KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG SỐ 41 (6/2013) 114 XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG TRONG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SRÊPOK Ngô Thị Thùy Dương1, Lê Đình Thành2, Phan Văn Yên2 Tóm tắt Sông Sr[.]
Trang 1XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG TRONG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT
LƯU VỰC SÔNG SRÊPOK
Ngô Thị Thùy Dương 1 ,
Lê Đình Thành 2 , Phan Văn Yên 2
Tóm tắt: Sông Srêpok có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc
phòng, quan hệ quốc tế và bảo vệ môi trường của khu vực Tây Nguyên Hiện nay trên lưu vực đang
có nhiều hoạt động liên quan đến phát triển và sử dụng tài nguyên nước mặt từ thủy lợi tưới tiêu và cấp nước, đến thủy điện, giao thông thủy, du lịch,…Tuy nhiên các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt trên lưu vực đã và đang gây ra những vấn đề mâu thuẫn gay gắt có tiềm năng gây
ra các xung đột môi trường Trên quan điểm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, trong nghiên cứu này các tác giả bước đầu đưa ra những kết quả phân tích về những nguyên nhân, nguy
cơ về xung đột môi trường trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt trên lưu vực Srêpok cùng với những đề xuất khắc phục và giảm thiểu
Từ khóa: sông Srêpok, xung đột môi trường, thủy điện, tưới tiêu, tài nguyên nước mặt
1 TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT LƯU VỰC
SÔNG SRÊPOK VÀ KHAI THÁC SỬ DỤNG
1.1 Tài nguyên nước mặt lưu vực sông
Srêpok
Sông Srêpok là con sông lớn nhất của Tây
Nguyên và là một trong những chi lưu chính của
khu vực hạ lưu sông Mê Công, bắt nguồn từ dãy
Trường Sơn chảy về hường Tây đổ vào sông
Mekong gần Strung Treng Diện tích lưu vực 29.500 km2 trong đó thuộc lãnh thổ Việt Nam 18.264 km2 với 240 km chung biên giới với Cam pu chia, sông chảy qua địa phận các tỉnh Đak Lak, Đak Nông, Gia Lai và Lâm Đồng Lưu vực sông Srêpok có ý nghĩa hết sức quan trọng không những đối với Tây Nguyên Một số đặc trưng hình thái các sông nhánh như bảng 1
Bảng 1: Đặc trưng hình thái một số sông nhánh lớn lưu vực Srêpok
Sông nhánh F
(km2)
LS (km) LLV (km) Hbq l/v(m) JLS (%o) Mật độ sông
(km/km2)
1Do đặc điểm địa hình và vị trí địa lý của lưu
vực nên lượng mưa trung bình nhiều năm trên
toàn lưu vực khoảng 1.825 mm, nhưng thay đổi
khá lớn theo không gian, nơi mưa nhiều nhất là
vùng Đak Nông (2.530 mm), nơi ít mưa nhất là
vùng Krong Buk (1.450 mm) hay vùng Buôn
Hồ (1.565 mm) Mùa mưa trong lưu vực kéo dài
từ tháng V đến X, có nơi tới tháng XI như vùng
1
Viện Quản lý Giáo dục;
2
Trường Đại học Thủy lợi
M'Đrak thượng nguồn sông Krong Ana, Krong Kno Tổng lượng mưa trong mùa mưa ở hầu hết các nơi trên lưu vực chiếm khoảng trên dưới 85% tổng lượng mưa cả năm, tháng VIII và tháng IX là những tháng có lượng mưa lớn nhất Theo các nghiên cứu đánh giá gần đây, tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm của lưu vực sông Srêpok (phần Việt Nam) đạt 9,69 tỷ
