1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chị em thuý kiều nguyễn du

23 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chị Em Thúy Kiều Nguyễn Du
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Tóm tắt phân tích
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 188 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CẢNH NGÀY XUÂN Chị em Thuý kiều (Nguyễn Du) I/Vị trí đoạn trích Nằm ở phần đầu của “TK” gặp gỡ và đính ước Đại ý Đoạn trích miêu tả bức chân dung tuyệt mĩ của chị em TK và qua đó dự báo tương lai, SP[.]

Trang 1

Chị em Thuý kiều (Nguyễn Du)

I/Vị trí đoạn trích:

-Nằm ở phần đầu của “TK” : gặp gỡ và đính ước

-Đại ý: Đoạn trích miêu tả bức chân dung tuyệt mĩ của chị em TK và qua đó dự báo tương lai, SP của hai nàng, nhất là TK

-Bố cục: 4 phần

+4 câu đầu: giới thiệu chung về chị em K

+4 câu tiếp: vẻ đẹp của TV

+ 12 câu tiếp: vẻ đẹp của tK

-Câu thơ thứ tư lại là một lời nhận xét, bình luận về chị em K:

Mỗi người …vẹn 10 Thành ngữ “ mười…mười” thể hiện vẻ đẹp toàn mĩ, không một chút gợn Hai nàng đều tuyệt đẹp

nhưng mỗi nàng mang một vẻ riêng, không ai giống ai

Trang 2

-chân dung tV không chỉ là chân dung của một giai nhân tuyệt sắc mà còn là chân dung của tính cách, sp Nàng hiền dịu ít nói, nhu mì.Vẻ đẹp của TV có chút bằng, có chút hơn thiên nhiên nhưng vẫn nằm trong quy luật của tự nhiên đc thiên nhiên nhường nhịn Điều đó đã báo trước c/đ sau này

của nàng sẽ êm đềm, suôn sẻ Hơn nữa , các từ “nở nang”, ‘đầy đặn” …không chỉ gợi lên vẻ đẹp

đầy đặn mà còn gợi c/đ sp tròn trịa, viên mãn

2/Vẻ đẹp của TK:

-Vẻ đẹp TK đc miêu tả trong 12 câu thơ , gấp đôi sl câu miêu tả nhan sắc của TV Điều đó chứng tỏ

sự ưu ái của ND dành cho nhân vật chính

-Để khắc hoạ nhan sắc của TK, trước hết , ND cũng nhận xét khái quát về vẻ đẹp của nàng Cụm từ

“sắc sảo, mặn mà “ đã gợi lên một vẻ đẹp sắc sảo , lộng lẫy, kiêu sa Đó là sự sắc sảo về trí tuệ, sự mặn mà của tâm hồn

-Sau khi giới thiệu chung, ND không đi miêu tả cụ thể, tỉ mỉ nhưng TV mà chỉ đặc tả đôi mắt, và sự đằm thắm , duyên dáng của nàng:

-Vẻ đẹp ấy lan toả , tạo ra sức cuốn hút kì diệu:

vẻ đẹp trong veo , không chút gợn, đang dào dạt sức thanh xuân

b/tài năng:

-Trước hết Kiều là cô gái thông minh, đó là bản tính trời phú:

Thông minh vốn …trời Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm

-Nàng còn là người phụ nữ đa tài ( cầm , kì , thi, hoạ) , tài nào cũng xuất chúng Nhưng tài đàn vượt trội hơn hẳn , một năng khiếu , trở thành nghề riêng:

Cung thương lầu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một chương Khúc nhà tay lựa lên chương

Trang 3

Một thiờn bạc mệnh lại càng nóo nhõn

Nàng tự soạn cho mỡnh một bản nhạc lấy tờn là “bạc mệnh” , mỗi lần đàn lờn khiến cho người nghe phải u sầu, rơi lệ

 cực tả tài năng của nàng K, nhất là tài đàn là để thể hiện tõm hồn đa sầu, đa cảm của nàng.c/Chõn dung của TK cũng vừa là chõn dung nhan sắc, vừa là chõn dung tớnh cỏch , số phận

