1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Về dự thảo Luật Kiểm toán độc lập " doc

6 376 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 123,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc kế thừa này cũng còn tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập trong quá trình chuyển đổi từ việc áp dụng các quy định hiện hành sang việc

Trang 1

TS Ph¹m ThÞ Giang Thu * háng 3/2010, Dự thảo Luật kiểm toán

độc lập đã được chính thức đưa ra lấy ý

kiến rộng rãi từ công chúng Ngày 8/4/2010,

Văn phòng Chính phủ phối hợp cùng với

Phòng thương mại và công nghiệp Việt

Nam, Bộ tài chính tổ chức hội thảo, lấy ý

kiến về Dự thảo này Nghiên cứu Dự thảo

Luật kiểm toán độc lập, chúng tôi có một số

ý kiến trao đổi sau đây

1 Nguyên tắc xây dựng Luật

Thứ nhất, Luật kiểm toán độc lập phải

đảm bảo tính kế thừa, tính toàn diện, tính

thực tiễn, tính cụ thể, chi tiết và có khả năng

áp dụng trực tiếp

Cho đến nay, hoạt động kiểm toán độc

lập đã được thực tế điều chỉnh bởi nhiều

văn bản dưới luật, tuy giá trị pháp lí còn

hạn chế nhưng các văn bản hiện hành có

nhiều quy định tốt, phù hợp với thực tiễn

Việt Nam và thông lệ quốc tế Các quy

định liên quan đến tổ chức, thành lập, hoạt

động của các tổ chức kiểm toán độc lập

được quy định khá cụ thể, tuy còn chưa

thực sự đầy đủ Vì vậy, khi xây dựng Dự

thảo Luật này cần tiếp tục kế thừa các quy

định có sẵn nhằm đảm bảo tính khả thi và

tính hợp lí của Dự thảo Luật kiểm toán độc

lập trong bối cảnh Việt Nam đang thực

hiện lộ trình hội nhập quốc tế và cải cách

toàn diện hệ thống pháp lí cho phù hợp với

thông lệ quốc tế Việc kế thừa này cũng

còn tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân

có liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập trong quá trình chuyển đổi từ việc áp dụng các quy định hiện hành sang việc tuân thủ Luật kiểm toán độc lập

Tính toàn diện sẽ được đảm bảo khi nội dung của Luật được ban hành bao gồm toàn bộ những nội dung liên quan đến tổ chức, hoạt động của tổ chức kiểm toán kể

từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi chấm dứt sự tồn tại của loại chủ thể này; đưa ra được các yêu cầu cụ thể cho chủ thể chấp hành và tuân thủ hoạt động kiểm toán độc lập Yêu cầu nêu trên hoàn toàn không có nghĩa Luật kiểm toán độc lập sẽ ghi nhận lại những nội dung đã được ghi nhận tại các văn bản luật khác như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư… để trở thành bộ luật

mà cần tuân thủ mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành

Tính cụ thể sẽ được đảm bảo nếu như Dự thảo Luật có xem xét hệ thống văn bản dưới luật hiện hành và nâng lên thành luật Thực hiện yêu cầu này sẽ giải quyết được tâm lí cho rằng luật Việt Nam luôn chỉ dừng lại ở mức nguyên tắc và không thể áp dụng trực tiếp để giải quyết các vấn đề khúc mắc đặt ra trong thực tiễn