m3 (Phạm Tấn Hà, 2006) Lưu lượng và tổng lượng trung bình nhiều năm tại các tuyến trên sông Srêpok như bảng 2
Trang 2Bảng 2: Đặc trưng dòng chảy trung bình nhiều năm sông Srêpok
TT Tuyến F (km2) Q0 (m3/s) M0 (l/s.km2) W0 (109m3)
Trong năm dòng chảy sông Srêpok có hai
mùa rõ rệt tùy theo từng sông nhánh Trên
nhánh Krong Ana tại Sơn Giang mùa lũ từ IX
đến XII (chiếm 67,5% so với lượng dòng chảy
năm); tại Đức Xuyên nhánh Krong Kno mùa lũ
từ VII đến XI (chiếm 71,5% so với lượng dòng
chảy năm); tại Cầu 14 trên dòng chính Srêpok
mùa lũ từ VIII đến XII (chiếm 70% so với
lượng dòng chảy năm) Tháng có dòng chảy lớn
nhất thường vào tháng X, XI và nhỏ nhất vào
tháng III, IV
Lưu lượng lũ lớn nhất tại Đức Xuyên ngày
10/X/2000 có đỉnh lũ 4.020 m3/s (q=1,3
m3/s/km2); tại Cầu 14 đỉnh lũ
lớn nhất đo được là 3.600 m3/s
ngày 12/X/2000 Ngược lại vào
mùa khô lưu lượng lưu lượng
nước trong sông lại rất nhỏ, ví
dụ tại Đức Xuyên ngày
2/V/1986 chỉ đạt 9,80 m3/s (tức
3,19 l/s/km2), còn trên dòng
chính Srêpok tại Cầu 14 lưu
lượng nhỏ nhất đo được ngày
11/IV/1978 là 20,4 m3/s (tức chỉ
2,34 l/s/km2)
Như vậy có thể đánh giá tài
nguyên nước mặt lưu vực sông
Srêpok khá phong phú nhưng
phân phối rất không đều theo
không gian và thời gian Mùa lũ
mô đun dòng chảy trung bình
mùa trên toàn lưu vực vào khoảng 42,4 l/s/km2, lớn nhất tại Đắc Nông (89,3 l/s/km2, nhỏ nhất là tại Cầu 42 (32,7 l/s/km2)
1.2 Khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt
Nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực Srêpok
có thể chia thanh hai nhóm gồm:
(i)- sử dụng làm tiêu hao lượng nước như tưới nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt và công nghiệp;
(ii)- sử dụng không tiêu hao nước như thủy điện, giao thông thủy, nuôi trồng thủy sản trên sông, hồ
Hình 1: Phát triển thủy điện trên lưu vực sông Srêpok
Trang 3Thực tế trên lưu vực chủ yếu tiêu hao nguồn
nước là sử dụng cho tưới cây nông nghiệp và
cây công nghiệp, nhu cầu nước sinh hoạt không
lớn với tỷ lệ dân ở đô thị khoảng trên 20% và
chỉ tập trung ở Buôn Mê Thuật và chủ yếu lấy
nước ngầm (công suất 49.000 m3/ngày đêm) và
mới cấp được 60% dân số Công nghiệp trong
khu vực chủ yếu là chế biến nông lâm sản, thực
phẩm, hiện trên địa bàn Đăc Lăc đã có một số
khu công nghiệp đáng kể như Hòa Phú, 181 ha
và Buôn Hồ 69,3 ha, hay khu công nghiệp Tâm
Thắng thuộc Đăk Nông Tuy nhiên lượng nước
cấp cho sinh hoạt và công nghiệp là chưa đáng
kể so với tưới nông nghiệp, nên trong nghiên
cứu này chỉ phân tích và đánh giá hai ngành chủ yếu là thủy lợi tưới và thủy điện
Khai thác và sử dụng nước cho tưới, đến nay trên lưu vực đã có tới 436 hồ chứa, 79 đập dâng
và 14 trạm bơm với tổng năng lực tưới thiết kế 69.292 ha, tuy nhiên hiệu quả sử dụng còn thấp mới đạt 58% so với thiết kế Các công trình thuỷ lợi chưa phát huy hết năng lực tưới thiết kế do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân do hầu hết các hệ thống kênh dẫn chưa ddaayd đủ hoặc xuống cấp gây tổn thất nước lớn, chưa có quy trình vận hành khai thác
hệ thống dẫn đến lãng phí nước và hiệu quả tưới thấp
Bảng 3: Hiện trạng công trình thuỷ lợi lưu vực sông Srêpok
kế (ha)
F thực tưới (ha)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Các Sở nông nghiệp và PTNT các tỉnh Tây Nguyên
Các công trình thủy điện trên lưu vực là hoạt
động khai thác tài nguyên nước mạnh mẽ nhất
và sôi động nhất Trên dòng chính Srêpok theo
quy hoạch có tới 6 công trình với tổng công suất
lắp máy 694 MW gồm: Đức Xuyên, Buôn Tua Srah, Buôn Kuop, Srêpok 3 và Srêpok 4 (bảng 4), thủy điện Srêpok 4A mới được xây dựng bổ sung
Bảng 4: Các công trình thủy điện trên dòng chính Srêpok
TT Công trình Flv
( Km2 )
Nlm ( MW)
Eo ( GMH) Ghi chú
2 Buôn Tua Srah 2930 85 335 Hoàn thành 12/2008
Nguồn: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)
Ngoài ra trên lưu vực có hàng chục công trình thủy điện nhỏ (công suất <30MW) đã được phê duyệt quy hoạch, trong đó một số đã được xây dựng và khai thác (bảng 5)
Trang 4Bảng 5: Các công trình thủy điện nhỏ trên lưu vực Srêpok
TT Công trình Địa phương N
(KW)
TT Công trình Địa phương N
(KW)
1 Ea Hleo Ea Hleo 300 6 Ea Nao Buôn Ma Thuột 280
3 Krong Kma Krong Bông 200 8 Ia Đrăng 1 Chư Prông 600
5 Ea Hrao Buôn Ma Thuột 480 10 Ia Lôp Chư Prông 250
Nguồn: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)
2 XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG TRONG SỬ
DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT LƯU VỰC
SRÊPOK
2.1 Những xung đột môi trường chủ yếu
trong sử dụng nước mặt:
Tài nguyên nước mặt trên lưu vực Srêpok
đang chịu những áp lực ngày càng lớn do phát
triển kinh tế, xã hội, gia tăng dân số, làm phát
sinh những mâu thuẫn trong sử dụng và bảo vệ
tài nguyên nước Kết quả nghiên cứu và đánh
giá cho thấy những mâu thuẫn chính hiện có
trong sử dụng nước trên lưu vực gồm:
1- Xung đột trong sử dụng nước giữa thuỷ
điện và thuỷ lợi Do phát điện khiến mực nước
hồ chứa hạ thấp làm trạm bơm xung quanh hồ
không hoạt động được; công trình thuỷ điện giữ
nước do tích nước phát điện gây thiếu nước tưới
cho công trình thuỷ lợi phía hạ lưu và làm mực
nước sông hạ lưu giảm thấp dẫn đến các công
trình lấy nước như cống, trạm bơm không hoạt
động được Ngoài ra, khi mực nước sông hạ lưu
giảm thấp tạo điều kiện cho khai thác cát sỏi gia
tăng đáng kể làm thay đổi lòng dẫn và mực
nước hạ lưu,
2- Xung đột do sử dụng nước giữa thượng và
hạ lưu Điều này đặc biệt xảy ra với các hồ chứa
thủy lợi nhỏ, ví dụ hồ Ea Kuăng thuộc huyện
Krông Buk tỉnh Đăc Lăc có dung tích hữu ích
5,50 triệu m3 tưới cho 1.200 ha cà phê Hồ này
do nông trường Phước An khai thác và quản lý,
mâu thuẫn trong sử dụng nước giữa thượng và
hạ lưu hồ xảy ra khi nông trường Phước An tách
thêm nông trường tháng 10 Khi đó 02 nông
trường này cùng sử dụng nước trong hồ Ea
Kuăng nhưng do tính cạnh tranh và không có sự
quản lý chặt chẽ về nguồn nước của địa phương,
theo phương châm mạnh ai người đó làm
3- Xung đột môi trường trong quản lý nguồn
nước thải Lưu vực Srêpok là vùng sản xuất
nông nghiệp lớn nhất Tây Nguyên, trong đó cà phê, sắn, cao su, mía đường có sản lượng hàng năm rất lớn Hiện đã có một số khu công nghiệp, nhà máy chế biến nông sản như chế biến
mủ cao su, sản xuất tinh bột sắn trong vùng Tuy vậy một số nhà máy đã được xây dựng và
đi vào hoạt động nhưng hệ thống xử lý nước thải không có hoặc ở mức đơn giản, ví dụ nhà máy sản xuất tinh bột sắn nước thải ra có mùi rất hôi thối, hay có nhà máy nước thải xả chảy xuống suối làm chết cá Đặc biệt nước thải vẫn
là vấn đề quan tâm ở một số khu công nghiệp lớn như Hòa Phú, 181 ha và Buôn Hồ 69,3 ha thuộc Đăc Lăc, hay khu công nghiệp Tâm Thắng thuộc Đăk Nông cùng với nhiều khu công nghiệp nhỏ khác trên lưu vực
4- Xung đột trong vận hành giữa trữ nước và
xả nước của các hồ chứa thuỷ điện Hồ chứa
thủy điện luôn hoạt động theo cơ chế điều tiết (trữ nước vào hồ và xả nước khỏi hồ) bởi nhu cầu tiêu thụ điện năng hàng ngày, do vậy việc trữ nước vào hồ để tăng thêm cột nước cho phát điện sẽ làm giảm mực nước ở dòng chính và các nhánh sông ở hạ du, ngược lại nếu xả nước từ
hồ quá nhiều và quá nhanh sẽ làm giảm đáng kể công suất phát điện về sau do cột nước phát điện giảm
Những xung đột trong sử dụng tài nguyên nước mặt lưu vực Srêpok dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với kinh tế, xã hội và môi trường như:
- Thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp làm giảm diện tích canh tác, giảm năng suất cây trồng, đặc biệt những năm hạn hán còn gây mất mùa, thiếu lương thực; gây ô nhiễm môi trường dọc sông hạ lưu,
- Sử dụng nước mặt quá mức dẫn đến dòng
Trang 5chảy sông suối bị cạn kiệt, tăng cơ hội khai thác
cát, sỏi tự do không có tổ chức hướng dẫn và
quy định dẫn đến gây xói lở bờ, chế độ dòng
chảy trên sông bị thay đổi
- Nước xả thải từ các cơ sở chế biến không
qua xử lý làm ô nhiễm nguồn nước trên các
sông suối, dẫn đến nguồn thuỷ sinh, thuỷ sản
trên các sông, suối bị huỷ hoại, chất lượng nước
bị ô nhiễm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của
con người trên lưu vực
2.2 Những nguyên nhân chính gây xung
đột môi trường nước mặt lưu vực sông Srêpok
Qua nghiên cứu, khảo sát thực tế về các điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhất là về quản
lý tài nguyên nước trên lưu vực Srêpok cho thấy
những nguyên nhân gây xung đột môi trường
trong sử dụng nước chủ yếu là:
1 Điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sử
dụng tài nguyên nước, trong đó chủ yếu là sự
phân bố rất không đều tài nguyên nước mặt theo
không gian và thời gian, đây là nguyên nhân tự
nhiên gây xung đột môi trường trong sử dụng tài
nguyên nước, đặc biệt là giữa mùa khô và mùa
mưa từ đó yêu cầu tất yếu là phải xây dựng các
hồ chứa để điều tiết Bên cạnh đó sự phân bố đất
đai canh tác và phân bố dân cư chưa phù hợp
với điều kiện tự nhiên và truyền thống văn hóa
cũng làm tăng thêm các nguy cơ xung đột trong
sử dụng nước
2 Quản lý tài nguyên nước trên lưu vực chưa
đồng bộ và thống nhất, cụ thể là đã có “quy
hoạch thuỷ lợi” và “quy hoạch thủy điện” nhưng
mỗi quy hoạch chỉ tập trung vào mục đích của
ngành mình mà chưa có tính quản lý tổng hợp
theo lưu vực sông Quản lý tài nguyên nước trên
lưu vực vẫn theo địa giới hành chính cũng gây
ra rất nhiều khó khăn, đặc biệt trên lưu vực
Srêpok đến nay chưa có “chiến lược và quy
hoạch tổng thể” nên đã tạo ra nhiều xung đột và
khó khăn cho các nhà quản lý khi giải quyết các
vấn đề đầu tư phát triển và bảo vệ môi trường
3 Vận hành khai thác các công trình hồ
chứa, nhất là các hồ thủy điện vẫn theo các mục
tiêu và lợi ích của ngành là chính, vì vậy dẫn
đến các xung đột không thể tránh khỏi giữa lợi
ích năng lượng và mục tiêu phòng chống lũ,
chống hạn và cấp nước cho vùng hạ du Các tiến
bộ khoa học trong dự báo, vận hành còn thiếu,
đặc biệt là các quy trình vận hành hồ chứa và hệ thống hồ chứa theo lưu vực sông
4 Nhận thức và kiến thức của cộng đồng còn thấp, năng lực của đội ngũ những người làm công tác từ quy hoạch đến vận hành khai thác các công trình thủy lợi, thủy điện không được cập nhật thường xuyên, đặc biệt là các kiến thức
về quản lý tổng hợp tài nguyên nước và bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông Đây là những cản trở trong giảm thiểu các xung đột Những nguyên nhân này dẫn đến việc khai thác sử dụng nước trên lưu vực mang tính tự phát, thiếu kế hoạch, khai thác quá mức, tạo ra nhiều mâu thuẫn trong sử dụng, quản lý làm giảm hiệu quả sử dụng tài nguyên nước và gây hậu quả về môi trường trên lưu vực Srêpok
3 NHỮNG ĐỀ XUẤT NHẰM GIẢM THIỂU XUNG ĐỘT
Trên cơ sở những phân tích các nguyên nhân
và các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến sử dụng tài nguyên nước mặt lưu vực Srêpok cho thấy hiện nay tài nguyên nước mặt trên lưu vực đang chịu những áp lực ngày càng lớn, dẫn đến các xung đột môi trường trong sử dụng nước mặt ngày càng gay gắt Qua các kết quả nghiên cứu và đánh giá, các tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu các xung đột sau đây:
1 Ngay từ giai đoạn quy hoạch phát triển đến quản lý khai thác sử dụng, các ngành sử dụng tài nguyên nước mặt phải xuất phát từ quan điểm tổng hợp, đa mục tiêu theo lưu vực sông Cần có sự phối hợp giữa các ngành từ khi
quy hoạch và xây dựng công trình, trong quá trình khai thác cần cân đối giữa các mục tiêu phát điện và cấp nước Cụ thể đối với các hồ chứa thủy điện lớn đã xây dựng và khai thác thì cần thiết phải xây dựng quy trình điều hành liên
hồ trong đó có các điều kiện ràng buộc về cấp nước, phòng chống thiên tai (lũ, hạn) Đồng thời cần có sự điều hành chung trong khai thác sử dụng nước, đặc biệt đối với các ngành dùng nước tiêu hao như tưới Tăng cường quản lý phát triển sản xuất công nghiệp xả thải, mặc dù hiện nay chất lượng nước ở lưu vực Srêpok chưa thật đáng lo ngại nhưng với nhu cầu và xu thế phát triển công nghiệp chế biến nếu thiếu hệ thống xử lý nước thải hoặc xử lý đơn giản là
Trang 6nguyên nhân gây hậu quả môi trường
2 Tăng cường các cơ chế chính sách và
nguồn lực cho quản lý tài nguyên nước Trước