Nàng sắc sảo, thụng minh Vẻ đẹp của nàng vượt ra khỏi quy luật của tạo hoỏ , bị đố kị, ghen ghột đó

dự bỏo trước số phận đau khổ, trắc trở của nàng sau này Mặt khỏc K cũn đa tài mà theo quan niệm của ND ‘ tài tỡnh chi lắm cho trời đất ghen”, “chữ tài liền với chữ tai một vần”… Hơn nữa, cung đàn “ bạc mệnh “ do chớnh nK tự sỏng tỏc đó ứng với kiếp bạc mệnh, đoạn trường của nàg sau này.4/Đức hạnh của chị em Kiều:

-Chị em K cú cuọc sống “ phong lưu” trong một gia đỡnh ấm ờm:

Phong lưu nhất mực hồng quõn

-Họ đó đến tuổi cập kờ( bỳi túc, cài chõm để đi lấy chồng) nhưng vẫn sống trong cảnh:

-Bút pháp ớc lệ của văn học cổ kết hợp với các biện pháp nghệ thuật đc sử dụngnhuần nhuyền nh so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, liệt kê, nói quá , điển tích , điển

cố gợi lên vẻ đẹp sống độg của chị em K

-Hình ảnh đặc sắc “ làn thu thuỷ, nét xuân sơn”, “khuon trăng đầy đặn”,

“Hoa cời”… tạo nên vẻ đẹp có một không hai, rất riêng biệt của nhân vật

-Miêu tả chân dung mà còn gợi tính cách cũng nh ngầm dự báo về tơng lai số phận của nhân vật

Có thể nói , Nguyễn Du là bậc thầy của nghệ thuật miêu tả TK, TV dới ngòi bút của ông đã trở thành những hình mẫu lý tởng cho vẻ đẹp của con ngời-TháI độ: ngợi ca, đề cao

Trang 4

CẢNH NGÀY XUÂN (Nguyễn Du)

I/Vị trí đoạn trích:

-Nằm ở phần đầu của “truyện Kiều”: gặp gỡ và đính ước

2/Đại ý:

-Đoạn trích khắc hoạ cảnh thiên nhiên mùa xuân tuyệt đẹp , khung cảnh lễ hội tưng bừng náo nhiệt

và tâm trạng của chị em TK trong chuyến du xuân

3/Bố cục:

-3 phần:

+4 câu đầu: khung cảnh mùa xuân

+8 câu tiếp: cảnh lễ hội mùa xuân

+6 câu cuối: cảnh chị em du xuân trở về

 bố cục theo trình tự chuyến du xuân của chị em K

II/Phân tích:

1/Khung cảnh mùa xuân:

a/Cảnh mùa xuân trước hết đc gợi ra ở không gian và thời gian::

Ngày xuân con én…ngoài 60

- câu thơ đầu t/g gợi lên h/a những cánh én bay như đưa thoi trên bầu trời H/a ‘ con én ” vừa là tín hiệu của mùa xuân vừa làm cho cảnh xuân thêm thân mật, gần gũi-mùa xuân của quê hương, đất

nước VN Hai chữ “đưa thoi” rất gợi hình, gợi cảm : cánh én vút qua, vút lại , chao liệng rộn ràng

không chỉ giúp người đọc hình dung ra bầu trời mùa xuân bao la, kháng đạt, nhộn nhịp mà còn gợi thời gian của mùa xuân đang trôi nhanh vùn vụt Có lẽ câu thơ của ND đã rút ra từ câu thành ngữ

quen thuộc ‘ thời gian thấm thoát thoi đưa- Như ngựa chạy, như nước chảy qua cầu.” Như vậy,

thời gian , không gian mùa xuân không đứng yên mà đang chuyển động

-Câu thơ tiếp theo lại làm rõ thời điểm cụ thể của mùa xuân;

Thiều quan…ngoài 60

Câu thơ tài tình ở chỗ vừa là cáh tính thời gian lại vừa miêu tả mùa xuân Mùa xuân có 90 ngày thì

60 ngày đã trôi qua , tức là đã vào tháng 3, cuói xuân , vậy mà thiều quang-ánh sáng đẹp, khí xuân

