Cá chình bông (Anguilla marmorata) được nuôi thí nghiệm bằng hệ thống tuần hoàn. Cá chình bông có khối lượng trung bình 97g được thả nuôi với mật độ 82 con.m-3 trong bể nuôi 4 m3 trong thời gian 393 ngày. Mỗi hệ thống nuôi tuần hoàn được thiết kế bao gồm: 01 tháp lọc nhỏ giọt, 02 lọc sinh học nối tiếp (vật thể bám chuyển động), 01 bể lắng li tâm, 01 bể nuôi và 01 hệ thống đèn UV.
Trang 1ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TUẦN HOÀN ĐỂ NUÔI CÁ CHÌNH BÔNG
(Anguilla marmorata Quoy & Gaimard, 1824)
Nguyễn Nhứt1*, Nguyễn Hồng Quân1 và Nguyễn Đình Hùng1 TÓM TẮT
Cá chình bông (Anguilla marmorata) được nuôi thí nghiệm bằng hệ thống tuần hoàn Cá chình bông
có khối lượng trung bình 97g được thả nuôi với mật độ 82 con.m -3 trong bể nuôi 4 m 3 trong thời gian
393 ngày Mỗi hệ thống nuôi tuần hoàn được thiết kế bao gồm: 01 tháp lọc nhỏ giọt, 02 lọc sinh học nối tiếp (vật thể bám chuyển động), 01 bể lắng li tâm, 01 bể nuôi và 01 hệ thống đèn UV Toàn bộ thí nghiệm bao gồm 03 hệ thống nuôi tuần hoàn (3 lần lặp lại) thiết kế tương tự về kích thước và chức năng Kết quả cho thấy chất lượng nước đạt tối ưu cho cá chình bông sinh trưởng trong suốt vụ nuôi, cá tiêu thụ thức ăn 1-2% khối lượng thân.ngày -1 , hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) = 2,44, tỷ lệ sống 82%, tốc độ tăng trưởng đặc trưng là 0,6%.ngày -1 , cá đạt kích cỡ trung bình thu hoạch là 940g con -1 Chất lượng cá được đánh giá cao không nhiễm kháng sinh và hóa chất theo quy tiêu chuẩn xuất khẩu của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Công nghệ nuôi cá chình bông bằng hệ thống tuần hoàn có thể ứng dụng cho vùng nuôi thủy sản trong nhà giảm thiểu ô nhiễm môi trường
và nâng cao năng suất trên diện tích nuôi trong điều kiện trong nhà kín.
Từ khóa: hệ thống tuần hoàn, RAS, cá chình bông, nước thải, Anguilla
1 Phòng Sinh học Thực nghiệm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
* Email: nhut300676@yahoo.com
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá chình bông (Anguilla marmorata) là
loài cá có giá trị thương phẩm cao Hiện nay,
công nghệ nuôi cá chình bông ở Việt Nam chủ
yếu là nuôi trong ao với mật độ thấp, nuôi trong
lồng bè và nuôi trong bể xi măng thay nước liên
tục (Chu Văn Công, 2005; Từ Thanh Dung và
ctv., 2014; Nguyễn Thành Long và Trần Ngọc
Hải., 2014; Tô Minh Việt và ctv., 2013) Với
các hình thức nuôi trên phù thuộc vào nguồn
nước hoàn toàn và không an toàn sinh học dẫn
đến tỷ lệ sống thấp và năng suất nuôi thấp tính
trên đơn vị thể tích Ngoài ra thay nước nhiều
lần hoặc nuôi lồng bè gây ô nhiễm môi trường
không được một số nước công nhận vì thải ra
môi trường xung quanh (Suzuki và ctv., 2003;
Liao và ctv., 2010)
Hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn (RAS)
mang lại tính ưu việt hơn so với công nghệ nuôi
ao và nuôi lồng bè vì tính an toàn sinh học, năng
suất cá nuôi cao, không gây ô nhiễm môi trường
và sử dụng lượng nước thấp (150 – 300 l.kg cá1)
so với nuôi ao hiện nay (2.000 – 3.000 l.kg1) (Timmons and Ebeling, 2010)