Thứ hai, đảm bảo tính minh bạch trong các nội dung của Luật kiểm toán độc lập

T

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

Không thể phủ nhận rằng hệ thống pháp

luật Việt Nam hiện hành đã thực sự đảm bảo

tính công khai, tuy nhiên, bên cạnh đó, cần

hướng tới thực hiện đầy đủ nội dung của

nguyên tắc minh bạch Điều này có nghĩa là

nội dung cần điều chỉnh được ghi nhận rõ

trong phạm vi điều chỉnh của Luật và tối đa

hoá các quy định cụ thể cần phải thể hiện

trong văn bản này, hạn chế việc quy định

những vấn đề lớn nhưng lại ghi nhận trong

văn bản dưới luật Giải quyết được yêu cầu

của minh bạch hoá còn là cơ sở để thực hiện

tốt nguyên tắc pháp chế và thực hiện đúng

quyền của Quốc hội khi quyết định những

vấn đề lớn của nền kinh tế

Thứ ba, việc ban hành Luật kiểm toán

phải đảm bảo tính khả thi trong quá trình

áp dụng

Với tư cách bộ phận của kiến trúc

thượng tầng, pháp luật quốc gia phải được

xây dựng dựa trên cơ sở điều kiện kinh tế

xã hội của chính quốc gia đó, đây cũng là

một trong các nguyên tắc quan trọng đã

được ghi nhận trong lí luận nhà nước và

pháp luật Vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp

đến việc xây dựng nội dung cụ thể của từng

điều khoản và yêu cầu đặt ra là các điều

khoản đó cần phải có cơ sở thực tế để thực

hiện khi ban hành văn bản luật hoặc nếu

chưa có đủ cơ sở để thực hiện ngay, cần có

tiến độ đảm bảo thực hiện Tất cả những

vấn đề này cần được ghi nhận ngay trong

văn bản Luật Nguyên tắc khả thi có ý nghĩa

quan trọng khi quy định nội dung mới, đặc

biệt là các điều kiện để thành lập và hoạt

động, các chuẩn mực kiểm toán…

Thứ tư, sự phù hợp với cam kết quốc tế Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam thuộc lĩnh vực kiểm toán độc lập là không thể tránh khỏi Để thực hiện các cam kết này, đòi hỏi phải có quá trình nội luật hoá mạnh

mẽ trong đó bao gồm việc đưa các nội dung cam kết quốc tế vào hệ thống pháp luật nói chung và Luật kiểm toán độc lập nói riêng Mặt khác, việc nội luật hoá các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực kiểm toán độc lập cũng phải tính đến những ảnh hưởng của các quy định đối với các tổ chức kiểm toán độc lập trong nước Vì lẽ đó, việc ban hành Luật kiểm toán độc lập không những phải nhằm mục tiêu thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ tài chính mà còn phải đảm bảo khả năng giúp đỡ và hỗ trợ các tổ chức kiểm toán độc lập trong nước cạnh tranh công bằng và bình đẳng với các tổ chức kiểm toán độc lập nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam cũng như trên thị trường quốc tế Ngoài yêu cầu này, khi thực hiện cam kết, xây dựng nội dung quy phạm pháp luật, cần tính tới các nguyên tắc đối xử giữa

tổ chức kiểm toán trong nước với tổ chức kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài (đặc biệt là nguyên tắc đối xử quốc gia); giữa kiểm toán viên trong nước cũng như kiểm toán viên nước ngoài, vấn đề công nhận lẫn nhau trong hoạt động kiểm toán độc lập…

2 Các vấn đề cụ thể

2.1 Có nên quy định các chuẩn mực kiểm toán cụ thể ngay trong luật hay không?

Khái niệm chuẩn mực kiểm toán được ghi nhận tại Điều 5 Dự thảo tuy nhiên còn có

Trang 3

nhiều ý kiến khác nhau về việc chuẩn mực

kiểm toán được quy định ngay trong văn bản

luật hay được quy định trong văn bản dưới

luật hay được công bố tại văn bản không

phải là văn bản pháp luật Về vấn đề này,

chúng tôi cho rằng việc quy định ở đâu còn

phải căn cứ vào giá trị của báo cáo kiểm

toán, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm các

quốc gia Nếu các chuẩn mực kiểm toán

được quy định tại văn bản này hoặc tại văn

bản pháp luật khác, điều đó có ý nghĩa bắt

buộc và có giá trị pháp lí cho các chuẩn mực

Nếu chuẩn mực được ghi nhận bởi văn bản

pháp luật thì nó không thể được ban hành

bởi tổ chức hiệp hội nghề nghiệp Khi các

chuẩn mực kế toán đã có giá trị pháp lí sẽ

kéo theo giá trị pháp lí của báo cáo kiểm

toán Thực tế tại các quốc gia cho phép hoạt

động kiểm toán độc lập, các chuẩn mực kiểm

toán thường do tổ chức hiệp hội kiểm toán

công bố, theo đó báo cáo kiểm toán không

có giá trị pháp lí bắt buộc Dự thảo Luật

kiểm toán độc lập đang đi theo hướng thứ

hai và chúng tôi ủng hộ quan điểm này

2.2 Việc quy định cơ quan nhà nước có

thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động

tại Điều 22 Dự thảo (Bộ tài chính cấp giấy

phép thành lập và hoạt động cho doanh

nghiệp kiểm toán)