ấm áp vẫn còn rực rỡ, chan hoà.Các từ tính thời gian kết hợp với từ “đã” gợi cảm giác nuối tiếc của

con người: ngày xuân trôi nhanh, ngày vui đã sắp hết

b/Cảnh vật mùa xuân:

-Xuân đã vào những ngày cuối, song cảnh vật vẫn tuyệt đẹp:

Cỏ non…bông hoa +H/a “cỏ non xanh” làm phông nền của bức tranh mùa xuân; cỏ non mơn mởn, xanh rì, ngọt ngào

trải dài đến tận chân trời, ngút tầm mắt Trên nền xanh mênh mông ấy, nổi bật dáng vẻ thanh mảnh của cành lê với màu trắng muốt của những bông hoa lê đang lác đác hé nở T/g đưa từ “trắng” lên

trước cụm từ “ điểm một vài bông hoa” vừa làm cho sắc màu của hoa lê thêm nổi bật , vừa làm cho

cảnh vật sống động , có hồn Chỉ một vài nét chấm phá, gợi nhiều hơn tả , t/g đã tạo nên một bức tranh mùa xuân tuỵệt diệu : vừa cao rộng, vừa khoáng đạt, vừa tinh khôi, tràn đầy sức sống lại vừa thanh khiết, dịu nhẹ gợi bao khát khao cho con người

+Có thể nói, Nd vận dụng sáng tạo ha câu thơ cổ của trung Hoa khi miêu tả mùa xuân: “Phương thảo liên thiên bích-Lê chi sổ điểm hoa” ( cỏ thơm nói với trời xanh, cành lêđiểm vài bông hoa) Ông

Trang 5

đã lấy màu xanh của trời tô đỉem cho màu cỏ, lấy màu trắng để làm sắc cho hoa lê Nhờ thế, bức tranh mx của ND đẹp, sinh động hơn nhiều.

->KL: Cảnh mùa xuân thật thanh bình yên ả Đó chính là cảnh mùa xuân quen thuộc trên đất nước

ta Bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp không chỉ giúp chúng ta thấy đc tài năng miêu tả điêu luyện của nhà thơ mà còn cho thấy tâm hồn nhạy cảm yêu cái đẹp, gắn bó với thiên nhiên, quê hương , đất nước tha thiết của ông

2/Cảnh lễ hội mùa xuân:

Giữa khung cảnh mùa xuân tươi đẹp, trong tiết thanh minh , cảnh lễ hội thật tưng bừng, náo nhiệt

-Thanh minh…đạp thanh

+ Với hai dòng tơ tự sự ngắn gon, ND đã giới thiệu đc nét sinh hoạt văn hoá có tính truyền thống củaDT:Lễ tảo mộ-sửa sang phần mộ cho người đã khất, còn hội đạp thanh-du xuân trên đồng quê Lễ

và hội là hai hình thức văn hoá riêng biệt nhưng gắn bó với nhau Cách giới thiệu Lễ trước, hội sau

đúng theo phong tục của người VN Phép điệp từ ‘là’ , điệp cấu trúc cú pháp đã gợi lên cảnh lễ hội, đình đám triền miên vào dịp tháng 3 trên đất nước ta đúng như trong lời ca dao:“tháng giêng là tháng ăn chơi-tháng hai cờ bạc, tháng 3 hội hè”

-Trước hết là bức tranh về cảnh trảy hội:

Gần xa…

Dập dìu tài từ, giai nhân

Ngựa …nêm

+Một bức tranh sinh hoạt lễ hội có lễ, có hội, có gần có xa, có rất nhiều người đến tham dự nhất là

nam thanh, nữ tú ‘tài tử, giai nhân” mở ra trước mắt người đọc H/a ản dụ “Yến anh” làm nổi bật vẻ đẹp , sự trẻ trung của con người Các từ láy, từ ghép được sd liên tiếp “ gần xa, yến anh, ngựa xe,

