Mục đích của nghiên cứu này nhằm thử nghiệm áp dụng hệ thống tuần hoàn nuôi cá chình Bông (Anguilla marmorata) thương phẩm ở trong nhà với quy mô nông hộ. Thí nghiệm được bố trí trong 3 hệ thống tuần hoàn có kích thước và các thành phần như nhau.
Trang 1KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU NUÔI CÁ CHÌNH BÔNG
TRONG NHÀ BẰNG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN
Nguyễn Nhứt*, Nguyễn Hồng Quân1, Đinh Hùng1 TÓM TẮT
Mục đích của nghiên cứu này nhằm thử nghiệm áp dụng hệ thống tuần hoàn nuôi cá chình Bông (Anguilla marmorata) thương phẩm ở trong nhà với quy mô nông hộ Thí nghiệm được bố trí trong
3 hệ thống tuần hoàn có kích thước và các thành phần như nhau Mật độ nuôi cá chình là 90 con/m 3
và trọng lượng cá thả ban đầu là 97± 0,2g/con Chất lượng nước, tỷ lệ thay nước và lượng thức ăn được ghi nhận hàng ngày Tốc độ tăng trưởng cá được đánh giá định kỳ theo hàng tháng.
Trong suốt quá trình nuôi sử dụng thức ăn viên công nghiệp với lượng thức ăn từ 1% trọng lượng thân/ngày Kết quả sau 90 ngày nuôi cho thấy chất lượng nước được duy trì ổn định và thích hợp cho cá chình Bông phát triển trong điều kiện rất ít thay nước Tốc độ tăng trưởng trung bình của cá chình Bông là 1,1 g/con/ngày và tỷ lệ sống đạt trung bình 98% Sau 3 tháng nuôi, trọng lượng cá thể trong quần đàn rất biến động và chia thành 3 nhóm 100-150g, 151-170g và 171-380 g Đặc biệt, trong suốt quá trình nuôi cá không thấy xuất hiện bất cứ bệnh đặc trưng Vì vậy, cá nuôi trong hệ thống này không sử dụng kháng sinh và hóa chất.
Kết quả 3 tháng nuôi thử nghiệm cho thấy cá chình Bông có thể nuôi ở mật độ cao trong hệ thống tuần hoàn ít thay nước để giảm thiểu không gian sử dụng đất và nước, giảm ô nhiễm và an toàn sinh học Việc đánh giá toàn bộ chu kỳ nuôi cá chình Bông thương phẩm trong hệ thống tuần hoàn sẽ được nghiên cứu tiếp tục Có thể khẳng định rằng đây là công nghệ phù hợp nuôi cá chình thương phẩm trong nhà ở điều kiện thành phố Hồ Chí Minh.
Từ khóa: Cá chình Bông, RAS, hệ thống tuần hoàn, an toàn sinh học, chất lượng nước
I MỞ ĐẦU
Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát
triển các dịch vụ khách sạn, nhà hàng phục vụ
cho ngành du lịch và giao dịch thương mại đứng
đầu cả nước Do đó, có nhu cầu tiêu thụ các loại
thủy sản có giá trị cao trong đó có chình Bông
( Anguilla marmorata) Nguồn thực phẩm này
chủ yếu được nhập từ các tỉnh khác trên cả nước
và thậm chí nhập khẩu, nhưng vẫn không đáp
ứng được nhu cầu của thị trường thành phố Hồ
Chí Minh cả về số lượng và chất lượng Quá
trình đô thị hóa tại Tp.HCM phát triển nhanh
chóng dẫn đến diện tích đất và tài nguyên nước
phục vụ nghề nuôi thủy sản bị thu hẹp lại và giá trị tăng cao Phương án sản xuất nuôi thủy sản lạc hậu hiện nay không thể đáp ứng được
vì năng suất sinh học tính trên đơn vị diện tích thấp và gây ô nhiễm môi trường sống đô thị Lực lượng sản xuất nông nghiệp và thủy sản ven
đô thị cũng đang chịu sức ép của sự thay đổi của lối sống đô thị chưa thực sự sẵn sàng chuyển đổi nghề nghiệp thích ứng với cuộc sống văn minh
và chưa có phương thức sản xuất thích hợp nên tác động không nhỏ đến kinh tế xã hội ở Tp
Hồ Chí Minh Nhu cầu đặt ra xây dựng phương thức sản xuất mới đáp ứng và đạt được điều kiện
Trang 2của thành phố là một vấn đề quan tâm hiện nay.
Hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn (RAS)
mang lại tính ưu việt so với công nghệ nuôi ao,
nuôi lồng bình thường hiện nay là: an toàn sinh
học hạn chế tối đa tỷ lệ chết trong quá trình
nuôi, năng suất cá nuôi trên đơn vị thể tích cao
hơn 8-10 lần so với nuôi ao, đặc biệt thân thiện
với môi trường và với lượng nước sử dụng thấp
(150 – 300L/kg cá) so với nuôi ao (2.000 – 3.000
L/kg) Diện tích sử dụng thấp hơn ao nuôi ao là
9 – 448 lần tùy theo đối tượng nuôi (Timmons
và Ebeling, 2010) Vì vậy, nó phù hợp cho nuôi
vùng ven đô với diện tích đất nhỏ
Công nghệ nuôi thủy sản bằng RAS nếu
thích ứng được ở vùng ven đô thị có thể sẽ giải
quyết vấn đề việc làm cho nông dân ven đô,
ở đó đang hiện diện một lực lượng lao động
lớn đang gặp khó khăn cần diện tích đất lớn để
canh tác với công nghệ thông thường Mô hình
này có thể nhân rộng theo nhiều cấp từ nông
hộ đến quy mô sản xuất lớn, cung cấp lượng
hàng hóa cho nội địa và xuất khẩu Tổ chức sản xuất theo công nghệ này mang tính chất khoa học và công nghiệp tự động và bán tự động Công nghệ RAS được đánh giá là tiên tiến nhất hiện nay và được ứng dụng ở các nước tiên tiến cho năng suất cao, bền vững và thân thiện về môi trường, lượng chất thải được xử lý liên tục trong suốt quá trình nuôi, hạn chế tối đa thay nước, sử dụng nguồn tài nguyên nước và giảm thiểu phát thải hiệu ứng nhà kính Công nghệ này được xem là công nghệ sản xuất thủy sản tiên tiến phù hợp với điều kiện của thành phố
Hồ Chí Minh
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Mô tả hệ thống nuôi và nguyên lý hoạt động
Thời gian của thí nghiệm bắt đầu từ ngày 19/01/2016 và tại thời điểm đánh giá
là ngày 15/5/2016 Trong khoảng thời gian này bao gồm các giai đoạn nuôi cách ly, khởi động hệ thống và nuôi tăng trưởng
Hình 1 Cấu tạo của hệ thống RAS nuôi cá chình Bông thương phẩm UV: đèn tia cực tím; airlift: dùng khí bơm nước; swirl separator: hệ thống nước ly tâm; trickling filter: hệ thống lọc nhỏ giọt
Trang 3Hệ thống tuần hoàn nuôi cá Chình bao gồm
một ao nuôi xi măng hình vuông diện tích 4m2
với thể tích nước nuôi 3,6m3;1 bể lắng tách thải
rắn swirl separator (0,234m3), và hệ thống lọc
sinh học sử dụng giá thể bám vi sinh diện tích
đặc hiệu 800 m2/m3, hệ thống lọc sinh học bao
gồm 2 bể lọc sinh học 1 (1m3) và lọc sinh học
2 (1m3) kết nối song song, vật thể bám vi sinh
chiếm 60% thể tích bể sinh học (1m3), hệ thống
tháp lọc trickling filter 2,2m3và bể hồi lưu chứa
nước đệm 0,312 m3, 1hệ thống UV 240W,và hệ
thống bơm nước bằng airlift dự phòng khi cúp
điện chạy bằng máy khí theo Hình 1
Nguyên lý hoạt động: đầu tiên nước từ bể
lọc sinh học 2 bơm với lưu tốc tối đa thiết kế
260 m3/ngày lên hệ thống tháp lọc trickling
filter, tại đây bể điều phối hứng nước và tự chảy
qua đường ống =114mm bằng chênh lệch
cao trình 40 cm so với bể nuôi cá chình Tại hệ
