So với các loài cá khác thì tốc độ sinh trưởng của cá Chình bông sống trong tự nhiên được xác định là thấp hơn nhiều so với các loài cá khác, nhưng so sánh với các loài cá khác thuộc giố
Trang 1Cá chình bông - Marbled eel
Tên Tiếng Anh:Marbled eel
Tên Tiếng Việt:Cá chình bông Tên khác:Chình cẩm thạch
Phân loại
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Anguilliformes
Họ: Anguillidae
Giống: Anguilla
Loài:Anguilla marmorata Quoy &
Gaimard, 1824
Trang 2Đặc điểm
Thân cá Chình bông có hình trụ dài có vảy xếp dạng hình chiếc chiếu, nhỏ, dạng trái xoan và vây chạy vùng
quanh ngực Đầu tròn, mắt bé, miệng hơi chếch, môi dày, lưỡi tự do không dính vào đáy miệng mút nhọn của
Trang 3mõm và hàm dưới có gờ thịt, răng
nhỏ và xếp trên hai hàm và xương
khẩu cái thành các dải răng
Chình bông trưởng thành có màu
vàng với màu nâu xanh đến đen trên lưng và bụng màu trắng, con nhỏ có màu hơi xám đến vàng Chiều dài
thân gấp 7 lần chiều dài đầu, gấp 3,5 lần chiều dài trước vây lưng và 2 lần chiều dài vây hậu môn Chình bông
có 2 lỗ mũi, lỗ trước ở phía trước
miệng, lỗ sau ở lỗ trước mắt, mũi rất nhỏ khi xuống bùn thì đóng lại để bùn không chui vào Do tập tính sống ở
Trang 4hang hốc và đáy sông hồ nên mắt
nhỏ, và các cơ quan khứu giác, cơ quan đường bên phát triển Da gồm nhiều biểu bì bài tiết để làm giảm bớt lực cản của nước, tăng tốc độ bơi và giảm ma sát khi chui vào hang, niêm dịch cá tiết ra chất dịch có tác dụng bảo vệ thân cá khi gặp môi trường
không thích hợp Đường bên dọc giữ thân, vây ngực nhỏ gần như hình
tròn, không có vây bụng Vây lưng, vây hậu môn, vây đuôi đính liền nhau đều và tương đối phát triển, khoảng cách từ khởi điểm vây lưng đến vây hậu môn lớn hơn từ đó đến khe
Trang 5mang, hậu môn ở nửa trước của
thân
So với các loài cá khác thì tốc độ sinh trưởng của cá Chình bông sống trong
tự nhiên được xác định là thấp hơn nhiều so với các loài cá khác, nhưng
so sánh với các loài cá khác thuộc
giống Anguilla thì Chình bông có tốc
độ sinh trưởng cao nhất Nó có thể
đạt kích cỡ chiều dài là 2m đối với cá đực và 1,5m với cá cái và cân nặng
có thể đạt đến 20,5 kg do đó nó còn được gọi là Chình khổng lồ, Chình
bông có thể sống tới 40 năm
Trang 6Phân bố
Trên thế giới Chình bông được tìm
thấy vùng Indo-Thái Bình Dương
(Nhật Bản, Thái Lan, Indonesias,
Philippins, Trung Quốc…) và khu vực đông Châu Phi Ở Châu Phi có thể
tìm thấy trong sông Mozambique và vùng thấp của sông Zambezi Cá
Chình bông là loài phân bố rộng nhất
so với các loài khác cùng thuộc giống Anguilla Một số vùng nó được liệt kê vào danh sách đỏ của những loài
đang bị đe dọa như ở Thái Lan, họ
Trang 7săn lùng Chình bông với mục đích
làm dược liệu
Ở Việt Nam, cá Chình bông phân bố
ở Bình Định (Đầm Châu Trúc), Hà
Tĩnh (Sông Ngàn Phố), Thừa Thiên Huế (Sông Hương), Gia Lai (Sông
Ba), Quảng Ngãi (Sông Trà Khúc), các khu vực khác ở phía Bắc thì rất hiếm
Khu vực cá Chình bông phân bố