áo quần,” , nô nức, dập dìu, …kết hợp với phép so sánh “ như nước, như nêm” đã thể hiện chân

thực cảnh trảy hội thật tưng bừng, náo nhiệt Trên các nẻo đường gần-xa, từ phố xá đông đúc tới thôn cùng xóm vắng , từng dòng người với niềm vui , tâm trạng nô nức, phấn khởi cuồn cuọn đổ về.Các tài tử, giai nhân vai sánh vai, chân nhịp bước , áo quần đẹp đẽ tươi thắm sắc màu đông nghìn nghịt về dự lễ hội Không khí rộn rã, náo nhiệt khắp các miền quê

+Trong đám người trẻ trung, sang trọng , đẹp đẽ đó có chị em TK Câu thơ “ chị em …chơi xuân”

vừa là lời thông báo cuộc du xuân của chị em K , vừa thể hiện đc tâm trạng chờ trông , mong đợi đc

đi du xuân của họ Có thể nói , với ngòi bút miêu tả tinh tế, điêu luyện, ND đã làm sống lại cảnh lễ hội mùa xuân, một nét đẹp truyền thống của người VN Ai đã từng đi lễ hội chùa Hương, Yên tử , Hội Lim…mới cảm nhận hết cái náo nhiệt, tưng bừng, cái đẹp của lễ hội mùa xuân mà ngòi bút ND miêu tả

-Sau cái rộn rã, tưng bừng của không khí ngày hội là cái nghiêm trang của lễ:

Ngổn ngang gò…giấy bay

Câu thơ làm hiện lên trước mắt người đọc cảnh hương khói mịt mù với các nghi lễ dân gian của người dân đất Việt: cầu khấn, đốt tiền vàng, áo mũ cho người đã khuất Tro vàng cháy rơi lả tả… Con người đi tảo mộ là đi tìm bóng hình của quá khứ , có hồi ức và tưởng niệm Cõi âm và cõi dương , người đang sống và kẻ đã chết , hiện tại và quá khứ đồng hiẹn trong giây phút nghiêm trang này Cólẽ, khi chắp tay cầu khấn, chị em K không chỉ cầu nguyện cho vong linh mà còn gửi gắm baomong ước về tương lai Cảnh tảo mộ mang đạm nét đặc trưng của VH DG đất Việt

KL: TL , chỉ với 8 dòng thơ nhưng ND đã tái hiện chân thực khung cảnh lế hội tháng 3 đông vui, náo nhiệt, với những nét đặc trưng riêng biệt của lễ và hội Qua bức tranh lễ hội đc tái hiện, người đọc cũng cảm nhận đc hồn thơ đận chất dt của ND

3/6 câu cuối: cảnh chị em K du xuân trở về:

Trang 6

a/cảnh vật chiều xuân:

-Ngày vui nào rồi cũng trôi qua, hội đã tàn , chị em K trở về vào lúc chiều tà:

Tà …ra về

Nhịp thơ chậm rãi như nhịp bước chân thơ thẩn của người trở về Cảnh vật dưới con mắt của người

về hiện lên đìu hiu, quạnh vắng:

Bước lần …bắc ngang Mặt trời đã ngả bóng, nắng đã nhạt nước chỉ là “ngọn tiểu khê” với dòng nước uốn quanh, nao nao, lững lờ ; Bốn bề “ thanh thanh” tĩnh mịch, lặng lẽ Xa xa, tận cuối ghềnh là cây cầu “nho nhỏ” bắc

ngang …cảnh vật và thời gian đc miêu tả băng bút pháp ước lệ, tượng trưng nhưng vẫn sống đọng vàgần gũi , thân quen với con người Cảnh chiều xuân vẫn đẹp nhưng đâu còn cái khoáng đạt, cao rộng , nhộn nhịp như buổi sáng mùa xuân, cũng không còn cái náo nhiệt tưng bừng của lúc đang hội.tất cả đều nhỏ bé và như đang chìm dần vào tĩnh lặng.->Cảnh thật buồn vắng bởi đc cảm nhận qua

tâm trạng của con người các từ “ tà tà”, ‘thanh thanh”, “nao nao” không chỉ diễn tả cái vắng, cái

tàn dần của cảnh mà còn thể hiện tâm trạng con người đó là tâm trạng xao xuyến, bâng khuâng , tiếc nuối ngày vui đã hết Nỗi buồn đó thấm sâu vào cảnh vật, lan toả trong tâm hồn giai nhân đa

sầu đa cảm từ “nao nao” còn gợi cái dự cảm không lành sắp xảy đến Quả như vậy, sau lúc này

