1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Suy nghĩ về dự thảo luật di sản văn hoá" pdf

8 556 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 96,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo chúng tôi, định nghĩa trên của Dự thảo thể hiện sự cố gắng của người soạn thảo trong việc làm rõ đối tượng bảo vệ của Luật di sản văn hoá.. Nếu chúng ta tìm cách chuẩn hoá khái niệm

Trang 1

Tạp chí luật học - 57

suy nghĩ về

dự thảo Luật di sản văn hoá(1)

PGS.TS Lê Hồng Hạnh *

ảo vệ di sản văn hoá của dân tộc là một

trong những yêu cầu cấp bách của Nhà

nước và nhân dân ta hiện nay Việc chuyển

sang cơ chế kinh tế thị trường đ- mang lại

cho đất nước ta những thành tựu to lớn trong

nhiều mặt song cũng mang lại không ít những

tác động tiêu cực mà đặc biệt là sự huỷ hoại

về môi trường, huỷ hoại những di sản văn hoá

của dân tộc Những giá trị tiền tệ và vật chất

khác mất đi có thể lấy lại được còn những giá

trị tinh thần, những di sản văn hoá khi đ- bị

xâm hại hoặc bị đánh cắp thì sẽ khó có khả

năng phục hồi hoặc tìm lại được Vì vậy, bảo

vệ các di sản văn hoá tinh thần và vật thể cần

phải được nhìn nhận một cách đúng đắn, dù

muộn song cũng phải cần tìm mọi biện pháp

bảo vệ những di sản văn hoá còn lại cho

muôn đời sau Với suy nghĩ như vậy, chúng

tôi cho rằng việc xây dựng và ban hành Luật

di sản văn hoá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Quản lí nhà nước, quản lí x- hội không thể

thiếu pháp luật Nếu không sử dụng tối đa

công cụ pháp luật thì việc bảo vệ các di sản

văn hoá không đạt được hiệu quả mong

muốn Tính giáo dục cũng như tính cưỡng chế

nghiêm khắc của pháp luật sẽ tác động mạnh

đến hành vi, cách xử sự của công dân, tổ chức

trước những di sản văn hoá Đất nước chúng

ta chắc không có những phần tử cực đoan chủ

trương huỷ diệt di sản văn hoá nhân loại song

cũng không thiếu những người do kém cỏi về

ý thức hay về văn hoá đ- huỷ hoại nhiều giá trị văn hoá mà cha ông ta đ- để lại

Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ các di sản văn hoá là cực kì to lớn Tuy nhiên, giá trị hiện thực và hiệu lực của Luật di sản văn hóa phụ thuộc rất nhiều vào nội dung của Luật Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập một số vấn đề lí luận về những phạm trù pháp lí được nêu ra trong Dự thảo Luật di sản văn hoá (sau đây gọi tắt là Dự thảo)

1 Về một số khái niệm được sử dụng trong Dự thảo Luật di sản văn hoá

Đối tượng điều chỉnh của Luật di sản văn hoá là các quan hệ x- hội phát sinh xung quanh việc sở hữu, chuyển nhượng, mua bán, thừa kế và quản lí các di sản văn hoá Vì vậy, việc xác định rõ thế nào là di sản văn hoá có

ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với nội hàm của Luật này Do đó, một trong những yêu cầu đặt ra là phải làm rõ thế nào là di sản văn hoá, những tiêu chí cụ thể để xác định một giá trị vật chất hay phi vật chất là di sản văn

thảo Dự thảo Luật di sản văn hoá đ- tìm cách

định nghĩa di sản văn hoá Điều 1 Dự thảo quy định: “Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và văn hoá vật thể là các

B

* Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

sản phẩm tinh thần và vật chất do con người

và thiên nhiên tạo ra trong quá khứ có giá trị

về lịch sử, văn hoá và khoa học đang tồn tại

trên l,nh thổ nước cộng hoà XHCN Việt

Nam” Theo chúng tôi, định nghĩa trên của

Dự thảo thể hiện sự cố gắng của người soạn

thảo trong việc làm rõ đối tượng bảo vệ của

Luật di sản văn hoá Định nghĩa này kết hợp

hai phạm trù văn hoá và di sản Văn hoá là

khái niệm rất rộng, nội hàm của nó vượt xa

những hiểu biết của đa số nhân dân và cán bộ

nước ta Từ trước đến nay đ- có hàng trăm

định nghĩa về văn hóa và Chủ tịch Hồ Chí

Minh đ- định nghĩa văn hóa như sau: “Vì lẽ

sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài

người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn

ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,

tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ cho sinh

hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương

thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và

phát minh đó tức là văn hoá”