Theo quy định hiện hành, việc thành lập

tổ chức kiểm toán không cần xin cấp giấy

phép thành lập và hoạt động mà chỉ tiến

hành đăng kí kinh doanh theo Nghị định

88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng kí

kinh doanh Dự thảo quy định việc thành lập

và hoạt động phải được cấp giấy phép thành

lập và hoạt động bởi Bộ tài chính Chúng tôi

ủng hộ quan điểm này với lí do hoạt động kiểm toán độc lập cung ứng dịch vụ tài chính đặc thù, có mức độ ảnh hưởng rộng rãi đối với các hoạt động kinh tế, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức được kiểm toán và ảnh hưởng đến các giao dịch trên thị trường tài chính tín dụng nên cần có kiểm soát ngay từ ban đầu

sự hình thành của các tổ chức cung cấp dịch

vụ này Điều này hoàn toàn không có nghĩa làm mất đi quyền tự do kinh doanh của các chủ thể có nhu cầu mà chỉ đảm bảo cơ sở để các chủ thể đó thực hiện tốt hoạt động kinh

doanh của mình

2.3 Vấn đề về kiểm toán viên và tiêu

chuẩn kiểm toán viên

- Kiểm toán viên là người trực tiếp thực

hiện hoạt động kiểm toán nên việc xác định điều kiện, tiêu chuẩn hành nghề cho kiểm toán viên là hoàn toàn phù hợp và cần được công bố rõ ràng, cụ thể, tránh sự hiểu lầm sang các chủ thể có chứng chỉ hành nghề kiểm toán độc lập nhưng đang thực hiện hoạt động tại các đơn vị khác không phải với tư cách là kiểm toán viên Thực tế tại các tổ chức tài chính lớn hiện nay như ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán có nhiều cán bộ nhân viên đã từng là kiểm toán viên, thực hiện hoạt động kiểm toán tại các công ti kiểm toán nhưng hiện tại đang tiến hành các công việc khác liên quan đến nghề kế toán, kiểm toán như hoạt động của kiểm toán nội

bộ, hoạt động kế toán tại doanh nghiệp Bên cạnh đó, thiết nghĩ sẽ là hợp lí hơn khi sử dụng các thuật ngữ thống nhất về kiểm toán viên hành nghề trong các điều luật khác nhau

để tránh gây tranh cãi hoặc gây nhầm lẫn

Trang 4

trong quá trình thực thi pháp luật Vấn đề

này có thể nhận thấy tại các Điều 4, Điều 22,

Điều 24, Điều 25 khoản 2

- Vấn đề thành viên của Hiệp hội kiểm

toán: Cũng gắn với tiêu chuẩn của kiểm toán

viên hành nghề, Điều 16, khoản 1, mục đ Dự

thảo có quy định “là hội viên của tổ chức

nghề nghiệp về kiểm toán của Việt Nam”,

theo chúng tôi cần phải cân nhắc hơn Là tổ

chức hiệp hội, cho dù là hiệp hội nghề

nghiệp, việc bắt buộc tham gia với tư cách là

tiêu chuẩn cứng dường như không phù hợp

với nguyên tắc tham gia nhập hội Nếu coi

nghề kiểm toán độc lập cũng có ảnh hưởng

tương tự như nghề luật sư thì có thể áp dụng

phương án tương tự như quy định về điều

kiện hành nghề của luật sư theo Luật luật sư

Tuy nhiên, sẽ không thực sự thỏa đáng vì

liên quan đến hoạt động hành nghề trong

lĩnh vực tài chính còn có hàng loạt các nghề

khác có yêu cầu chuyên môn cao nhưng

không bắt buộc phải trở thành hội viên của

hiệp hội nghề nghiệp đó Các cá nhân được

phép hành nghề kinh doanh chứng khoán

không bắt buộc phải là hội viên của Hiệp hội

kinh doanh chứng khoán là ví dụ cụ thể

Trong trường hợp buộc phải lựa chọn

phương án theo Dự thảo, cần bổ sung thêm

những lợi ích và nghĩa vụ tối đa (về mức

phí) mà kiểm toán viên sẽ thực hiện khi trở

thành hội viên

- Vấn đề kiểm toán viên nước ngoài,

người có chứng chỉ hành nghề kiểm toán

được cấp ở nước ngoài, vấn đề chuyển đổi

và công nhận: Một trong những thực tiễn

pháp lí phát sinh là nhu cầu tham gia cung

ứng dịch vụ kiểm toán và hành nghề kiểm

toán của các tổ chức và cá nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam Theo như những nguyên tắc chung chúng tôi đã đề xuất trong mục 1 - Nguyên tắc xây dựng Luật, sẽ

là cần thiết quy định ngay trong Luật này việc công nhận chứng chỉ kiểm toán viên của các cá nhân cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam nhưng lại không hiện diên tại Việt Nam và quy định việc chuyển đổi chứng chỉ hành nghề cho kiểm toán viên nước ngoài khi họ thực hiện hoạt động kiểm toán tại Việt Nam Tuy nhiên, việc công nhận này là “công nhận có điều kiện” và hình thức thể hiện của sự công nhận cũng

