa người sử dụng nước, suy thoái và ô nhiễm nước, hệ thống luật pháp, cơ sở hạ tầng
Cụ thể hơn, CARE (2012) tiếp cận CBA là quá trình tiếp cận từ dưới
lên, trong đó cộng đồng đóng vai trò chính; dựa trên năng lực, kiến thức, nhu cầu của cộng đồng; được trao quyền để lên kế hoạch và ứng phó với BĐKH
CBA được thiết lập dựa trên 4 thành phần cơ bản: (i) Sinh kế bền vững (Xây
dựng, phát triển, thúc đẩy các mô hình phát triển sinh kế có khả năng chống
đỡ và phục hồi; tăng thu nhập và nâng cao năng lực lập kế hoạch và quản lý rủi ro); (ii) Giảm thiểu rủi ro do thiên tai (Giảm các tác động của hiểm họa
Trang 2816
thiên tai lên các hộ gia đình và các cá nhân dễ bị tổn thương); (iii) Nâng cao năng lực thích ứng của địa phương (bao gồm khả năng thích ứng của cộng đồng trong tiếp cận thông tin khí hậu, quản lý rủi ro và các yếu tố không chắc chắn; xây dựng năng lực và thể chế tại địa phương, nhằm hỗ trợ cho cộng đồng thích ứng tốt hơn với BĐKH); (iv) Giảm thiểu nguyên nhân gây ra tổn thương (Giải quyết các nguyên nhân gây ra tính dễ bị tổn thương, đặt yêu cầu nâng cao năng lực quốc gia và địa phương nhằm giải quyết các nguyên nhân gây ra các yếu tố không chắc chắn, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo) [27]
Ở Việt Nam, tiếp cận dựa trên cơ sở kinh nghiệm về quản lý rủi ro thiên tai (QLRRTT), công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai dựa vào cộng đồng được Chính phủ quan tâm và triển khai trong nhiều năm qua với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Dự án QLRRTT dựa vào cộng đồng thực hiện từ năm 2000 cho các địa phương thường bị ảnh hưởng
nghiêm trọng của thiên tai Đến năm 2009, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
"Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng về QLRRTT dựa vào cộng đồng"; các tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện và nhận được sự ủng hộ của nhiều tổ chức phi chính phủ trong nước, quốc tế Tiếp đó, Chiến lược quốc gia về phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 cũng nhấn mạnh đến phương pháp tiếp cận quản lý thiên tai tổng thể có sự tham gia của cộng đồng; đến vai trò của UBND và các tổ chức chính trị - xã hội (như Hội nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, ) ở cấp xã/thôn Theo Bộ
NN&PTNT (2011), QLRRTT dựa vào cộng đồng tập trung vào ứng phó, cải
thiện chất lượng môi trường và cuộc sống cho đa số người nghèo; các hoạt động giảm nhẹ rủi ro là các hoạt động cụ thể của cộng đồng; giảm nhẹ RRTT được kết nối với phát triển, xây dựng năng lực và cơ chế ứng phó; với các biện pháp tổng hợp, chủ động, toàn diện; đặc biệt, cộng đồng được trao quyền, được tạo cơ hội và công bằng Đồng thời, để đánh giá phục vụ
Trang 2917
QLRRTT cũng đã có những hướng dẫn kỹ thuật cơ bản dựa trên cách tiếp cận
có sự tham gia; tổng hợp và áp dụng các kiến thức đào tạo ở cộng đồng [2]
Cùng với đó, “phương châm bốn tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện và vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ) được áp dụng trong công tác hộ
đê và phòng chống lụt bão ở hầu khắp các tỉnh trọng điểm thiên tai, mang lại hiệu quả cao (được xuất phát từ những năm 1970 trong công tác hộ đê phòng chống lụt các tỉnh Bắc bộ và Bắc khu 4 cũ) Triết lý thành công là huy động mọi nguồn lực trong xã hội và sự tham gia của cả hệ thống chính trị; sẵn sàng