thống bể nuôi, nước được xoáy li tâm gom thải
về vùng trung tâm giữa bể bằng hỗ trợ airlift
đặt 4 góc và đĩa khí Từ vùng giữa trung tâm bể
cá, nước tự chảy qua ống dẫn =114 mm sang
bể swirl separator lắng Tại swirl separator chất
thải rắn lắng đọng đáy bể được xả định kỳ 4 giờ
/lần và nước sạch chảy tràn bề mặt sang bể lọc sinh học 1 theo nguyên tắc bình thông nhau do lực hút từ máy bơm của bể lọc sinh học 2 Trong hệ thống này thiết kế hệ thống bơm nước bằng khí theo nguyên tắc airlift từ bể sinh học 2 sang bể cá nuôi chênh lệch cao trình 10
cm khi mất điện Hệ thống này bảo đảm khi mất điện sử dụng máy thổi khí đầu nguồn chạy
hệ thống lọc sinh học và cung cấp oxy hòa tan cho cá sống, hệ thống trickling filter ngưng hoạt động tạm thời nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe cá
2.2 Phương pháp nuôi
Cá giống được vận chuyển về và nuôi cách
ly để xử lý bệnh ký sinh trùng trong vòng 15 ngày trước khi thả nuôi vào hệ thống tuần hoàn
Cá giống thả có trọng lượng trung bình 96,8 ± 0,2g/con, mật độ thả nuôi 90 con/m3 Sử dụng thức ăn viên công nghiệp hàm lượng protein 43% Lượng cho ăn từ 1-2% trọng lượng thân/ ngày, sử dụng phương pháp cho ăn bằng tay 4 lần/ngày NaCl được duy trì ở nồng độ 0,5-1‰
để hạn chế tính độc của NO2-N ảnh hưởng đến sức khỏe cá
Bảng 1 Mật độ và trọng lượng cá thả nuôi tăng trưởng trong hệ thống tuần hoàn
Hệ thống
Tổng khối lượng kg/hệ thống 31,5 31,6 31,5 31,5±0,6
Trọng lượng trung bình g/con 96,9 96,9 96,6 96,8±0,2
RAS1, RAS2, RAS3: hệ thống nuôi cá chình tuần hoàn số 1,2,3
2.3 Phương pháp đánh giá tốc độ tăng
trưởng và tỷ lệ sống của cá
Cá được lấy mẫu ngẫu nhiên 30 con/bể để
cân trọng lượng thân và tính trung bình trọng
lượng thân theo định kỳ 30 ngày Tốc độ tăng
trưởng (TĐTT) (g/con/ngày) được xác định
theo chu kỳ 30 ngày
- Công thức tính TĐTT (g/con/ngày) = [bwT2-bwT1]/(T2-T1);
- Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/bw/ngày)
= [Ln(bwT2-Ln(bwT1)]/(T2-T1);
Trong đó, + bwT1: giá trị trung bình của trọng lượng
cá tại thời gian nuôi trước (g);
Trang 4+ bwT2: giá trị của trọng lượng trung bình
của cá tại chu kỳ nuôi sau (g);
+ T1: thời gian nuôi trước (ngày);
+ T2: thời gian nuôi sau (ngày)
- Tỷ lệ sống của cá (%) = [Tổng số lượng
cá thả ban đầu – Tổng số lượng cá chết cộng
gộp tại thời điểm xác định]/ tổng số lượng cá
thả ban đầu * 100
Cá chết hàng ngày được ghi nhận bằng hệ
thống hút bùn thải tự động và quan sát bằng mắt
thường
2.4 Phương pháp đo và phân tích chỉ
tiêu môi trường
Hàng ngày đo trực tiếp tại bể nuôi các thông
số oxy hòa tan, pH và nhiệt độ 2 lần vào lúc 6h và
14h bằng máy cầm tay đa chỉ tiêu HANNA - Hi
9384 Các chỉ tiêu ammonia tổng (TAN), nitrite
nitrogen (NO2-N), nitrate nitrogen (NO3-N), Organic-N, kiềm tổng (Alkalinity), Hydrogen sulfide (H2S), chemical oxygen demand (COD), Biological oxygen demand ủ 5 ngày (BOD5), Orthophosphate (PO4-P) và Phosphorus tổng (TP) được đo định kỳ 7 ngày/lần trong phòng thí nghiệm theo phương pháp chuẩn của (APHA, 1999)