hết cần xây dựng các văn bản pháp lý để giải
quyết các mâu thuẫn sử dụng nước và các quy
định hỗ trợ khác ngay từ khi đưa ra các quy
hoạch khai thác sử dụng tài nguyên nước với sự
đúng đắn về hệ thống công trình, mô hình sản
xuất, vận hành hệ thống công trình thuỷ lợi,
thủy điện trên cơ sở đặc thù của lưu vực Srêpok
Một tổ chức lưu vực sông thống nhất cần phải
có để quản lý, điều hành chung Tiếp theo là
phát triển nguồn lực bao gồm các cán bộ quản
lý, kỹ thuật từ cấp lưu vực, cấp tỉnh, huyện với
các trang thiết bị và công cụ đủ mạnh để có thể
quản lý thống nhất, khai thác hiệu quả tài
nguyên nước đáp ứng nhu cầu phát triển của các
ngành một cách bền vững
3 Đề xuất về thể chế quản lý Tài nguyên
nước lưu vực Srêpok theo các nguyên tắc chung
cơ bản dưới đây:
-Đồng thuận giữa các địa phương trên lưu
vực, giữa các ngành và các hộ dùng nước với sự
công bằng, hợp lý, cùng có lợi, hiệu quả và tiết
kiệm; ưu tiên và hài hòa trong lưu vực sông
chính và sông nhánh;
-Dân chủ, công khai và minh bạch; có thể
phối hợp, điều chỉnh và thỏa thuận;
-Không khai thác quá mức và cạn kiệt tài
nguyên; duy trì dòng chảy môi trường và dòng
chảy cực hạn; và bảo vệ mội trường, sinh thái;
Dựa trên các nguyên tắc này cần xây dựng
“Quy chế chung về sử dụng nước”, trong đó có
các quy định cụ thể về chia sẻ thông tin, theo
dõi giám sát, duy trì dòng chảy đầu nguồn và
trên dòng chính, thông báo và thỏa thuận về kế
hoạch sử dụng nước, vận hành hệ thống công
trình thủy lợi, thủy điện, đảm bảo chất lượng
nước,…
4- Giải pháp công trình bao gồm xây dựng
các công trình bổ sung nguồn nước để cấp đủ
nước tưới nông nghiệp, pha loãng giảm ô
nhiễm, duy trì dòng chảy trên sông, suối và hệ
thống kênh mương; xây dựng hệ thống xử lý
nước thải phù hợp và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật
bằng áp dụng tiến bộ khoa học, thân thiện với
môi trường; trồng rừng và bảo vệ rừng nhằm
giảm dòng chảy lũ, tăng dòng chảy mùa kiệt
5- Thực hiện và nâng cao vai trò của Hội đồng lưu vực sông Srêpok theo Quyết định số 41 –
2006/QĐ-BNN ngày 25/5/2006 Bộ Trưởng bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đây là tổ chức lưu vực sông đầu tiên ở khu vực Tây Nguyên với sự tham gia của các tỉnh trong lưu vực Hội đồng có chức năng điều phối các hoạt động khai thác tổng hợp, sử dụng và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Srêpok trong phạm vi 4 tỉnh Gia Lai, Đăc Lăc, Đăk Nông và Lâm Đồng Thực tế mỗi giải pháp đề cập ở trên đều có điều kiện ứng dụng và thường chỉ giải quyết được một số có hạn các mặt trong xung đột môi trường
Vì vậy, để có thể nâng cao hiệu quả giải quyết và giảm thiểu các xung đột môi trường trong sử dụng tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srêpok, cần phải áp dụng đồng thời nhiều giải pháp để hỗ trợ nhau, ví dụ xây dựng các công trình bổ sung nguồn nước mùa cạn cần phải có giải pháp trồng
và bảo vệ rừng vùng thượng lưu,…
4 KẾT LUẬN
Lưu vực sông Srêpok hiện đang có rất nhiều hoạt động phát triển sôi động có tác động đến tài nguyên nước mặt, dẫn đến nảy sinh các xung đột đáng quan tâm trong sử dụng nước, trong đó đáng lưu ý nhất là phát triển thủy lợi, thủy điện
và các hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm sản và khai thác khoáng sản Các xung đột môi trường trong sử dụng tài nguyên nước mặt trên lưu vực gay gắt nhất là giữa thủy điện và thủy lợi, phòng chống lũ; giữa sử dụng nước thượng lưu và hạ lưu; giữa xả nước thải và bảo vệ môi trường nước
Các nguyên nhân gây ra các xung đột này chủ yếu là do điều kiện và đặc điểm tự nhiên về tài nguyên nước, do quản lý tài nguyên nước chưa có tính tổng hợp theo lưu vực sông từ khâu quy hoạch phát triển (theo từng ngành) đến khâu khai thác vận hành thiếu tính đa mục tiêu của các công trình thủy lợi, thủy điện trên lưu vực
Để giải quyết và giảm thiểu các xung đột và hậu quả của chúng cần phải thực hiện đồng bộ một
số giải pháp cụ thể từ cơ chế, chính sách đến quy hoạch phát triển, vận hành hiệu quả, nâng cao nhận thức, kiến thức của cộng đồng và đội ngũ quản lý, khai thác tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srêpok
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.DANIDA, Quản lý Tổng hợp Tài nguyên Nước lưu vực sông Sêrêpôk, 9/2003
2.Lờ Đỡnh Thành, Nguyễn Lập Dõn và Ngụ Thị Thựy Dương, Những tồn tại trong quản lý, khai thỏc tài nguyờn nước lưu vực Sờ San – Srờpok và hướng giải quyết, Hội nghị Địa lý toàn quốc lần thứ 6, Huế 9/2012
3.Lờ Đỡnh Thành và Ngụ Lờ An, Quản lý tổng hợp Tài nguyờn nước và tỏc động mụi trường xuyờn biờn giới- thực tế ở khu vực Tõy Nguyờn, bài giảng tập huấn Uỷ ban Mờ Cụng Việt Nam, 6/2009
4.Phạm Tấn Hà, Tài nguyờn nước Tõy nguyờn và vấn đề khai thỏc hiệu quả, 2006
5.Lờ Đỡnh Thành và nnk, Cập nhật nghiờn cứu tỏc động mụi trường do phỏt triển thủy điện và tưới trờn lưu vực Sờ San và Srờpok đến hạ du Campuchia, 2008
6.UBND tỉnh Đăc Lăc, Quy hoach tổng thể phỏt triển kinh tế, xó hội tỉnh Đăc Lăc đến năm 2020, thỏng 8/2006
7.Viện Quy hoạch Thủy lợi, Dự ỏn Quy hoạch thủy lợi sụng Srờpok, 2005
8.Viện Năng lượng, Quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ tỉnh Đăc Lăc, 2004
Abstract ENVIRONMENTAL CONFLICTS IN USING THE SURFACE WATER
OF SREPOK RIVER BASIN
The Srepok river basin plays a very important role in socio-economical development,
international cooperation and environmental protection of the Central Highland region There are many activities concerning uses of surface water resources such as hydropower, irrigation and water supply,… in this river basin These activities are creating the environmental conflicts in water use
of different users Basing on the concept of sustainable development, in this paper the environmental conflicts in surface water uses and their reasons have been assessed and presented, and some measures for mitigation of these conflicts have also been proposed
Keywords: Srepok river, environmental conflict, surface water, hydropower, irrigation and
drainage, surface water resources
Phản biện xong: 14/6/2013