đây, K gặp mộ Đạm Tiên, đc báo trước kiếp đoạn trường chìm nổi của nàng

->Đoạn thơ cuối là tuyệt bút tả cảnh ngụ tình của ND Với đoạn thơ, ND không chỉ khắc hoạ đc nét đặc trưng của cảnh vật buồn vắng, đìu hiu mà thông qua đó còn thể hiện sinh động tâm trạng của chị

em K: những giai nhân có tâm hồn nhạy cảm, da sầu, đa cảm

4/Nghệ thuật:

-Nghệ thuật miêu tả đặc sắc:

+Tả cảnh thiên nhiên sống động: cũng là cảnh mùa xuân song ở từng thời điểm lại có sự khác biệt.+ Cảnh gắn chặt với tâm trạng của con người ngòi bút tả cảnh ngụ tình đạt đến mức điêu luyện-ngôn ngữ chọn lọc,tinh tế t/g sd nhiều từ Hán Việt tạo nên nét trang trọng cho bưc tranh lễ hội mùaxuân

Trang 7

Mã Giám Sinh mua Kiều

(Nguyễn Du)

I/ THC:

1/Vị trí của đoạn trích :

-Nằm ở phần hai của tác phẩm : “gia biến và lưu lạc”

2/Đại ý: Đoạn trích thuật lại cuộc mua bán TK đc nấp dưới hình thức lễ vấn danh Qua đó , đoạn

trích thể hiện chân thực, sinh động chân dung MGS, một tên buôn thịt, bán người tàn ác, bỉ ổi và tâm trạng đau đớn của nàng K trong cảnh ngộ bất hạnh đầu đời

3/Bố cục: 2 phần

-10 câu đầu :Chân dung MGS

-Còn lại: Cuộc mua bán TK

II/Phân tích:

1/Nhân vật mGS

a/H/c xuất hiện:

-Gia đình K mắc oan, cha và em nàng bị bọn sai nha bắt và đánh đập tàn nhẫn

-K đã hy sinh mối tình đầu trong trắng với KT , quyết định bán mình để lấy tiền chuộc tội cho cha và

Có thể nói MGS có nguồn gốc, lại lịch mù mờ, không rõ ràng

c/Cách nói năng:

-MGS tự giới thiệu là hs trường Giám , đóng vai một chàng thư sinh theo đòi nghiên sách :

Hỏi tên , rằng : “MGS”

Hỏi quê, rằng: “Huyện…cũng gần”

-Hắn chỉ giới thiệu họ Mã, còn GS là tước hiệu.Cách giới thiệu quê cũng không rõ Thực chất hắn ở Lâm Tri , cách rất xa quê hương của TK nhưng lại nói dối là Lâm Thanh Quê xa nhưng cách nói đưa đẩy kéo lại cho gần Như vậy, danh tính, quê quán của MGS đều mập mờ , thể hiện ra sự dối trá

-Cách nói năng nhát gừng , cộc lốc, mập mờ đã tố cáo bản chất vô học, thô lỗ của một kẻ vô văn hoá, không giống như hắn tự nhận

d/Diện mạo:

-Lai lịch, cách nói năng của mGS buộc người nghe phải nhìn nhận lại diện mạo của hắn:

Qua niên…bảnh bao +Hắn đã “ ngoại tứ tuần”-ngoài 40, ở cái tuổi mà con người thời đó đã lên lão, phải để râu, búi tóc

nhưng MGS lại chải chuốt, trưng diện thái quá

+ “Mày râu nhẵn nhụi” gợi h/a thiếu tự nhiên, râu cạo nhẵn, lông mày tỉa tót , trông rất trai lơ Từ nhẵn nhụi gợi sự phẳng lì, trơ trẽn trên khuôn mặt MGS

+Cách ăn mặc lại càng lố lăng hơn “ áo quần bảnh bao” ND đã cố ý làm nổi bật sự đối lập giữa

tuổi tác với cung cách chải chuốt của MGS để làm nổi bật diện mạo kệch cỡm của hắn Các từ

“nhẵn nhụi”, “bảnh bao” không chỉ gợi dáng vẻ của hắn mà còn thể hiện kín đáo thái độ châm biếm,

Trang 8

mỉa mai của ND Với diện mào này, ND đã hé lộ cho người đọc thấy tên họ Mã này là một kẻ thiếu đứng đắn, hình như hắn đang cố che đậy một điều gì đó qua cách tỉa tót, chải chuốt ấy.