2.5 Phương pháp xử lý thống kê số liệu
Ghi nhận và thu thập thông tin từ nhật ký hàng ngày Sử dụng phần mềm Excel vẽ mô tả biểu đồ, tính toán giá trị các chỉ tiêu môi trường, tính toán giá trị trung bình số liệu về tăng trưởng
cá, tổng thức ăn, tổng khối lượng cá và nước thay
III KẾT QUẢ 3.1 Chất lượng nước Bảng 2 Chất lượng nước (trung bình ± độ lệch chuẩn) trong bể nuôi cá chình bằng hệ thống
tuần hoàn trong giai đoạn 90 ngày nuôi
Kết quả của Bảng 2 phản ánh chất lượng nước tương đồng giữa các hệ thống nuôi thí nghiệm (RAS1, RAS2 và RAS3) vì cùng nguồn nước cấp, tỷ lệ thay nước như nhau, lượng thức ăn, số lượng
cá và kích thước các hệ thống lọc sinh học tương đồng Từ đó cũng thấy rằng, tính ổn định của hệ thống lọc sinh học trong việc quản lý chất lượng nước nuôi trồng thủy sản
Trang 5Biến động nhiệt độ nước và oxy hòa tan
Hình 2 Biến động nhiệt độ (bên trái) và oxy hòa tan (bên phải) trong bể cá nuôi
RAS1: hệ thống RAS số 1; RAS2: hệ thống RAS số 2; RAS3: hệ thống RAS số 3;
TBRAS: giá trị trung bình của 3 hệ thống RAS1, RAS2 và RAS3.
Tại Hình 2 cho thấy nhiệt độ nước trong bể
nuôi tăng dần và được duy trì khoảng 30oC Oxy
hòa tan giảm dần trong thời gian nuôi và có xu
hướng ổn định (dao động 6,8 – 7,2 mg/L), thích hợp cho cá chình Bông sinh trưởng và phát triển
Biến động ammonia tổng
Hình 3 Biến động tổng ammonia (TAN) trong bể nuôi tuần hoàn
RAS1: hệ thống RAS số 1; RAS2: hệ thống RAS số 2; RAS3: hệ thống RAS số 3;
TBRAS: giá trị trung bình của 3 hệ thống RAS1, RAS2 và RAS3
Hàm lượng TAN trong các hệ thống tuần
hoàn không dao động lớn, tương đồng với nhau
Nồng độ tích lũy TAN theo thời gian nuôi dao
động 0,1-0,5mg/L Hầu như hàm lượng TAN
được khống chế < 0,5 mg/L trong suốt thời gian nuôi dù lượng thức ăn hàng ngày cũng như sinh khối cá tăng Chứng tỏ hệ thống lọc sinh học đang hoạt động khá tốt
Trang 6Hình 4 Biến động NO2-N (bên trái), NO3-N (bên phải) trong bể nuôi tuần hoàn
RAS1: hệ thống RAS số 1; RAS2: hệ thống RAS số 2; RAS3: hệ thống RAS số 3;
TBRAS: giá trị trung bình của 3 hệ thống RAS1, RAS2 và RAS3
Nitrite nitrogen giảm mạnh đầu chu kỳ nuôi
nhưng có xu thế tăng nhẹ dần ở cuối chu kỳ 90
ngày nuôi Nồng độ nitrate nitrogen biến động
lớn (30-100 mg/L) trong bể nuôi tuần hoàn trong chu kỳ nuôi
3.2 Sử dụng nước và thức ăn
Hình 5 Lượng nước thay hàng ngày (bên trái) và thức ăn (bên phải) trong hệ thống tuần hoàn
nuôi cá chình Bông Giá trị thể hiện trong hình là trung bình của 3 hệ thống RAS Trục X thể hiện ngày nuôi bao gồm: ngày nuôi thứ 1-15 là chu kỳ nuôi cách ly; ngày nuôi thứ 16-27 là chu kỳ khởi động hệ thống; bw: trọng lượng thân của cá với giá trị trung bình
Kết quả ở Hình 5 cho thấy, lượng nước sử