cần được quy định rõ

2.4 Vấn đề được phép hành nghề kiểm toán của đối tượng là cán bộ

Điều 17, khoản 2 Dự thảo đề xuất “cán

bộ, công chức theo quy định của pháp luật

về cán bộ, công chức” không được đăng kí hành nghề kiểm toán độc lập Nếu như trước đây, việc cấm hay hạn chế tham gia hành nghề, trực tiếp đầu tư kinh doanh của cán bộ, công chức tương đối rộng thì hiện nay đang

có xu hướng giảm dần đối tượng cấm (chỉ cấm đối với công chức và sĩ quan, người đang thuộc lực lượng vũ trang) Bên cạnh

đó, khái niệm “cán bộ” thực tế rất rộng, sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau, được sử dụng mang tính phổ biến ngay tại các doanh nghiệp Vì vậy, chúng tôi cho rằng có thể cân nhắc để đi theo hướng quy định chỉ cấm công chức, người thuộc lực lượng vũ trang không được đăng kí hành nghề kiểm toán độc lập Việc chỉ quy định cấm đối với nhóm chủ thể này sẽ mở ra cơ hội cho thị trường kiểm toán độc lập của

Trang 5

Việt Nam thêm một lực lượng cá nhân có

trình độ chất lượng cao, có thể cung cấp dịch

vụ này tại Việt Nam, tăng sức cạnh tranh

giữa kiểm toán viên trong nước với kiểm

toán viên có yếu tố nước ngoài

2.5 Về tổ chức hiệp hội nghề nghiêp

Hiệp hội kiểm toán độc lập là tổ chức

kiểm toán mang tính phổ biến ở các quốc

gia, trong đó có Việt Nam, vì vậy sự tồn tại

của tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán ở Việt

Nam (hiện nay là Hội kiểm toán viên hành

nghề) là khách quan Điều này lí giải việc

xác định rõ vai trò của tổ chức hiệp hội trong

hoạt động kiểm toán tại Luật kiểm toán độc

lập là cần thiết Tuy nhiên, với tính chất là tổ

chức xã hội nghề nghiệp, việc thực thi các

hoạt động mang tính chất quản lí nhà nước

không thể gán cho chủ thể này Nếu thống

nhất theo nguyên tắc đó, việc cân nhắc quy

định công việc (quyền hạn) của tổ chức này

tại Điều 11 Dự thảo cũng phải thể hiện yêu

cầu nêu trên

2.6 Về tổ chức kiểm toán

Liên quan đến tổ chức kiểm toán – chủ

thể quan trọng và chủ yếu cần điều chỉnh

trong Luật kiểm toán độc lập, chúng tôi

muốn chia sẻ thêm một số ý kiến liên quan

đến điều kiện thành lập doanh nghiệp kiểm

toán, việc công bố giấy phép thành lập, việc

thu hồi giấy phép và xử lí trong trường hợp

tổ chức kiểm toán buộc phải dừng hoạt động

và xử lí rủi ro nghề nghiệp

- Về điều kiện thành lập tổ chức kiểm

toán, tại mục Mục c khoản 1 quy định chưa

rõ Quy định “5 kiểm toán viên có thời gian

thực tế làm kiểm toán ở doanh nghiệp kiểm

toán từ đủ 36 tháng trở lên” có nhiều điểm

cần phải làm rõ Thứ nhất, quy định này có

đồng nghĩa với kiểm toán viên hành nghề

hay không? Thứ hai, yêu cầu về đủ 36 tháng

có đặt ra tính liên tục hay không hay chỉ là

số thời gian cộng dồn? Thời gian này có gắn trực tiếp với hoạt động kiểm toán hay có thể bao gồm những công việc khác Những nội dung trên không được làm rõ Bên cạnh đó,

số lượng kiểm toán viên theo Dự thảo cũng cần được cân nhắc Hiện nay các doanh nghiệp kiểm toán chỉ cần có ba kiểm toán viên hành nghề, việc tăng số kiểm toán viên cần được xem xét và có lộ trình thực hiện, quy định ngay trong Luật Đây cũng chính là một trong những yêu cầu tính khả thi của Luật kiểm toán độc lập

- Việc công bố giấy phép thành lập tại Điều 28 “trong 10 ngày kể từ ngày được cấp giấy phép” cũng có thể cần xem xét thêm để

có sự tương đồng với yêu cầu công bố của các tổ chức tài chính khác Chẳng hạn như Luật tổ chức tín dụng không quy định trong văn bản này về thời hạn tối thiểu phải công

bố mà chỉ quy định thời hạn tối đa tổ chức tín dụng phải thực hiện hoạt động ngân hàng; Luật chứng khoán (tại Điều 66) lại quy định việc công bố giấy phép phải được tiến hành trong thời hạn 7 ngày…