nhiều và có ý nghĩa kinh tế trong khai thác tự nhiên tập trung ở các tỉnh từ Quảng Trị đến Khánh Hòa Theo Vũ Văn Phú (1995) cá Chình bông tập
Trang 8trung nhiều ở khu vực này có thể vì biển ở đây có các dòng hải lưu chạy sát vào bờ tạo điều kiện thuận lợi cho các ấu thể từ vùng biển mà cá đẻ
trứng tiếp cận vào sát bờ Đồng thời khu vực này có nhiều vũng, vịnh, đầm phá nước lợ, là môi trường chuyển
tiếp phù hợp cho cá con xâm nhập
vào các cửa sông để di chuyển lên
các sông, suối, ao, hồ
Tập tính
Cá Chình bông là loài cá di cư sinh
sản, có vòng đời phức tạp, chúng
sống ở nước ngọt nhưng đến mùa
Trang 9sinh sản chung di cư ra biển đẻ, nên
có sự khác nhau về điều kiện môi
trường sống ở các giai đoạn sống
khác nhau Cá Chình ở giai đoạn ấu thể sống trong môi trường nước mặn
và lợ sau đó di chuyển dần vào các thủy vực nước ngọt Cá Chình sống ở nước ngọt nhưng trong thực tế nó có thể sống và phát triển bình thường
trong môi trường nước mặn và lợ Do
đó cá Chình là loài rộng muối và
chúng có khả năng thích ứng tốt với
sự thay đổi của nồng độ muối đột
ngột nhờ tác dụng của cơ quan cân bằng áp suất thẩm thấu
Trang 10Cá Chình là loài cá nước ấm do đó nó luôn được tìm thấy ở vùng khí hậu
nhiệt đới Cá Chình có thể sinh
trưởng và phát triển bình thường khi nhiệt độ nằm trong khoảng 13-300C Nhiệt độ cao nhất có thể chịu đựng là 380C và nhiệt độ thấp nhất có thể
chịu đựng từ 1-20C, nhiệt độ thích
hợp nhất cho sự phát triển của cá
Chình từ 25-280C
Trong tự nhiên cá Chình có thể sống
ở môi trường có giá trị pH từ 4-10, pH thích hợp nhất là từ 7 đến 8.5
Trang 11Cá Chình bông hàm lượng oxy trong nước yêu cầu phải trên 2mg/l, khi
hàm lượng DO không đầy đủ cá kém
ăn, sinh trưởng chậm Thích hợp nhất cho sinh trưởng đó là lớn hơn 5mg/l
Cá Chình Bông có cơ quan hô hấp
phụ là da và xoang miệng nên chúng
có thể sống một thời gian dài khi ra
khỏi môi trường nước mà cơ thể vẫn giữ được một độ ẩm nhất định
Trong quy trình nuôi, khí CO¬¬2 được quan tâm rất lớn Khí CO2 được hình thành do sự phân giải của các hợp
chất hữu cơ, khi hàm lượng CO2
Trang 12trong nước tăng cao thể hiện sự mất cân bằng giữ các yếu tố môi trường
và kỹ thuật nuôi Khi thấy cá nổi đầu bơi xung quanh có nghĩa là hàm
lượng oxy không đáp ứng đủ nhu cầu
hô hấp cho cá và CO2¬ tăng cao, do
đó cần phải có biện pháp xử lý ngay
Một yếu tố không thể không nhắc đến đối với cá Chình nói chung và Chình bông nói riêng đó là cường độ ánh
sáng Cá Chình là loài sống đáy, chui rúc trong các hang đá, hốc cây, vùi mình xuống bùn cát, các hang hốc
dọc các bờ sông lớn Cá Chình thích
Trang 13bóng tối sợ ánh sáng, ban ngày
chúng tìm nơi có ánh sáng yếu để ẩn nấp, ban đêm bơi ra kiếm mồi và di
chuyển đi nơi khác Do đó trong quá trình nuôi phải chú ý điều này tạo điều kiện cho cá sinh trưởng bằng cách
tạo các hang hốc cho cá ẩn nấp, tránh cường độ ánh sáng cao
Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Chình bông là loài cá dữ ăn động vật Thành phần thức ăn của chúng bao gồm những loài trong nhóm động vật như giun ít tơ, thân mềm, chân
khớp, cá lưỡng cư và một số loài
Trang 14động vật trên cạn khác Cá Chình
sống trong môi trường khác nhau có thành phần thức ăn khác nhau Cá
Chình sống trong sông, suối, ao, hồ
ăn cá, côn trùng và giáp xác là chính
Cá Chình sống trong vùng nhiệt đới
và biển thành phần thức ăn chủ yếu là giun đốt và cua
Ở giai đoạn con giống thức ăn chủ
yếu là động vật phù du, như
Neomysis; Alona…,
Ở giai đoạn trưởng thành thức ăn của chúng là cá, tôm, và các động vật
đáy Chình bông có tính ăn dữ do đó
Trang 15nó có thể ăn thịt đồng loại, rình bắt
những con có kích thước nhỏ hơn
Khi kích cỡ đạt dài hơn 20cm không nhận thấy có sự sai khác nhiều về
thành phần các sinh vật là thức ăn
của chúng, nhưng có sự sai khác
nhiều về kích cỡ của loại thức ăn
Thức ăn của Chình bông phải đảm
bảo protêin là 45%, lipid chiếm 3%,
cellulose 1%, calci 2,5%, phosphor
1,3% cộng thêm muối khoáng, vi
lượng, vitamin thích hợp Nói chung tỷ
lệ bột cá chiếm khoảng 70-75%, tinh
Trang 16bột 20-25% và một ít vi lượng,
vitamin
Sinh sản
Hiện trạng
Trong vài năm gần đây, nghề nuôi cá Chình đang được phát triển mạnh tại các địa phương như Bình Định,
Khánh Hòa, Tiền Giang, Phú Yên,
Quảng Trị, Bạc Liêu, Sóc Trăng với
ba hình thức nuôi phổ biến, bao gồm nuôi trong ao đất, nuôi trong bể xi
măng và nuôi lồng trong hồ chứa Đối tượng được nuôi chủ yếu là cá Chình Bông (A marmorata), cá Chình Mun
Trang 17(A.bicolor pacifica) được khai thác từ
tự nhiên Trong đó, chình bông được nuôi nhiều vì có giá trị kinh tế cao và tốc độ sinh trưởng nhanh Thức ăn sử dụng trong nuôi cá Chình chủ yếu là
cá tạp
Năm 2001, tại Phú Yên, cá Chình
được nuôi trong lồng trên sông, thời
kỳ cao điểm có trên 200 lồng, bao
gồm cá Chình Bông, cá Chình Mun Tuy nhiên do nắng hạn kéo dài cá bị chết hàng loạt làm thiệt hại lớn về
kinh tế nên đến tháng 12 năm 2001
Trang 18Phú Yên chỉ còn khoảng 20 – 30 lồng nuôi
Với hình thức nuôi trong ao đất, số lượng cá thả lúc đầu là 120.000 –
150.000 con/ha, cỡ từ 10 – 15 g/con Lượng thức ăn hàng ngày bằng 3% trọng lượng cá trong ao Nuôi trong
ao đất không cần phân cỡ như trong
bể xây, năng suất trung bình là 20 –
25 tấn/ha,với giá thị trường là
250.000 – 320.000 đồng/kg
Gần đây, người dân cũng áp dụng
hình thức nuôi trong bể xi măng hoặc trong bể xây bằng gạch với điều kiện:
Trang 19phải có dòng nước chảy, với mật độ
20 – 25 con/m2 , năng suất có thể đạt được 30 – 35 (tấn/ha ) (tức 3 – 4,5
kg/m2)
Tại Bình Ðịnh, cá Chình được nuôi
nuôi trong ao đất, nuôi trong bể xi
măng ở Đập Đá, Tây Sơn, Phù Mỹ, Bồng Sơn, Vĩnh Thạnh, An Lão, với 3 loại chình: chình bông và chình mun, chình nhọn (sống nhiều ở Đầm Trà Ổ thuộc huyện Phù Mỹ) Tại An Lão,
người dân nuôi cá chình trong ao đất với mật độ 6 con/m2, cỡ giống thả
ban đầu 300g/con, sau thời gian nuôi
Trang 2010 tháng, cá đạt kích cỡ thương
phẩm 1kg/con
Cá chình thương phẩm ngoài tiêu thụ nội địa, chủ yếu để xuất khẩu sang Hồng Kông, Đài Loan,…