dụng trong giai đoạn nuôi tăng trưởng ít hơn
nhiều so với các giai đoạn nuôi cách ly và giai
đoạn khởi động hệ thống vì hệ thống lọc sinh
học hoạt động đã cải thiện chất lượng nước nên thay nước không đáng kể, dù cho lượng thức ăn
sử dụng tăng dần
Trang 73.3 Kết quả nuôi tăng trưởng trong 90 ngày nuôi
Bảng 3 Kết quả nuôi tăng trưởng trong 90 ngày nuôi
Hệ thống
Số lượng cá còn sống con/hệ thống 317 320 312 316,33 ± 3,3 Mật độ cá thả ban đầu con/m3 89,4 89,7 89,7 89,63 ± 0,1 Tổng khối lượng ban đầu kg/hệ thống 31,2 31,3 31,3 31,53 ± 0,1 Tổng khối lượng ngày nuôi 90 kg/hệ thống 59,0 63,0 59,0 60,32 ± 1,9 Trọng lượng trung bình ban đầu g/con 97,0 97,0 97,0 97 ± 0,0 Trọng lượng trung bình ngày nuôi 90 g/con 186,0 197,0 189,0 190,7 ± 4,6 Tổng khối lượng thức ăn kg/hệ thống 63,5 65,4 65,0 64,6 ± 8,5
Tăng trưởng đặc trưng %/bw thân/ngày 0,7 0,8 0,8 0,8 ± 0,0
RAS1: hệ thống RAS số 1; RAS2: hệ thống RAS số 2; RAS3: hệ thống RAS số 3; TBRAS: giá trị trung bình của
3 hệ thống RAS1, RAS2 và RAS3; SD: độ lệch chuẩn bw: trọng lượng thân cá.
Sau 90 ngày nuôi tăng trưởng, tốc độ tăng
trưởng trung bình là 1,1 g/con/ngày, FCR = 2,3
và tỷ lệ sống đạt 96,6-99,1% Tương đương với
tỷ lệ chết của cá chình nuôi trung bình 0,7% /
tháng nuôi Tỷ lệ sống cộng gộp được tính bao
gồm cá chết trong hệ thống nuôi và trốn thoát
nhảy ra khỏi bể trong thời gian đầu thích nghi
IV THẢO LUẬN
Các chỉ tiêu về môi trường nước cho cá
chình Bông sinh trưởng tối ưu ít được công bố
một cách chi tiết ở Việt Nam cũng như trên thế
giới Các chỉ tiêu cơ bản ảnh hưởng đến tăng
trưởng của cá chình Bông như TAN, NO2-N,
pH, H2S, độ kiềm và ngoại trừ nhiệt độ trong
nghiên cứu này được đánh giá thích hợp cho cá
chình Bông phát triển (Chu Văn Công, 2005)
Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp lên khả năng bắt
mồi của cá được trình bày ở trên Nhiệt độ trung bình của chu kỳ nuôi này được đánh giá là thấp
vì thả cá giống vào tết âm lịch, nhiệt độ không khí khá thấp mà trong hệ thống bể không trang
bị hệ thống nâng và ổn định nhiệt độ nước Các chỉ tiêu đánh giá mức độ ô nhiễm của nước như COD, BOD5, PO4-P và TP trong nước được đánh giá thấp hơn quy định xả thải của QCVN (5945-1995-B) và có thể tái sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Nhiệt độ nước biến động theo xu thế tăng dần và đạt lý tưởng cho cá chình Bông sinh trưởng và phát triển Trong giai đoạn 17 ngày đầu nhiệt độ nước ≤ 27oC được đánh giá là không thích hợp cho cá chình Bông Sở dĩ nhiệt
độ nước thấp là do nhiệt độ không khí lạnh đầu năm tác động trực tiếp Tuy nhiên, nhiệt độ tăng dần đạt ngưỡng thích hợp từ ngày nuôi thứ 19
Trang 8do khí hậu ấm lên, nhiệt độ nước đạt ≥ 27oC
Nhiệt độ của nước khi chảy qua trickling filter
giảm 1-3oC (Nhut và ctv., chờ tạp chí đăng)
Để cải thiện nâng cao nhiệt độ nước, hệ thống
trickling filter được di dời ra khỏi nhà nuôi để