- Về việc thu hồi giấy phép thành lập

và hoạt động tại Điều 32 cũng còn những quy định chưa rõ ràng Theo quy định này việc xác định doanh nghiệp kiểm toán không đủ điều kiện thành lập và hoạt động

sẽ là cơ sở để đình chỉ, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng nếu trong giai đoạn chuẩn bị thành lập, các điều kiện không đạt được sẽ

Trang 6

không thể được cấp giấy phép Phải chăng

Dự luật tính đến phương án trong quá trình

hoạt động, các tổ chức này không duy trì

được các điều kiện trên? Nếu vậy, cần quy

định lại cho rõ

- Gắn với Điều 32 khoản 3 quy định về

trường hợp thu hồi giấy phép cần cân nhắc

quy định xử lí đối với hoạt động/hợp đồng

chưa thể chấm dứt Theo đó, doanh nghiệp

kiểm toán khi bị thu hồi giấy phép, phải

chấm dứt ngay mọi hoạt động Quy định này

khó có thể đảm bảo được quyền lợi của đơn

vị được kiểm toán và cũng mâu thuẫn với

khoản 2 Điều 41 Thiết nghĩ, Luật kiểm toán

độc lập cần quy định cụ thể hơn về trường

hợp này Trong trường hợp tương tự, tại Luật

kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Nghị định

số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 đã quy

định khá cụ thể về trường hợp chuyển giao

hợp đồng bảo hiểm

- Vấn đề mua bảo hiểm nghề nghiệp và

trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp

cũng cần quan tâm Điều 34 khoản 4 có nêu:

doanh nghiệp kiểm toán phải mua bảo hiểm

nghề nghiệp hoặc trích lập quĩ dự phòng rủi

ro nghề nghiệp Quy định như vậy, quyền lợi

của người bị thiệt hại sẽ không được bảo

đảm Nếu doanh nghiệp chọn phương án

trích lập quĩ dự phòng ngay từ khi mới thành

lập, mức trích sẽ rất hạn chế, không đủ khả

năng bồi thường thiệt hại Sẽ là phù hợp hơn

khi pháp luật quy định trong thời gian mới

thành lập, các doanh nghiệp bắt buộc mua

bảo hiểm nghề nghiệp; khi đủ điều kiện

(theo báo cáo tài chính) doanh nghiệp sẽ

được lựa chọn một trong hai phương án như

dự thảo đề ra

2.7 Đơn vị được kiểm toán

Điều 44 quy định về đơn vị được kiểm toán có xác định 3 nhóm chủ thể bắt buộc

“được” kiểm toán, trong đó có “doanh nghiệp nhà nước”, theo chúng tôi cần đưa vào Dự thảo này cho phù hợp Theo quy định hiện hành ngày 1/7/2010 Luật doanh nghiệp nhà nước sẽ hết hiệu lực, các doanh nghiệp nhà nước sẽ buộc phải chuyển đổi sang hình thức doanh nghiệp phù hợp Trong khi đó, nếu Luật kiểm toán độc lập được ban hành trong năm 2011, liệu còn nhóm chủ thể

là doanh nghiệp nhà nước không, có lẽ chúng ta cần cân nhắc thêm

2.8 Đơn vị có lợi ích công chúng

Thực chất vấn đề kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp công chúng cũng thể hiện đơn vị có lợi ích công chúng nằm trong diện “được” kiểm toán bắt buộc Điều

62 quy định về tổ chức tài chính bên cạnh việc xác định nhóm chung, còn liệt kê hàng loạt các loại tổ chức tài chính khác, câu hỏi đặt ra có thể là: vậy còn loại nào khác ngoài những trường hợp được nêu không, vì vậy nên cân nhắc để quy định rõ ràng hơn Cũng tại điều này còn quy định tổ chức phát hành nằm trong diện là đơn vị công chúng, tuy nhiên đây là khái niệm rất rộng, không thực

sự phù hợp vì tổ chức phát hành có thể là phát hành ra công chúng hoặc riêng lẻ Trường hợp đối với tổ chức phát hành riêng

lẻ, chúng tôi cho rằng không bắt buộc phải kiểm toán độc lập Đề xuất này của chúng tôi cũng hoàn toàn phù hợp với Điều 44 khoản 4 Dự thảo./

Ngày đăng: 01/04/2014, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm