Theo chúng tôi, định nghĩa trên của Dự thảo thể hiện sự cố gắng của người soạn thảo trong việc làm rõ đối tượng bảo vệ của Luật di sản văn hoá.. Nếu chúng ta tìm cách chuẩn hoá khái niệm
Trang 1Tạp chí luật học - 57
suy nghĩ về
dự thảo Luật di sản văn hoá(1)
PGS.TS Lê Hồng Hạnh *
ảo vệ di sản văn hoá của dân tộc là một
trong những yêu cầu cấp bách của Nhà
nước và nhân dân ta hiện nay Việc chuyển
sang cơ chế kinh tế thị trường đ- mang lại
cho đất nước ta những thành tựu to lớn trong
nhiều mặt song cũng mang lại không ít những
tác động tiêu cực mà đặc biệt là sự huỷ hoại
về môi trường, huỷ hoại những di sản văn hoá
của dân tộc Những giá trị tiền tệ và vật chất
khác mất đi có thể lấy lại được còn những giá
trị tinh thần, những di sản văn hoá khi đ- bị
xâm hại hoặc bị đánh cắp thì sẽ khó có khả
năng phục hồi hoặc tìm lại được Vì vậy, bảo
vệ các di sản văn hoá tinh thần và vật thể cần
phải được nhìn nhận một cách đúng đắn, dù
muộn song cũng phải cần tìm mọi biện pháp
bảo vệ những di sản văn hoá còn lại cho
muôn đời sau Với suy nghĩ như vậy, chúng
tôi cho rằng việc xây dựng và ban hành Luật
di sản văn hoá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Quản lí nhà nước, quản lí x- hội không thể
thiếu pháp luật Nếu không sử dụng tối đa
công cụ pháp luật thì việc bảo vệ các di sản
văn hoá không đạt được hiệu quả mong
muốn Tính giáo dục cũng như tính cưỡng chế
nghiêm khắc của pháp luật sẽ tác động mạnh
đến hành vi, cách xử sự của công dân, tổ chức
trước những di sản văn hoá Đất nước chúng
ta chắc không có những phần tử cực đoan chủ
trương huỷ diệt di sản văn hoá nhân loại song
cũng không thiếu những người do kém cỏi về
ý thức hay về văn hoá đ- huỷ hoại nhiều giá trị văn hoá mà cha ông ta đ- để lại
Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ các di sản văn hoá là cực kì to lớn Tuy nhiên, giá trị hiện thực và hiệu lực của Luật di sản văn hóa phụ thuộc rất nhiều vào nội dung của Luật Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập một số vấn đề lí luận về những phạm trù pháp lí được nêu ra trong Dự thảo Luật di sản văn hoá (sau đây gọi tắt là Dự thảo)
1 Về một số khái niệm được sử dụng trong Dự thảo Luật di sản văn hoá
Đối tượng điều chỉnh của Luật di sản văn hoá là các quan hệ x- hội phát sinh xung quanh việc sở hữu, chuyển nhượng, mua bán, thừa kế và quản lí các di sản văn hoá Vì vậy, việc xác định rõ thế nào là di sản văn hoá có
ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với nội hàm của Luật này Do đó, một trong những yêu cầu đặt ra là phải làm rõ thế nào là di sản văn hoá, những tiêu chí cụ thể để xác định một giá trị vật chất hay phi vật chất là di sản văn
thảo Dự thảo Luật di sản văn hoá đ- tìm cách
định nghĩa di sản văn hoá Điều 1 Dự thảo quy định: “Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và văn hoá vật thể là các
B
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2sản phẩm tinh thần và vật chất do con người
và thiên nhiên tạo ra trong quá khứ có giá trị
về lịch sử, văn hoá và khoa học đang tồn tại
trên l,nh thổ nước cộng hoà XHCN Việt
Nam” Theo chúng tôi, định nghĩa trên của
Dự thảo thể hiện sự cố gắng của người soạn
thảo trong việc làm rõ đối tượng bảo vệ của
Luật di sản văn hoá Định nghĩa này kết hợp
hai phạm trù văn hoá và di sản Văn hoá là
khái niệm rất rộng, nội hàm của nó vượt xa
những hiểu biết của đa số nhân dân và cán bộ
nước ta Từ trước đến nay đ- có hàng trăm
định nghĩa về văn hóa và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đ- định nghĩa văn hóa như sau: “Vì lẽ
sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,
tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương
thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hoá”
Như vậy, văn hoá là bất cứ sản phẩm nào
do con người tạo ra, có giá trị đối với cộng
đồng và được cộng đồng chấp nhận như là
thực tại khách quan Định nghĩa của Dự thảo
cũng kế thừa phần nào quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về văn hoá Các nhà soạn
thảo cũng đ- sử dụng đúng phạm trù di sản
với tư cách là những gì được tạo ra trong quá
khứ và truyền lại cho đời sau Xét ở những
khía cạnh khoa học nhất định thì định nghĩa
của Dự thảo về di sản văn hoá có phần đúng
Tuy nhiên, nếu coi văn hoá là "thiên nhiên
thứ hai", tức là thiên nhiên đặc biệt do con
người tạo ra thì định nghĩa di sản văn hoá bao
gồm cả những gì tự nhiên tạo ra mà không
gắn cho nó một tiêu chí gì khác nữa chắc
chắn sẽ không phù hợp với cách hiểu về văn
hoá hiện nay Mặt khác, khi biến khái niệm di sản văn hoá thành phạm trù pháp lí, tức là biến nó thành đối tượng bảo vệ của pháp luật thì khái niệm di sản văn hoá này cần được làm rõ thêm Nói cách khác là cần đưa ra những tiêu chí nhất định cho khái niệm di sản văn hoá Đây là vấn đề quan trọng không chỉ đối với việc áp dụng pháp luật sau này mà
đối với cả sự phát triển của luật học Chúng tôi xin nêu ra đây một vài minh hoạ để chứng minh cho sự cần thiết phải làm rõ nội hàm của khái niệm di sản văn hoá Ví dụ, phần mềm tiếng Việt ABC được tạo ra cách đây 10 năm Phần mềm này có giá trị khoa học, thực tiễn lớn và đ- được cộng đồng chấp nhận, Nhà nước ta cũng công nhận đây là phần mềm thống nhất cho việc xử lí văn bản trong toàn quốc Theo định nghĩa của Dự thảo thì phần mềm ABC có được coi là di sản văn hoá không? Nếu xét theo những tiêu chí của Dự thảo thì phần mềm ABC này hội đủ điều kiện
để có thể được coi là di sản văn hoá Thứ nhất, nó là sản phẩm phi vật thể được con người tạo ra; thứ hai, nó được tạo ra trong quá khứ; thứ ba, nó có giá trị và được cộng đồng chấp nhận Ví dụ trên đây cho chúng ta hệ quả sau: Nếu coi phần mềm này là di sản văn hoá thì nó sẽ thuộc đối tượng bảo vệ của Luật
di sản văn hoá Nếu coi nó là bản quyền thì
nó sẽ thuộc đối tượng bảo vệ của luật về sở hữu trí tuệ mà cụ thể là của Bộ luật dân sự và các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đ- kí kết Cách tiếp cận, phương thức bảo vệ sẽ rất khác nhau đối với phần mềm ABC nếu như chúng ta coi nó là di sản văn hoá hay là bản quyền Tương tự như vậy
có thể nói về những sáng tác của cố nhạc sĩ Văn Cao, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Những sáng tác của họ được bảo hộ về bản quyền 50
Trang 3năm sau khi nhạc sĩ mất Mười hay hai mươi
năm nữa chúng ta có thể coi đó là di sản văn
hoá được không?