tiếp xúc với nhiệt độ không khí cao đã mang
lại kết quả đáng kể (≥ 28oC) cá tiêu thụ thức ăn
nhiều hơn
Hàm lượng oxy hòa tan tăng dần ở giai
đoạn đầu có thể do nguyên nhân tăng cường vận
tốc bơm, lượng thức ăn thấp và trong thời gian
này nhiệt độ thấp lượng oxy hòa tan cao Từ
ngày nuôi 11-23, lượng thức ăn tăng lên và nhiệt
độ nước tăng lên đáng kể với lưu tốc nước như
nhau, oxy hòa tan trong bể nuôi có xu hướng
ổn định Sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ tăng,
lượng thức ăn tăng và sinh khối cá tăng dẫn đến
sự tiêu tốn oxy trong bể nuôi cao hơn, là nguyên
nhân làm giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước
Chính vì thế cuối chu kỳ hàm lượng oxy trong
bể nuôi hướng giảm xuống Tương tự như cá trê
nuôi trong hệ thống tuần hoàn xảy ra cùng hiện
tượng này (Bovendeur và ctv., 1987)
Mặc dù lượng thức ăn tăng lên đáng kể
trong giai đoạn tăng trưởng có thể làm sản
phẩm thải của cá chình Bông tăng nhưng nồng
độ TAN tiếp tục có xu hướng giảm và duy trì ở
mức 0,3 mg/L Sự chênh lệch giữa các hệ thống
thí nghiệm không đáng kể, chứng tỏ hệ thống
lọc sinh học hoạt động bền vững suốt thời gian
nuôi Hệ vi khuẩn thực hiện quá trình nitrate
hóa hoạt động được đánh giá chưa đến mức
tới hạn so với thiết kế Khi TAN tăng lên hệ vi
khuẩn phát triển sinh khối tăng theo mối tương
quan dương Nhìn vào các chỉ tiêu chất lượng
nước khác tại Bảng 2, các giá trị vẫn nằm trong
ngưỡng hoạt động tối ưu của hệ vi sinh nitrate
hóa Sinh khối của chúng sẽ còn tiềm năng phát
triển để khử TAN sinh ra khi cá đạt sinh khối
200 kg/bể (tương đương với 6 kg thức ăn tiêu
thụ hàng ngày) Trong điều kiện cá đói được
giữ trong bể nuôi, TAN từ sản phẩm bài tiết của
cá tích lũy 5,5 mg/L (bể nuôi 3,6m3) trong 24h,
ước tính khoảng 0,8g TAN tích lũy / kg cá/ngày
nuôi Đây là thông số rất quan trọng trong việc
thiết kế và tính toán hệ thống lọc sinh học hay thay nước ở điều kiện nuôi
Nhìn chung hàm lượng NO2-N biến động theo hướng giảm dần theo thời gian và ổn định
từ ngày thứ 15 đến cuối chu kỳ (NO2-N = 0,2 mg/L) Sự tích lũy bất thường ở ngày nuôi thứ
9 đến ngày nuôi 14 có nồng độ cao nhiều lần so với các ngày nuôi khác Nồng độ cao bất thường này chưa được hiểu nguyên nhân Số liệu ghi nhận cho thấy, các thời điểm này là thời điểm tăng lượng thức ăn đột ngột, thức ăn dư thừa làm
ô nhiễm nước và sinh khối vi khuẩn Nitrobacter
sp chưa phát triển đủ để khử NO2-N trong khi
đó Nitrosomonas sp hoạt động mạnh mẽ Bằng
chứng cho thấy hàm lượng TAN vẫn duy trì ở giá trị thấp Tuy vậy, nồng độ NO2-N được xem
là cao nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe cá chình trong điều kiện sử dụng NaCl giảm tính độc của NO2-N NaCl cung cấp Cl- làm tăng khả năng trao đổi NO2-N thông qua tế bào chloride cell ở mang cá chuyển tải NO2-N trong máu ra môi trường nước Trong thực tiễn, các trang trại nuôi cá chình ở Hà Lan thường sử dụng NaCl
để giảm tính độc của NO2-N, thật sự đây là giải pháp hiệu quả
Kết quả ở Hình 4 cho thấy nồng độ NO3-N trong bể nuôi có xu thế tăng dần Từ ngày nuôi thứ 3 đến ngày 17, xu thế tăng theo hàm số
NO3-N (mg/L) = 3,3 * ngày nuôi + 35,16 trong điều kiện không thay nước Tuy nhiên, thay nước 100 -200 L nước /ngày đã duy trì NO3-N
≤ 100 mg/L (khoảng 80 mg/L) và sau ngày nuôi 33 nồng độ NO3-N tiếp tục giảm với cùng chế độ thay nước Sở dĩ có sự thay đổi xu thế giảm là do tác động chính bởi thay nước khống chế nồng độ NO3-N và một phần nhỏ quá trình phản nitrate (denitrification process) thụ động xảy ra trong quá trình nuôi; quá trình này khử khoảng 19-21% N trong hệ thống đã được báo cáo (Bovendeur và ctv., 1987; van Rijin và ctv., 2006) NO3-N được xem ít độc đến các loài
cá nuôi nói chung ở mức ≤ 300 mg/L và thậm chí có vài trường hợp 1000 mg/L (Timmons
và Ebeling, 2010) Tuy vậy, sự nghiên cứu tác động của NO-N lên tăng trưởng cá chình Bông
Trang 9chưa được nghiên cứu và báo cáo chi tiết Trong
nghiên cứu này chúng tôi thận trọng tham khảo
nồng độ NO3-N duy trì được đề nghị cho cá trê
nuôi thương phẩm (Schram và ctv., 2014) áp
dụng cho cá chình ≤ 100 mg/L để bảo đảm sự
thành công của công nghệ và các bước tiếp theo
cải tiến kỹ thuật và xác định chính xác sự ảnh
hưởng NO3-N lên tăng trưởng cá chình Bông
Tỷ lệ thay nước được thể hiện chi tiết ở Hình
5, lượng nước thay ở giai đoạn xử lý mầm bệnh
từ 50-100%/ ngày, tỷ lệ thay nước giảm xuống
khi kết nối khởi động hệ thống lọc sinh học từ
20 -45%/ ngày Tỷ lệ thay nước giảm xuống
rất thấp 0- 5% ở giai đoạn nuôi tăng trưởng từ
ngày nuôi 37-59, chủ yếu là bù thêm nước cho
quá trình xả bùn thải và bù vào lượng nước bốc
hơi Từ đó, cho thấy rằng hệ thống tuần hoàn rất
hạn chế thay nước Với tỷ lệ thay nước trong thí
nghiệm này thấp hơn so với báo cáo của các tác
giả khác rằng thông thường hệ thống RAS thay
nước từ 10 -15%/ngày (Timmons và Ebeling,
2010) Tổng khối lượng nước sử dụng được tính
là 1,33 m3/kg cá được đánh giá chấp nhận được
ở giai đoạn đầu nuôi cá chình
Khẩu phần lượng thức ăn cho ăn được tính
khoảng 1% trọng lượng thân nằm trong khoảng
khuyến cáo của nhà sản xuất thức ăn Trong khi
đó, các báo cáo khác cho thấy cá chình nên cho
ăn 3-5% trọng lượng thân nuôi ao hay lồng bè
Có thể khẳng định rằng nuôi trong lồng bè và
nuôi ao không kiểm tra thức ăn một cách hoàn
toàn chính xác và không thể xác định lượng
thức ăn dư vì cá kéo thức ăn ra khỏi sàng, dòng
nước sẽ cuốn trôi Theo quan sát của chúng tôi
cá chình có đặc tính ăn theo từng đàn, cắn xé
thức ăn và không ăn mãnh vụn nhỏ, đây là đặc điểm ảnh hưởng đến tiêu phí thức ăn Chính vì thế tại Châu Âu trang trại cá chình thường sử dụng thức ăn dạng viên bán nổi để nuôi năng suất cao, FCR thấp (1,2) và dễ kiểm soát so với thức ăn bột dính như Việt Nam và Trung Quốc Qua đó, có thể khẳng định rằng trọng lượng thân cá chình từ 110 – 210 g có thể ăn 1-3% trọng lượng thân/ ngày như nhà sản xuất thức ăn