Công nghệ này được xem là công nghệ sản xuất thủy sản tiên tiến phù hợp trong bối cảnh hiện nay để tăng năng suất, giảm thiểu mầm bệnh và cá nuôi không sử dụng kháng sinh hay hóa chất cấm ảnh hưởng đến người tiêu dùng Cùng với mục tiêu đó, nghiên cứu này thực hiện nhằm xây mô hình nuôi cá chình bông năng suất cao trong nhà bằng RAS Đặc biệt là ứng dụng công nghệ nuôi này đối với nơi khan hiếm diện tích và nguồn nước như vùng ven đô thị
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Địa điểm và thời gian
2.1.1 Địa điểm: Cơ sở nghiên cứu thực
nghiệm và sản xuất thủy sản Thủ Đức – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
2.1.2 Thời gian: Từ tháng 12/2014 đến
3/2017
2.2 Vật liệu
Trang 22.2.1 Cá chình giống: 1.000 con sạch mầm
bệnh ký sinh trùng có khối lượng trung bình 97g
mua từ tại ương giống của công ty TNHH Vạn
Xuân, Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa
2.2.2 Thức ăn: thức ăn cho cá chình nuôi
suốt chu kỳ nuôi được cung cấp bởi Công ty
Thủy Sản 555 Thành phần bao gồm: chứa
90,3% vật chất khô (DM), 43,2% protein, 4,5%
chất béo và 26,2% tinh bột, 16,9% tro và 4,97%
phosphorus và 1.184 g COD.kg thức ăn-1
măng (6m3.bể-1) làm bể chứa nước, 3 bể xi măng (4m3.bể-1) làm bể nuôi, 6 bể tròn composite (1,2m3
bể-1) làm hệ thống lọc sinh học, 6,9 m3 vật liệu lọc Bionet có diện tích đặc hiệu 200 m2.m-3 làm tháp lọc nhỏ giọt (trickling filter) và nhà nuôi cách ly và
xử lý mầm bệnh trước khi thả giống Toàn bộ vật liệu thiết kế cho hệ thống RAS theo Bảng 1
Bảng 1 Tóm tắt thông số kỹ thuật của từng bộ phận của hệ thống RAS nuôi cá chình
Thể tích hệ thống lắng Bằng Inox đường kính trong (0,9 m) m3 0,26
Công ty SAEN, Việt Nam
Tháp nhỏ giọt
Bể chảy tràn Inox: 100cm x 100cm x 20cm
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế hệ thống RAS cho cá chình
bông
Phương pháp tính toán tải lượng của hệ thống
Ba hệ thống RAS nuôi cá chình bông được
xây dựng để thí nghiệm tương tự về: diện tích,
thể tích, cấu tạo, mật độ nuôi, kích cỡ cá giống
thả (3 lần lặp lại) và ngoại trừ chiều dài của
đường ống dẫn nước khác nhau giữa 3 hệ thống
(sai khác 0,5m giữa các hệ thống) Mỗi hệ thống
RAS được thiết kế có hiệu suất dựa trên tổng khối lượng thải của tổng sinh khối cá chình bông dự kiến thu hoạch (200 kg.hệ thống-1) và
số lượng thức ăn tối đa là 6 kg thức ăn.ngày-1 (3% khối lượng thân.ngày-1) Chất thải sinh ra
từ sản phẩm bài tiết của cá chình bông trong 24h dưới dạng: tổng chất rắn (PDM), tổng lượng nitrogen (PN) và tổng khí carbonic (PCO2) và tổng oxy hòa tan tiêu thụ (PO2) tối đa (Bảng 2)
Trang 3Bảng 2.Tính lượng chất thải trong mỗi bể cá chình của hệ thống RAS
- N hòa tan trong nước (2) Kg.hệ thống ngày -1 0,246 [6 kg* 41g.kg thức ăn -1 ]/1000
Ebeling, J.M., 2010)
1997)
Chọn hệ số RTAN gTAN m-2 ngày-1 0,4 Theo lý thuyết (RTAN = 0,1 -1,5)
-Co 2 hòa tan trong nước do
thức ăn(4) Kg.hệ thống ngày -1 2,75 [6 kg * 459g.kg thức ăn -1 ]/1000
1.1 * 1,375 (hệ số) (Timmons,
M.B., Ebeling, J.M., 2010
Hình 1 Sơ đồ hệ thống RAS nuôi cá chình bông: bản vẽ chi tiết không theo tỷ lệ
Swirl separator: phểu lắng; trickling filter: tháp lọc nhỏ giọt; airlift: đẩy nước bằng khí; UV: đèn UV; Q: lưu lượng nước bơm.