Một thực tế khác khá phổ biến mà chúng
ta cần phải cân nhắc khi định nghĩa về di sản
văn hoá, đó là những giá trị văn hóa dân gian
Hiểu như thế nào đây về di sản văn hoá phi
vật thể để thực hiện việc bảo vệ nó Nếu
những câu ca dao chỉ ghi trong trí nhớ, trong
tiềm thức của các nghệ nhân, của quần chúng
thì liệu có thể xác định được sự vi phạm
không Nếu có hành vi xâm hại đến nhân
phẩm, tính mạng của nghệ nhân thì hành vi
này đ- thuộc phạm vi của luật hình sự Việc
phá hủy những bộ sưu tập các câu ca dao,
truyện cổ tích do các nhà văn hoá dân gian
ngày nay đang thực hiện có bị coi là hành vi
xâm hại di sản văn hóa không Bản thân việc
xâm hại này không làm biến mất các câu ca
dao, các truyện cổ tích vì chúng vẫn đang
nằm trong trí nhớ của các nghệ nhân, của
quần chúng Nhiều quốc gia trên thế giới
đang tìm cách bảo hộ bản quyền đối với các
tác phẩm văn học dân gian song họ cũng
đang gặp nhiều khó khăn khi phải trả lời các
vấn đề cụ thể Nếu chúng ta tìm cách chuẩn
hoá khái niệm văn hoá phi vật thể trong Luật
di sản văn hoá và tạo ra được sự bảo vệ có
hiệu quả đối với những giá trị văn hoá phi vật
thể này thì đó sẽ là thành công rất lớn của
hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước
ta
Một khía cạnh khác cần bàn về định
nghĩa di sản văn hoá là sự khác nhau giữa di
sản văn hoá và di sản thiên nhiên Di sản
thiên nhiên rõ ràng là do thiên nhiên tạo ra,
có chứa đựng những giá trị khoa học, giá trị
thẩm mĩ, giá trị kinh tế đối với cộng đồng
Rừng Cúc Phương sở dĩ được coi là di sản
thiên nhiên vì nó hàm chứa trong đó những
giá trị khoa học và kinh tế to lớn đối với đất nước ta và thế giới Như vậy, theo định nghĩa của Dự thảo thì hầu như không có sự phân biệt giữa di sản văn hóa và di sản thiên nhiên Rừng Cúc Phương được thiên nhiên tạo ra trong quá khứ, có giá trị thẩm mĩ và đang tồn tại trên l-nh thổ CHXHCN Việt Nam Theo
định nghĩa của Dự thảo thì giữa di sản thiên nhiên và di sản văn hoá sẽ không có khoảng cách vì bất cứ những gì do con người và thiên nhiên tạo nên, có giá trị khoa học đều là di sản văn hoá Trong lúc đó, Công ước của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa và di sản thiên nhiên phân biệt rất rõ hai loại di sản này trong hai định nghĩa khác nhau ở Điều 1 và
Điều 2 Công ước định nghĩa di sản văn hoá như sau:
“Những gì dưới đây sẽ được coi là di sản văn hoá:
Các tượng đài: Các tác phẩm kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc và hội hoạ, các yếu
tố hoặc kết cấu mang bản chất khảo cổ, các bia khắc, các hang động nguyên thuỷ và các
tổ hợp những yếu tố có giá trị quốc tế nổi bật
về lịch sử, nghệ thuật và khoa học;
Nhóm công trình: Nhóm các công trình
độc lập hoặc công trình liên kết với nhau mà
do bản chất kiến trúc hay do tính thống nhất của chúng hoặc vị trí của chúng trong toàn
bộ cảnh quan nên có giá trị quốc tế nổi bật
Danh thắng: Các tác phẩm của con người hoặc các tác phẩm kết hợp của con người và thiên nhiên, những khu vực, kể cả khu vực khảo cổ, có giá trị quốc tế nổi bật xét từ góc
độ lịch sử, thẩm mĩ, dân tộc học và nhân chủng học”
Như vậy, Điều 1 Công ước nêu rõ di sản văn hoá là những gì do con người tạo nên có
Trang 4giá trị quốc tế nổi bật về phương diện lịch sử,
nghệ thuật hay khoa học Yếu tố sáng tạo của
con người được coi là tiêu chí cơ bản phân
biệt giữa di sản văn hoá và di sản thiên nhiên
Ngay cả khi liệt kê một số cấu trúc tự nhiên
thì Công ước cũng gắn nó với sự sáng tạo của
con người: Hang động nguyên thuỷ (cave
dwellings), các sản phẩm kết hợp của con
người và thiên nhiên (combined works of man
and nature) Cần lưu ý rằng Công ước nêu
