Quản lý Tài nguyên rừng & Môi trường TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4 2020 79 TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT TỈNH SƠN LA Khương Mạnh Hà1* , Xuân Thị Thu Thảo2, Nguyễn Tuấn Dương1,[.]
Trang 1TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT TỈNH SƠN LA
Khương Mạnh Hà 1*
, Xuân Thị Thu Thảo 2 , Nguyễn Tuấn Dương 1 , Nguyễn Mạnh Hùng 1 , Trần Mạnh Công 3
1
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
2
Trường Đại học Lâm nghiệp
3 Tổng cục Quản lý đất đai
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng tài nguyên đất và độ phì nhiêu của đất tỉnh Sơn La Độ phì nhiêu hiện tại của đất được đánh giá theo phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu (MCE) trên cơ sở xây dựng ma trận so sánh cặp đôi và xác định trọng số các chỉ tiêu về loại đất, tinh chất vật lý và hóa học của đất Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên địa bàn tỉnh Sơn La có 6 nhóm đất với 22 loại đất, trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm 56,88%, nhóm đất mùn đỏ vàng chiếm 35,35% và các nhóm đất còn lại chiếm 5,33% diện tích điều tra Về kết quả phân cấp
độ phì nhiêu, diện tích đất có độ phì ở mức thấp, trung bình và cao của tỉnh lần lượt là 321.359 ha, 5313.324 ha
và 411.385 ha, tương ứng với 25,42%; 42,03% và 32,54% tổng diện tích điều tra Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng đinh hướng sử dụng đất hợp lý, bền vững, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Sơn La
Từ khóa: độ phì nhiêu, sử dụng đất, tài nguyên đất, tính chất hóa học, tính chất vật lý
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên đất đai có vai trò quan trọng
hàng đầu đối với quá trình phát triển kinh tế xã
hội của mỗi quốc gia Trong đó, độ phì nhiêu
của đất có vai trò quan trọng trong việc chi
phối khả năng cung cấp các nguyên tố dinh
dưỡng, đảm bảo chế độ nước, không khí, nhiệt
và môi trường lý hóa học cho bộ rễ cây trồng
phát triển, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp (Nguyễn
Bình Nhự, Khương Mạnh Hà, 2017) Sử dụng
đất bền vững, tiết kiệm, có hiệu quả, chủ động
thích ứng với biến đổi khí hậu đã và đang trở
thành chiến lược quan trọng, nhiệm vụ ưu tiên
hàng đầu đối với mỗi quốc gia và có tính toàn
cầu Khoản 1 Điều 32 Luật Đất đai năm 2013
đã quy định cụ thể về các hoạt động điều tra,
đánh giá đất đai bao gồm: điều tra, đánh giá về
chất lượng đất, tiềm năng đất đai Điều 33 đã
quy định rõ về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh
trong việc tổ chức thực hiện, công bố kết quả
điều tra, đánh giá đất đai theo định kỳ 05 năm
một lần (Quốc hội, 2013)
Tỉnh Sơn La có tổng diện tích tự nhiên là
1.412.349 ha, bằng 4,26% diện tích tự nhiên
* Corresponding author: hakm@bafu.edu.vn
toàn quốc và bằng 37,84% tổng diện tích tự nhiên vùng Tây Bắc Sự đa dạng của yếu tố địa hình, khí hậu, đất đai và các nguồn tài nguyên phong phú khác cho phép tỉnh phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp Năm
1960, bản đồ đất tỉnh Sơn La được thành lập ở