và chủ động tham gia Đối với phương châm này, năng lực ra quyết định của cộng đồng địa phương là vô cùng quan trọng Theo truyền thống, với tinh thần “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”, người dân Việt Nam sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong các tình huống khó khăn Theo IMHEN, UNDP (2015), thích ứng với BĐKH có thể học tập từ những kinh nghiệm trong QLRRTT [6]
Với sự hỗ trợ của nhiều tổ chức phi chính phủ, các mô hình ứng phó và thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng; các mô hình/kinh nghiệm về quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển sinh kế ứng phó với BĐKH; mô hình phòng ngừa và giảm nhẹ RRTT bước đầu đã mang lại những thành công nhất định; đồng thời có những đóng góp không nhỏ trong việc giúp người dân đảm bảo sinh kế, giảm tính dễ bị tổn thương và tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước những biến động thất thường không chỉ của thời tiết/khí hậu
mà còn cả những biến động kinh tế - xã hội và môi trường [15]
1.4 Quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng, theo USAID (2013) vai trò cốt lõi của cộng đồng được khẳng định thông qua 05 nguyên tắc cơ bản: (i) QLTNN phục vụ cho mục đích cho phát triển kinh tế, nhấn mạnh tới
Trang 30Từ một số nghiên cứu điển hình về QLTNN dựa vào cộng đồng
(CBNRM) liên quan tới thích ứng với BĐKH ở Nam Phi, Chishakwe (2012)
cho rằng, các bài học từ quản lý tài nguyên (trong đó có QLTNN) dựa vào cộng đồng có thể được áp dụng hiệu quả cho thích ứng với BĐKH Điều này, khẳng định rằng QLTNN và thích ứng với BĐKH đã có những bài học hữu ích nhằm giảm đói nghèo, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương; khuyến khích và tạo động lực cho cộng đồng (ví dụ như có được thu nhập bền vững cho hộ gia đình); các quy định, thể chế, hỗ trợ thực thi; vai trò của nhóm nòng cốt, có ảnh hưởng và uy tín với cộng đồng… tạo sự gắn bó và đồng giải quyết các vấn đề về TNN thích ứng với BĐKH tại địa phương Đồng thời khẳng định, TNN là chìa khóa đề điều phối cộng đồng thích ứng với BĐKH,
Trang 31Riêng đối với ĐBSCL và hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang, một số nghiên cứu nổi bật liên quan tới hướng nghiên cứu của Luận án như “Đánh giá tổn
thương có sự tham gia: Trường hợp XNM ở ĐBSCL” được thực hiện trên
nhiều nhóm xã hội khác nhau dựa vào điều kiện kinh tế và môi trường sinh thái ở vùng ven biển ĐBSCL Kết quả cho thấy XNM, khan hiếm nguồn nước ngọt và ảnh hưởng của triều cường là những hiểm họa quan trọng nhất ở khu vực này và có khuynh hướng trở nên trầm trọng hơn trong những năm gần đây; đồng thời để đối phó và thích ứng với các hiểm họa này, chính quyền và người dân địa phương đã và đang phát triển nhiều chiến lược như xây dựng đê bao, thay đổi biện pháp canh tác, chính sách hỗ trợ khắc phục sản xuất, khai thác nguồn nước ngầm và đa dạng hóa nguồn thu nhập, tuy nhiên, những biện pháp này bộc lộ nhiều bất cập bởi vì chưa quan tâm đúng mức đến các yếu tố sinh thái, kinh tế và xã hội; từ đó đề xuất các chiến lược thích ứng trong tương lai cần xem xét đến các vấn đề này để các nhóm đều được hưởng lợi, đặc biệt những nhóm dễ bị tổn thương nhất như người nghèo, dân tộc Khơ-me và cộng đồng sống ngoài đê bao[14]
Trang 3220
“Đánh giá nhanh, tổng hợp tính tổn thương và khả năng thích ứng với
BĐKH - Bến Tre, Việt Nam” là nghiên cứu khá đại diện cho ĐBSCL Người
dân sinh sống gắn bó mật thiết với thiên nhiên và phụ thuộc rất lớn vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sinh hoạt và khai thác sản xuất Các biện pháp nhằm tăng khả năng chống chịu, phục hồi HST và giúp cho các cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh và phụ thuộc vào các HST này có thể thích ứng được với những tác động của BĐKH Nghiên cứu đánh giá nhanh tính dễ
