TRẢ LỜI CÂU HỎI TUẦN 2 Nguyễn Thị Thanh Thảo Lớp QL18B MSSV 1854030151 Câu 1 Trình bày và giải thích rõ quá trình phát triển BL (theo hướng tích hợp)? Logistics đã có từ thời xa xưa, do chiến tranh, c[.]
Trang 1TRẢ LỜI CÂU HỎI TUẦN 2
Nguyễn Thị Thanh Thảo
Lớp: QL18B
MSSV: 1854030151
Câu 1 Trình bày và giải thích rõ quá trình phát triển BL (theo hướng tích hợp)?
Logistics đã có từ thời xa xưa, do chiến tranh, con người cần vận chuyển vũ khí, lương thực và đạn dược mà hình thành nên Đến năm 1960, logistics phân mảnh và hoạt động theo từng mảng khác nhau như: dự báo nhu cầu, lập kế hoạch, quản lý, vận chuyển, dịch vụ khách hàng,… Mãi đến năm 1980, những mảng có liên quan đến nhau hợp với nhau và tạo thành hai ngành chính: logistics đầu vào (inbound logistics) và logistics đầu ra (outbound logistics)
- Logistics đầu vào: phụ trách toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng nguyên liệu đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp cho tới các tổ chức, bao gồm: dự báo nhu cầu, lập kế hoạch nhu cầu, mua sắm, lập kế hoạch sản xuất và tồn trữ trong sản xuất
- Logistics đầu ra: phụ trách toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng sản phẩm đầu ra cho tới tay khách hàng tại các tổ chức, bao gồm: tồn trữ thành phẩm, lập kế hoạch phân phối, xử lý đơn hàng, vận chuyển và phục vụ khách hàng
Đến năm 2000, logistics đầu ra và logistics đầu vào hợp thành một thể thống nhất và hình thành nên logistics chuỗi cung ứng (supply chain logistics) cho tới bây giờ
Câu 2 Trình bày và giải thích rõ quá trình phát triển BL( theo phạm vi và sự ảnh hưởng)?
Trước những năm 1950, công việc logistics chỉ đơn thuần là một hoạt động chức năng đơn lẻ Trong khi các lĩnh vực marketing và quản trị sản xuất đã có những chuyển biến rất lớn lao thì logistics vẫn chưa hình thành một quan điểm khoa học nào thực sự hiệu quả Những tiến
bộ trong khoa học kỹ thuật, lý thuyết quản lý và công nghệ thông tin đã thúc đẩy logistics lớn mạnh theo thời gian về cả quy mô và tầm ảnh hưởng, tạo nên một làn sóng tư duy đổi mới về tất
cả các khía cạnh của hoạt động này tại các doanh nghiệp từ những năm 1960 cho đến nay Có thể
Trang 2chia quá trình phát triển của logistics kinh doanh trên thế giới thành 5 giai đoạn: Workplace logistics (logistics tại chỗ), Facility logistics (logistics cơ sở sản xuất), Corporate logistics (logistics công ty), Supply chain logistics (logistics chuỗi cung ứng), Global logistics (logistics toàn cầu)
- Workplace logistics: là dòng vận động của nguyên vật liệu tại một vị trí làm việc Mục đích của
WL là hợp lý hoá các hoạt động độc lập của một cá nhân hay của một dây chuyền sản xuất hoặc lắp ráp Lý thuyết và các nguyên tắc hoạt động của WL được đưa ra cho những nhân công làm việc trong lĩnh vực công nghiệp trong và sau chiến tranh thế giới thứ II Điểm nổi bật của WL là tính tổ chức lao động có khoa học
- Facility logistics: là dòng vận động của nguyên vật liệu giữa các xưởng làm việc trong nội bộ một cơ sở sản xuất Cơ sở sản xuất đó có thể là 1 nhà máy, 1 trạm làm việc trung chuyển, 1 nhà kho hoặc 1 trung tâm phân phối Một Facility logistics được nói đến tương tự như là một khâu để giải quyết các vấn đề đảm bảo đúng và đủ nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất đại trà và dây chuyền lắp ráp máy móc
- Corporate logistics: là dòng vận động của nguyên vật liệu và thông tin giữa các cơ sở sản xuất
và các quá trình sản xuất trong một công ty Với công ty sản xuất thì hoạt động logistics diễn ra giữa các nhà máy và các kho chứa hàng, với một đại lý bán buôn thì là giữa các đại lý phân phối của nó, còn với một đại lý bán lẻ thì đó là giữa đại lý phân phối và các cửa hàng bán lẻ của mình Corporate logistics ra đời và chính thức được áp dụng trong kinh doanh vào những năm 1970 Giai đoạn này, hoạt động logistics gắn liền với thuật ngữ phân phối mang tính vật chất Logistics kinh doanh trở thành quá trình mà mục tiêu chung là tạo ra và duy trì một chính sách dịch vụ khách hàng tốt với tổng chi phí logistics thấp
- Supply chain logistics: phát triển vào những năm 1980, quan điểm này nhìn nhận logistics là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tài chính giữa các công ty (các xưởng sản xuất, các cơ sở trong công ty) trong một chuỗi thống nhất Đó là một mạng lưới các cơ sở hạ tầng (nhà máy, kho hàng, cầu cảng, cửa hàng…), các phương tiện (xe tải, tàu hoả, máy bay, tàu biển…) cùng với hệ thống thông tin được kết nối với nhau giữa các nhà cung ứng của một công ty và các khách hàng của công ty đó Các hoạt động logistics (dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ, vận chuyển và bảo quản hàng hoá…) được liên kết với nhau để thực hiện các mục tiêu trong chuỗi
Trang 3cung ứng Điểm nhấn trong chuỗi cung ứng là tính tương tác và sự kết nối giữa các chủ thể trong chuỗi thông qua 3 dòng liên kết: dòng thông tin, dòng sản phẩm và dòng tài chính
- Global logistics: là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tiền tệ giữa các quốc gia
Nó liên kết các nhà cung ứng của các nhà cung ứng với khách hàng của khách hàng trên toàn thế giới Các dòng vận động của logistics toàn cầu đó tăng một cách đáng kể trong suốt những năm qua Đó là do quá trình toàn cầu hoá trong nền kinh tế tri thức, việc mở rộng các khối thương mại
và việc mua bán qua mạng Logistics toàn cầu phức tạp hơn nhiều so với logistics trong nước bởi
sự đa dạng phức tạp hơn trong luật chơi, đối thủ cạnh tranh, ngôn ngữ, tiền tệ, múi giờ, văn hoá,
và những rào cản khác trong kinh doanh quốc tế
Hiện nay các lý thuyết về quản lý và hệ thống thông tin vẫn không ngừng được cải tiến nên trong tương lai logistics sẽ vẫn giữ một vai trò quan trọng trong sự thành công hay thất bại của hầu hết các công ty và logistics sẽ vẫn tiếp tục mở rộng quy mô và ảnh hưởng của mình tới hoạt động kinh doanh Có thể tóm tắt quá trình phát triển của BL theo phạm vi và sự ảnh hưởng thông qua hình ảnh dưới đây:
Câu 3 Tìm hiểu về quan điểm về tồn trữ của Nhật Bản :“No stock is the best” và phương pháp KANBAN?
Trang 4“No stock is the best” là một trong những phương châm tuyệt vời mà logistics thực hiện nhằm đạt được mục đích tối ưu hoá quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm Giá bán của một sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giá thành sản xuất ra hàng hóa, chi phí marketing, chi phí vận tải, chi phí bảo quản hàng hóa,… Nếu một sản phẩm tồn kho trong một thời gian dài kéo theo rất nhiều chi phí tăng theo như chi phí cơ hội vốn, chí phí bảo quản, thuê kho, bảo hiểm,…
Vì thế, để giảm giá thành hàng hóa cần phải tổ chức tốt và kiểm soát chặt chẽ chi phí vận tải cũng như các chi phí liên quan đến hàng tồn kho Thành công của nền kinh tế Nhật Bản xuất phát từ nhiều nguyên nhâ, trong đó không thể không kể đến quan điểm của Nhật Bản về quan điểm tồn trữ Theo các nhà kinh tế cũng như các nhà kinh doanh Nhật Bản thì “No stock is the best” có thể hiểu là “không có dự trữ là tốt nhất” Quan niệm này được hiểu theo hai nghĩa:
“không có dự trữ là tốt nhất” và “không có vốn là tốt nhất” hai nghĩa trên đều có chung một bản chất kinh tế vì tiền vốn dưới dạng hiện vật chính là vật tư, sản phẩm Quan niệm này đã giúp cho nền kinh tế Nhật Bản phát triển rất mạnh mẽ và cũng nhận được nhiều ý kiến ủng hộ của các nước như Mỹ và châu Âu
KANBAN là một thuật ngữ bắt nguồn từ công ty chế tạo xe hơi Toyota. Phương pháp
“KANBAN” được phát triển ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Là phương pháp được ông M.OHNO áp dụng ở TOYOTA Motor Company Tại đây phương pháp KANBAN được áp dụng rất tốt từ năm 1958 Theo phương pháp của ông, trong một xưởng sản xuất, chỗ làm việc phía trên (theo hướng của quy trình công nghệ) chỉ sản xuất một khi được chỗ làm việc dưới yêu cầu Chỗ làm việc dưới này lại chỉ sản xuất khi có một chỗ làm việc dưới nữa yêu cầu… chỗ làm việc dưới cùng chỉ sản xuất khi phải thoả mãn một yêu cầu của khách hàng Vì vậy theo phương pháp này cần phải có một hệ thống thông tin truyền nhanh những nhu cầu từ hạ nguồn về thượng nguồn Hệ thống thông tin này tồn tại với tên là phương pháp KANBAN
Nguyên tắc của phương pháp KANBAN như sau:
- Mỗi thùng hàng phải chứa một thẻ Kanban trên đó ghi tên chi tiết, nơi sản xuất, nơi chuyển đến
và số lượng
- Chi tiết luôn được “kéo” bởi công đoạn sau
- Không bắt đầu sản xuất khi không nhận được Kanban
- Mỗi khay, thùng phải đựng đúng số lượng được chỉ định
Trang 5- Không được giao chi tiết phế phẩm cho công đoạn sau
- Số lượng kanban cần được giảm thiểu
- Khoảng thời gian giữa các lần giao cần được giảm thiểu
Có thể hiểu, Kanban là phương pháp quản lý công đoạn sản xuất thực thi bằng các bảng truyền đạt thông tin, các phiếu liên lạc giữa các công đoạn Trong dây chuyền sản xuất không có chi tiết thiếu hay thừa, toàn xưởng sản xuất không có sản phẩm tồn kho, cũng như không có nguyên vật liệu tồn kho.Đúng chính xác giờ A thì chi tiết,vlinh kiện được ráp trên dây chuyền đến công đoạn A, ngay tại thời điểm linh kiện đến công đoạn A thì các bộ phận vệ tinh phải đưa chi tiết (hàng) vào đúng ngay giờ khắc và dây chuyền công đoạn đó, đưa đúng đủ số lượng cần thiết, không dư không thiếu và không thể lệch một phút, khi đến công đoạn B ,C, D thì cũng như vậy cho đến khi hoàn thành sản phẩm hoàn chỉnh Sản phẩm hoàn thành xong sẽ được giao cho khách hàng hoặc đưa xuống cảng tập trung để xuất khẩu ngay lập tức đúng với hợp đồng, vận đơn đặt hàng Không có sản phẩm tồn kho trong bãi sản xuất
Ưu điểm của phương pháp này:
- Độ chính xác giờ giấc
- Độ chính xác sản phẩm
- Tiết kiệm tối đa vật tư và nguyên liệu
- Vòng đời sản phẩm quay nhanh vì khả năng phân tán lao động cao
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những nhược điểm sau:
- Đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng của xã hội tốt, hoàn hảo
- Đòi hỏi toàn dây chuyền sản xuất phải có một hệ thống nhân viên và kỹ thuật viên có trình độ
và kiến thức cao,ý thức kỷ luật lao động cao, bởi vì chỉ cần một nhân viên của bộ phận vệ tinh vô
kỷ luật, kiểm tra một con ốc không kỹ thì cả dây chuyền phải ngưng làm việc
- Đòi hỏi Chính phủ, Nhà nước phải có một hệ thống văn bản pháp luật hỗ trợ sản xuất rành mạch, minh bạch và nghiêm minh, một hệ thống nhân viên chính phủ giữ đúng kỷ cương tôn trọng pháp luật vì ví dụ chỉ cần một nhân viên hải quan nhũng nhiểu làm khó dễ trong lúc chuyển
Trang 6vận hàng hoá phụ kiện là sẽ kéo theo việc ngưng hoạt động toàn bộ dây chuyền liên quan đến toàn bộ quy trình hoạt động ngay lúc đó
- Đòi hỏi chế độ bảo mật kỹ thuật đối với các bộ phận vệ tinh nghiêm ngặt, nếu không rất dễ bị
lộ kỹ thuật ra ngoài
Câu 4 Trình bày và phân tích rõ về những nguyên nhân đòi hỏi logistics phát triển?
Ngành logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và toàn cầu Những nguyên nhân dẫn đến
sự phát triển mạnh mẽ đó là:
- Thương mại hóa toàn cầu: trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay, các giao dịch quốc tế chỉ thực hiện được và mang lại hiệu quả cho quốc gia khi có một hệ thống logistics rẻ tiền và chất lượng cao Ngoài ra, sự tăng trưởng về số lượng của khách hàng đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế Hàng nghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã được giới thiệu, đang được bán ra và phân phối hàng ngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỷ vừa qua Để giải quyết các thách thức do thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà máy liên hợp thay thế cho những nhà máy đơn Hệ thống logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời chính xác Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin: trong thời đại công nghệ 4.0 như hiện nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin giúp ích rất nhiều cho sự hoạt động và phát triển của logistics, đặc biệt là thương mại điện tử Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử đã phá vỡ các giới hạn về không gian và thời gian trước đây trong kinh doanh, thay thế nhiều kênh phân phối truyền thống, đồng thời tạo ra những kênh phân phối mới với yêu cầu cao về tốc độ cung ứng, độ chính xác, khả năng đáp ứng khách hàng tại mọi nơi, mọi lúc, điển hình như Shoppe, Sendo, Lazada, Tiki, Từ đó làm thay đổi bản chất của hoạt động logistics
Trang 7- Chi phí vận tải tăng nhanh: với nhu cầu ngày một tăng của khách hàng thì chi phí vận chuyển hàng hóa từ đó cũng tăng theo Nắm bắt được thực trạng này, các công ty logistics với tư cách là third – party đã mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp và đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của khách hàng
- Tiết kiệm chi phí trong sản xuất đạt đến đỉnh điểm: quan điểm marketing cho rằng:” Kinh doanh tồn tại dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng” Ba thành phần chủ yếu của khái niệm này là sự phối hợp các nỗ lực marketing, thỏa mãn khách hàng và lợi nhuận công ty Logistics đóng vai trò quan trọng với các thành phần này theo cách thức khác nhau Nó giúp phối hợp các biến số marketing –mix, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, trực tiếp làm giảm chi phí, gián tiếp làm tăng lợi nhuận trong dài hạn
- Chi phí hoạt động cung ứng và phân phối còn nhiều bất cập: với một lượng hàng hóa lớn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, logistics đã hình thành các trung tâm phân phối để đáp ứng đủ các nhu cầu đó, giúp cho hàng hóa có thể đến tay người tiêu dùng ở khắp mọi miền với tốc độ nhanh nhất
- Dòng sản phẩm ngày càng nhiều: trên thị trường hiện nay có hàng nghìn sản phẩm với hàng trăm nhãn hiệu khác nhau, mỗi người tiêu dùng thì sẽ có những nhu cầu khác nhau về hàng hóa Với số lượng lớn như vậy thì logistics là một ngành giúp phân phối hàng hóa một cách tốt nhất
và hiệu quả nhất
- Sự quan tâm của xã hội với môi trường: một sản phẩm được tạo ra qua quá trình vận chuyển đến tay người tiêu dùng có thể bị hư hỏng, sau khi sử dụng sẽ bị thải ra môi trường làm ảnh hưởng đến thiên nhiên Từ đây đã hình thành nên logistics ngược (reverse logistics), giúp cho các sản phẩm bị hư hỏng được đưa về để sửa chữa, các sản phẩm bị vứt bỏ đưa về để tái chế, tái
sử dụng để bảo vệ môi trường, hạn chế rác thải
- Tài nguyên khan hiếm: với thực trạng hiện nay, các nguồn nguyên vật liệu có sẵn ngày càng khan hiếm Vì thế, các nhà máy, xí nghiệp cần phải liên kết hợp tác với nhau để chia sẻ các nguồn tài nguyên này Việc chia sẻ nguồn tài nguyên vừa giải quyết vấn đề đầu vào của doanh nghiệp vừa giảm được chi phí nguyên vật liệu Logistics chính là khâu trung gian giải quyết vấn
đề này
Trang 8- Chính sách và luật lệ của chính phủ: một sản phẩm muốn xuất khẩu hay nhập khẩu vào một nước nào đó phải thông qua rất nhiều quá trình: giấy phép nhập cảng, giấy thông quan,… rất mất thời gian và tiền bạc Logistisc phát triển giúp các doanh nghiệp giải quyết các vấn đề thông quan, chứng từ, giúp hàng hóa lưu thông một cách nhanh chóng hơn
- Cạnh tranh mạnh mẽ: với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp như hiện nay, giá bán hàng hóa trên thị trường càng thấp thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng quan tâm Trong khi đó, chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho hay nhiều chi phí khác ngày một tăng Một trong những các giải pháp là các công ty, doanh nghiệp hợp tác với nhau, cùng tham gia vào chuỗi cung ứng logistics để mang lại lợi nhuận cao và tăng sức cạnh tranh