-> như vậy qua lai lịch, cách nói năng, diện mạo , MGS đã để lộ sự giả dối của hắn

e/Cử chỉ, hành động:

Dù cố che đậy nhưng bản chất vô học của MGS vẫn lộ dần ra

-Trước hết là qua đám rước của hắn kéo vào nhà K:

Trước …lao xao

Mã đến nhà K cũng học đòi có thấy, có tớ ra vẻ sang trọng , bước đi có kẻ đón, người đưa, kẻ hầu người hạ Nhưng đám thầy tớ ấy lại lao xao, bát nháo , không có chút tôn ti trật tự, thiếu nề nếp đángkhinh, khác hẳn với sự xuất hiện của KT:

Đề huề lưng túi ….Sau chân theo …con con

KT xuất hiện sang trong , lịch sự bao nhiêu thì sự có mặt của MGS lại ồn ào, láo nháo bấy nhiêu Đây là tín hiệu thứ nhất chứng tỏ tên họ Mã không phải người có học như hắn tự nhận

-Hắn đc đưa rước vào nhà K rất trịnh trọng nhưng h/đ lại lố bịch, đáng khinh:

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

“Ghế trên” chỉ vị trí trang trọg lịch sự , dành cho các bậc cao niên, huynh trưởng trong gia đình

MGS là kẻ đi hỏi thiếp , chỉ vào hàng con cháu mà lại dám ngồi vào một cáhc chỗm chệ, vắt vẻo , thiếu văn hoá: “ ngồi tót sỗ sàng” Hành động ấy đã vạch trần bản chất thô lỗ, thiếu lịch sự , hợm của, khinh người, hám lợi của hắn Với tín hiệu này thì cái mặt lạ có học của MGS đã bị lột bỏ, hắn hiện nguyên hình là tên vô học, lưu manh

f/Bản chất của MGS qua cuộc mua bán TK:

-Trong cuộc gặp gỡ với TK, MGS lộ rõ thái độ lạnh lùng tàn nhẫn hắn không một lời hỏi thăm , chia sẻ gia cảnh với gia đình K, dẫu không vì lòng thương cảm thì cũng vì phép lịch sự; hắn cũng không một chút rung động trước nhan sắc chim sa cá lặn của nàng K “ nét buồn như cúc, điệu gầy như mai” Tất cả chỉ là sự xem xét một cách tỉ mỉ , sành sỏi của một kẻ quen nghề mua bán:

Đắn đo…quạt thơ

Từ “đắn đo, cân’ đã thể hiện cụ thể thái độ cân nhắc, tính toán thiệt hơn kĩ càng của MGS Hắn xemxét nhan sắc , thủ ép tài nghệ đàn, tài làm thơ của K Như vậy, dưới con mắt của MGS, tài hoa, nhansắc, nhân phẩm của K chỉ như một món hàng mà hắn -người mua phải xem xét thật kĩ để mua cho lợi

-Trước “ món hàng” tuyệt hảo, MGS hoàn toàn vừa lòng:

Với cáhc nói văn hoa “ ngọc Lam Kiều”, “sính nghi”, “ xin dạy” , hắn cũng tỏ ra là ngwoif có học ,

song lời lẽ không giấu đc sự sốt ruột của một con buôn khi gặp “ món hàng hời”

-Khi mụ mối vừa đưa giá “ 1000 vàng” thì bản chất con buôn keo kiệt, bủn xỉn trỗi dậy:

Trang 9

nàng Kiều với cái giá ngoài 400 lạng- một cái giá chỉ còn non nửa, bằng sự mặc cả riết róng của mình Qua màn mua bán , MGS đã để lộ bản chất con buôn tàn ác , nhẫn tâm, ti tiện , bỉ ổi Hắn là một con buôn ghê tởm nhất của thời đại : buôn thịt, bán người

-Từ “ vâng “ cho thấy cuộc mua bán đã xong , K chấp nhận dấn thân vào dòng đời ô trọc

KL: Có thể nói , với bút pháp tả thực, Nhân vật MGS hiện lên thật chân thực, sinh động từ diện mạo , lời nói, hành động, đến tính cách , bản chất Cùng với các nhân vật khác như TB, BB, BH…MGS đã trở thành nhân vật điển hình cho những kẻ buôn người tàn ác , táng tận lương tâm trong xã hội phong kiến

-Tuy khách quan khi miêu tả nhưng thông qua các câu chữ, người đọc vẫn cảm nhận đc thái độ khinh bỉ, căm ghét , tố cáo gay gắt của ND đối với MGS.

2/Nhân vật TK:

a/Hoàn cảnh:

-K là thiếu nữ hiếu thảo , giàu đức hi sinh Trong cơn tai biến , nàng đã phải sống trong tâm trạng giằng xé dữ dội, một bên tình, bên hiếu để rồi quyết định bán mình cứu cha và em:

Hạt mưa sa nghĩ phận hèn…ba xuân

-Trong màn kịch lễ vấn danh , phải đối mặt với MGS, nhận ra bản chất bất nhân của gã , tâm trngj k

là đau đớn tủi hổ:

Nỗi mình…nhà Thềm hoa…mấy hàng

Nỗi mình là nỗi đau khổ vì tình yêu trong trắng vừa bị tan vỡ, là nỗi đau phải bán mình, rồi đây không biết đi về đâu? Nỗi nhà là nõi uất ức vì gia cảnh bị vu oan, đau xót vì gia đình đang yên ấm bỗng chia lìa, tan nát Hai nỗi đau ấy vò xé lòng Kiều khiến nàng rơi lệ mỗi bước nàng ra gặp MGS

theo sự giục giã của mụ mối là mỗi bước lệ rơi lã chã: “ thềm ….mấy hàng” Có thể nói , ND đã

miêu tả chân thực tâm trạng khổ đau , xót xa tột độ của nàng K thông qua vc miêu tả ý nghĩ, hàng động ,dáng vẻ bên ngoài

-Không chỉ đau đớn, trong cảnh ngộ này, K còn thấy ngại ngùng, sượng sùng:

Ngại ngùng…e sương

H/a ẩn dụ so sánh rát chính xác gợi cảm : K e ngại khi ra trước MGS như bông hoa e ngại ra trứơc sương gió, sợ bị gió sương dập vùi Nàng vốn là cô gái khê các , quen sống nề nếp , kín đáo , nay bỗng phải chườm mặt ra trước người lạ để họ vén tóc, bắt tay…nàng thấy sượng sùng, xấu hổ Nàng thấy thẹn trước hoa, thấy mình không đc trong trắng như hoa kia, thấy mặt dày trứơc gương Đó là nỗi tủi hổ , nhục nhã của người ý thức đc nhân phẩm , thân phận của mình

-Nỗi đau, sự tủi nhục khiến nàng câm lặng tuyệt đối, làm mọi vc theo sự chỉ đạo của mụ mối và yêu cầu cảu MGS:

Ép cung…

Nét buồn như cúc , điệu gầy như mai

-Chỉ với hai h/a ước lệ, ND đã gợi đc h/a thân xác hao gầy , nét mặt ủ rũ Trong khổ đau, K vẫn đẹp , một vẻ đẹp não nùng Nàng lặng lẽ chịu đựng vì nàng là người chủ động bán mình nhưng vẫn không giấu đc sự xót xa , tủi nhục Nhan sắc, tái hoa chỉ làm tăng thêm bi kịch cho số phận khi mà :

“ cành hoa đem bán cho người lái buôn”

KL: Tóm lại, với bút pháp ước lệ, tượng trưng , với nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc, phân tích tâm lý lô gích, ND đã khắc hoạ sinh động tâm trạng đau đớn tột cùng của nàng K trong bi kịch đầu tiên của c/đ Có thể nói ND đã hoá thân thành NV để nói hộ nỗi lòng nàng với một thái độ trân trọng, thương cảm sâu sắc.

Trang 10

Kiều ở lầu Ngưng Bích

( Trích “ TK “- ND)

I/THC:

Trang 11

-6 câu đầu: hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của nàng K.

-8 câu tiếp: Nỗi nhớ người yêu và cha mẹ của nàng K

-8 câu cuối : Nỗi buòn đau của K

II/Phân tích:

1/Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của nàng Kiều :

a/Cảnh ngộ của K:

Sau khi thất tiết với MGS, bị TB đánh đập, K đã rút dao quyên sinh nhưng không chết TB sợ mất

cả vốn lẫn lãi nên đã chăm sóc thuốc thang, lựa lời ngon ngọt khuyên giải nàng Mụ hưas cho Kiều

ra ở lầu NB để đợi có người tử tế thì gả chồng cho nàng nhưng thực chất là giam lỏng Hai chữ “ khoá xuân” đã nói lên thân phận cá chậu, chim lồng của K

b/Cảnh thiên nhiên trước lầu NB qua con mắt của nàng K và tâm trạng của TK:

-Cảnh thiên nhiên đc vẽ ra với chiều xa của dãy núi, chiều cao của mảnh trăng gần:

Trước lầu NB khoá xuân

Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung

Câu thơ có hai cách hiểu Một là K ở trên lầu cao nhìn thấy dãy núi mờ xa và mảnh trăng gần như ở chung trong một vòm trời Hai là non xa và trăng gần cùng ở chung trong một bầu trời với K Dù hiểu theo cách nào đi nữa thì ngươì đọc vẫn cảm nhận đc lầu NB thật cao và trơ trọi Căn lầu đó lại đang giam hãm thân phận trơ trọi xung quanh K chẳng có một bóng người, chỉ có núi và trăng làm bạn những người bạn ấy đâu có thể an ủi đc nỗi buồn đang chất chứa của K

-Câu thơ thứ ba vẽ ra chiều rộng bao la , bát ngát của lầu NB:

Bốn bề bát ….xa trông.

Cát vàng ….dặm kia

-Đưa tầm mắt ra bốn phương, tám hướng , K chỉ thấy một không gian vắng lặng, bao la Một bên là những cồn cát vàng nhấp nhô như sóng lượn, một bên là bụi hồng mờ mịt các nẻo đường Cảnh thiênnhiên đẹp nhưng vắng lặng, rợn ngợp, không một âm thanh hay dấu hiệu của sự sống con người Cảnh ngổn ngang , không rõ ngày hay đêm, hoang vắng gợi tâm trạng cô đơn, lạnh lẽo , rối bời củanàng TK

Không gian thì mênh mông , vắng lặng, thời gian thì tuần hoàn khép kín:

Bẽ bàng ….đèn khuya Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng Cụm từ “ mây sớm, đèn khuya” gợi cho ta thấy thời gian giam hãm con người, Sớm rồi đến khuya,

ngày và đêm trôi qua, K sống thui thủi một mình không có ai bầu bạn Ngày qua ngày, nàng chỉ làm bạn với áng mây buổi sớm và ngọn đèn canh khuya Cảnh ấy, tình ấy càng làm cho k thêm chua xót, bẽ bàng, tủi hổ Nỗi buồn đau như dao cắt vào lòng nàng, K rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối

KL: Chỉ với 6 dàng thơ, với bút pháp tả cảnh, ngụ tình đặc sắc, Đoạn thơ đã khắc hoạ đc cảnh ngộ cô đơn và tâm trạng bẽ bàng, chua xót của nàng K

2/ 8 câu tiếp là Nỗi nhớ người yêu, cha mẹ của K:Trong cảnh ngộ cô dơn, K nhớ về người thân ,

những mong để lòng ấm lại

a/trước hết , K nhớ đến KT:

Tưởng người cho phai

Ngày đăng: 02/03/2023, 12:45

w