Trang 42.3.2 Phương pháp cho ăn
Thức ăn bột được trộn với nước theo tỷ lệ
1: 1 tạo thành những viên nhỏ có đường kính
20mm trải đều khắp đáy bể nuôi để cá phân tán
đều (không dùng sàng ăn) Sau 2 giờ cho ăn,
thức ăn thừa được tách tại song chắn dạng dính
cục và cân để xác định lượng thức ăn tiêu thụ
cho lần cho ăn kế tiếp Số lần cho cá ăn suốt chu
kỳ nuôi là 4 lần.ngày-1: 6h.; 12h; 18h; 24h
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Mẫu nước: Vị trí của mẫu nước được lấy
trong bể cá nuôi, bể lắng lọc sinh học 2, tháp nhỏ
giọt và nước tại đầu vào của bể nuôi để đo chất
lượng nước (pH, nhiệt độ, vật chất rắn lơ lững
(TSS), COD (chemical oxygen demand), BOD5
(Biological oxygen demvà, 5 ngày) alkalinity,
TAN, NO2-N, NO3-N, D.O và CO2) và DM,
COD, nitơ tổng (TN) và phosphorus tổng (TP)
để tính cân bằng vật chất của hệ thống và hiệu
suất xử lý của mỗi bộ phận của RAS
pH, nhiệt độ và oxy hòa tan ( D.O) của
nước được đo vào lúc 8 giờ sáng bằng máy
đo cầm tay đa chỉ tiêu multi-parameter meter
HI9828, Hanna Instruments, Rhode, USA Vật chất rắn lơ lững (TSS), COD (chemical oxygen demvà), BOD5 (Biological oxygen demand 5 ngày) alkalinity, TAN, NO2-N, NO3-N, CO2) và
DM, COD, nitơ tổng (TN) và TP theo phương pháp chuẩn của APHA (1999) với tần suất đo
14 ngày/lần
Mẫu thức ăn, mẫu cá và mẫu bùn: Lấy
500g mẫu ngẫu nhiên trong bao chứa thức
ăn của công ty thủy sản 555 phân tích 10 lần (thức ăn kết dính & thức ăn viên nổi) suốt chu
kỳ nuôi Lấy ngẫu nhiên 3 con cá mỗi bể của
hệ thống RAS nghiền nát nguyên con để phân tích thành phần định kỳ 1 tháng lần-1 về: độ ẩm, protein thô, lipid, tro và phosphorus tổng theo phương pháp của AOAC (2000) Bùn thải từ hệ thống lắng phân tích 1 tháng lần-1 về các chỉ tiêu: TN, tCOD (COD tổng) và TP bằng phương pháp chuẩn APHA (1999)
2.3.4 Phương pháp tính toán tăng trưởng cá
Phương pháp tính toán mật độ nuôi, cá chết,
tỷ lệ sống, tăng trưởng đặc trưng, hệ số chuyển đổi thức ăn của cá được trình bày tóm tắt ở Bảng 3
Bảng 3 Công thức tính tăng trưởng của cá
Sinh khối cá ban đầu (WBĐ) kg Cân toàn bộ cá thả nuôi
Sinh khối cá thu hoạch (WTH) kg Cân toàn bộ cá thu hoạch
Mật độ ban đầu Kg.m-3 WBĐ / tổng khối lượng nước bể nuôi (m3) Năng suất thu hoạch Kg.m-3 (WTH)/ tổng khối lượng nước bể nuôi (m3)
hoạch]/ số lượng cá thả ban đầu x 100 Tăng trưởng đặc trưng (SGR) % ngày-1 SGR = 100 * (lnWthu hoạch – lnWban đầu) / thời
gian nuôi (ngày)
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) - FCR = thức ăn tiêu thụ / (Wthu hoạch – Wban đầu )
BĐ: ban đầu; W thu hoạch : khối lượng trung bình cá thu hoạch (g); W ban đầu : khối lượng trung bình cá ban đầu (g).
