1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chương 1 Tthcm.pdf

7 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cuộc đời Và Tấm Gương Yêu Nước Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Nghệ An
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 211,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu Nội dung chính của chương là con đường về cuộc đời của Bác Hồ từ khi sinh ra và lớn lên (1890) tới khi chính thức bước chân lên con tàu để đi tìm đường cứu nước (1911) Trong quá trình đó, l[.]

Trang 1

Giới thiệu

Nội dung chính của chương là con đường về cuộc đời của Bác Hồ từ khi sinh ra và lớn lên (1890) tới khi chính thức bước chân lên con tàu để đi tìm đường cứu nước (1911) Trong quá trình đó, long yêu nước của Người được xây dung từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Với các luận điểm cơ bản sau đây :

1) Quê hương xứ Nghệ đã nuôi dưỡng một tâm hồn yêu nước nồng nàn 2) Tuổi thơ phiên bạt cùng cha đã giúp cậu thiếu niên bồi đắp tình yêu dân tộc

3) Môi trường học tập cùng tư duy tiến bộ đã định hướng cho chàng thanh niên một con đường cứu nước chính xác

4) Quyết định chính xác về con đường cứu nước của Bác

5) Liên hệ thực tiễn hiện nay đối với sinh viên

Nội dung chương :

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương rất sáng về lòng yêu nước, yêu đồng bào mà mỗi một người dân nước Việt Nam ta và đặc biệt là những sinh viên hiện nay, những chủ nhân tương lai của đất nước cần nhìn vào đó để học tập và noi gương, ở đây tôi không nói là chúng ta phải trở nên vĩ đại như Người, mà mỗi chúng ta cần nhìn vào tấm gương sáng ngời ấy để phấn đấu vượt qua bản than để xây dựng một xã hội tốt đẹp

từ những cá nhân tốt đẹp Cuộc đời của Bác nếu muốn kể thì vô cùng lớn lao, vô cùng

vĩ đại, vì vậy trong khuôn khổ chương 1, tôi sẽ chỉ nói về cuộc đời của Bác, về long yêu nước của Bác từ khi còn trẻ tới khi ra đi tìm đường cứu nước năm 1911

Như chúng ta đã biết, mảnh đất Nghệ An là mảnh đất thuộc miền Trung nghèo khó nhưng luôn biết cách sản sinh ra các nhân tài cho đất nước chúng ta Ngay từ thời xa xưa đã là như vậy Bác sinh ra và lớn lên tại làng Hoàng Trù (còn gọi là làng Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), trong một gia đình nhà Nho, nguồn gốc nông dân Quê nội của Nguyễn Sinh Cung là làng Kim Liên (tên nôm là làng Sen), cách Hoàng Trù khoảng 2 km cùng thuộc xã Kim Liên Kim Liên là địa phương có truyền thống hiếu học, nhiều người đỗ đạt trong các kì thi thời phong kiến: trong 96 khoa thi Hương

từ 1635 đ ến 1890 có 193 người đỗ tú tài và cử nhân (Có tài liệu ghi từ năm 1635 đến năm 1918, qua 96 kỳ thi Hương và thi Hội, Kim Liên đã có 53 người đỗ đạt, Có tài liệu ghi trong thời gian 1635 - 1890 có 82 người ở Kim Liên đỗ Tú tài) Trong làng, nhiều người mở lớp chữ Hán để dạy học trò, số khoa bảng không nhiều, nhưng nho sỹ Kim Liên khá đông và Kim Liên trở thành nơi lui tới của các nho sỹ quanh vùng Làng Kim Liên tự hào về quê hương mình là “đất văn vật chốn thi thư” Đầu thế kỷ XX, đất Nam Đàn có bốn người học giỏi, được gọi là “Tứ hổ”, có câu :

Trang 2

“Nam Đàn Tứ hổ là đây Song, San, Lương, Quý một bầy bốn anh”

Trần Quý Song - Người xã Xuân Liễu (Nam Xuân) đậu cử nhân khoa Giáp Ngọ 1984, đậu tiến sỹ khoa Mậu Tuất, Phan Văn San - Phan Bội Châu - đậu Giải Nguyên khoa Canh Tý 1900, Trần văn Lương - Người xã Diên Lãm đậu cử nhân khoa Giáp

Ngọ,Vương Thúc Quý- Người xã Kim Liên đậu cử nhân Khoa Tân Mão 1891 Từ khi

ra đời đến lúc lên 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung đã sống thời thơ ấu trong sự chăm sóc đầy tình thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ Ông ngoại là Hoàng Xuân Đường, một nhà nho tuy chỉ đỗ “nhị trường” nhưng được dân làng mến gọi là cụ tú An, cụ mở lớp dạy chữ Hán cho con em trong làng ngay tại ngôi nhà của mình; bà ngoại là Nguyễn Thị Kép làm ruộng và dệt vải để nuôi gia đình, ông bà ngoại của Nguyễn Sinh Cung chỉ có hai người con gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An Phụ thân của Nguyễn Sinh Cung là ông Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1862, con của ông Nguyễn Sinh Nhậm và

bà Hà Thị Hy (vợ thứ của ông Nhậm) Ông Sắc lên 3 tuổi thì ông Nhậm qua đời, sau

đó một năm thì bà Hy cũng mất Ông Sắc phải ở cùng người anh trai cùng cha khác mẹ

là Nguyễn Sinh Trợ (còn có tên gọi là Nguyễn Sinh Thuyết), sau đó cụ Hoàng Xuân Đường xin anh Thuyết cho đón Nguyễn Sinh Sắc về nuôi ăn học Năm 1883, cụ Hoàng Đường gả con gái đầu lòng là Hoàng Thị Loan cho Nguyễn Sinh Sắc và dựng cho hai

vợ chồng một ngôi nhà nhỏ ba gian ở góc vườn để ra ở riêng Trong căn nhà ấm cúng giản dị đó năm 1884 bà Hoàn Thị Loan sinh con gái đầu lòng là Nguyễn Thị Thanh; năm 1888 sinh con thứ hai là Nguyễn Sinh Khiêm Sáng ngày 19/05/1890 Nguyễn Sinh Cung (Tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh) cất tiếng khóc chào đời Nhà báo Hoàng

Lam đã từng viết : “…Sự chào đời của cậu bé Nguyễn Sinh Cung vào một sáng ngày

hè trời trong xanh, giữa mùa sen nở hoa, thơm ngào ngạt như đánh dấu sự ra đời của một tâm hồn lớn, một khí phách lớn, một ý chí lớn, một nhân cách lớn – Hồ Chí Minh

…” Từ lúc ra đời đến tuổi lên 5, Nguyễn Sinh Cung sống ở quê nhà, được lớn lên trên

mảnh đất giàu truyền thống hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa trong cuộc sống

và bất khuất trước kẻ thù Nguyễn Sinh Cung ham hiểu biết, thích nghe chuyện và hay hỏi những điều mới lạ, từ các hiện tượng thiên nhiên đến những chuyện cổ tích mà bà ngoại và mẹ thường kể Ngay từ bé, tại mảnh đất Hoàng Trù, Nguyễn Sinh Cung đã cảm nhận được sự dạy bảo ân cần của ông bà ngoại, tình cảm thương yêu của cha mẹ đối với mình Làng Hoàng Trù còn được biết tới là nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa của xứ Nghệ như hát Phường vải, dân ca bởi vậy mà lời ru của mẹ, câu hát quê hương đã theo Nguyễn Sinh Cung từ thuở lọt lòng cho tới trước lúc đi xa:

“À ơi, con ơi mẹ dặn câu này Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm Làm người đói sạch rách thơm Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền…”

Trang 3

Sinh ra và trải qua thời ấu thơ trong một vùng đất hiếu học, Bác đã sớm xây dựng cho mình tinh thần ham học hỏi và có một trí tuệ hơn người, điều đó đã giúp cho Người rất nhiều trong con đường giải phóng dân tộc sau này

Tuy vậy, tuổi thơ của Người không hoàn toàn êm đẹp như vậy, mà trải qua rất nhiều sóng gió Năm 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung cùng với gia đình chuyển vào Huế lần thứ nhất, khi ông Nguyễn Sinh Sắc vào Kinh thi hội Từ cuối năm 5 tuổi đến đầu năm 11 tuổi, Nguyễn Sinh Cung sống cùng cha mẹ tại Huế, ở nhờ nhà một người quen ở trong thành nội (nay là số nhà 112, đường Mai Thúc Loan) Đó là những năm tháng gia đình ông Sắc sống trong cảnh gieo neo, thiếu thốn Bà Hoàng Thị Loan làm nghề dệt vải, còn ông Sắc ngoài thời gian học, phải đi chép chữ thuê để kiếm sống, để học và dự thi Năm

1898, ông Nguyễn Sinh Sắc dự thi hội lần thứ hai nhưng vẫn không đỗ Cuộc sống gia đình càng thêm chật vật khó khăn Gần cuối năm Bác 8 tuổi, theo lời mời của ông Nguyễn

Sĩ Độ, ông Nguyễn Sinh Sắc về dạy học cho một số học sinh ở làng Dương Nỗ, tại ngôi nhà của ông Nguyễn Sĩ Khuyến (em trai ông Nguyễn Sĩ Độ), xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế 6 km Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha

về đây và bắt đầu học chữ Hán tại lớp học của cha Cuối năm 1900, ông Nguyễn Sinh Sắc được cử đi coi thi ở trường thi hương Thanh Hoá Ông đưa Nguyễn Sinh Khiêm đi cùng, còn Nguyễn Sinh Cung thì về sống với mẹ trong nội thành Huế Bà Loan sinh bé Xin trong hoàn cảnh khó khăn túng thiếu nên lâm bệnh và qua đời Chẳng bao lâu sau,

bé Xin quá yếu cũng đi theo mẹ Mới 11 tuổi Nguyễn Sinh Cung đã chịu nỗi đau mất mẹ

và em Hơn 5 năm sống ở kinh thành Huế, Nguyễn Sinh Cung thấy được nhiều điều mới

lạ So với quê hương xứ Nghệ, Huế có nhiều nhà cửa to đẹp, nhiều cung điện uy nghiêm Nguyễn Sinh Cung cũng thấy ở Huế có nhiều lớp người, những người Pháp thống trị nghênh ngang, hách dịch và tàn ác; những ông quan Nam triều bệ vệ trong những chiếc

áo gấm, hài nhung, mũ cánh chuồn, nhưng khúm núm rụt rè; còn phần đông người lao động thì chịu chung số phận đau khổ và tủi nhục Đó là những người nông dân rách rưới

mà người Pháp gọi là bọn nhà quê, những phu khuân vác, những người cu ly kéo xe tay, những trẻ em nghèo khổ, lang thang trên đường phố Những hình ảnh đó đã in sâu vào

ký ức của Nguyễn Sinh Cung để mà tới sau này, trong Bản Tuyên ngôn Độc lập Người

đã phơi bày toàn bộ những tội ác đó ra cho toàn dân và toàn thể dân tộc trên khắp thế giới biết về cái mà bè lũ thực dân gọi là “mở mang”, “khai hóa” và “bảo hộ” Việt Nam Tuổi thơ phải theo cha phiêu bạt nhiều nơi như vậy đã tạo cho cậu bé vừa ngoài chục tuổi đã có một bản lĩnh rắn rỏi và một ý chí kiên cường không chịu khuất phục trước khó khăn Bên cạnh đó, trong quá trình quan sát và chiêm nghiệm của mình, cậu bé ấy đã sớm nhận ra tội ác của bè lũ thực dân Pháp, và càng làm cháy thêm ngọn lửa cứu nước bên trong một cậu bé chỉ mới ngoài 10 tuổi

Tuy tuổi thơ cơ cực là vậy, những Bác Hồ lại được lớn lên trong môi trường vó sự giáo dục rất tốt nhờ người cha là một nhà nho có tiếng Tại quê nhà, Nguyễn Tất Thành được gửi đến học chữ Hán với các thầy giáo Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần Thân Các thầy đều là những người yêu nước Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi bàn luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước Nguyễn Tất Thành dần dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước

Trang 4

cảnh nước mất, nhà tan Trong những người mà ông Sắc thường gặp gỡ có ông Phan Bội Châu Giống như nhiều nhà Nho yêu nước lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng day dứt trước hiện tình đất nước và số phận của dân tộc Con người nhiệt huyết ấy trong lúc rượu say vẫn thường ngâm hai câu thơ của Viên Mai:

“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, Lập thân tối hạ thị văn chương”

Nghĩa là:

“Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách, Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”

Câu thơ đã tác động nhiều đến Nguyễn Tất Thành và góp phần định hướng cho người thiếu niên sớm có hoài bão lớn lao Lớn dần lên, càng đi vào cuộc sống của người dân địa phương, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước Đó là nạn thuế khoá nặng nề cùng với việc nhân dân bị bắt làm phu xây dựng đường trong tỉnh, làm đường từ Cửa Rào, đi Xiêng Khoảng (Lào) nơi rừng thiêng nước độc Những cuộc ra đi không có ngày về, nhân dân lầm than, ai oán Những cuộc ra đi không có ngày về điển hình thể hiện qua đôi câu thơ :

Cao su đi dễ khó về, Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành theo cha đến xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán Tại đây Nguyễn Tất Thành lại có dịp nghe chuyện thời cuộc của các sĩ phu đến đàm đạo với cha mình Cuối năm 1904, Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, khi ông Sắc đến đây dạy học Ngoài thời gian học tập, Nguyễn Tất Thành thường theo cha đến các vùng trong tỉnh như làng Đông Thái, quê hương của Phan Đình Phùng, thăm các di tích thành Lục niên, miếu thờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, v.v

Tháng 7-1905, Nguyễn Tất Thành theo cha đến huyện Kiến Xương, Thái Bình, trong dịp ông Nguyễn Sinh Sắc đi gặp các sĩ phu ở vùng đó.Khoảng tháng 9- 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh Chính tại ngôi trường

này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái Những chuyến đi này giúp Nguyễn Tất Thành mở rộng thêm tầm nhìn và tầm

suy nghĩ Anh nhận thấy ở đâu người dân cũng lam lũ đói khổ, nên dường như trong họ đang âm ỉ những đốm lửa muốn thiêu cháy bọn áp bức bóc lột thực dân phong kiến Trước cảnh thống khổ của nhân dân, anh đã sớm “có chí đuổi thực dân Pháp giải phóng đồng bào”

Sau nhiều năm lần lữa việc đi làm quan, cuối tháng 5-1906, ông Nguyễn Sinh Huy vào kinh đô nhậm chức Nguyễn Tất Thành và anh trai cùng đi theo cha Vào Huế, Nguyễn Tất Thành cùng với anh trai được cha cho đi học Trường tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên, lớp dự bị (cours préparatoire, tháng 9-1906); lớp sơ đẳng (cours élémentaire, tháng 9-1907)

Trang 5

Ở Huế, lần này xảy ra một sự kiện đáng ghi nhớ trong cuộc đời của Nguyễn Tất Thành Tháng 4-1908, anh tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân tỉnh Thừa Thiên, khởi đầu cho cuộc tranh đấu suốt đời Người vì quyền lợi của nhân dân lao động Vì những hoạt động yêu nước, tham gia cuộc đấu tranh của nông dân, Nguyễn Tất Thành

bị thực dân Pháp để ý theo dõi Ông Nguyễn Sinh Huy cũng bị chúng khiển trách vì đã

để cho con trai có những hoạt động bài Pháp uy nhiên, tháng 8-1908, Nguyễn Tất Thành, với tên gọi Nguyễn Sinh Côn, vẫn được ông Hiệu trưởng Quốc học Sukê (Chouquet) tiếp nhận vào học tại trường Tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành vào lớp trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen) tại Trường Quốc học Huế

Trong thời gian học tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc nhiều với sách báo Pháp Các thầy giáo của Trường Quốc học Huế có người Pháp và cả người Việt Nam, cũng có những người yêu nước như thầy Hoàng Thông, thầy Lê Văn Miến Chính nhờ ảnh hưởng của các thầy giáo yêu nước và sách báo tiến bộ mà anh được tiếp xúc, ý muốn đi sang phương Tây tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi những thành tựu của văn minh nhân loại từng bước lớn dần trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành Cùng thời gian đó, Nguyễn Tất Thành còn được nghe kể về những hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước

Khoảng tháng 6-1909, Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học Huế theo cha vào Bình Định, khi ông được bổ nhiệm chức Tri huyện Bình Khê Trong thời gian ở Bình Khê, Nguyễn Tất Thành thường được cha dẫn đi thăm các sĩ phu trong vùng và thăm di tích lịch sử vùng Tây Sơn

Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha gửi học tiếp chương trình lớp cao đẳng (lớp nhất - cours supérieur), tại Trường tiểu học Pháp - Việt Quy Nhơn Ông Nguyễn Sinh Sắc hiểu khả năng và chí hướng người con trai thứ của mình nên đã tạo điều kiện cho anh được tiếp tục học lên

Tháng 6-1910, Nguyễn Tất Thành hoàn thành chương trình tiểu học Sau khi nghe tin cha bị cách chức Tri huyện Bình Khê, bị triệu hồi về Kinh, anh không theo cha trở về Huế mà quyết định đi tiếp xuống phía Nam Trên đường từ Quy Nhơn vào Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Phan Thiết Ở đây anh xin vào làm trợ giáo (moniteur), được giao dậy một số môn, đồng thời phụ trách các hoạt động ngoại khoá của Trường Dục Thanh, một trường tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông, một nhân sĩ yêu nước) thành lập năm 1907 Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ Nguyễn Thông để đọc Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rútxô (Rousseau), Vônte (Voltair), Môngtétxkiơ (Montesquieu) Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc anh tìm đường đi ra nước ngoài

Tháng 2-1911, Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết vào Sài Gòn Anh ở tạm tại trụ sở các chi nhánh của Liên Thành công ty đặt tại Sài Gòn, như nhà số 3, đường Tổng đốc Phương (nay là số 5, đường Châu Văn Liêm); nhà số 128, Khánh Hội Ở Sài Gòn một thời gian ngắn, anh thường đi vào các xóm thợ nghèo, làm quen với những thanh niên cùng lứa tuổi Ở đâu anh cũng thấy nhân dân lao động bị đọa đày, khổ nhục Nguyễn Tất Thành cũng hay đến những cửa hàng ở gần cảng Sài Gòn, nơi chuyên nhận giặt là quần áo cho các thủy thủ trên tàu Pháp, để tìm cách xin việc làm trên tàu, thực hiện ước mơ có những chuyến đi xa Tới đây ta có thể thấy được, con đường cứu nước của Người đã hình thành

Trang 6

một cách rõ ràng Ngày 2 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Thành xin làm việc ở tàu Đô đốc Latouche-Tréville của hãng vận tải Hợp nhất (Compagnie des Chargeurs réunis), thường được gọi nôm na là hãng Nǎm Sao đang chuẩn bị rời Cảng Sài Gòn đi Marseille, Pháp Lúc tàu này cập cảng Sài Gòn, Ông xuống tàu và gặp viên thuyền trưởng tên là: Lui E-du-a Mai-sen Ông thuyền trưởng hỏi rằng anh có thể làm được việc gì? Ông trả lời: Tôi có thể làm bất cứ công việc gì Ngày 3 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu làm việc ở tàu Đô đốc Latouche-Tréville, nhận thẻ nhân viên của tàu với tên mới

là Văn Ba Lúc này trên tàu cũng có một người thủy thủ Việt Nam làm việc có tên gọi là Nguyễn Văn Ba Lương của Văn Ba được lãnh là 50 franc Pháp, trong khi những người bồi bàn Pháp làm việc nhàn nhã nhưng gấp 3 lần Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành trong công việc là người phụ bếp chính thức lên

đường sang Pháp trên chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville để tìm "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi" Con đường cứu nước của Bác từ đây cũng đã bắt đầu,

tại bên càng nhà Rồng, người thanh niên mới đôi mươi ấy đã chính thức rời bỏ quê hương

để tới nơi xứ người, tới chính ngôi nhà cũng những kẻ đang đô hộ mình để học tập, tìm hiểu về những thứ tiến bộ, để mà từ đó về cứu đất nước của mình

Tuy nhiên có ai đã tự hỏi, tại sao Bác lại ra đi và tới Pháp hay không Bác chọn Pháp

vì đó là dân tộc đang đô hộ Việt Nam, Người chọn cho mình con đường sang phương Tây, sang chính đất nước đang kìm hãm, đô hộ đất nước mình, nơi có nền kinh tế, khoa học – kĩ thuật phát triển, nơi có tư tưởng “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” Đó là một con đường đúng đắn, sáng suốt Nó không mang tính chủ quan hay cải lương mà nó mang tính chất thời đại, chỉ có đi sâu vào tìm hiểu chính kẻ thù của mình để tìm ra điểm yếu, đúng sai, tìm ra bản chất thì mới nhận diện kẻ thù một cách chính xác nhất Và ở đây, Người đã bắt gặp chủ nghĩa Mác Lê nin và cuộc cách mạng tháng Mười Nga, từ đó tìm

ra con đường cứu nước – con đường cách mạng vô sản

Sau khi tìm hiểu về cuộc đời của Bác từ khi sinh ra tới khi tìm được con đường giải phóng dân tộc, tôi chợt nghĩ tới sinh viên Việt Nam hiện nay Chúng ta đang được sống trong một môi trường xã hội phát triển, kinh tế mở cửa và vô vàn điều kiện khác rất phù hợp để phát triển bản than Vì vậy chúng ta nên nhìn vào các thế hệ đi trước để học hỏi những điều tốt đẹp mà họ để lại, nhìn nhận ra cái sai của họ và từ đó rút ra bài học dành cho riêng mình, qua đó hoàn thiện dần bản thân Từ đó trở thành một hạt nhân tốt để xây dựng một xã hội tương lai tốt đẹp hơn

Tóm tắt các kết luận chính :

Bác Hồ sinh ra trong một miền quê có truyền thống hiếu học, và có một tuổi thơ phải theo cha bôn ba khắp nơi Trong quá trình đó, chứng kiến cảnh người dân lầm than vì

Trang 7

giặc đô hộ và được tiếp nhận nền giáo dục tiên tiến, Bác đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911 tại bến cảng Nhà Rồng

Ngày đăng: 26/02/2023, 23:10

w