1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Trả lời câu hỏi tuần 10

4 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trả lời câu hỏi tuần 10
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thảo
Trường học Đại Học Giao Thông Vận Tải Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị logistics
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 74,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẢ LỜI CÂU HỎI TUẦN 10 Nguyễn Thị Thanh Thảo Lớp QL18B MSSV 1854030151 Nhóm HP 01 Câu 1 Tìm ra sự khác biệt giữa sơ đồ tổ chức logistics tập quyền và sơ đồ tổ chức logistics phân quyền? Tìm ra điều k[.]

Trang 1

TRẢ LỜI CÂU HỎI TUẦN 10

Nguyễn Thị Thanh Thảo

Lớp: QL18B

MSSV: 1854030151

Nhóm HP: 01

Câu 1: Tìm ra sự khác biệt giữa sơ đồ tổ chức logistics tập quyền và sơ đồ tổ chức logistics phân quyền? Tìm ra điều kiện áp dụng cho 2 mô hình này đối với doanh

nghiệp?

Sơ đồ tổ chức logistics tập quyền:

- Tập quyền là chính sách cơ cấu trong đó quyền ra quyết định được tập trung tại cấp cao nhất

trong hệ thống quyền lực của tổ chức Tập quyền gắn với việc những người quản lý cao nhất

General Management

Finance

Analysiss

Accounting

Division A

Sales and Marketing Operation Engineering

Logistics

Order entry and processing Procurement

Inventory management Warehousing and Materials Transportation

Division B

Sales and Marketing Operation Engineering Staff and counsel

Trang 2

quyết định mọi vấn đề quan trọng của tổ chức mà không có sự tham gia hoặc tham gia rất ít của các cấp khác trong tổ chức

- Theo mô hình này, các khu vực sản xuất sản phẩm A (Division A), sản xuất sản phẩm B

(Division B), khu vực sản xuất sản phẩm C (Division C),…có chung một đơn vị (phòng, giám đốc) logistics phụ trách và quản lý, đảm nhiệm hoạt động logistics cho toàn công ty, gọi là tập quyền (tập trung quyền lực logistics vào một nơi) Trong khi đó, từng đơn vị sản xuất sản phẩm (division) có bộ phận sales, marketing, engineering riêng cho mình

- Mô hình cơ cấu này thường được áp dụng cho các công ty nhỏ, số lượng sản phẩm ít, thị trường không rộng mở và đa dạng vì khi đó việc thực hiện các chính sách chung của tổ chức và kiểm soát các hoạt động thường dễ dàng hơn Nếu cơ cấu này áp dụng cho một công ty có quy mô lớn thì có thể làm cho tốc độ ra quyết định và sự phản hồi thông tin trong tổ chức gặp nhiều trở ngại

Sơ đồ tổ chức logistics phân quyền:

General Management

Finance

Analysiss

Accounting

Division A Division B

Sales and Marketing Logistics

Order entry and processing managementInventory Transportation and MaterialsWarehousing Procurement

Operation

Research and Engineering Purchasing

Staff and counsel

Trang 3

- Một tổ chức có tính phân quyền cao là tổ chức mà ở đó các quyết định của tổ chức đều có sự tham gia, đóng góp ý kiến của cả nhân viên và nhà quản lý từ cấp cao nhất tới cấp thấp nhất trong tổ chức

- Theo mô hình này, mỗi một đơn vị sản xuất sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm (có những điểm tương đồng) sẽ được gộp vào một bộ phận chung là Division Trong mỗi Division sẽ có một bộ phận Logistics riêng chịu trách nhiệm hoạt động logistics cho Division của mình Như vậy, có bao nhiêu đơn vị sản xuất sản phẩm (Divion A, Division B, Division C, ) thì có bấy nhiêu bộ phận logistics đảm trách hoạt động logistics cho đơn vị sản xuất đó Điều này có nghĩa là người

ta phần quyền hoạt động logistics ra riêng cho từng sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm nào đó gọi là

cơ cấu tổ chức logistics phân quyền Trong từng Division này có bộ phận marketing, bộ phận sản xuất, bộ phận sales,… ngang hàng với bộ phận logistics

- Mô hình này áp dụng cho các công ty lớn, có nhiều sản phẩm khác biệt nhau, thị trường rộng lớn, khách hàng khác biệt Đây là một mô hình khuyến khích người lao động, nhân viên ở mọi cấp trong tổ chức tham gia vào quá trình ra quyết định trong khi đó vẫn có thể kiểm soát và dự đoán được hành vi của họ

Câu 2: Sự khác nhau giữa phân loại dịch vụ logistics của tổ chức thương   mại thế giới (WTO) và phân loại các dịch vụ logistics của Chính phủ Việt Nam?

- Ngày 30/06/2019, Hiệp định Thương mại

Tự do (EVFTA) và Bảo hộ Đầu tư (EVIPA)

giữa Việt Nam và EU đã được ký kết

- Các cam kết có liên quan đến dịch vụ

logistics trong các Hiệp định, Thỏa thuận thực

chất là cam kết về từng dịch vụ, phân ngành

dịch vụ cụ thể - không có cam kết chung nào

về dịch vụ logistics cả

- Trong bảng phân nhóm các dịch vụ của Liên

- Điều 233, Luật Thương mại năm 2005, lần đầu tiên đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách

Trang 4

Hiệp Quốc (viết tắt là CPC – Central Produc

Classification), được sử dụng để đàm phán

mở cửa thị trường đối với các dịch vụ trong

WTO cũng như một số Hiệp định Thương

mại tự do, không có mã CPC cho dịch vụ

logistics mà chỉ có mã CPC cho các dịch vụ

cụ thể trong mảng hoạt động logistics

- Các dịch vụ logistics được chia thành 3

nhóm:

+ Các dịch vụ logistics chủ yếu

+ Các dịch vụ liên quan đến logistics

+ Các dịch vụ logistics không chủ yếu

hàng để hưởng thù lao Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc”

- Nhóm cốt lõi trong dịch vụ logistics là các dịch vụ vận tải và hỗ trợ vận tải Ngoài ra còn

có thêm một số dịch vụ hỗ trợ mua bán hàng hóa như: chuyển phát, kiểm định, hỗ trợ phân phối,…

- Chính phủ Việt Nam không đưa ra định nghĩa về dịch vụ logistics mà chỉ liệt kê 17 loại dịch vụ được xếp vào nhóm “logistics”

Ngày đăng: 27/02/2023, 10:56

w