vật chất và đánh giá hiệu quả kinh tế được tính trung bình của 3 RAS Các đồ thị vẽ sử dụng phần mềm Excel phiên bản 2016
2.3.5 Xử lý số liệu
Các thông số chất lượng nước, các chỉ thị
của bền vững mô hình, tăng trưởng cá, cân bằng
Trang 5III KẾT QUẢ
3.1 Chất lượng nước trong hệ thống
RAS nuôi cá chình
Kết quả thể hiện giá trị trung bình của chất
lượng nước trong bể cá chình trong hệ thống
RAS được thể hiện ở Bảng 4 cho thấy rất ổn định giữa các bể nuôi của 03 hệ thống RAS Nhìn chung 14 chỉ tiêu về chất lượng nước của nước nguồn và hệ thống nuôi đạt tối ưu cho cá chình sinh trưởng và phát triển
Bảng 4 Chất lượng nước trong bể cá chình của suốt chu kỳ nuôi bằng hệ thống RAS
Thông số Đơn vị Nguồn nước
Mean ± S.D Mean ± S.D Mean ± S.D Mean ± S.D
Alkalinity mg.l-1 35,1 86,6 ± 9,1 85,5 ± 8,9 87,1 ± 34,2 86,4 ± 17,4
NO3-N mg.l-1 0,0 69,0 ± 17,2 73,3 ± 19,2 74,7 ± 20,1 72,3 ± 18,9
n=3; n: số lần lặp lại của hệ thống; TBRAS: trung bình của RAS1(hệ thống RAS 1), RAS2 (hệ thống RAS 2) và RAS3 (hệ thống RAS3); Mean: giá trị trung bình; S.D: độ lệch chuẩn.
3.2 Tăng trưởng cá chình nuôi thương
phẩm bằng công nghệ RAS
Kết quả tăng trưởng, tỷ lệ sống, hệ số
chuyển đổi thức ăn và năng suất không khác
nhau lớn giữa các hệ thống tuần hoàn nuôi cá chình bông trong thí nghiệm này Các giá trị của các chỉ tiêu tăng trưởng của cá chình bông thể hiện ở Bảng 5 sau 393 ngày nuôi
Trang 6Bảng 5 Tăng trưởng cá chình trong hệ thống RAS
Thông số Đơn vị RAS 1 RAS 2 RAS 3 Mean ± S D
Khối lượng trung bình cá thả ban đầu g.con -1 97,0 97,0 97,0 97,0 ± 0,0
Khối lượng trung bình cá thu hoạch Kg.con -1 0,9 0,91 0,97 0,93 ± 0,03
HT: hệ thống; n=3;n: số lần lặp lại của hệ thống; TBRAS: trung bình của RAS1(hệ thống RAS 1), RAS2 (hệ thống RAS 2) và RAS3 (hệ thống RAS3); Mean: giá trị trung bình; S.D:độ lệch chuẩn.
IV THẢO LUẬN
4.1 Biến động chất lượng nước trong hệ
thống RAS nuôi cá chình bông
Nhiệt độ nước biến động theo xu thế tăng
dần và đạt tối ưu cho cá chình bông sinh trưởng
và phát triển Trong giai đoạn 17 ngày đầu nhiệt
độ nước ≤ 26oC được đánh giá là không thích
hợp cho cá chình bông Tuy nhiên, nhiệt độ tăng
dần cuối vụ nuôi đạt ngưỡng thích hợp từ ngày
nuôi thứ 31-271 và 361- thời điểm thu hoạch
do khí hậu ấm vào mùa hè ( ≥ 28oC) ở Bảng
4 Theo Luo và ctv., (2013) cho rằng cá chình
bông sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ từ 28-33oC
và chết một phần ở nhiệt độ 18-23oC trong vòng
20 ngày Khi nhiệt độ thấp < 28oC trong suốt
chu kỳ nuôi với tổng thời gian 120 ngày (30%
thời gian của chu kỳ nuôi) có thể ảnh hưởng đến
tăng trưởng của cá và khả năng tiêu thụ thức ăn
(2,23% khối lượng thân.ngày-1 tại 33oC > < 1,82
% khối lượng thân.ngày-1 tại 28oC)
pH nước được duy trì ổn định suốt thời
gian nuôi thông qua bổ sung 268 g NaHCO3
kg thức ăn tiêu thụ-1 Bản chất của nguồn nước
cấp được ghi nhận pH thấp (pH = 6,6) Trong
quá trình khoáng hóa TAN bởi quá trình nitrate
hóa, kiềm được tiêu tốn gây giảm pH (Henze
và ctv., 1997) Bổ sung NaHCO3 tăng kiềm và
điều chỉnh pH được sử dụng cho hệ thống RAS được ứng dụng rộng rãi trên thế giới Trung bình
bổ sung 250g NaHCO3.kg thức ăn-1 (protein thức ăn 35%) để điều chỉnh pH và tăng kiềm (Timmons và ctv., 2002) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn 18 g NaHCO3.kg-1 thức
ăn trong điều kiện nguồn nước cấp ban đầu có
độ kiềm thấp và hàm lượng protein cao hơn và
cá tích lũy tăng trưởng thấp hơn dẫn đến 1kg thức ăn thải ra nhiều TAN
Hàm lượng oxy hòa tan tăng dần ở giai đoạn đầu của ngày nuôi thứ 1-27 bởi sự hoạt động ổn định của hệ thống tháp lọc nhỏ giọt khuếch tán oxy hòa tan tối đa (84-96% oxy bão hòa) (Eding và ctv., 2006) D.O giảm từ ngày nuôi thứ 28-118 trong thời gian này lượng thức ăn tăng dẫn đến 01 trong 02 trường hợp: (1) khi đó có thể sinh khối vi khuẩn nitrate hóa
và vi khuẩn dị dưỡng chưa thật ổn định để khử hoàn toàn ammonia và vật chất hữu cơ Theo Henze và ctv., (1997) 1g protein thức ăn tiêu thụ 1,77g O2 và 1g OM (hữu cơ) tiêu thụ 1,42
g O2; (2) lượng vi sinh (dị dưỡng và tự dưỡng) tăng nhanh trong hệ thống RAS, trung bình để khử 1g TAN cần lượng oxy hòa tan 4,57g O2 (Henze và ctv., 1997) Để cung cấp thêm lượng oxy hòa tan khi thức ăn tăng và sinh khối cá
Trang 7tăng, lưu tốc nước được tăng tối đa theo thiết kế
240 m3.ngày-1 từ ngày nuôi 119 – 352 Cuối chu
kỳ (353 – thu hoạch) ghi nhận hàm lượng oxy
trong bể nuôi có xu hướng giảm Tương tự như
cá tra và cá trê nuôi trong hệ thống RAS xảy ra
cùng như hiện tượng này (Bovendeur và ctv.,
1990; Nhut, 2016) Nhìn chung hàm lượng D.O
duy trì trong hệ thống RAS của thí nghiệm này >
6,6 mg.l-1được đánh giá thích hợp cho cá chình
nuôi thương phẩm sinh trưởng (Heinsbroek và
Kamstra, 1990; Kamstra và ctv., 1998; Suzuki
và ctv., 2003)
CO2 hòa tan trong bể cá được xác định định
kỳ suốt chu kỳ nuôi Nồng độ CO2 hòa tan có
xu thế giảm dần từ đầu đến cuối chu kỳ nuôi
Nhìn chung nồng độ CO2 dao động từ 5-25
mg.l-1 thích hợp cho cá chình nuôi thương phẩm
(Heinsbroek và Kamstra, 1990) Trong hệ thống
RAS, nguồn gốc của CO2 sinh ra từ hô hấp của
vi sinh vật chiếm chủ yếu từ lọc sinh học và
động vật thủy sản nuôi (Hu và ctv., 2011) Theo
(Timmons và Ebeling, 2010), 1 g O2 tiêu thụ
sinh ra 1,375 g CO2 Nồng độ CO2 hòa tan trong
nước cao ảnh hưởng đến sức khỏe động vật thủy
sản đáng kể (Timmons và Ebeling, 2010)
Kết quả thể hiện sau 21 ngày khởi động hệ
thống RAS, TAN có xu thế giảm dần và ổn định
cuối chu kỳ nuôi Ngược lại NO3-N tăng dần và
tích lũy đến cuối chu kỳ nuôi trung bình mỗi
ngày tăng 6 mg.l-1 mặc dù thay nước để giảm
NO3-N đến mức có thể chấp nhận < 100 mg.l-1
Nồng độ NO3-N thích hợp cho cá chình bông
chưa được nghiên cứu chi tiết Tuy nhiên trong
thí nghiệm này cần duy trì < 100 mg.l-1 dựa vào
đề nghị cho loài cá da trơn (Henken, 1987) Theo
báo cáo của Timmons và Ebeling (2010) các loại
cá nuôi thương phẩm có thể sinh trưởng ở nồng
độ NO3-N < 300 mg.l-1 Giả sử trung bình mỗi
ngày thay nước 5% tương đương với khử 22 g
NO3-N {5% x 6 m3 = 300 L.ngày1 (~73 g.m-3 x
0,3 m3 = 22 g NO3-N)} Trong khi đó hàng ngày
tổng lượng thức ăn tiêu thụ 2 kg tương đương
138 g N sinh ra trong hệ thống, cá sử dụng N xây
dựng cơ thể và khử bởi quá trình phản nitrate thụ
động trong hệ thống RAS Theo Van Rijn và ctv.,
(2006) quá trình phản nitrate thụ động trong hệ
thống RAS dao động từ 19-23% so với N của thức ăn tiêu thụ Nhìn chung, nồng độ TAN,
NO2-N và NO3-N thích hợp cho sự sinh trưởng
và phát triển của cá chình
4.2 Tăng trưởng
Cá chình bông nuôi tăng trưởng từ giai đoạn cá giống (97g) trong vòng 393 ngày trong RAS đạt kích cỡ thương phẩm trung bình 930g con-1 và trung bình mỗi ngày cá chình bông tăng trưởng 2,1g.con-1.ngày-1 (tương đương với 0,6%.ngày-1) Cá chình thương phẩm được người tiêu dùng ưu chuộng có kích cỡ từ 500g trở lên và giá trị càng cao khi kích cỡ cá càng lớn Nhưng xu thế thị trường tiêu thụ cá chình từ
500 – 1000g.con-1 Trong hệ thống này tại thời điểm thu hoạch tổng khối lượng cá đạt kích cỡ thương phẩm chiếm 87% quần đàn với chiếm 93% tổng sản lượng Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu trước (Suzuki và ctv., 2003) Sự phân đàn cá chình nuôi thương phẩm cũng thể hiện rất rõ trong hệ thống RAS (Suzuki và ctv., 2003) Chính vì thế sự phân cỡ cá định kỳ cho
cá chình nuôi thương phẩm là cần thiết và thu tỉa những con lớn được đề nghị (FAO, 2017) Ở thí nghiệm này cá chình bông không được phân
cỡ định kỳ trong suốt chu kỳ nuôi đã làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và gây ra hiện tượng phân đàn
Tỷ lệ sống của cá chình bông nuôi trong hệ thống RAS 393 ngày đạt trung bình 82% đã tính
cá lấy mẫu định kỳ để kiểm tra mầm bệnh và phân tích thành phần dinh dưỡng và 23 cá thể cá tách đàn nuôi riêng Tỷ lệ sống của cá chình ở thí nghiệm này cao hơn các mô hình nuôi trong
ao được báo cáo của Liao và ctv., (2002) và trong hệ thống RAS (Suzuki và ctv., 2003) Khẩu phần thức ăn trong suốt giai đoạn nuôi dao động từ 1-2% khối lượng thân ngày
-1 tương đồng với báo cáo của Liao và ctv., (2002) và Suzuki và ctv., (2003) nuôi trong hệ thống RAS bằng thức ăn tổng hợp Khẩu phần thức ăn thực tế thấp hơn do với dự đoán ban đầu (3% khối lượng thân.ngày-1 trong thiết kế) dẫn đến hệ thống RAS vận hành tốt hơn nhưng tăng chi phí đầu tư xây dựng RAS và vận hành
Trang 8Tuy vậy, đây là lần đầu nghiên cứu trên đối
tượng cá chình bông nên có thể chấp nhận
được và sẽ cải tiến cho nghiên cứu tiếp theo
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) trong nghiên
cứu này là 2,44 được đánh giá thấp hơn so với
nuôi cá chình Anguilla anguilla và Anguilla
japonica Nguyên nhân có thể là sự khác nhau
giữa các loài cá chình và thành phần thức ăn
được các các nghiên cứu trước đây thực hiện
(Cheng và ctv., 2013; Eding và Kamstra, 2002;
Gousset, 1990; Heinsbroek và Kreuger, 1992;
Heinsbroek và Kamstra, 1990; Seo và ctv.,
2013; Suzuki và ctv., 2003)
V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
5.1 Kết luận
Mô hình RAS nuôi cá chình bông được
thiết kế thích hợp đã duy trì chất lượng nước đạt
tối ưu cho cá chình nuôi trong suốt quá trình thí
nghiệm Hiệu suất khử và tách chất thải của các
thiết bị lựa chọn cấu thành hệ thống RAS đạt
mức tối đa theo thiết kế
Mô hình nuôi cá chình bông bằng công
nghệ RAS đã đạt được năng suất nuôi 47 kg.m
-3 Kích cỡ cá thương phẩm phân đàn lớn, khối
lượng thân trung bình đạt 0,93 kg.con-1 Tỷ lệ
sống 82% sau 393 ngày nuôi với tốc độ tăng
trưởng 2,1g con ngày-1, khẩu phần thức ăn hàng
ngày là 1-2% khối lượng thân.ngày-1
5.2 Đề xuất
Công nghệ nuôi cá chình bông bằng hệ
thống tuần hoàn có thể ứng dụng cho vùng
nuôi thủy sản nhằm giảm ô nhiễm môi trường
và tăng năng suất cá nuôi đánh kể Tuy nhiên,
để giảm thiểu ô nhiễm tối đa do thay nước bởi
nitrate tích lũy trong hệ thống và hạn chế sử
dụng nước, hệ thống RAS cần phải được kết nối
với hệ thống phản nitrate hay thực vật (kết hợp
với hệ thống aquaponic)
Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thích
hợp cho cá chình bông cần được nghiên cứu
để tối ưu tích lũy dinh dưỡng trong cá, giảm hệ
số chuyển đổi thức ăn và cải thiện tốc độ tăng
trưởng cá chình nuôi Bên cạnh đó, lọc phân cỡ
cá định kỳ sẽ giảm sự phân đàn cá chình nuôi thương phẩm trong suốt quá trình nuôi
LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn đến
Sở Khoa Học và Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh đã tài trợ kinh phí cho nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Chu Văn Công., 2005 Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Chình tại miền Trung Việt Nam Báo cáo khoa học năm Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III trang 65.
Từ Thanh Dung., Lý Văn Khánh., Trần Ngọc Hải,
2014 Xác định một số mầm bệnh trên cá chình
bông (Anguilla marmorata) nuôi trong bể Tạp
chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Số chuyên đề Thủy sản 177–183.
Nguyễn Thành Long., Trần Ngọc Hải., 2014 Các khía cạnh kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi
cá chình hoa (Anguilla anguilla) ở tỉnh Cà Mau
Tạp chí khoa học trường ĐH Cần Thơ Phần B Nông nghiệp, Thủy sản và công nghệ sinh học, trang 93–94.
Tô Minh Việt., Nguyễn Đình Mão., Hoàng Hà
Giang., 2013 Hiện trạng kỹ thuật và giải pháp phát triển nghề nuôi cá chình bông (Anguilla
marmorato, Quoy & Gainard, 1824) tại tân thành
cà mau Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản.
Tài liệu tiếng Anh
Bovendeur, J., Zwaga, A.B., Lobee, B.G.J., Blom, J.H., 1990 Fixed-biofilm reactors in aquacultural water recycle systems: effect of organic matter elimination on nitrification kinetics Water Res
24, 207–213
Cheng, W., Lai, C., Lin, Y., 2013 Quantifying the Dietary Protein and Lipid Requirements of Marble Eel , Anguilla marmorata , with Different Body Weight 40, 135–142.
Eding, E., Kamstra, A., 2002 Netherlands farms tune recirculation systems to production of varied species Glob Aquac Advocate 5, 52–55 Eding, E.H., Kamstra, A., Verreth, J.A.J., Huisman, E.A., Klapwijk, A., 2006 Design and operation
of nitrifying trickling filters in recirculating
Trang 9aquaculture: A review Aquac Eng 34, 234–260
Heinsbroek, L., Kreuger, J., 1992 Feeding and
growth of glass eels, Anguilla anguilla L.: the
effect of feeding stimulants on feed intake, energy
metabolism and growth Aquac Res 327–336
Heinsbroek, L.T.N., Kamstra, A., 1990 Design and
performance of water recirculation systems for
eel culture Aquac Eng 9, 187–207
Henken, J.B.E.H.E.A.M., 1987 Design and
performance of a water recirculation system
for high-density culture of the African catfish,
Clarias gariepinus (Burchell 1822) Aquaculture
63, 329–353
Hu, Y., Ni, Q., Wu, Y., Zhang, Y., Guan, C., 2011
Study on CO 2 removal method in recirculating
aquaculture waters Procedia Eng 15, 4780–
4789
Kamstra, A., van der Heul, J , Nijhof, M., 1998
Performance and optimisation of trickling filters
on eel farms Aquac Eng 17, 175–192
Liao, I.C., Hsu, Y.-K., Lee, W.C., 2002 Technical
Innovations in Eel Culture Systems Rev Fish
Sci 10, 433–450
Luo, M., Guan, R., Li, Z., Jin, H., 2013 The effects
of water temperature on the survival, feeding, and
growth of the juveniles of Anguilla marmorata
and A bicolor pacifica Aquaculture 400–401, 61–64 d
Nhut, N., 2016 Improving sustainability of striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus) farming
in the Mekong Delta , Vietnam , through recirculation technology.
Suzuki, Y., Maruyama, T., Numata, H., Sato, H., Asakawa, M., 2003 Performance of a closed recirculating system with foam separation, nitrification and denitrification units for intensive culture of eel: Towards zero emission
Seo, J.S., Choi, J.H., Seo, J.H., Ahn, T.H., Chong, W.S., Kim, S.H., Cho, H.S., Ahn, J.C., 2013 Comparison of major nutrients in eels Anguilla japonica cultured with different formula feeds or
at different farms Fish Aquat Sci 16, 85–92 Timmons, M.B., Ebeling, J.M., 2010 Recirculating Aquaculture, Aquaculture.
Timmons, M.B., Ebeling, J.M., Wheaton, F.W., Summerfelt, S.T., Vinci, B.J., 2002 Recirculating aquculture systems,2nd edition NRAC.
Van Rijn, J., Tal, Y., Schreier, H.J., 2006 Denitrification in recirculating systems: Theory and applications Aquac Eng 34, 364–376
Trang 10APPLICATION OF A RECIRCULATING AQUACULTURE SYSTEM
FOR MARBLE EEL (Anguilla marmorata Quoy & Gaimard, 1824)
CULTURE
Nguyen Nhut1*, Nguyen Hong Quan1 and Nguyen Dinh Hung1
ABSTRACT
The marble eel (Anguilla marmorata) was raised in three indoor recirculating aquaculture systems
(RAS) Initial body weight of fish was 97g.individual-1, stocking density was 82 individuals.m-3
in 4m3-concreted tank with culture priod 393 days Each RAS comprised a trickiling filter, two biofilter reactors (media moving bed reactors), a swirl separator, one culture tank and one UV light system Function and dimension of the components of three RAS (three replicates) were similarly designed
The results showed that the designed RAS maintained optimum water quality for marble eel growth Feeding level was recorded at 1-2% bw.d-1 and averaging feed conversion ratio was 2.44 Averaging survival was 82% Specific growth rate was 0.6 %.d-1 and average final fish body weight was
940 g.individual-1 Fish fillet quality was high, which was not contaminated with any antibiotics and chemicals and followed the standards of Ministry of Agriculture and Rural Development for exported aquaculture products In conclusion, the marble eel can be raised in indoor RAS system to reduce pollution and to increase fish yield.
Keywords: recirculating aquaculture system, RAS, marble eel, waste water, Anguilla
Người phản biện: Ths Nguyễn Văn Tư
Ngày nhận bài: 22/6/2018 Ngày thông qua phản biện: 29/6/2018
Ngày duyệt đăng: 10/7/2018
1 Experimental Biology Department- Research Institute for Aquaculture No.2
* Email: nhut300676@yahoo.com