trên là bộ phận cấu thành của pháp luật Việt
Nam vì Việt Nam đ- phê chuẩn nó Chính vì
vậy, khi đưa ra định nghĩa về di sản văn hoá,
chúng ta cần phải chú ý tới định nghĩa này
của Công ước Dự thảo nên sử dụng định
nghĩa của Công ước và sự khác biệt chỉ dừng
ở phạm vi giá trị, tức là một bên có giá trị
toàn cầu, một bên có giá trị quốc gia
Vấn đề nữa cần xem xét là phạm vi có
hiệu lực của Luật di sản văn hoá Pháp luật
quốc gia thông thường chỉ có hiệu lực trong
phạm vi l-nh thổ của mình Tuy nhiên, quyền
sở hữu thì không bị giới hạn bởi ranh giới
quốc gia Chính vì lẽ này mà khi máy bay hay
tàu thuỷ của quốc gia này bị bắt cóc đưa sang
quốc gia khác thì những tài sản đó vẫn thuộc
sở hữu của quốc gia bị mất Quốc gia nơi
những tài sản này được đưa tới có nghĩa vụ
phải trả lại cho quốc gia bị mất Thông lệ
quốc tế này được áp dụng với các cổ vật của
quốc gia bị mất cắp hoặc bị chiếm đoạt trái
phép Phải thừa nhận rằng đất nước ta đ- bị
mất nhiều giá trị văn hoá vật thể, nhiều cổ vật
của đất nước bây giờ nếu chúng ta muốn xem
thì phải đến bảo tàng hoặc đến các phòng sưu
tập của cá nhân ở các nước khác Không ít
trong số những cổ vật này bị chiếm đoạt trái
phép, bị đánh cắp Đối với những tài sản như
vậy thì quyền sở hữu của Nhà nước ta có lẽ
chỉ không dừng bởi l-nh thổ Việt Nam Vì
thế theo chúng tôi, trong định nghĩa về di sản văn hoá mà Dự thảo đưa ra cần cân nhắc và làm rõ chi tiết này Điều cần cân nhắc ở đây
là sự khẳng định chủ quyền của quốc gia đối với giá trị văn hoá bị chiếm đoạt trái phép cho
dù chúng ở trên l-nh thổ nào Phạm vi của Luật di sản văn hóa cần mở rộng tới các giá trị văn hoá vật thể bị chiếm đoạt và đưa ra khỏi l-nh thổ Việt Nam một cách trái phép Khẳng định phạm vi bảo vệ của Luật đối với những giá trị văn hoá bị chiếm đoạt trái phép
và hiện đang ở bên ngoài l-nh thổ Việt Nam
là điều rất cần để trong tương lai chúng ta tìm cách thu hồi cho kho tàng di sản văn hoá của dân tộc
Bên cạnh việc đưa ra định nghĩa về di sản văn hoá, Dự thảo còn đưa ra một số định nghĩa về các đối tượng cụ thể của di sản văn hoá như di sản văn hoá phi vật thể, di sản văn hoá vật thể, cổ vật, di vật, cảnh quan thiên nhiên - văn hoá, di tích lịch sử, bảo vật quốc gia Theo chúng tôi, các đối tượng cụ thể của di sản văn hoá phải hàm chứa những điều kiện, những tiêu chí chung của di sản văn hoá Tuy nhiên, nhiều định nghĩa trong Dự thảo chưa thoả m-n những điều kiện như vậy Chẳng hạn, định nghĩa về di vật trong Dự thảo được nêu như sau: “Di vật là đồ vật, tài liệu hình ảnh có giá trị lịch sử, văn hoá và khoa học” Theo quy định của Bộ luật dân sự,
di vật, di cảo được hiểu là vật hay tác phẩm của người đ- chết để lại Nó có thể có giá trị văn hoá, lịch sử và cũng có thể không có những giá trị như vậy Nhiều khi chúng chỉ có giá trị riêng tư, gắn liền với kỉ niệm giữa người đ- chết và người đang sống, ví dụ, nắm tóc thề, chiếc khăn thêu hay chiếc nhẫn cưới Những di vật như thế này chắc không mang giá trị văn hoá, lịch sử nếu như chúng không gắn với nhân vật lịch sử kiệt xuất nào
Trang 5đó Nếu khái niệm di vật được định nghĩa như
trong Dự thảo thì Luật di sản văn hoá sẽ có
đối tượng bảo vệ quá rộng Nên chăng Dự
thảo gọi là di vật văn hoá vì như thế nó mới
phù hợp với nội dung và những tiêu chí của
khái niệm di sản văn hoá
Khái niệm bảo vật quốc gia, khái niệm cổ
vật trong Dự thảo cũng cần được nghiên cứu
để làm rõ hơn Tiêu chí của cổ vật, của bảo
vật quốc gia là gì, giữa cổ vật và bảo vật quốc
gia có những gì khác nhau và sự phân biệt
giữa chúng nên dựa theo tiêu chí nào? Giá trị
thời gian, giá trị văn hoá, lịch sử hay chính
trị?