tỷ lệ 1/100.000 với thông tin đơn giản về các loại đất chính, chỉ tiêu độ dày tầng đất mịn được đánh giá theo thang 3 cấp (x :> 100 cm, y:
50 - 100 cm, z :< 50 cm), không thể hiện yếu
tố địa hình, độ dốc Giai đoạn 1995 - 2000, trong khuôn khổ dự án thủy điện Sơn La, đã có
125 xã thuộc 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu được điều tra, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất phục vụ công tác tái định cư Năm 2004, kết quả dự án điều tra, đánh giá đất đai tỉnh Sơn La đã xây dựng báo cáo thuyết minh bản
đồ đất (kèm thèo bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000) (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2005) Tuy nhiên, thực tế cho thấy vấn đề quản
lý và sử dụng đất mà trực tiếp là độ phì nhiêu của đất chịu áp lực không nhỏ bởi sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế xã hội, mở rộng đô thị, phát triển công nghiệp, tác động biến đổi khí hậu Hơn nữa, các tài liệu về tài nguyên đất của tỉnh đã xây dựng chưa đồng bộ và đủ độ
Trang 2chi tiết để thỏa mãn nhu cầu thông tin cho công
tác quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu sản xuất
nông lâm nghiệp, xây dựng định hướng phát
triển nông nghiệp và nông thôn bền vững, chủ
động ứng phó với biến đổi khí hậu Vì vậy,
việc chỉnh lý bản đồ đất nhằm đánh giá đầy đủ
và chính xác tài nguyên đất và độ phì đất hiện
tại là cấp thiết và có giá trị thực tiễn
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ tài nguyên
đất của tỉnh Sơn La; các chỉ tiêu lý tính, hóa
tính, hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng các
chất dinh dưỡng trong đất
- Vật liệu nghiên cứu: 523 mẫu đất, bản đồ
hiện trạng sử dụng đất, bản đồ đất tỉnh Sơn La
năm 2004, các bản đồ chuyên đề, phần mềm
chuyên ngành để số hóa, chồng xếp bản đồ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thứ cấp: Thu thập
thông tin, tài liệu, số liệu thống kê đất đai, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ đất tỉnh Sơn
La 2004, các bản đồ bản đồ chuyên đề tại các
cơ quan chuyên môn của địa phương và các bộ,
ngành Trung ương Tiến hành điều tra theo
tuyến (42 tuyến) và điều tra điểm (523 mẫu
đất/2.615 khoanh đất điều tra) trên địa bàn 12
đơn vị hành chính của tỉnh để phục vụ xây
dựng các bản đồ chuyên đề
- Phương pháp phân tích mẫu đất: Phân tích
các chỉ tiêu lý, hóa học của 523 mẫu đất được
áp dụng phương pháp phân tích theo Tiêu
chuẩn Việt Nam Các chỉ tiêu phân tích độ phì
nhiêu của đất gồm: thành phần cơ giới (phương
pháp pipet), dung trọng (phương pháp ống trụ),
độ chua của đất (máy đo pH), chất hữu cơ tổng
số (phương pháp Walkley - Black), dung tích
hấp thu (phương pháp amonaxetat pH = 7),
nitơ tổng số (phương pháp Kjeldahl), phốt pho
tổng số (phương pháp so màu), kali tổng số
(phương pháp quang kế ngọn lửa), tổng số
muối tan (phương pháp khối lượng) và lưu
huỳnh tổng số (phương pháp đốt khô)
- Phương pháp xử lý thông tin, tài liệu, số
liệu: Sử dụng phần mềm Excel để xử lý, tổng hợp, thống kê số liệu, tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu (MCE): Đánh giá, phân cấp độ phì nhiêu của đất trên