Như vậy, văn hoá là bất cứ sản phẩm nào

do con người tạo ra, có giá trị đối với cộng

đồng và được cộng đồng chấp nhận như là

thực tại khách quan Định nghĩa của Dự thảo

cũng kế thừa phần nào quan điểm của Chủ

tịch Hồ Chí Minh về văn hoá Các nhà soạn

thảo cũng đ- sử dụng đúng phạm trù di sản

với tư cách là những gì được tạo ra trong quá

khứ và truyền lại cho đời sau Xét ở những

khía cạnh khoa học nhất định thì định nghĩa

của Dự thảo về di sản văn hoá có phần đúng

Tuy nhiên, nếu coi văn hoá là "thiên nhiên

thứ hai", tức là thiên nhiên đặc biệt do con

người tạo ra thì định nghĩa di sản văn hoá bao

gồm cả những gì tự nhiên tạo ra mà không

gắn cho nó một tiêu chí gì khác nữa chắc

chắn sẽ không phù hợp với cách hiểu về văn

hoá hiện nay Mặt khác, khi biến khái niệm di sản văn hoá thành phạm trù pháp lí, tức là biến nó thành đối tượng bảo vệ của pháp luật thì khái niệm di sản văn hoá này cần được làm rõ thêm Nói cách khác là cần đưa ra những tiêu chí nhất định cho khái niệm di sản văn hoá Đây là vấn đề quan trọng không chỉ đối với việc áp dụng pháp luật sau này mà

đối với cả sự phát triển của luật học Chúng tôi xin nêu ra đây một vài minh hoạ để chứng minh cho sự cần thiết phải làm rõ nội hàm của khái niệm di sản văn hoá Ví dụ, phần mềm tiếng Việt ABC được tạo ra cách đây 10 năm Phần mềm này có giá trị khoa học, thực tiễn lớn và đ- được cộng đồng chấp nhận, Nhà nước ta cũng công nhận đây là phần mềm thống nhất cho việc xử lí văn bản trong toàn quốc Theo định nghĩa của Dự thảo thì phần mềm ABC có được coi là di sản văn hoá không? Nếu xét theo những tiêu chí của Dự thảo thì phần mềm ABC này hội đủ điều kiện

để có thể được coi là di sản văn hoá Thứ nhất, nó là sản phẩm phi vật thể được con người tạo ra; thứ hai, nó được tạo ra trong quá khứ; thứ ba, nó có giá trị và được cộng đồng chấp nhận Ví dụ trên đây cho chúng ta hệ quả sau: Nếu coi phần mềm này là di sản văn hoá thì nó sẽ thuộc đối tượng bảo vệ của Luật

di sản văn hoá Nếu coi nó là bản quyền thì

nó sẽ thuộc đối tượng bảo vệ của luật về sở hữu trí tuệ mà cụ thể là của Bộ luật dân sự và các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đ- kí kết Cách tiếp cận, phương thức bảo vệ sẽ rất khác nhau đối với phần mềm ABC nếu như chúng ta coi nó là di sản văn hoá hay là bản quyền Tương tự như vậy

có thể nói về những sáng tác của cố nhạc sĩ Văn Cao, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Những sáng tác của họ được bảo hộ về bản quyền 50

Trang 3

năm sau khi nhạc sĩ mất Mười hay hai mươi

năm nữa chúng ta có thể coi đó là di sản văn

hoá được không?

Một thực tế khác khá phổ biến mà chúng

ta cần phải cân nhắc khi định nghĩa về di sản

văn hoá, đó là những giá trị văn hóa dân gian

Hiểu như thế nào đây về di sản văn hoá phi

vật thể để thực hiện việc bảo vệ nó Nếu

những câu ca dao chỉ ghi trong trí nhớ, trong

tiềm thức của các nghệ nhân, của quần chúng

thì liệu có thể xác định được sự vi phạm

không Nếu có hành vi xâm hại đến nhân

phẩm, tính mạng của nghệ nhân thì hành vi

này đ- thuộc phạm vi của luật hình sự Việc

phá hủy những bộ sưu tập các câu ca dao,

truyện cổ tích do các nhà văn hoá dân gian

ngày nay đang thực hiện có bị coi là hành vi

xâm hại di sản văn hóa không Bản thân việc

xâm hại này không làm biến mất các câu ca

dao, các truyện cổ tích vì chúng vẫn đang

nằm trong trí nhớ của các nghệ nhân, của

quần chúng Nhiều quốc gia trên thế giới

đang tìm cách bảo hộ bản quyền đối với các

tác phẩm văn học dân gian song họ cũng

đang gặp nhiều khó khăn khi phải trả lời các

vấn đề cụ thể Nếu chúng ta tìm cách chuẩn

hoá khái niệm văn hoá phi vật thể trong Luật

di sản văn hoá và tạo ra được sự bảo vệ có

hiệu quả đối với những giá trị văn hoá phi vật

thể này thì đó sẽ là thành công rất lớn của

hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước

ta

Một khía cạnh khác cần bàn về định

nghĩa di sản văn hoá là sự khác nhau giữa di

sản văn hoá và di sản thiên nhiên Di sản

thiên nhiên rõ ràng là do thiên nhiên tạo ra,

có chứa đựng những giá trị khoa học, giá trị

thẩm mĩ, giá trị kinh tế đối với cộng đồng

Rừng Cúc Phương sở dĩ được coi là di sản

thiên nhiên vì nó hàm chứa trong đó những

giá trị khoa học và kinh tế to lớn đối với đất nước ta và thế giới Như vậy, theo định nghĩa của Dự thảo thì hầu như không có sự phân biệt giữa di sản văn hóa và di sản thiên nhiên Rừng Cúc Phương được thiên nhiên tạo ra trong quá khứ, có giá trị thẩm mĩ và đang tồn tại trên l-nh thổ CHXHCN Việt Nam Theo

định nghĩa của Dự thảo thì giữa di sản thiên nhiên và di sản văn hoá sẽ không có khoảng cách vì bất cứ những gì do con người và thiên nhiên tạo nên, có giá trị khoa học đều là di sản văn hoá Trong lúc đó, Công ước của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa và di sản thiên nhiên phân biệt rất rõ hai loại di sản này trong hai định nghĩa khác nhau ở Điều 1 và

Điều 2 Công ước định nghĩa di sản văn hoá như sau:

“Những gì dưới đây sẽ được coi là di sản văn hoá:

Các tượng đài: Các tác phẩm kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc và hội hoạ, các yếu

tố hoặc kết cấu mang bản chất khảo cổ, các bia khắc, các hang động nguyên thuỷ và các

tổ hợp những yếu tố có giá trị quốc tế nổi bật

về lịch sử, nghệ thuật và khoa học;

Nhóm công trình: Nhóm các công trình

độc lập hoặc công trình liên kết với nhau mà

do bản chất kiến trúc hay do tính thống nhất của chúng hoặc vị trí của chúng trong toàn

bộ cảnh quan nên có giá trị quốc tế nổi bật

Danh thắng: Các tác phẩm của con người hoặc các tác phẩm kết hợp của con người và thiên nhiên, những khu vực, kể cả khu vực khảo cổ, có giá trị quốc tế nổi bật xét từ góc

độ lịch sử, thẩm mĩ, dân tộc học và nhân chủng học”

Như vậy, Điều 1 Công ước nêu rõ di sản văn hoá là những gì do con người tạo nên có

Trang 4

giá trị quốc tế nổi bật về phương diện lịch sử,

nghệ thuật hay khoa học Yếu tố sáng tạo của

con người được coi là tiêu chí cơ bản phân

biệt giữa di sản văn hoá và di sản thiên nhiên

Ngay cả khi liệt kê một số cấu trúc tự nhiên

thì Công ước cũng gắn nó với sự sáng tạo của

con người: Hang động nguyên thuỷ (cave

dwellings), các sản phẩm kết hợp của con

người và thiên nhiên (combined works of man

and nature) Cần lưu ý rằng Công ước nêu

trên là bộ phận cấu thành của pháp luật Việt

Nam vì Việt Nam đ- phê chuẩn nó Chính vì

vậy, khi đưa ra định nghĩa về di sản văn hoá,

chúng ta cần phải chú ý tới định nghĩa này

của Công ước Dự thảo nên sử dụng định

nghĩa của Công ước và sự khác biệt chỉ dừng

ở phạm vi giá trị, tức là một bên có giá trị

toàn cầu, một bên có giá trị quốc gia

Vấn đề nữa cần xem xét là phạm vi có

hiệu lực của Luật di sản văn hoá Pháp luật

quốc gia thông thường chỉ có hiệu lực trong

phạm vi l-nh thổ của mình Tuy nhiên, quyền

sở hữu thì không bị giới hạn bởi ranh giới

quốc gia Chính vì lẽ này mà khi máy bay hay

tàu thuỷ của quốc gia này bị bắt cóc đưa sang

quốc gia khác thì những tài sản đó vẫn thuộc

sở hữu của quốc gia bị mất Quốc gia nơi

những tài sản này được đưa tới có nghĩa vụ

phải trả lại cho quốc gia bị mất Thông lệ

quốc tế này được áp dụng với các cổ vật của

quốc gia bị mất cắp hoặc bị chiếm đoạt trái

phép Phải thừa nhận rằng đất nước ta đ- bị

mất nhiều giá trị văn hoá vật thể, nhiều cổ vật

của đất nước bây giờ nếu chúng ta muốn xem

thì phải đến bảo tàng hoặc đến các phòng sưu

tập của cá nhân ở các nước khác Không ít

trong số những cổ vật này bị chiếm đoạt trái

phép, bị đánh cắp Đối với những tài sản như

vậy thì quyền sở hữu của Nhà nước ta có lẽ

chỉ không dừng bởi l-nh thổ Việt Nam Vì

thế theo chúng tôi, trong định nghĩa về di sản văn hoá mà Dự thảo đưa ra cần cân nhắc và làm rõ chi tiết này Điều cần cân nhắc ở đây

là sự khẳng định chủ quyền của quốc gia đối với giá trị văn hoá bị chiếm đoạt trái phép cho

dù chúng ở trên l-nh thổ nào Phạm vi của Luật di sản văn hóa cần mở rộng tới các giá trị văn hoá vật thể bị chiếm đoạt và đưa ra khỏi l-nh thổ Việt Nam một cách trái phép Khẳng định phạm vi bảo vệ của Luật đối với những giá trị văn hoá bị chiếm đoạt trái phép

và hiện đang ở bên ngoài l-nh thổ Việt Nam

là điều rất cần để trong tương lai chúng ta tìm cách thu hồi cho kho tàng di sản văn hoá của dân tộc

Bên cạnh việc đưa ra định nghĩa về di sản văn hoá, Dự thảo còn đưa ra một số định nghĩa về các đối tượng cụ thể của di sản văn hoá như di sản văn hoá phi vật thể, di sản văn hoá vật thể, cổ vật, di vật, cảnh quan thiên nhiên - văn hoá, di tích lịch sử, bảo vật quốc gia Theo chúng tôi, các đối tượng cụ thể của di sản văn hoá phải hàm chứa những điều kiện, những tiêu chí chung của di sản văn hoá Tuy nhiên, nhiều định nghĩa trong Dự thảo chưa thoả m-n những điều kiện như vậy Chẳng hạn, định nghĩa về di vật trong Dự thảo được nêu như sau: “Di vật là đồ vật, tài liệu hình ảnh có giá trị lịch sử, văn hoá và khoa học” Theo quy định của Bộ luật dân sự,

di vật, di cảo được hiểu là vật hay tác phẩm của người đ- chết để lại Nó có thể có giá trị văn hoá, lịch sử và cũng có thể không có những giá trị như vậy Nhiều khi chúng chỉ có giá trị riêng tư, gắn liền với kỉ niệm giữa người đ- chết và người đang sống, ví dụ, nắm tóc thề, chiếc khăn thêu hay chiếc nhẫn cưới Những di vật như thế này chắc không mang giá trị văn hoá, lịch sử nếu như chúng không gắn với nhân vật lịch sử kiệt xuất nào

Trang 5

đó Nếu khái niệm di vật được định nghĩa như

trong Dự thảo thì Luật di sản văn hoá sẽ có

đối tượng bảo vệ quá rộng Nên chăng Dự

thảo gọi là di vật văn hoá vì như thế nó mới

phù hợp với nội dung và những tiêu chí của

khái niệm di sản văn hoá

Khái niệm bảo vật quốc gia, khái niệm cổ

vật trong Dự thảo cũng cần được nghiên cứu

để làm rõ hơn Tiêu chí của cổ vật, của bảo

vật quốc gia là gì, giữa cổ vật và bảo vật quốc

gia có những gì khác nhau và sự phân biệt

giữa chúng nên dựa theo tiêu chí nào? Giá trị

thời gian, giá trị văn hoá, lịch sử hay chính

trị?

Trong Dự thảo, cổ vật được định nghĩa

như sau: “Cổ vật là di vật có giá trị tiêu biểu

về lịch sử, văn hoá và khoa học có từ 100 tuổi

trở lên” Định nghĩa này chưa cung cấp được

khái niệm đầy đủ về cổ vật Cổ vật là di vật

của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau Đó là

tiêu chí thứ nhất Tuy nhiên, di vật đó có hội

đủ ba giá trị là văn hoá, lịch sử và khoa học

để trở thành di sản văn hoá hay không là điều

mà định nghĩa này chưa làm rõ được Điều

này không chỉ là câu chữ mà chính là thuộc

đối tượng bảo vệ của Luật di sản văn hóa

Trứng khủng long được tìm thấy trong hang

động chắc khó có thể coi là di sản văn hoá

mặc dù nó rất có ý nghĩa đối với sinh học

trong việc xác định sự phát triển của sinh vật,

của sự sống trên trái đất Khái niệm bảo vật

quốc gia cũng có những điểm cần được xác

định rõ hơn Dự thảo định nghĩa “bảo vật

quốc gia là di vật có giá trị đặc biệt quý hiếm

về lịch sử, văn hoá và khoa học” Kể cả

những người soạn thảo Dự luật này lẫn những

nhà chuyên môn đều khó có thể trả lời một

cách chắc chắn rằng vật nào đó có phải là bảo

vật quốc gia hay không nếu dựa vào định

nghĩa kể trên Chùa Một Cột là bảo vật quốc gia hay là danh thắng quốc gia? Tượng Quan Thánh là bảo vật quốc gia hay cổ vật? Nếu

Dự thảo không đưa ra được định nghĩa pháp lí chuẩn xác, dễ hiểu và dễ xác định thì trong tương lai những người thực hiện Luật di sản văn hóa sẽ xử lí như thế nào khi đối mặt với các cổ vật Đương nhiên, khi xác định cổ vật phải dựa vào những nhà giám định chuyên môn Tuy nhiên, nhà giám định chuyên môn chỉ có thể trả lời chúng ta về niên đại, về giá trị của cổ vật còn có coi nó là bảo vật quốc gia hay không thì cần phải dựa vào các quy

định của pháp luật

Cần làm rõ hơn nội dung và hình thức của các di sản văn hoá phi vật thể Ví dụ, tảng đá ghi chữ Nam sơn đệ nhất động ở chùa Hương

là di sản phi vật thể hay là di sản vật thể, vì xét về nội dung thì đó là câu nói nổi tiếng của một vị vua được nhân dân tạc vào đá Giá trị

ở đây là câu nói hay là tảng đá ghi câu nói đó Tương tự như vậy là những bài văn, bài hịch của cha ông ta Nếu xét ở khía cạnh nào đó thì những bài văn, bài hịch đó được coi là phi vật thể vì chúng được Nguyễn Tr-i, Trần Hưng Đạo hay cha ông chúng ta sáng tác Tuy nhiên, nội dung những bài hịch, bài văn

đó nếu in trên những trang giấy của Nhà máy giấy B-i Bằng, bằng máy in lade thì chắc không ai coi cuốn sách chứa đựng những bài hịch này là di sản văn hoá mà chỉ coi nội dung trong đó là di sản văn hoá phi vật thể Nếu bài hịch này được Nguyễn Tr-i tự tay chép hoặc được những người cùng thời với

ông chép lại trên tấm lụa hay trên tờ giấy thì tấm lụa, tờ giấy này chắc chắn được coi là di sản văn hoá vật thể Đó chính là điều cần làm

rõ một cách tối đa trong Dự thảo, Điều 20 Dự thảo cũng có đề cập vấn đề này song chưa rõ

Trang 6

Hơn nữa, Điều 20 Dự thảo quy định các giá

trị văn hoá phi vật thể được thể hiện bằng các

sản phẩm công nghệ truyền thống được bảo

vệ như những di sản văn hoá vật thể Quy

định này theo tôi là không thực tế và sẽ là sự

hạn chế đối với quá trình phổ biến, lưu hành

các giá trị di sản văn hoá phi vật thể

Tóm lại, những gì trình bày ở trên cho

thấy khái niệm di sản văn hóa và các biến

dạng cụ thể của nó chưa được định nghĩa một

cách chính xác để xác định đối tượng bảo vệ

của Luật di sản văn hoá sau này Chúng tôi

xin nêu những vấn đề như vậy để các nhà

soạn thảo và các nhà nghiên cứu xem xét Giá

trị thực tiễn của đạo luật là ở chỗ các quy

định của nó được hiểu đúng, các đối tượng nó

cần bảo vệ được bảo vệ một cách có hiệu quả

Muốn như vậy đối tượng đó phải được xác

định rõ nếu không bằng phương pháp khái

quát trong các định nghĩa chuẩn thì bằng

phương pháp liệt kê

2 Về cách tiếp cận của Dự thảo Luật di

sản văn hóa

Việc xây dựng Luật di sản văn hoá xuất

phát từ những yêu cầu bức xúc, đó là tình

trạng các di sản văn hoá bị xâm hại, chùa

chiền, đền thờ bị phá, lăng tẩm của các danh

nhân bị đào bới bởi những kẻ truy tìm cổ vật

bất hợp pháp Những tệ nạn này trong nền

kinh tế thị trường đang ngày càng lan rộng,

chứa đựng nguy cơ hủy hoại nghiêm trọng

nền văn hoá dân tộc Muốn ngăn chặn có hiệu

quả tình trạng này thì cần phải có luật và luật

này phải có hiệu lực Tuy nhiên, như nêu ở

trên, để nâng cao hiệu lực của văn bản luật thì

trước hết cần phải xác định rõ đối tượng tác

động, đưa ra được những quy tắc định hướng

hành vi chủ thể và hệ thống các chế tài đủ

nghiêm khắc để cho những quy định này

được chủ thể pháp luật tuân thủ Với tinh thần

đó chúng tôi suy nghĩ rằng cần có cách tiếp cận thực tế hơn nữa đối với việc bảo vệ các di sản văn hoá Theo chúng tôi, việc xây dựng Luật di sản văn hóa cần phải theo một số định hướng sau đây:

- Dự thảo cần tập trung vào việc bảo vệ những di sản văn hoá vật thể đang bị xâm hại

Đây chính là cách tiếp cận của UNESCO và

hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia Sự xâm hại các giá trị văn hoá vật thể dễ diễn ra,

dễ nghiêm trọng hơn vì các giá trị văn hoá vật thể này mang lại tiền bạc và sự giàu có cho kẻ xâm hại lớn hơn Để làm việc này cần xác

định rõ thế nào là di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, kể cả việc liệt kê những thể loại chính Bộ luật dân sự đ- liệt kê không ít các

đối tượng của sở hữu trí tuệ cần được pháp luật bảo hộ Công ước về bảo vệ di sản văn hoá và di sản thiên nhiên được thông qua tại

Đại hội đồng UNESCO ngày 16/11/1972 cũng đ- sử dụng phương pháp liệt kê các di sản văn hoá, bởi vì sự đa dạng của chúng không cho phép có thể khái quát trong một

định nghĩa đơn giản

- Phải xác định được những hành vi bị cấm hay được khuyến khích để đưa vào Dự thảo Những hành vi bị cấm hay được phép nếu được quy định cụ thể trong Luật di sản văn hoá sau này thì tính khả thi và giá trị của Luật sẽ cao hơn vì chính những quy định như vậy làm tăng khả năng điều chỉnh hành vi của Luật Như chúng tôi đ- từng nhấn mạnh điều khác nhau cơ bản giữa pháp luật và chính sách chính là tính chất định hướng hành vi trong các quy định pháp luật Theo chúng tôi, những người dự thảo Luật di sản văn hoá hoàn toàn có thể đạt được mức quy phạm hoá Luật này ở mức mà Bộ luật dân sự hay Bộ luật hình sự đ- đạt được