là hợp lý với kết quả nghiên cứu này
V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Chất lượng nước trong bể nuôi hệ thống tuần hoàn bảo đảm cho sự sinh trưởng và phát triển của cá chình Bông nuôi thương phẩm Yếu
tố nhiệt độ rất quan trọng cho nuôi cá chình Bông liên quan đến tiêu hóa và bắt mồi: ≤ 26oC tiêu thụ thức ăn kém, từ 27-28oC tiêu thụ thức
ăn tốt Hệ thống nuôi tuần hoàn thay nước từ 0 – 32,8%/ ngày, trung bình 4,9%/ngày vẫn duy trì được chất lượng nước tối ưu cho cá chình sinh trưởng và phát triển
Cá chình Bông nuôi trong hệ thống tuần hoàn được cho ăn 4 lần/ngày bằng thức ăn viên công nghiệp với tỷ lệ 1% trọng lượng thân/ngày
ở trọng lượng 97-210 g/con Tốc độ tăng trưởng đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 1,1g/con/ngày, FCR = 2,3 và tỷ lệ sống đạt 96,6 - 99,1% và bệnh không xuất hiện trong quá trình nuôi
Để hoàn toàn không thay nước và hạn chế thải một lượng chất thải rắn đáng kể trong quá trình nuôi cá chình Bông trong hệ thống RAS,
hệ thống khử nitrate xử lý chất thải rắn (nguồn carbon hữu cơ nội tại) được đề nghị kết hợp với
hệ thống lọc sinh học hiếu khí
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Chu Văn Công, 2005 Nghiên cứu xây dựng quy
trình kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Chình tại
miền Trung Việt Nam Báo cáo khoa học năm
2005, viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III,
65 trang
Tài liệu tiếng Anh
APHA, 1999 Standard methods for the
examination of water and waste water, 20th
edition American public health association,
American water works association, water
pollution control federation, Washington DC
Bovendeur, J., Eding, E.H., Henken, A.M.,
1987 Design and performance of a water
recirculation system for high-density culture
of the African catfish, Clarias gariepinus
(Burchell 1822) Aquaculture 63, 329-353
Nhut, N., Quan, N.H., Hao, N.V., Verreth, J.A.V.,
Eding, E.H., Verdegem, M.C.J., Submitted
Nutrient mass balances, water quality and
water use of striped catfish ( Pangasianonodon
hypophthalmus, Sauvage, 1878) in
flow-through and recirculation systems Aquaculture Engineering
Schram, E., Roques, J.A.C., Abbink, W., Yokohama, Y., Spanings, T., de Vries, P., Bierman, S., van de Vis, H., Flik, G., 2014 The impact of elevated water nitrate concentration
on physiology, growth and feed intake of African catfish Clarias gariepinus (Burchell 1822) Aquaculture Research 45, 1499-1511 Timmons, M.B., Ebeling, J.M., 2010 Recirculating aquaculture NRAC Publication
No 401-2010, 948 p
van Rijn, J., Tal, Y., Schreier, H.J., 2006 Denitrification in recirculating systems: Theory and applications Aquacultural Engineering
34, 364-376