cơ sở xây dựng ma trận so sánh cặp đôi và xác định trọng số Cụ thể gồm: ma trận so sánh cặp đôi về loại đất và tính chất vật lý của đất (thứ
tự ưu tiên loại đất, thành phần cơ giới và dung trọng); ma trận so sánh cặp đôi về tính chất hóa học của đất (thứ tự ưu tiên độ chua, chất hữu
cơ tổng số, dung tích hấp thu, ni tơ tổng số, phốt pho tổng số và kali tổng số) và ma trận so sánh cặp đôi giữa các nhóm chỉ tiêu (thứ tự ưu tiên chỉ tiêu về loại đất và tính chất vật lý, tính chất hóa học, chế độ tưới)
- Phương pháp xây dựng bản đồ: Số hóa bằng phần mềm MicroStation và Mapinfo và chồng xếp các bản đồ đơn tính trong GIS để xây dựng bản đồ tài nguyên và độ phì nhiêu đất của tỉnh Sơn La
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tài nguyên đất tỉnh Sơn La
Tài nguyên đất tỉnh Sơn La được xác định trên cơ sở kết quả đánh giá, xây dựng bản đồ đất tỉnh Sơn La (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) và kết quả điều tra thực địa chỉnh lý bản đồ đất năm 2017 (thể hiện qua bảng 1)
So với bản đồ đất xây dựng năm 2004, kết quả chỉnh lý bản đồ đất hiện tại không có nhiều sự thay đổi về số lượng nhóm đất với 6 nhóm (bổ sung thêm nhóm đất mùn Alít và lược bỏ nhóm đất cát), số lượng loại đất giảm
2 loại còn 22 loại Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy trình và phương pháp kỹ thuật áp dụng trong quá trình chỉnh lý xây dựng bản đồ đất hiện tại được cập nhật theo các quy định hiện hành của Bộ Tài nguyên & Môi trường, đảm bảo yêu cầu về độ chính xác, đầy đủ, chi tiết phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất, định hướng sử dụng đất nông, lâm nghiệp hiệu quả
và bền vững
Trang 3Bảng 1 Tài nguyên đất tỉnh Sơn La
(Nguồn: Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Sơn La, 2017)
Số liệu bảng 1 cho thấy, nhóm đất đỏ vàng
có diện tích lớn nhất với 719.047 ha chiếm
56,88% diện tích điều tra, với đặc tính cơ bản
là trong đất có quá trình tích lũy sắt, nhôm
tương đối, các chất kim loại kiềm, kiềm thổ và
một số các chất khác bị rửa trôi Tầng đất mặt
thường có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua,
hàm lượng mùn và các chất tổng số ở mức
trung bình Tiếp đến là nhóm đất mùn đỏ vàng
trên núi với 446.808 ha, chiếm 35,35% diện
tích điều tra, với đặc tính cơ bản là hàm lượng
chất hữu cơ khá cao, giảm dần theo chiều sâu
phẫu diện, màu đất chuyển dần từ xám sẫm
sang nâu sẫm và nâu vàng, mối liên hệ giữa
chất hữu cơ và các cation trao đổi chặt hơn, hầu như không xuất hiện kết von đá ong, mức
độ phong hoá feralit của đất và mẫu chất giảm nên tầng đất thường mỏng hơn đất đỏ vàng cùng đá mẹ Tầng đất mặt thường có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua, hàm lượng mùn và các chất tổng số ở mức giàu Các nhóm đất còn lại gồm đất phù sa, đất đen, đất mùn Alit, đất thung lũng chiếm tỷ lệ nhỏ với 5,33% diện tích điều tra
3.2 Độ phì nhiêu hiện tại của đất tỉnh Sơn La
Độ phì nhiêu hiện tại của đất tỉnh Sơn La được xác định theo quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá đấ đai và quy định điều tra thoái hóa
Trang 4đất (Bộ Tài nguyên & Môi trường 2012, 2015)