Trong Dự thảo, cổ vật được định nghĩa
như sau: “Cổ vật là di vật có giá trị tiêu biểu
về lịch sử, văn hoá và khoa học có từ 100 tuổi
trở lên” Định nghĩa này chưa cung cấp được
khái niệm đầy đủ về cổ vật Cổ vật là di vật
của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau Đó là
tiêu chí thứ nhất Tuy nhiên, di vật đó có hội
đủ ba giá trị là văn hoá, lịch sử và khoa học
để trở thành di sản văn hoá hay không là điều
mà định nghĩa này chưa làm rõ được Điều
này không chỉ là câu chữ mà chính là thuộc
đối tượng bảo vệ của Luật di sản văn hóa
Trứng khủng long được tìm thấy trong hang
động chắc khó có thể coi là di sản văn hoá
mặc dù nó rất có ý nghĩa đối với sinh học
trong việc xác định sự phát triển của sinh vật,
của sự sống trên trái đất Khái niệm bảo vật
quốc gia cũng có những điểm cần được xác
định rõ hơn Dự thảo định nghĩa “bảo vật
quốc gia là di vật có giá trị đặc biệt quý hiếm
về lịch sử, văn hoá và khoa học” Kể cả
những người soạn thảo Dự luật này lẫn những
nhà chuyên môn đều khó có thể trả lời một
cách chắc chắn rằng vật nào đó có phải là bảo
vật quốc gia hay không nếu dựa vào định
nghĩa kể trên Chùa Một Cột là bảo vật quốc gia hay là danh thắng quốc gia? Tượng Quan Thánh là bảo vật quốc gia hay cổ vật? Nếu
Dự thảo không đưa ra được định nghĩa pháp lí chuẩn xác, dễ hiểu và dễ xác định thì trong tương lai những người thực hiện Luật di sản văn hóa sẽ xử lí như thế nào khi đối mặt với các cổ vật Đương nhiên, khi xác định cổ vật phải dựa vào những nhà giám định chuyên môn Tuy nhiên, nhà giám định chuyên môn chỉ có thể trả lời chúng ta về niên đại, về giá trị của cổ vật còn có coi nó là bảo vật quốc gia hay không thì cần phải dựa vào các quy
định của pháp luật
Cần làm rõ hơn nội dung và hình thức của các di sản văn hoá phi vật thể Ví dụ, tảng đá ghi chữ Nam sơn đệ nhất động ở chùa Hương
là di sản phi vật thể hay là di sản vật thể, vì xét về nội dung thì đó là câu nói nổi tiếng của một vị vua được nhân dân tạc vào đá Giá trị
ở đây là câu nói hay là tảng đá ghi câu nói đó Tương tự như vậy là những bài văn, bài hịch của cha ông ta Nếu xét ở khía cạnh nào đó thì những bài văn, bài hịch đó được coi là phi vật thể vì chúng được Nguyễn Tr-i, Trần Hưng Đạo hay cha ông chúng ta sáng tác Tuy nhiên, nội dung những bài hịch, bài văn
đó nếu in trên những trang giấy của Nhà máy giấy B-i Bằng, bằng máy in lade thì chắc không ai coi cuốn sách chứa đựng những bài hịch này là di sản văn hoá mà chỉ coi nội dung trong đó là di sản văn hoá phi vật thể Nếu bài hịch này được Nguyễn Tr-i tự tay chép hoặc được những người cùng thời với
ông chép lại trên tấm lụa hay trên tờ giấy thì tấm lụa, tờ giấy này chắc chắn được coi là di sản văn hoá vật thể Đó chính là điều cần làm
rõ một cách tối đa trong Dự thảo, Điều 20 Dự thảo cũng có đề cập vấn đề này song chưa rõ
Trang 6Hơn nữa, Điều 20 Dự thảo quy định các giá
trị văn hoá phi vật thể được thể hiện bằng các
sản phẩm công nghệ truyền thống được bảo
vệ như những di sản văn hoá vật thể Quy
định này theo tôi là không thực tế và sẽ là sự
hạn chế đối với quá trình phổ biến, lưu hành
các giá trị di sản văn hoá phi vật thể
Tóm lại, những gì trình bày ở trên cho
thấy khái niệm di sản văn hóa và các biến
dạng cụ thể của nó chưa được định nghĩa một
cách chính xác để xác định đối tượng bảo vệ
của Luật di sản văn hoá sau này Chúng tôi
xin nêu những vấn đề như vậy để các nhà
soạn thảo và các nhà nghiên cứu xem xét Giá
trị thực tiễn của đạo luật là ở chỗ các quy
định của nó được hiểu đúng, các đối tượng nó
cần bảo vệ được bảo vệ một cách có hiệu quả
Muốn như vậy đối tượng đó phải được xác
định rõ nếu không bằng phương pháp khái
quát trong các định nghĩa chuẩn thì bằng
phương pháp liệt kê
2 Về cách tiếp cận của Dự thảo Luật di
sản văn hóa
Việc xây dựng Luật di sản văn hoá xuất
phát từ những yêu cầu bức xúc, đó là tình
trạng các di sản văn hoá bị xâm hại, chùa
chiền, đền thờ bị phá, lăng tẩm của các danh
nhân bị đào bới bởi những kẻ truy tìm cổ vật
bất hợp pháp Những tệ nạn này trong nền
kinh tế thị trường đang ngày càng lan rộng,
chứa đựng nguy cơ hủy hoại nghiêm trọng
nền văn hoá dân tộc Muốn ngăn chặn có hiệu
quả tình trạng này thì cần phải có luật và luật
này phải có hiệu lực Tuy nhiên, như nêu ở
trên, để nâng cao hiệu lực của văn bản luật thì
trước hết cần phải xác định rõ đối tượng tác
động, đưa ra được những quy tắc định hướng
hành vi chủ thể và hệ thống các chế tài đủ
nghiêm khắc để cho những quy định này
được chủ thể pháp luật tuân thủ Với tinh thần
đó chúng tôi suy nghĩ rằng cần có cách tiếp cận thực tế hơn nữa đối với việc bảo vệ các di sản văn hoá Theo chúng tôi, việc xây dựng Luật di sản văn hóa cần phải theo một số định hướng sau đây:
- Dự thảo cần tập trung vào việc bảo vệ những di sản văn hoá vật thể đang bị xâm hại
Đây chính là cách tiếp cận của UNESCO và
hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia Sự xâm hại các giá trị văn hoá vật thể dễ diễn ra,
dễ nghiêm trọng hơn vì các giá trị văn hoá vật thể này mang lại tiền bạc và sự giàu có cho kẻ xâm hại lớn hơn Để làm việc này cần xác
định rõ thế nào là di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, kể cả việc liệt kê những thể loại chính Bộ luật dân sự đ- liệt kê không ít các
đối tượng của sở hữu trí tuệ cần được pháp luật bảo hộ Công ước về bảo vệ di sản văn hoá và di sản thiên nhiên được thông qua tại
Đại hội đồng UNESCO ngày 16/11/1972 cũng đ- sử dụng phương pháp liệt kê các di sản văn hoá, bởi vì sự đa dạng của chúng không cho phép có thể khái quát trong một
định nghĩa đơn giản
- Phải xác định được những hành vi bị cấm hay được khuyến khích để đưa vào Dự thảo Những hành vi bị cấm hay được phép nếu được quy định cụ thể trong Luật di sản văn hoá sau này thì tính khả thi và giá trị của Luật sẽ cao hơn vì chính những quy định như vậy làm tăng khả năng điều chỉnh hành vi của Luật Như chúng tôi đ- từng nhấn mạnh điều khác nhau cơ bản giữa pháp luật và chính sách chính là tính chất định hướng hành vi trong các quy định pháp luật Theo chúng tôi, những người dự thảo Luật di sản văn hoá hoàn toàn có thể đạt được mức quy phạm hoá Luật này ở mức mà Bộ luật dân sự hay Bộ luật hình sự đ- đạt được
Trang 7- Dự thảo cần quy định rõ thời hạn thực
hiện các nghĩa vụ của chủ thể trong việc bảo
vệ và phát huy di sản văn hoá Chúng ta đ-
biết nhiều trường hợp khi cơ quan có thẩm
quyền can thiệp thì di sản văn hoá cần được
bảo vệ hoặc đ- bị huỷ hoại hoặc đ- bị thất
thoát một cách đáng tiếc Điều mà hiện nay
