1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lý thuyết tri nhận thị giác (visual literacy)

25 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Thuyết Tri Nhận Thị Giác (Visual Literacy)
Người hướng dẫn PTS. Phan Văn Kiền
Trường học Học Viện Ngoại Giao
Chuyên ngành Truyền Thông
Thể loại Tiểu luận đại cương
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 624,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO * TIỂU LUẬN ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG LÝ THUYẾT TRI NHẬN THỊ GIÁC (VISUAL LITERACY) Giảng viên hướng dẫn TS Phan Văn Kiền 2 MỤC LỤC Trang Phần I Lược sử của th[.]

Trang 1

BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO -* -

TIỂU LUẬN ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

LÝ THUYẾT TRI NHẬN THỊ GIÁC

(VISUAL LITERACY)

Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Văn Kiền

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Phần I: Lược sử của thuyết tri nhận thị giác 3

I Xuyên suốt dòng chảy lịch sử 3

2 Thời kỳ cổ đại 4

3 Thế kỷ 15 5

4 Thế kỷ 19 – nay 5

II Lý thuyết tri nhận thị giác 7

1 Định nghĩa về tri nhận thị giác 7

2 Lý thuyết tri nhận thị giác 9

2.1 Nguyên lý hoạt động của tri nhận thị giác 9

2.2 Nghiên cứu của Griffin và Whiteside 10

2.3 Bốn nguyên tắc của Reynolds Myers 12

2.4 Hai phương diện lý thuyết và thực tế của Burbank và Pett 13

III Ứng dụng của tri nhận thị giác trong truyền thông đại chúng 15

2 Xây dựng nhận diện thương hiệu cho các nhãn hàng 15

3 Thu hút sự chú ý 17

4 Đơn giản hoá những ý tưởng phức tạp và gửi gắm ý nghĩa thông điệp 28

5 Hình ảnh giúp ghi nhớ thông tin lâu hơn 21

6 Tác động đến cảm xúc 22

7 Tác động đến hành vi con người 23

Trang 3

PHẦN I LƯỢC SỬ RA ĐỜI

I Xuyên suốt dòng chảy lịch sử

Xuyên suốt dòng chảy lịch sử, ý nghĩa của thuyết Visual Literacy hay Tri nhận

thị giác đã được thể hiện rõ ràng và sâu rộng trong các ngành học khác nhau như nghệ thuật, ngôn ngữ, văn học, triết học, tâm lý học, xã hội học,… Ví dụ như việc dùng hình ảnh để xem tia X-quang trong y học, để trình bày những công thức hóa học phức tạp, hay để hiểu những bản vẽ thi công của các công trình kiến trúc đã trở nên hết sức thông dụng và phổ biến trong cuộc sống.1 Tuy nhiên, khả năng đọc hiểu bằng thị giác không chỉ giới hạn trong phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại hay những công nghệ kỹ thuật tân tiến Các thuyết Trung cổ đã nhấn mạnh việc các dạng thức hình ảnh của ngôn ngữ đã ảnh hưởng như thế nào đến trật tự sắp xếp thông tin của trí não Hay như trong suốt thời kỳ Khai sáng, người ta vô cùng coi trọng việc rèn luyện giác quan thông qua các kỹ thuật in ấn hoặc viết tay.2 Bên cạnh việc học cách đọc hiểu tài liệu hình ảnh như bảng biểu và hình vẽ minh họa, nhiều học sinh thời xưa còn được học cách ghi chú bằng hình họa hay biểu đồ để có thể dễ hiểu, dễ ghi nhớ và dễ tiếp cận hơn.3 Như trong cuốn tiểu thuyết hình ảnh Understanding Comics: The Invisible Art của McCloud, tác giả đã dựng lại lịch sử của thể văn tường thuật thông qua các hình ảnh thị giác; hay lấy ví dụ về những hình

1 Anne Bamford, The Visual Literacy White Paper, Link truy cập:

3 Eddy, Matthew Daniel (2018), The Nature of Notebooks: How Enlightenment Schoolchildren

Transformed the Tabula Rasa

Link truy cập:

https://www.cambridge.org/core/journals/journal-of-british-studies/article/nature-of-

notebooks-how-enlightenment-schoolchildren-transformed-the-tabula-rasa/8D13355B698E5C6F8EE5B025CBDA9249

Trang 4

vẽ động vật trong hang động cổ xưa hoặc trong các lăng mộ cổ, kim tự tháp cũng được coi là một dạng sơ khai của việc nhận thức bằng hình ảnh Bởi vậy, mặc dù được chính thức ghi nhận vào thập niên 60 nhưng ý niệm về thuật ngữ này vốn đã tồn tại từ thời tiền sử

II Thời kỳ cổ đại

Vào thời kỳ cổ đại, một trong những dạng thức đầu tiên con người dùng hình ảnh để truyền đạt thông tin chính là tranh hang động - với niên đại từ hơn 50.000 năm trước, chủ yếu khắc họa các loài động vật, hoạt động săn bắn và một phần sinh hoạt cộng đồng của con người Sau đó, vì nhu cầu giao tiếp ngày càng phức tạp, các hang động không chỉ tồn tại tranh vẽ mà đã bắt đầu xuất hiện chữ tượng hình vào khoảng năm 9000 TCN Có thể coi đây là cột mốc đầu tiên mang lại ảnh hưởng lớn đến sự ra đời của ý niệm tri nhận thị giác Chữ tượng hình là một biểu tượng thể hiện

ý tưởng, vật thể, hoạt động, nơi chốn hoặc sự kiện bằng việc minh họa, qua đó, con người có thể truyền tải ý tưởng thông qua các dạng hình vẽ Đây là nền tảng của chữ hình nêm và chữ tượng hình Ai Cập, và được sử dụng bởi những nền văn hóa cổ đại trên khắp thế giới từ năm 9,000 TCN và bắt đầu phát triển thành những hệ thống chữ tượng hình tiên tiến hơn vào khoảng năm 5,000 TCN.4 Nhờ việc sử dụng rộng rãi hệ thống chữ viết này, nhân loại đã tiến thêm một bước dài trong quá trình hình thành

và phát triển khả năng tri nhận thị giác

III Thế kỷ 15

4 Phạm Thanh (2018), Lịch sử truyền thông thị giác, IDesign

Link truy cập: viet-giao-thoa-255196.html

Trang 5

Mất khoảng 4500 năm để chúng ta đến cột mốc lịch sử thứ hai – cuộc cách mạng in ấn, hay còn được gọi là cách mạng Gutenberg Giữa thế kỷ 15, Johannes Gutenberg, một thợ kim hoàn và thợ thủ công sống ở Strasbourg (Đức), đã thành công phát triển một phương pháp in mới hiệu quả hơn so với những phương pháp phức tạp trước đó5 Sau hơn 40 năm ra đời, phương pháp in của Gutenberg nhanh chóng lan rộng khắp châu Âu và tạo ra một cuộc cách mạng truyền thông vào thời điểm đó Nhờ sự xuất hiện của máy in, ngành công nghiệp sách báo phát triển nhanh chóng, tạo ra công cuộc cải cách và cách mạng Khoa học, giúp mở rộng kiến thức đến cho rất nhiều người Kỹ thuật in ấn được nâng cao là yếu tố thuận lợi, tạo điều kiện cho các ấn phẩm ngày một rõ ràng, giàu hình ảnh và sinh động với công nghệ tái tạo hình minh họa được phát triển thành phương pháp sao chép ảnh6, cho ra đời

sự kết hợp giữa hình ảnh và văn bản trong sách báo Có thể nói, in ấn chính là một trong những bước ngoặt lịch sử của nhân loại, tạo ra sự bùng nổ trong thời kỳ Phục hưng, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội

IV Thế kỷ 19 đến nay

Và chỉ 500 năm sau, thời đại cách mạng kỹ thuật số chính là cột mốc cuối cùng đánh dấu sự ra đời chính thức khái niệm Tri nhận thị giác Hiện nay, con người đang sống trong một môi trường nơi mà văn hóa thị giác ngày càng phát triển mạnh

mẽ Nhờ có sự xuất hiện của công nghệ hiện đại và các phương tiện truyền thông đa dạng, công chúng được tiếp cận nhiều hơn tới các hình ảnh thị giác, từ tivi, phim ảnh, các thiết bị điện tử, hình ảnh minh họa, bản đồ, biểu đồ, video, Song song với việc tăng về số lượng, chất lượng, màu sắc, phong cách cũng như bố cục của hình ảnh cũng được nâng cao hơn, khiến nó trở nên hấp dẫn hơn đối với mọi tầng lớp và

5 Quốc Lê (2019), Sự ra đời của máy in, khoahocphattrien.vn, Link truy cập:

minh/2021060910000637p1c879.htm

https://khoahocphattrien.vn/kham-pha/dan-voi-rung-vuot-hon-500-km-den-ngoai-o-thanh-pho-con-6 Susan B Barnes (2011), An Introduction to Visual Communication: From Cave Art to Second Life

Trang 6

lứa tuổi trong xã hội Chính vì số lượng hình ảnh thị giác và tầm quan trọng của chúng đang tăng lên đáng kể như vậy, ý niệm mơ hồ về tư duy hình ảnh đã được xóa nhòa và Tri nhận thị giác ra đời chính thức, Thuật ngữ này được cho là bắt nguồn từ John Debes (1969), cũng là người đồng sáng lập Hiệp hội Tri nhận thị giác thế giới (International Visual Literacy Association).7

Chính vì văn hóa thị giác đang ngày càng phát triển như thế nên việc học cách đọc hiểu hình ảnh là một nhu cầu thiết yếu nhờ khả năng truyền đạt nhanh chóng và thông dụng Trình độ tri nhận thị giác quyết định trực tiếp năng lực hiểu hình ảnh và

có thể “đọc nó một cách có nghĩa”.8 Nhiều học giả từ New London Group như Courtney Cazden, James Gee và Allan Luke9 đã chỉ ra rằng sự cân bằng giữa hình ảnh và chữ viết hiện nay đã thay đổi rất nhiều Khả năng đọc hiểu thông qua thị giác

đã vượt qua các ý niệm đọc và viết truyền thống, mở rộng việc “biết đọc” thành bao gồm cả “biết đọc hình ảnh” Họ nhấn mạnh việc chấp nhận sự cùng tồn tại của khả năng đọc hiểu hình ảnh và khả năng đọc hiểu ngôn ngữ một cách đan xen và bổ sung cho nhau10 Các hình ảnh thị giác giờ đây đã trở thành một dạng thức truyền tải vượt trội xuyên suốt những nguồn tài liệu nghiên cứu và giảng dạy, với tỉ lệ hình ảnh so với văn bản được tăng lên đáng kể Việc tăng số lượng hình ảnh cũng có nghĩa rằng khả năng đọc hiểu thị giác hiện nay là vô cùng quan trọng đối với việc tiếp nhận thông tin, xây dựng nền tảng tri thức và đặt cơ sở cho những thành công trên phương diện giáo dục Hiệp hội Đọc sách Quốc tế (1996) cũng nhận định rằng “biết đọc” trong xã hội đương đại không chỉ là đọc và viết mà còn bao gồm việc hiểu thông điệp mà hình ảnh mang lại Các nhà nghiên cứu khuyến cáo rằng việc phát triển năng lực tạo ra hình ảnh sẽ giúp học sinh, đặc biệt là ở cấp tiểu học sẽ học được cách phân

7 National Council for Educational Technology (1997), A review of the concept of Visual Literacy, Nxb

Blackwell

8 Anne Bamford, The Visual Literacy White Paper

9 Michigan State University, The New London School, Information Habitat wiki

10 Kress, Gunther R (2003), Literacy in the New Media Age, New York: Routledge

Trang 7

tích, hiểu và giao tiếp bằng hình ảnh tốt hơn.11 Chúng ta hiện đang sống ở kỷ nguyên của văn hóa thị giác, khắp nơi đều là hình ảnh dù là trong phạm vi cá nhân hay công cộng, tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau, thông qua các phương thức truyền tải đa dạng Khả năng tri nhận thị giác cho phép con người phân biệt và nắm bắt những hành động, vật thể hay biểu tượng mang tính trực quan trong cuộc sống Nắm bắt rõ các nguyên lý cơ bản của tri nhận thị giác, con người có thể tạo ra những hình ảnh

để truyền tải thông điệp tốt hơn.12

PHẦN II NỘI DUNG CƠ BẢN

I Visual literacy

1 Định nghĩa về tri nhận thị giác (visual literacy)

Thuật ngữ tri nhận thị giác (visual literacy) lần đầu tiên được đặt ra vào năm

1969 bởi Jonh Debes,13 người sáng lập ra Hiệp hội tri nhận thị giác quốc tế

(International Visual Literacy Association) Theo Debes (1969), “Tri nhận thị giác

là khái niệm liên quan đến một nhóm các năng lực về thị giác mà con người có thể phát triển bằng cách quan sát và đồng thời tích hợp những trải nghiệm từ các giác quan khác”.14

Kể từ định nghĩa đầu tiên của Debes, rất nhiều những định nghĩa khác nhau

về tri nhận thị giác được ra đời Chính bởi bản thân thuật ngữ này đã mang những ý nghĩa khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau, bởi vậy, chúng ta có thể dễ dàng

11 Ausburn L and Ausburn F (1978), Visual literacy: Background, theory and practice, PLET

12 Anne Bamford, The Visual Literacy White Paper

13 National Council for Educational Technology (1997), A review of the concept of Visual Literacy, Nxb

Blackwell, tr.280

14 John Debes (1969), The loom of visual literacy: an overview, Audiovisual Instruction, tr.25

Trang 8

bắt gặp những ý tưởng mới về khái niệm tri nhận thị giác trong lĩnh vực giáo dục, khoa học, nghệ thuật, thiết kế, truyền thông, 15

Ausburn and Ausburn cũng đã đưa ra định nghĩa của họ về tri nhận thị giác

bằng cách gắn nó với khái niệm giao tiếp có chủ đích: “Tri nhận thị giác có thể được

định nghĩa như là một nhóm các kỹ năng cho phép con người có thể giao tiếp một cách có chủ đích với người khác” 16

Trong cuốn “Reading the Visual: An Introduction to Teaching Multimodal

Literacy”, Frank Serafini cũng khẳng định: “Tri nhận thị giác là một tập hợp các năng lực cho phép một người có thể phân biệt và diễn giải các biểu tượng tự nhiên hoặc nhân tạo mà họ gặp phải trong môi trường sống Thông qua việc sử dụng sáng tạo những năng lực này, chúng ta có thể giao tiếp bằng hình ảnh với những người khác” 17

Glasgow cũng đã khẳng định: “Tri nhận thị giác là khả năng hiểu những

phương tiện hình ảnh đồng thời là khả năng thể hiện bản thân với những hình ảnh tương tự, tức là sử dụng hình ảnh để thể hiện chính mình.” 18

Molenda and Russell cũng đã đóng góp một định nghĩa về tri nhận thị giác:

“Tri nhận thị giác là khả năng con người có thể học được để giải thích (interpret) các thông điệp bằng hình ảnh cũng như tạo ra các thông điệp đó Do đó, có thể nói việc giải mã và sáng tạo trong tri nhận thị giác cũng giống như việc đọc và viết trong chữ viết thông thường” 19

15 Kristen Harrison, What is visual literacy, https://visualliteracytoday.org/what-is-visual-literacy/

16 Ausburn L and Ausburn F (1978), Visual literacy: Background, theory and practice, PLET, tr.291

17 Frank Serafini (2013), Reading the visual, An introduction to teaching multimodal literacy, Columbia

University, New Yorlk, tr.19

18 Glasgow J N (1994), Teaching visual literacy for the 21st century, Journal of Reading, tr 31

19 Heinich, R Molenda, M & Russell, J D (1982), Instructional media and the new technologies of

instruction, New York: Macmillan, tr 62

Trang 9

Đã có những bất đồng đáng kể giữa các nhà nghiên cứu về định nghĩa chung của tri nhận thị giác Tuy nhiên, Avgerinou đã phát hiện ra rằng, những điểm chung của các định nghĩa thì nhiều hơn là những gì phân tách các định nghĩa đó, tức là những điểm khác nhau của định nghĩa.20 Chúng ta cũng đều có thể dễ dàng nhận thấy hầu như tất cả những nhà nghiên cứu về tri nhận thị giác đều gọi nó là khả năng,

kỹ năng, hoặc năng lực, đều xoay quanh khả năng con người có thể hiểu và sử dụng hình ảnh để giao tiếp, để học hỏi và tìm kiếm thông tin 21 Và rõ ràng rằng việc mô

tả bằng lời một khái niệm chủ yếu là phi ngôn ngữ là một điều không dễ dàng

Tóm lại, tri nhận thị giác là khả năng con người có thể hiểu (tương tự như khả năng đọc của một người biết chữ) và sử dụng (tương tự như khả năng viết của một người biết chữ) những hình ảnh để truyền đi thông điệp có chủ đích, là khả năng suy nghĩ và học hỏi thông qua hình ảnh Hay nói cách khác, tri nhận thị giác là khả năng nhận thức, hiểu và sử dụng được ngôn ngữ, mà ngôn ngữ ở đây là hình ảnh

2 Lý thuyết tri nhận thị giác (visual literacy theory)

Cho đến tận ngày nay, các học giả nghiên cứu về tri nhận thị giác vẫn chưa thể đi đến một thống nhất để đưa ra một hệ thống lý thuyết cơ bản Hortin cũng đã

từng khẳng định: “Trong khi khái niệm “tri nhận thị giác” đã được phổ biến từ

những năm 1969, không có bất cứ một lý thuyết cơ bản nào được phát triển”.22 Mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra một quan điểm của riêng mình về thuyết tri nhận thị giác Tuy nhiên, rất nhiều những nghiên cứu quan trọng về lý thuyết này đã đi đến những kết luận được ghi nhận rộng rãi bởi tính logic và hợp lý của nó

2.1 Nguyên lý hoạt động của tri nhận thị giác

20 Avgerinou, M D (2003), A mad-tea party no-more: Revisiting the visual literacy definition problem, In

Trang 10

Trong cuốn “Visual literacy: Image, Mind and Reality”, tác giả Paul Messaris

đã chỉ ra nguyên lý của hoạt động tri nhận thị giác của con người, ông đã khái quát như sau:

Khi chúng ta quan sát một thứ gì đó, chúng ta thường có xu hướng đưa ra những giải định về chúng Chúng ta có thể sẽ nhận ra nó là gì khi chỉ vừa lướt qua bởi ta đã thấy đâu đó trước đây Tuy nhiên, chỉ khi ta thực sự nhìn vào chúng, dành thời gian cho những thứ đó thì mới là lúc chúng ta đang thực sự tri nhận thị giác (visually literate) Và khi chúng ta thực sự nghiền ngẫm, chúng ta sẽ có thể bắt đầu miêu tả những hình ảnh, đồ vật ta thấy Để rồi từ những mô tả đó sẽ dẫn đến hàng loạt những câu hỏi phân tích về chúng Khi có thể trả lời cho chúng câu hỏi ấy, chúng

ta sẽ dần xây dựng trong đầu những tầng lớp ý nghĩa, nhận ra thông điệp mà hình ảnh muốn truyền tải Một khi bắt đầu hiểu những gì chúng ta thấy, cũng là lúc ta bắt đầu biết tri nhận thị giác 23

2.2 Nghiên cứu của Griffin và Whiteside

Griffin và Whiteside trong nghiên cứu của mình đã đề xuất rằng lý thuyết tri nhận thị giác nên được tiếp cận từ 3 phương diện khác nhau 24

Phương diện đầu tiên là quan điểm về lý thuyết, trong đó là sự kết hợp giữa các khía cạnh triết học, tâm lý và sinh học

Phương diện thứ hai là quan điểm về ngôn ngữ hình ảnh (visual language perspective), trong đó có dùng cách tiếp cận nhắm vào người nhận, bằng việc kết hợp sử dụng nhuần nhuyễn với các kích thích thị giác Cách này nhằm giúp mọi người có thể rèn luyện được khả năng tri nhận thị giác tốt hơn

23 Paul Messaris (1994), Visual literacy: Image, mind and reality, Westview Pres

24 Griffin, R E & Whiteside, J A (1984), Visual literacy: A model for understanding the discipline,

Virginia Tech University

Trang 11

Phương diện cuối cùng là quan điểm về thuyết trình, trong đó kết hợp một phương thức tiếp cận hướng vào người trình bày đồng thời cải tiến quy trình truyền thông qua những thiết kế kích thích thị giác 25

Bên cạnh đó, họ còn đề xuất nên đưa khái niệm tư duy bằng hình ảnh vào lý thuyết tri nhận thị giác Griffin và Whiteside cho rằng tri nhận thị giác là khả năng hiểu và sử dụng hình ảnh, chính vì vậy mà nó có liên quan mật thiết đến việc tư duy bằng hình ảnh Do đó, con người cần không ngừng rèn luyện khía cạnh này

Cách tiếp cận này của Griffin và Whiteside cũng tương tự như Mc Kim, người

đã gợi ý rằng tri nhận thị giác được thực hiện bằng cách sử dụng ba loại hình ảnh trực quan (visual images) bao gồm những hình ảnh chúng ta thấy, những hình ảnh

chúng ta tưởng tượng và những hình ảnh chúng ta vẽ “Biểu đồ Mc Kim” bao gồm

ba vòng tròn chồng lên nhau một phần, các vòng tròn tượng trưng cho ý tưởng rằng

tư duy hình ảnh hay tri nhận thị giác được hình thành đầy đủ nhất khi nhìn, tưởng tượng, vẽ được hợp nhất thành tác động qua lại tích cực Người có khả năng tri nhận thị giác sẽ sử dụng khả năng nhìn, tưởng tượng và vẽ một cách linh hoạt, chuyển từ hình ảnh này sang hình ảnh khác mà không bị gò bó, từ đó hướng đến những thông điệp có chủ đích.26

25 Griffin, R E & Whiteside, J A (1984), Visual literacy: A model for understanding the discipline,

Virginia Tech University

26 Mc Kim, R H (1980), Thinking visually A strategy manual for problem solving, Belmont: Lifetime

Learning Publications

Trang 12

2.3 Bốn nguyên tắc của Reynolds Myers

Trong khi đó, Reynolds Myers đã công nhận bốn “Nguyên tắc của lý thuyết

tri nhận thị giác”

Nguyên tắc đầu tiên đó chính là khả năng tri nhận thị giác là khả năng phát triển trước đồng thời là nền tảng cho sự phát triển ngôn ngữ bằng lời nói Ông viết, mỗi con người từ khi sinh ra, thứ họ được tiếp cận đầu tiên đó là hình ảnh chứ không phải chữ viết Khi trẻ sơ sinh đạt được 9 tháng tuổi, chúng bắt đầu nhận biết mọi thứ

và cha mẹ thường cung cấp các công cụ bằng hình ảnh (visual aids) để giúp chúng xác định những gì chúng cần và truyền đạt những gì chúng muốn Chúng ta cung cấp hình ảnh về đồ chơi, dạy chúng cách xác định màu sắc có trong những hình ảnh đầy sống động Tương tự như vậy, khi chúng lớn hơn, cha mẹ sẽ dựa vào các hình ảnh khác để dạy chúng tên động vật, địa điểm và sự vật Khả năng tri nhận thị giác, hay còn được gọi là khả năng đọc – viết bằng hình ảnh là nền tảng của việc học Trẻ

em đọc hình ảnh trước khi chúng thành thạo các kỹ năng bằng lời nói Chính điều này đã hình thành nên khả năng tri nhận thị giác sẵn có ở mỗi người Chính bởi vậy, nếu chúng ta có thể tận dụng được khả năng đó để truyền tải thông điệp, để học hỏi

Ngày đăng: 26/02/2023, 18:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w