Các chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu của tỉnh
được xác định theo hai nội dung: theo cấp độ
và theo mục đích sử dụng đất Các nhóm đất,
loại đất của vùng được xác định tên dựa theo
danh mục hệ thống phân loại đất Việt Nam (Hội Khoa học Đất Việt Nam, 1996, 2000)
3.2.1 Thành phần cơ giới đất (TPCG)
Kết quả đánh giá TPCG tầng đất mặt các loại đất thể hiện cụ thể qua bảng 2
Bảng 2 Kết quả đánh giá thành phần cơ giới tầng đất mặt
tích (ha)
Kết quả bảng 2 cho thấy, phần lớn đất tầng
mặt của tỉnh có TPCG nhẹ (44,30%) và nặng
(48,05%), diện tích đất tầng mặt có TPCG
trung bình (đất tốt), phù hợp với nhiều loại cây
trồng chỉ có 7,65% diện tích điều tra, trong đó:
đất sản xuất nông nghiệp có 34.718 ha, chiếm
9,51%; đất lâm nghiệp có 28.813 ha, chiếm
4,98% diện tích của loại đất Việc phân cấp và
xác định TPCG đất là căn cứ quan trọng để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, đề xuất các giải pháp sử dụng và cải tạo đất phù hợp với mỗi loại TPCG khác nhau
3.2.2 Dung trọng
Diện tích các loại đất có dung trọng tầng đất mặt ở mức độ khác nhau thể hiện chi tiết qua bảng 3
Bảng 3 Kết quả xác định dung trọng của tầng đất mặt
tích (ha)
Kết quả đánh giá dung trọng cho thấy, phần
lớn diện tích đất của tỉnh có tầng đất mặt
(62,90%) có dung trọng ở mức cao, đất bị nén
chặt, ảnh hưởng đến chế độ nước, không khí
trong đất, hấp thu dinh dưỡng, ít phù hợp với
cây trồng Việc cải thiện mức độ tơi xốp, giảm
độ bí chặt trên diện tích đất này là rất cần thiết
để nâng cao hiệu quả chế độ nước, không khí,
tăng dung tích hấp thu dinh dưỡng và cải thiện
độ phì nhiêu của đất Diện tích đất có dung
trọng ở mức trung bình và thấp lần lượt là
153.484 ha và 315.481 ha, tương ứng với 12,14% và 24,96% tổng diện tích điều tra (xuất hiện ở hầu hết các nhóm đất), có đặc điểm đất tốt, khá tơi xốp và thích hợp cho nhiều loại cây trồng Trong định hướng sử dụng đất cần ưu tiên diện tích đất này cho phát triển các loại cây trồng hàng hóa là thế mạnh của tỉnh
3.2.3 Độ chua của đất (pH KCl )
Kết quả xác định diện tích đất có độ chua tầng đất mặt ở các mức độ khác nhau thể hiện
cụ thể qua bảng 4
Trang 5Bảng 4 Kết quả xác định độ chua của tầng đất mặt STT Mục đích sử dụng đất
Phân cấp đánh giá (ha)
Tổng diện tích (ha) Trung tính Chua và
chua ít
Rất chua, kiềm
và kiềm yếu
Số liệu bảng 4 cho thấy, chỉ có 17,97% diện
tích đất tầng mặt có pHKCl ở mức trung tính,
đây là những khu vực đất đang được sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp có địa hình tương đối
bằng phẳng Phần lớn diện tích tầng mặt các
loại đất của tỉnh có pHKCl ở mức chua và chua
ít chiếm 62,68% tổng diện tích điều tra, đây là
những khu vực có độ dốc lớn, khi xuất hiện
mưa nhiều và tập trung, lớp đất mặt đã bị rửa
trôi, mất chất dinh dưỡng (trong đó có chất
kiềm như canxi, magiê, kali ) là nguyên nhân
làm cho đất bị chua Diện tích đất tầng mặt có
pHKCl ở mức rất chua, kiềm, kiềm yếu (không
hoặc rất ít phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng) chiếm tỷ lệ thấp với 19,35% tổng diện tích điều tra, tập trung chủ yếu ở đất trồng lúa nước và đất lâm nghiệp Vấn đề cải thiện độ chua của đất hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua biện pháp bố trí