nhiều lĩnh vực pháp luật của nước ta ít chú
trọng đến thời hạn thực hiện các nghĩa vụ luật
định Ví dụ, khoản 2 Điều 29 Dự thảo quy
định: "UBND địa phương hoặc cơ quan quản
lí nhà nước có thẩm quyền về văn hoá khi
nhận được thông báo về di tích bị huỷ hoại
hoặc có nguy cơ bị huỷ hoại phải kịp thời áp
dụng các biện pháp bảo vệ và báo cáo kịp
thời lên cơ quan cấp trên trực tiếp" Quy định
mang tính định tính này không ngăn chặn
được tệ nạn quan liêu của nhiều cán bộ có
trách nhiệm, nhất là khi ý thức của họ về bảo
vệ di sản văn hoá đang còn rất thấp Sự chậm
trễ của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ
các di vật khảo cổ mộ thuyền cho chúng ta
một ví dụ khá rõ nét Vì vậy, theo chúng tôi,
nhất thiết phải quy định thời hạn cho các chủ
thể thực hiện nghĩa vụ bảo vệ di sản văn hoá
- Luật di sản văn hoá cần được cấu trúc để
tránh sự trùng lặp không cần thiết Nhìn vào
Dự thảo, chúng ta thấy rõ dấu ấn của quy
trình soạn thảo rất khuôn mẫu Dự thảo bao
gồm một số chương, một số quy định mà
chúng ta có thể tìm thấy ở bất cứ văn bản luật
nào, trừ một số bộ luật có mức độ hoàn thiện
cao như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, chỉ
khác ở chỗ thay đổi tên gọi mà thôi Ví dụ
như các chương quản lí nhà nước, thanh tra,
giải quyết khiếu nại, khen thưởng, xử lí vi
phạm Theo chúng tôi, các chương này dễ
dẫn tới sự trùng lặp và mâu thuẫn Chẳng hạn
như thanh tra di sản văn hoá sẽ được hiểu như
thế nào và vai trò của nó trong hệ thống thanh
tra chung và thanh tra chuyên ngành văn hoá
được xác định ra sao để tránh tình trạng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chúng bị chồng chéo, mâu thuẫn Mặt khác, nhiều chương trong Dự thảo (ví dụ chương II và các chương III, IV có nhiều điểm trùng nhau; Chương II về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hoá Chương III quy định về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể; Chương IV về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể) Vì giá trị di sản văn hoá vật thể và giá trị di sản văn hoá phi vật thể đều là những giá trị di sản văn hoá nên những quyền và nghĩa vụ quy định ở chương II không thể không liên quan đối với việc bảo vệ các đối tượng nêu ở chương III,
IV
- Cần xây dựng Luật di sản văn hoá trong mối liên hệ với Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác, đặc biệt là các văn bản pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Ví dụ,
Điều 14, 17 Dự thảo quy định Nhà nước bảo
vệ quyền sở hữu hoặc bản quyền của tổ chức
và cá nhân đối với di sản văn hoá phi vật thể Nếu coi một số di sản văn hoá phi vật thể là
đối tượng của Luật di sản văn hoá thì trong Luật phải xác định cơ chế và trình tự bảo vệ Còn nếu coi chúng là tác phẩm văn học, nghệ thuật thì việc bảo hộ sẽ được thực hiện theo các quy định của Bộ luật dân sự Như vậy, giữa Dự thảo luật di sản văn hoá và Bộ luật dân sự đ- có sự chồng chéo lên nhau ở khía cạnh bản quyền Nếu nghiên cứu sâu thêm các văn bản luật khác có liên quan thì chúng
ta cũng có thể tìm thấy những bất cập tương tự./
(1) Dự thảo được đề cập trong bài này là dự thảo được
đưa ra thảo luận tại Hội thảo về Luật di sản văn hóa
được tổ chức ngày 27-28/2/2001 tại Văn phòng Quốc hội
(2) Tác giả dịch từ nguyên bản tiếng Anh