bị tổn thương trước BĐKH và chương trình phát triển kinh tế - xã hội có liên quan của các HST và các cộng đồng sinh sống phụ thuộc vào các HST; xây dựng các giải pháp thích ứng tổng hợp trong mối liên hệ cả về mặt sinh thái học và xã hội học; xác định các hành động/giải pháp thích ứng mang tính lâu dài phù hợp để lồng ghép vào Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH cũng như Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội [10]
“Sống chung với lũ - Tri thức địa phương ở ĐBSCL, Việt Nam” đưa ra
nhiều phát hiện quan trọng về tri thức địa phương liên quan đến TNN (bởi vì nước và lũ lụt/nước nổi theo mùa ở ĐBSCL tạo ra nguồn tài nguyên quan trọng nhất cho hoạt động sinh kế dựa vào nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
đa dạng trong khu vực Đây là một khu vực rất năng động, do đó tri thức sản sinh từ địa phương trong lĩnh vực nước cũng thay đổi tương ứng Xét về phương diện quản lý từ trên xuống, lũ lụt ở Việt Nam là vấn đề rất được quan tâm, và được hỗ trợ bởi “phương pháp bảo hộ” mạnh mẽ của Chính phủ Kinh nghiệm và nhận thức của người dân địa phương về lũ lụt được cấu trúc theo tuổi, nền tảng văn hóa-sinh thái khác nhau và các mô hình sinh kế khác nhau
mà họ sử dụng Trái ngược với mô tả thảm họa thiên tại nặng nề của Chính phủ, người dân địa phương lại nhìn nhận lũ như là một nguồn tài nguyên phát triển quan trọng; lũ lụt là hiện tượng bình thường mà họ thích ứng rất tốt [8]
Trang 3321
“Chuyện nước và con người ở ĐBSCL” là tập hợp những nghiên cứu,
phân tích xung quanh mối quan hệ giữa nước và con người: về văn hóa chia
sẻ tài nguyên, nhất là TNN của đồng bằng dọc theo chiều dài lịch sử hình thành và phát triển; về nhu cầu phát triển kinh tế nhanh chóng, ngắn hạn, đã phá vỡ nền tảng là sự cân bằng trong khai thác sử dụng TNN, cùng với đó là xung đột giữa các nhóm sử dụng nước ở quy mô địa phương; về vai trò của người dân trong các quyết định và quy hoạch sử dụng nước; về các khía cạnh chi phí và lợi ích của việc trồng lúa vụ ba;…[11]
Cụ thể hơn, Báo cáo kết quả khảo sát và đề xuất kế hoạch dự án “Thích
ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng tại tỉnh Cà Mau” được thực hiện bởi tổ
chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision International – WVI) ở Việt Nam tại 2 huyện Năm Căn và Ngọc Hiển cho thấy tình trạng dễ bị tổn thương được ghi nhận trong khu vực vì hầu hết cư dân ở đây đều nghèo, thiếu thông tin và sinh
kế của họ phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Trong khi đó năng lực thích ứng của cộng đồng còn yếu, các phương tiện và dịch vụ xã hội thiếu và chưa đồng
bộ Tất cả điều này làm tăng rủi ro nếu không có những biện pháp nâng cao năng lực cho động đồng để thích ứng với thiên tai và BĐKH [9]
“Nghiên cứu tác động của BĐKH và đề xuất các giải pháp thích ứng -
tập bản đồ Cà Mau” tập trung đánh giá tính dễ bị tổn thương về kinh tế - xã
hội, nông nghiệp, sinh kế, định cư đô thị, giao thông vận thải, công nghiệp và năng lượng cho thành phố Cà Mau; các huyện Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển, Phú Tân, Thới Bình, Trần Văn Thời, U Minh [1]
Trang 3422
thực tiễn QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng; mà thường là các
mô hình QLTNN dựa vào cộng đồng hoặc thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng Tiếp cận lấy cộng đồng làm trung tâm khẳng định: Cộng đồng tham gia QLTNN phục vụ phát triển các sinh kế thích ứng với BĐKH; đồng thời trao quyền cho cộng đồng là một công cụ hiệu quả trong QLTNN tại địa phương
2 Ở Việt Nam, sự tham gia của cộng đồng trong QLTNN có lịch sử từ lâu; có sự khác biệt tùy thuộc vào điều kiện KT-XH, môi trường, thể chế chính trị, tổ chức xã hội của mỗi vùng miền, địa phương và trong những giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước
Ứng phó và thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng đã có những nền tảng cơ bản dựa trên truyền thống tương thân, tương ái; kinh nghiệm về QLRRTT dựa vào cộng đồng; “phương châm bốn tại chỗ”; đến một số mô hình, dự án hỗ trợ quốc tế về ứng phó và thích ứng BĐKH - với triết lý thành công là huy động mọi nguồn lực trong xã hội và sự tham gia của cả hệ thống chính trị, trong đó cộng đồng sẵn sàng và chủ động tham gia
3 Khẳng định về vai trò và tri thức địa phương, văn hóa chia sẻ của cộng đồng liên quan đến TNN, thích ứng với BĐKH; tới sinh kế dựa vào nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đa dạng ở ĐBSCL nói chung và hai tỉnh
Cà Mau, Hậu Giang
Kết quả nghiên cứu, đánh giá tính bền vững đối với các mô hình cấp nước sinh hoạt (tỉnh Cà Mau) và cấp nước tưới cho nông nghiệp (tỉnh Hậu Giang) trong điều kiện chưa tính tới các các tác động của BĐKH, cho thấy, QLTNN hiện tại chưa đạt được mục tiêu mong muốn; phần lớn các mô hình cộng đồng QLTNN tại đây chỉ được đánh giá là tương đối bền vững, hoặc kém bền vững Tuy nhiên, dựa vào cộng đồng là biện pháp quan trọng để tăng cường năng lực QLTNN
Trang 3523
Trong các điều kiện khó khăn về TNN do tác động của BĐKH, rủi ro
do thiên tai,… thì việc trao quyền cho cộng đồng, để cộng đồng cùng chia sẻ trách nhiệm, cùng kiểm soát QLTNN sẽ giúp đạt được các lợi ích cơ bản là: Tiết kiệm TNN, tiết kiệm chi phí; nâng cao chất lượng nước, sử dụng nước bền vững hơn; đồng thời là giải pháp hiệu quả để cùng chia sẻ khó khăn về TNN của địa phương, khu vực Hơn nữa, do nước là lĩnh vực đặc thù, liên vùng, liên ngành,… nên để người dân/cộng đồng có thể tham gia quản lý ở những mức độ khác nhau (từ thực thi, triển khai các chính sách, quy định về QLTNN hiệu quả hơn; đến việc cùng với Nhà nước quản lý mô hình cấp nước; cùng tham gia giám sát, dự trữ TNN,…) thì mấu chốt là cộng đồng phải
có đủ năng lực quản trị được mô hình cấp nước và thích ứng được với BĐKH
Do vậy, Luận án sẽ tập trung nghiên cứu:
Thứ nhất, nhu cầu sử du ̣ng và khả năng đáp ứng không đủ về nguồn nước tại hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang trong điều kiện BĐKH hiện tại và tương lai đặt ra yêu cầu cần phải điều chỉnh, thay đổi phương thức QLTNN phù hợp (nghĩa là QLTNN thích ứng với BĐKH) Trong đó, dựa vào cộng đồng là phương thức quản lý phù hợp cho hai tỉnh nói riêng và ĐBSCL nói chung
Thứ hai, sự tham gia của cộng đồng trong QLTNN ở ĐBSCL nói
chung và hai tỉnh Cà Mau (lấy ví dụ với lĩnh vực cấp nước sinh hoạt) và Hậu Giang (lấy ví dụ với lĩnh vực nước tưới tiêu trong nông nghiệp) chưa thực sự
ý nghĩa và hiệu quả; do vậy, cần xây dựng được một bộ công cụ giúp cộng đồng quản trị các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH, đồng thời giúp nâng cao năng lực cộng đồng tham gia QLTNN và thích ứng với BĐKH theo hướng giải pháp nhằm đạt được mục tiêu QLTNN là: (i) Tăng cường khả năng trữ nước, ít/hoặc giảm thất thoát, góp phần đảm bảo duy trì đủ nguồn nước cấp (ii) Sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả (iii) Nâng cao năng lực cộng đồng trong QLTNN thích ứng với BĐKH
Trang 3624
Thứ ba, để cộng đồng có thể tham gia nhiều hơn, hiệu quả hơn trong
QLTNN, đồng thời nâng cao được năng lực thích ứng với BĐKH, cần những hướng dẫn, hành động cụ thể để giúp cộng đồng có thể quản trị được mô hình QLTNN; đồng thời cũng cần những giải pháp chính sách để phát triển được các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cho hai tỉnh
Cà Mau, Hậu Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung
Trên cơ sở các phân tích ở trên Luận án đã xác định khung nghiên cứu như sau (Hình 1.2):
Hình 1.2 Sơ đồ nghiên cứu của Luận án
Đánh giá mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng tại Cà Mau và Hậu Giang
Điều tra, khảo sát thực địa tại
Cà Mau và Hậu Giang
Trang 372.1.1 Cách tiếp cận trong quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
Luận án đưa ra 2 cách tiếp cận cơ bản trong QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng gồm: Tiếp cận quản lý thích ứng và Tiếp cận hệ sinh thái (HST)
BĐKH và các kịch bản BĐKH trong tương lai đều mang tính không
chắc chắn Quản lý thích ứng nhấn mạnh, đối với điều kiện khó khăn, thiếu
thông tin phục vụ QLTNN trong điều kiện BĐKH của khu vực ĐBSCL, tiếp cận quản lý thích ứng là quá trình thích ứng dần dần và được đúc kết kinh nghiệm theo thời gian
Trang 3826
Bên cạnh đó, đối với cộng đồng sinh sống phụ thuộc vào khai thác và
sử dụng TNN như ở ĐBSCL, thì QLTNN thích ứng BĐKH dựa trên cơ sở tiếp cận hệ sinh thái/dựa trên hệ sinh thái (ecosystem/ecosystem-based approach - EBA) Theo IUCN (2008), tiếp cận HST nói chung và tiếp cận HST trong QLTNN nói riêng bảo đảm rằng, không nên quản lý tách biệt TNN khỏi khu vực xung quanh, mà nên tạo ra một phần tương tác với việc sử dụng
TNN Trước hết, vì các HST không phải là biệt lập; chúng gắn kết và tương
tác với nhau Do vậy, khi lên kế hoạch quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững, phục vụ các mục tiêu phát triển KT-XH, thì tiếp cận HST khuyến khích tầm nhìn rộng hơn và khai thác các mối liên kết khác [7] Tiếp cận HST sẽ giúp tăng cường khả năng thích ứng của người dân, bao gồm việc quản lý bền vững, bảo tồn và phục hồi HST để cung cấp các lợi ích, tạo môi trường thuận lợi giúp con người thích ứng được trước những thay đổi bất lợi, trong đó có các thay đổi của khí hậu Đặc biệt, tiếp cận HST nhấn mạnh con người (cộng đồng) là trung tâm của HST Tiếp cận này đánh giá cao vai trò tích cực của cộng đồng, của người dân địa phương trong QLTNN bền vững Vì thế, phải luôn xem xét đến sinh kế của người dân địa phương cùng các biện pháp bảo tồn, QLTNN
2.1.2 Nguyên tắc quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
Từ thực tiễn ĐBSCL, Luận án đề xuất các nguyên tắc trong QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cho khu vực nghiên cứu gồm 8 nguyên tắc cơ bản như sau:
(i) Nguyên tắc “thuận thiên”: được áp dụng khi nguồn lực về tài
nguyên (trong đó có TNN) hạn chế Trong Nghị quyết số 120/NQ-CP về Phát
triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH nhấn mạnh tới quan điểm "thuận
thiên", "tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên"
Trang 3927
(ii) Nguyên tắc đa ̉m bảo cung - cầu: sự hài hòa giữa nguồn cung - cầu
về TNN trong bối cảnh BĐKH
(iii) Nguyên tắc bền vư ̃ng (lâu dài): hàm ý tổng cầu và tổng cung ph ải
đảm bảo bền vững lâu dài, không chỉ đáp ứng yêu cầu hiện tại mà còn bảo đảm đáp ứng được các yêu cầu của thế hệ tương lai Về nguyên tắc này cũng được nhấn mạnh tại Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ
(iv) Nguyên tắc không hối tiếc : được thiết lập trong tất cả các hệ thống
quản trị TNN thích ứng với BĐKH ở mọi quy mô từ địa phương, đến khu vực, quốc gia, liên quốc gia; ưu tiên thực hiện trước những hành động ít rủi ro, sai lầm khó sửa chữa được; tôn trọng quy luật tự nhiên, bảo đảm theo nguyên tắc tiếp cận HST nêu trên, TNN không chỉ là nước đơn thuần, mà còn đóng vai trò duy trì HST, khí hậu, địa chất, văn hóa, … vùng ĐBSCL; đồng thời phản ánh sự liên kết, tương hỗ của các thành phần trong hệ sinh thái
(v) Nguyên tắc người sư ̉ dụng nước phải trả tiền : là nguyên tắc cơ bản
trong quản lý tài nguyên, được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường và các
hệ thống chính sách quy định về quản lý tài nguyên trên thế giới và Việt Nam Theo nguyên tắc này, giá trị TNN phải được tính đúng và tính đủ Đặc biệt, Luật Bảo vệ môi trường (năm 2020) nhấn mạnh tiếp cận môi trường (trong đó
có TNN) là "đầu vào" cho phát triển kinh tế - xã hội
(vi) Nguyên tắc ngươ ̀ i gây ô nhiễm nước phải trả tiền : là nguyên tắc cơ
bản trong quản lý, bảo vệ môi trường, được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường và các hệ thống chính sách quy định về bảo vệ môi trường trên thế giới và ở Việt Nam
(vii) Nguyên tắc phu ̀ hợp với văn hóa cộng đồng , cộng đồng thích ứng với điều kiện khó khăn hơn về nguồn nước: là nguyên tắc quan trọng, bảo đảm
các chính sách, giải pháp đi vào cuộc sống, được duy trì và phát triển phù hợp với điều kiện địa phương và bản thân cộng đồng
Trang 4028
(viii) Nguyên tắc đa ̉m bảo kiểm soát rủi ro ở mức thấp nhất: nguyên tắc
đặc biệt quan trọng ở những vùng khó khăn, khan hiếm nước; hoặc những vùng gặp nhiều rủi ro do BĐKH, thiên tai như ĐBSCL
2.1.3 Tiêu chí lựa chọn và các nhân tố ảnh hưởng đến mô hình quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
a) Tiêu chí lựa chọn mô hình
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy chưa có các mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng, mà thường là các mô hình QLTNN dựa vào cộng đồng hoặc thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, với cách tiếp cận lấy cộng đồng làm trung tâm và từ thực tiễn nghiên cứu khu vực ĐBSCL nói chung và hai tỉnh Cà Mau, Hậu Giang nói riêng, Luận án đề xuất 04 nhóm tiêu chí lựa chọn mô hình QLTNN thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng như sau:
(i) Tiếp cận sử dụng nước: coi nước như một loại hàng hóa; được sử
dụng đa mục tiêu cho nông nghiệp, sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp, dịch vụ, Quan điểm trong Luận án, tiếp cận sử dụng nước được ưu
tiên cho lĩnh vực sinh hoạt và tưới tiêu trong nông nghiệp (lý do lựa chọn cho
mỗi địa phương được đề cập trong phạm vi nghiên cứu của Luận án)
(ii) Có sự tham gia của cộng đồng: đề cập đến khả năng đóng góp về
kỹ thuật, nhân công và tài chính, cũng như sự hỗ trợ của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện và duy trì tính bền vững của hệ thống cung cấp nước Sự tham gia này không hàm ý cộng đồng phải có trách nhiệm đối với tất cả các khía cạnh trong hệ thống nước mà họ đang sử dụng (Họ có thể phải tham gia vào một, một vài hoặc tất cả công việc quản lý, vận hành, kỹ thuật
và tài chính của một hệ thống cấp nước) [36] Mức độ tham gia của cộng đồng rất đa dạng, từ việc đơn thuần chia sẻ thông tin về kế hoạch nước, đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch và thực hiện cấp nước của địa phương; cho đến