cơ cấu cây trồng hợp lý, bón vôi kết hợp bón phân cân đối, áp dụng tổng hợp các biện pháp làm đất, canh tác để hạn chế rửa trôi kiềm
3.2.4 Hàm lượng chất hữu cơ tổng số (OM%)
Kết quả xác định diện tích đất từ lớp thông tin chuyên đề về OM% tầng đất mặt của tỉnh Sơn La thể hiện qua bảng 5
Bảng 5 Kết quả xác định chất hữu cơ tổng số của tầng đất mặt
(ha)
Diện tích điều tra có OM% ở mức trung
bình với 675.239 ha, chiếm 53,42%; diện tích
có OM% tầng đất mặt ở mức nghèo có 421.817
ha, chiếm 33,37% diện tích điều tra; Diện tích
đất OM% ở mức giàu và trung bình chiếm
63,63% tổng diện tích điều tra, tập trung nhiều
trên đất nông, lâm nghiệp Điều này cho thấy
phần lớn diện tích đất đai tỉnh Sơn La khá tốt,
thuận lợi cho sự phát triển của các loại cây
trồng nếu quá trình khoáng hóa diễn ra mạnh
mẽ Trong quá trình sử dụng đất cần chú trọng
áp dụng các biện pháp bảo vệ và khai thác hợp
lý hàm lượng chất hữu cơ sẵn có trong đất để tăng cường chất dinh dưỡng cho cây trồng, tiết kiệm chi phí đầu tư phân bón
3.2.5 Hàm lượng Nitơ tổng số (N%)
Hàm lượng N% tổng số ở tầng đất mặt của các loại đất thể hiện cụ thể qua bảng 6
Bảng 6 Kết quả xác định hàm lượng Nitơ tổng số của tầng đất mặt
(ha)
Trang 6Kết quả xác định N% cho thấy 74,69% diện
tích điều tra của tỉnh Sơn La có N% ở mức
trung bình và giàu, trong đó, đất sản xuất nông
nghiệp có N% ở mức trung bình và giàu chiếm
80,29% tổng diện tích đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp có tỷ lệ tương ứng là 69,32% Diện tích
đất có N% ở mức nghèo có 319.991 ha, chiếm
khoảng 25,31% tổng diện tích điều tra, trong
đó tập trung trên đất lâm nghiệp với 177.544
ha, chiếm 55,48%, đất nông nghiệp 71.917 ha,
chiếm 22,47%, còn lại là trên đất sử dụng Sự thiếu hụt nitơ trong đất gây ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cây trồng và chất lượng đất đai, vì vậy trong những thời điểm cần thiết phải tăng cường bổ sung đạm cho đất
3.2.6 Hàm lượng phốt pho tổng số (P 2 O 5 %)
Kết quả xác định hàm lượng P2O5% tầng đất mặt các loại đất của tỉnh thể hiện chi tiết qua bảng 7
Bảng 7 Kết quả xác định hàm lượng phốt pho tổng số của tầng đất mặt
(ha)
Số liệu bảng 7 cho thấy, phần lớn diện tích
tầng đất mặt của tỉnh Sơn La có P2O5% ở mức
giàu (72,16%) và trung bình (21,94%) Trong
đó, đất sản xuất nông nghiệp có P2O5% trong
tầng đất mặt ở mức giàu xuất hiện nhiều trên
đất trồng cây công nghiệp lâu năm, được chăm
sóc tốt với 282.288 ha, chiếm 77,36 tổng diện
tích đất nông nghiệp và 22,33% tổng diện tích
điều tra; đất sản xuất lâm nghiệp có P2O5% ở
mức giàu là 433.143 ha chiếm 74,84% diện
tích đất lâm nghiệp và 34,27% tổng diện tích
điều tra Diện tích có P2O5% ở mức nghèo chiếm tỷ lệ thấp với 5,89% diện tích điều tra, tập trung chủ yếu trên đất lâm nghiệp Hầu hết diện tích đất của tỉnh có hàm lượng P2O5% trong đất phù hợp yêu cầu đối với mục đích sản xuất nông, lâm nghiệp và cơ bản đáp ứng yêu cầu các loại cây trồng hiện tại
3.2.7 Hàm lượng Kali tổng số (K 2 O%)
Kết quả xác định diện tích từ lớp thông tin chuyên đề về hàm lượng K2O% tầng đất mặt thể hiện qua bảng 8
Bảng 8 Kết quả xác định hàm lượng kali tổng số của tầng đất mặt
(ha)
Kết quả xác định K2O% cho thấy, phần lớn
diện tích đất của tỉnh có K2O% tầng đất mặt ở
mức giàu và trung bình là 69,30% diện tích
điều tra Trong đó, diện tích đất sản xuất nông
nghiệp có K2O% tầng đất mặt ở mức giàu
chiếm tới 38,59%, tập trung ở đất trồng cây hàng năm và đất trồng trồng cây công nghiệp lâu năm, được chăm sóc tốt, tỷ lệ này ở đất lâm nghiệp là 39,50% và đất chưa sử dụng chỉ có 32,38% Diện tích đất có K2O% ở mức nghèo
Trang 7chiếm 30,70% diện tích điều tra, tập trung chủ
yếu ở đất nông, lâm nghiệp, nơi xảy ra hiện
tượng rửa trôi kiềm mạnh Vì vậy trong quá
trình sử dụng đất cần tăng cường các biện pháp
kỹ thuật hạn chế tối đa quá trình rửa trôi kiềm
3.2.8 Dung tích hấp thu của đất (CEC –
lđl/100g đất)
Dung tích hấp thu của đất là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trong đánh giá đất, là căn cứ quan trọng đề xây dựng chế độ bón phân, hay thực hiện các biện pháp cải tạo đất Kết quả xác định diện tích các loại đất có dung tích hấp thu ở các mức độ thể hiện chi tiết qua bảng 9
Bảng 9 Kết quả xác định dung tích hấp thu của tầng đất mặt
(ha)
Số liệu bảng 9 cho thấy, diện tích đất của
tỉnh có CEC chủ yếu ở mức trung bình với
60,63% và mức thấp với 36,30% tổng diện tích
điều tra, diện tích có dung tích hấp thu ở mức
cao chiếm tỷ lệ rất thấp với 3,07% tổng diện
tích điều tra Ngoài đặc tính tự nhiên của đất,
việc sử dụng đất không hợp lý có tác động
không nhỏ đến kết cấu và dung tích hấp thu
của đất Đối với đất sản xuất nông nghiệp, diện
tích đất có dung tích hấp thu tầng đất mặt ở
mức thấp chỉ có 17,46%, còn lại là ở mức
trung bình và cao (83,54%), tỷ lệ này tương
ứng ở đất lâm nghiệp là 39,40% và 60,60%
Dung tích hấp thu của đất phụ thuộc rất nhiều
thành phần cơ giới đất, hàm lượng keo đất và
chất hữu cơ trong đất, vì vậy trong quá trình sử
dụng đất cần áp dụng các biện pháp cải thiện thành phần cơ giới đất, tăng hàm lượng keo đất
và chất hữu cơ trong đất như cày lật đất, cày sâu dần, kết hợp bón bùn ao, phù sa và phân hữu cơ cho đất
3.2.9 Tổng hợp đánh giá độ phì nhiêu của đất
Độ phì nhiêu tầng đất mặt tỉnh Sơn La là kết quả chồng xếp, tổng hợp các lớp thông tin chuyên đề thành một lớp dữ liệu độ phì đảm bảo tất cả các khoanh đất điều tra đều có dữ liệu thuộc tính của các chỉ tiêu đã được phân cấp Căn cứ vào kết quả chồng xếp và tổng hợp
đã xác định được diện tích các loại đất có độ phì khác nhau (thể hiện cụ thể qua bảng 10 và hình 1)
Bảng 10 Kết quả xác định độ phì nhiêu của tầng đất mặt
điều tra (ha)
Độ phì thấp Độ phì TB Độ phì cao
Số liệu bảng 10 cho thấy, độ phì nhiêu của
đẩt ở các mức độ khác nhau không có sự chênh
lệch lớn về diện tích Cụ thể:
- Diện tích đất có độ phì ở mức trung bình
là nhiều nhất với 531.325 ha, chiếm 42,03% diện tích điều tra, phân bố trên đất nông nghiệp
là 159.538 ha; đất lâm nghiệp là 204.117 ha và đất chưa sử dụng là 167.669 ha