Trang 7

- Dự thảo cần quy định rõ thời hạn thực

hiện các nghĩa vụ của chủ thể trong việc bảo

vệ và phát huy di sản văn hoá Chúng ta đ-

biết nhiều trường hợp khi cơ quan có thẩm

quyền can thiệp thì di sản văn hoá cần được

bảo vệ hoặc đ- bị huỷ hoại hoặc đ- bị thất

thoát một cách đáng tiếc Điều mà hiện nay

nhiều lĩnh vực pháp luật của nước ta ít chú

trọng đến thời hạn thực hiện các nghĩa vụ luật

định Ví dụ, khoản 2 Điều 29 Dự thảo quy

định: "UBND địa phương hoặc cơ quan quản

lí nhà nước có thẩm quyền về văn hoá khi

nhận được thông báo về di tích bị huỷ hoại

hoặc có nguy cơ bị huỷ hoại phải kịp thời áp

dụng các biện pháp bảo vệ và báo cáo kịp

thời lên cơ quan cấp trên trực tiếp" Quy định

mang tính định tính này không ngăn chặn

được tệ nạn quan liêu của nhiều cán bộ có

trách nhiệm, nhất là khi ý thức của họ về bảo

vệ di sản văn hoá đang còn rất thấp Sự chậm

trễ của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ

các di vật khảo cổ mộ thuyền cho chúng ta

một ví dụ khá rõ nét Vì vậy, theo chúng tôi,

nhất thiết phải quy định thời hạn cho các chủ

thể thực hiện nghĩa vụ bảo vệ di sản văn hoá

- Luật di sản văn hoá cần được cấu trúc để

tránh sự trùng lặp không cần thiết Nhìn vào

Dự thảo, chúng ta thấy rõ dấu ấn của quy

trình soạn thảo rất khuôn mẫu Dự thảo bao

gồm một số chương, một số quy định mà

chúng ta có thể tìm thấy ở bất cứ văn bản luật

nào, trừ một số bộ luật có mức độ hoàn thiện

cao như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, chỉ

khác ở chỗ thay đổi tên gọi mà thôi Ví dụ

như các chương quản lí nhà nước, thanh tra,

giải quyết khiếu nại, khen thưởng, xử lí vi

phạm Theo chúng tôi, các chương này dễ

dẫn tới sự trùng lặp và mâu thuẫn Chẳng hạn

như thanh tra di sản văn hoá sẽ được hiểu như

thế nào và vai trò của nó trong hệ thống thanh

tra chung và thanh tra chuyên ngành văn hoá

được xác định ra sao để tránh tình trạng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chúng bị chồng chéo, mâu thuẫn Mặt khác, nhiều chương trong Dự thảo (ví dụ chương II và các chương III, IV có nhiều điểm trùng nhau; Chương II về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hoá Chương III quy định về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể; Chương IV về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể) Vì giá trị di sản văn hoá vật thể và giá trị di sản văn hoá phi vật thể đều là những giá trị di sản văn hoá nên những quyền và nghĩa vụ quy định ở chương II không thể không liên quan đối với việc bảo vệ các đối tượng nêu ở chương III,

IV

- Cần xây dựng Luật di sản văn hoá trong mối liên hệ với Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác, đặc biệt là các văn bản pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Ví dụ,

Điều 14, 17 Dự thảo quy định Nhà nước bảo

vệ quyền sở hữu hoặc bản quyền của tổ chức

và cá nhân đối với di sản văn hoá phi vật thể Nếu coi một số di sản văn hoá phi vật thể là

đối tượng của Luật di sản văn hoá thì trong Luật phải xác định cơ chế và trình tự bảo vệ Còn nếu coi chúng là tác phẩm văn học, nghệ thuật thì việc bảo hộ sẽ được thực hiện theo các quy định của Bộ luật dân sự Như vậy, giữa Dự thảo luật di sản văn hoá và Bộ luật dân sự đ- có sự chồng chéo lên nhau ở khía cạnh bản quyền Nếu nghiên cứu sâu thêm các văn bản luật khác có liên quan thì chúng

ta cũng có thể tìm thấy những bất cập tương tự./

(1) Dự thảo được đề cập trong bài này là dự thảo được

đưa ra thảo luận tại Hội thảo về Luật di sản văn hóa

được tổ chức ngày 27-28/2/2001 tại Văn phòng Quốc hội

(2) Tác giả dịch từ nguyên bản tiếng Anh

Ngày đăng: 08/03/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm