1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lý thuyết tri nhận thị giác (visual literacy)

26 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Thuyết Tri Nhận Thị Giác
Người hướng dẫn TS. Phan Văn Kiền
Trường học Học Viện Ngoại Giao
Chuyên ngành Truyền Thông Đại Chúng
Thể loại Tiểu Luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 892,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO * TIỂU LUẬN ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG LÝ THUYẾT TRI NHẬN THỊ GIÁC (VISUAL LITERACY) Giảng viên hướng dẫn TS Phan Văn Kiền MỤC LỤC Trang Phần I Lược sử của thuy[.]

Trang 1

BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO -* -

TIỂU LUẬN ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

LÝ THUYẾT TRI NHẬN THỊ GIÁC

(VISUAL LITERACY)

Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Văn Kiền

1

Trang 3

2 Xây dựng nhận diện thương hiệu cho các nhãn

Trang 4

PHẦN I LƯỢC SỬ RA ĐỜI

I Xuyên suốt dòng chảy lịch sử

Xuyên suốt dòng chảy lịch sử, ý nghĩa của thuyết Visual Literacy hay Tri

nhận thị giác đã được thể hiện rõ ràng và sâu rộng trong các ngành học khácnhau như nghệ thuật, ngôn ngữ, văn học, triết học, tâm lý học, xã hội học,… Ví

dụ như việc dùng hình ảnh để xem tia X-quang trong y học, để trình bày nhữngcông thức hóa học phức tạp, hay để hiểu những bản vẽ thi công của các côngtrình kiến trúc đã trở nên hết sức thông dụng và phổ biến trong cuộc sống.1 Tuynhiên, khả năng đọc hiểu bằng thị giác không chỉ giới hạn trong phương tiệntruyền thông đại chúng hiện đại hay những công nghệ kỹ thuật tân tiến Cácthuyết Trung cổ đã nhấn mạnh việc các dạng thức hình ảnh của ngôn ngữ đãảnh hưởng như thế nào đến trật tự sắp xếp thông tin của trí não Hay như trongsuốt thời kỳ Khai sáng, người ta vô cùng coi trọng việc rèn luyện giác quanthông qua các kỹ thuật in ấn hoặc viết tay.2 Bên cạnh việc học cách đọc hiểu tàiliệu hình ảnh như bảng biểu và hình vẽ minh họa, nhiều học sinh thời xưa cònđược học cách ghi chú bằng hình họa hay biểu đồ để có thể dễ hiểu, dễ ghi nhớ

và dễ tiếp cận hơn.3 Như trong cuốn tiểu thuyết hình ảnh UnderstandingComics: The Invisible Art của McCloud, tác giả đã dựng lại lịch sử của thể văntường thuật thông qua các hình ảnh thị giác; hay lấy ví dụ về những hình vẽđộng vật trong hang động cổ xưa hoặc trong các lăng mộ cổ, kim tự tháp cũng

1 Anne Bamford, The Visual Literacy White Paper, Link truy cập:

https://aperture.org/wp-content/uploads/2013/05/visual-literacy-wp.pdf

2 Eddy, Matthew Daniel (2013) The Shape of Knowledge: Children and the Visual Culture of

Literacy and Numerac "

Link truy cập:

https://www.academia.edu/1817033/The_Shape_of_Knowledge_Children_and_the_Visual_Culture_o f_Literacy_and_Numeracy_Science_in_Context_26_2013_215_245

3 Eddy, Matthew Daniel (2018), The Nature of Notebooks: How Enlightenment Schoolchildren

Transformed the Tabula Rasa

Link truy cập: notebooks-how-enlightenment-schoolchildren-transformed-the-tabula-rasa/

https://www.cambridge.org/core/journals/journal-of-british-studies/article/nature-of-8D13355B698E5C6F8EE5B025CBDA9249

4

Trang 5

được coi là một dạng sơ khai của việc nhận thức bằng hình ảnh Bởi vậy, mặc

dù được chính thức ghi nhận vào thập niên 60 nhưng ý niệm về thuật ngữ nàyvốn đã tồn tại từ thời tiền sử

II Thời kỳ cổ đại

Vào thời kỳ cổ đại, một trong những dạng thức đầu tiên con người dùnghình ảnh để truyền đạt thông tin chính là tranh hang động - với niên đại từ hơn50.000 năm trước, chủ yếu khắc họa các loài động vật, hoạt động săn bắn vàmột phần sinh hoạt cộng đồng của con người Sau đó, vì nhu cầu giao tiếp ngàycàng phức tạp, các hang động không chỉ tồn tại tranh vẽ mà đã bắt đầu xuất hiệnchữ tượng hình vào khoảng năm 9000 TCN Có thể coi đây là cột mốc đầu tiênmang lại ảnh hưởng lớn đến sự ra đời của ý niệm tri nhận thị giác Chữ tượnghình là một biểu tượng thể hiện ý tưởng, vật thể, hoạt động, nơi chốn hoặc sựkiện bằng việc minh họa, qua đó, con người có thể truyền tải ý tưởng thông quacác dạng hình vẽ Đây là nền tảng của chữ hình nêm và chữ tượng hình Ai Cập,

và được sử dụng bởi những nền văn hóa cổ đại trên khắp thế giới từ năm 9,000TCN và bắt đầu phát triển thành những hệ thống chữ tượng hình tiên tiến hơnvào khoảng năm 5,000 TCN.4 Nhờ việc sử dụng rộng rãi hệ thống chữ viết này,nhân loại đã tiến thêm một bước dài trong quá trình hình thành và phát triển khảnăng tri nhận thị giác

III Thế kỷ 15

Mất khoảng 4500 năm để chúng ta đến cột mốc lịch sử thứ hai – cuộccách mạng in ấn, hay còn được gọi là cách mạng Gutenberg Giữa thế kỷ 15,Johannes Gutenberg, một thợ kim hoàn và thợ thủ công sống ở Strasbourg(Đức), đã thành công phát triển một phương pháp in mới hiệu quả hơn so vớinhững phương pháp phức tạp trước đó5 Sau hơn 40 năm ra đời, phương pháp in

4 Phạm Thanh (2018), Lịch sử truyền thông thị giác, IDesign

Link truy cập: chu-viet-giao-thoa-255196.html

https://idesign.vn/art-and-ads/lich-su-truyen-thong-thi-giac-ki-2-khi-bieu-tuong-va-5 Quốc Lê (2019), Sự ra đời của máy in, khoahocphattrien.vn, Link truy cập:

https://khoahocphattrien.vn/kham-pha/dan-voi-rung-vuot-hon-500-km-den-ngoai-o-thanh-pho-con-5

Trang 6

của Gutenberg nhanh chóng lan rộng khắp châu Âu và tạo ra một cuộc cáchmạng truyền thông vào thời điểm đó Nhờ sự xuất hiện của máy in, ngành côngnghiệp sách báo phát triển nhanh chóng, tạo ra công cuộc cải cách và cách mạngKhoa học, giúp mở rộng kiến thức đến cho rất nhiều người Kỹ thuật in ấn đượcnâng cao là yếu tố thuận lợi, tạo điều kiện cho các ấn phẩm ngày một rõ ràng,giàu hình ảnh và sinh động với công nghệ tái tạo hình minh họa được phát triểnthành phương pháp sao chép ảnh6, cho ra đời sự kết hợp giữa hình ảnh và vănbản trong sách báo Có thể nói, in ấn chính là một trong những bước ngoặt lịch

sử của nhân loại, tạo ra sự bùng nổ trong thời kỳ Phục hưng, đóng vai trò quantrọng trong sự phát triển của xã hội

IV Thế kỷ 19 đến nay

Và chỉ 500 năm sau, thời đại cách mạng kỹ thuật số chính là cột mốc cuốicùng đánh dấu sự ra đời chính thức khái niệm Tri nhận thị giác Hiện nay, conngười đang sống trong một môi trường nơi mà văn hóa thị giác ngày càng pháttriển mạnh mẽ Nhờ có sự xuất hiện của công nghệ hiện đại và các phương tiệntruyền thông đa dạng, công chúng được tiếp cận nhiều hơn tới các hình ảnh thịgiác, từ tivi, phim ảnh, các thiết bị điện tử, hình ảnh minh họa, bản đồ, biểu đồ,video, Song song với việc tăng về số lượng, chất lượng, màu sắc, phong cáchcũng như bố cục của hình ảnh cũng được nâng cao hơn, khiến nó trở nên hấpdẫn hơn đối với mọi tầng lớp và lứa tuổi trong xã hội Chính vì số lượng hìnhảnh thị giác và tầm quan trọng của chúng đang tăng lên đáng kể như vậy, ýniệm mơ hồ về tư duy hình ảnh đã được xóa nhòa và Tri nhận thị giác ra đờichính thức, Thuật ngữ này được cho là bắt nguồn từ John Debes (1969), cũng làngười đồng sáng lập Hiệp hội Tri nhận thị giác thế giới (International VisualLiteracy Association).7

minh/2021060910000637p1c879.htm

6 Susan B Barnes (2011), An Introduction to Visual Communication: From Cave Art to Second Life

7 National Council for Educational Technology (1997), A review of the concept of Visual Literacy,

Nxb Blackwell

6

Trang 7

Chính vì văn hóa thị giác đang ngày càng phát triển như thế nên việc họccách đọc hiểu hình ảnh là một nhu cầu thiết yếu nhờ khả năng truyền đạt nhanhchóng và thông dụng Trình độ tri nhận thị giác quyết định trực tiếp năng lựchiểu hình ảnh và có thể “đọc nó một cách có nghĩa”.8 Nhiều học giả từ NewLondon Group như Courtney Cazden, James Gee và Allan Luke9 đã chỉ ra rằng

sự cân bằng giữa hình ảnh và chữ viết hiện nay đã thay đổi rất nhiều Khả năngđọc hiểu thông qua thị giác đã vượt qua các ý niệm đọc và viết truyền thống, mởrộng việc “biết đọc” thành bao gồm cả “biết đọc hình ảnh” Họ nhấn mạnh việcchấp nhận sự cùng tồn tại của khả năng đọc hiểu hình ảnh và khả năng đọc hiểungôn ngữ một cách đan xen và bổ sung cho nhau10 Các hình ảnh thị giác giờđây đã trở thành một dạng thức truyền tải vượt trội xuyên suốt những nguồn tàiliệu nghiên cứu và giảng dạy, với tỉ lệ hình ảnh so với văn bản được tăng lênđáng kể Việc tăng số lượng hình ảnh cũng có nghĩa rằng khả năng đọc hiểu thịgiác hiện nay là vô cùng quan trọng đối với việc tiếp nhận thông tin, xây dựngnền tảng tri thức và đặt cơ sở cho những thành công trên phương diện giáo dục.Hiệp hội Đọc sách Quốc tế (1996) cũng nhận định rằng “biết đọc” trong xã hộiđương đại không chỉ là đọc và viết mà còn bao gồm việc hiểu thông điệp màhình ảnh mang lại Các nhà nghiên cứu khuyến cáo rằng việc phát triển năng lựctạo ra hình ảnh sẽ giúp học sinh, đặc biệt là ở cấp tiểu học sẽ học được cáchphân tích, hiểu và giao tiếp bằng hình ảnh tốt hơn.11 Chúng ta hiện đang sống ở

kỷ nguyên của văn hóa thị giác, khắp nơi đều là hình ảnh dù là trong phạm vi cánhân hay công cộng, tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau, thông qua các phươngthức truyền tải đa dạng Khả năng tri nhận thị giác cho phép con người phânbiệt và nắm bắt những hành động, vật thể hay biểu tượng mang tính trực quan

8 Anne Bamford, The Visual Literacy White Paper

9 Michigan State University, The New London School, Information Habitat wiki

10 Kress, Gunther R. (2003), Literacy in the New Media Age, New York: Routledge

11 Ausburn L and Ausburn F (1978), Visual literacy: Background, theory and practice, PLET

7

Trang 8

trong cuộc sống Nắm bắt rõ các nguyên lý cơ bản của tri nhận thị giác, conngười có thể tạo ra những hình ảnh để truyền tải thông điệp tốt hơn.12

PHẦN II NỘI DUNG CƠ BẢN

I Visual literacy

1 Định nghĩa về tri nhận thị giác (visual literacy)

12 Anne Bamford, The Visual Literacy White Paper

8

Trang 9

Thuật ngữ tri nhận thị giác (visual literacy) lần đầu tiên được đặt ra vào

năm 1969 bởi Jonh Debes,13 người sáng lập ra Hiệp hội tri nhận thị giác quốc tế

(International Visual Literacy Association) Theo Debes (1969), “Tri nhận thị giác là khái niệm liên quan đến một nhóm các năng lực về thị giác mà con người có thể phát triển bằng cách quan sát và đồng thời tích hợp những trải nghiệm từ các giác quan khác”.14

Kể từ định nghĩa đầu tiên của Debes, rất nhiều những định nghĩa khácnhau về tri nhận thị giác được ra đời Chính bởi bản thân thuật ngữ này đã mangnhững ý nghĩa khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau, bởi vậy, chúng ta cóthể dễ dàng bắt gặp những ý tưởng mới về khái niệm tri nhận thị giác trong lĩnhvực giáo dục, khoa học, nghệ thuật, thiết kế, truyền thông, 15

Ausburn and Ausburn cũng đã đưa ra định nghĩa của họ về tri nhận thị

giác bằng cách gắn nó với khái niệm giao tiếp có chủ đích: “Tri nhận thị giác

có thể được định nghĩa như là một nhóm các kỹ năng cho phép con người có thể giao tiếp một cách có chủ đích với người khác” 16

Trong cuốn “Reading the Visual: An Introduction to Teaching Multimodal Literacy”, Frank Serafini cũng khẳng định: “Tri nhận thị giác là một tập hợp các năng lực cho phép một người có thể phân biệt và diễn giải các biểu tượng tự nhiên hoặc nhân tạo mà họ gặp phải trong môi trường sống Thông qua việc sử dụng sáng tạo những năng lực này, chúng ta có thể giao tiếp bằng hình ảnh với những người khác” 17

13 National Council for Educational Technology (1997), A review of the concept of Visual Literacy,

Nxb Blackwell, tr.280.

14 John Debes (1969), The loom of visual literacy: an overview, Audiovisual Instruction, tr.25.

15 Kristen Harrison, What is visual literacy, https://visualliteracytoday.org/what-is-visual-literacy/

16 Ausburn L and Ausburn F (1978), Visual literacy: Background, theory and practice, PLET, tr.291.

17 Frank Serafini (2013), Reading the visual, An introduction to teaching multimodal literacy,

Columbia University, New Yorlk, tr.19.

9

Trang 10

Glasgow cũng đã khẳng định: “Tri nhận thị giác là khả năng hiểu những phương tiện hình ảnh đồng thời là khả năng thể hiện bản thân với những hình ảnh tương tự, tức là sử dụng hình ảnh để thể hiện chính mình.” 18

Molenda and Russell cũng đã đóng góp một định nghĩa về tri nhận thị

giác: “Tri nhận thị giác là khả năng con người có thể học được để giải thích (interpret) các thông điệp bằng hình ảnh cũng như tạo ra các thông điệp đó.

Do đó, có thể nói việc giải mã và sáng tạo trong tri nhận thị giác cũng giống như việc đọc và viết trong chữ viết thông thường” 19

Đã có những bất đồng đáng kể giữa các nhà nghiên cứu về định nghĩachung của tri nhận thị giác Tuy nhiên, Avgerinou đã phát hiện ra rằng, nhữngđiểm chung của các định nghĩa thì nhiều hơn là những gì phân tách các địnhnghĩa đó, tức là những điểm khác nhau của định nghĩa.20 Chúng ta cũng đều cóthể dễ dàng nhận thấy hầu như tất cả những nhà nghiên cứu về tri nhận thị giácđều gọi nó là khả năng, kỹ năng, hoặc năng lực, đều xoay quanh khả năng conngười có thể hiểu và sử dụng hình ảnh để giao tiếp, để học hỏi và tìm kiếmthông tin 21 Và rõ ràng rằng việc mô tả bằng lời một khái niệm chủ yếu là phingôn ngữ là một điều không dễ dàng

Tóm lại, tri nhận thị giác là khả năng con người có thể hiểu (tương tự nhưkhả năng đọc của một người biết chữ) và sử dụng (tương tự như khả năng viếtcủa một người biết chữ) những hình ảnh để truyền đi thông điệp có chủ đích, làkhả năng suy nghĩ và học hỏi thông qua hình ảnh Hay nói cách khác, tri nhậnthị giác là khả năng nhận thức, hiểu và sử dụng được ngôn ngữ, mà ngôn ngữ ởđây là hình ảnh

18 Glasgow J N (1994), Teaching visual literacy for the 21st century, Journal of Reading, tr 31.

19 Heinich, R Molenda, M & Russell, J D (1982), Instructional media and the new technologies of

instruction, New York: Macmillan, tr 62.

20 Avgerinou, M D (2003), A mad-tea party no-more: Revisiting the visual literacy definition

problem, In R.E Griffin, tr 29-41.

21 Burnmark, L (2002), Visual literacy: Learn to see, see to learn, Association for supervision and

curriculum development, tr.16.

10

Trang 11

2 Lý thuyết tri nhận thị giác (visual literacy theory)

Cho đến tận ngày nay, các học giả nghiên cứu về tri nhận thị giác vẫnchưa thể đi đến một thống nhất để đưa ra một hệ thống lý thuyết cơ bản Hortin

cũng đã từng khẳng định: “Trong khi khái niệm “tri nhận thị giác” đã được phổ biến từ những năm 1969, không có bất cứ một lý thuyết cơ bản nào được phát triển”.22 Mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra một quan điểm của riêng mình vềthuyết tri nhận thị giác Tuy nhiên, rất nhiều những nghiên cứu quan trọng về lýthuyết này đã đi đến những kết luận được ghi nhận rộng rãi bởi tính logic vàhợp lý của nó

2.1 Nguyên lý hoạt động của tri nhận thị giác

Trong cuốn “Visual literacy: Image, Mind and Reality”, tác giả Paul

Messaris đã chỉ ra nguyên lý của hoạt động tri nhận thị giác của con người, ông

đã khái quát như sau:

Khi chúng ta quan sát một thứ gì đó, chúng ta thường có xu hướng đưa ranhững giải định về chúng Chúng ta có thể sẽ nhận ra nó là gì khi chỉ vừa lướtqua bởi ta đã thấy đâu đó trước đây Tuy nhiên, chỉ khi ta thực sự nhìn vàochúng, dành thời gian cho những thứ đó thì mới là lúc chúng ta đang thực sự trinhận thị giác (visually literate) Và khi chúng ta thực sự nghiền ngẫm, chúng ta

sẽ có thể bắt đầu miêu tả những hình ảnh, đồ vật ta thấy Để rồi từ những mô tả

đó sẽ dẫn đến hàng loạt những câu hỏi phân tích về chúng Khi có thể trả lời chochúng câu hỏi ấy, chúng ta sẽ dần xây dựng trong đầu những tầng lớp ý nghĩa,nhận ra thông điệp mà hình ảnh muốn truyền tải Một khi bắt đầu hiểu những gìchúng ta thấy, cũng là lúc ta bắt đầu biết tri nhận thị giác 23

2.2 Nghiên cứu của Griffin và Whiteside

22 Hortin, J A (1982), A need for a theory of visual literacy, Reading improvement, tr 257.

23 Paul Messaris (1994), Visual literacy: Image, mind and reality, Westview Pres.

11

Trang 12

Griffin và Whiteside trong nghiên cứu của mình đã đề xuất rằng lý thuyếttri nhận thị giác nên được tiếp cận từ 3 phương diện khác nhau 24

Phương diện đầu tiên là quan điểm về lý thuyết, trong đó là sự kết hợpgiữa các khía cạnh triết học, tâm lý và sinh học

Phương diện thứ hai là quan điểm về ngôn ngữ hình ảnh (visual languageperspective), trong đó có dùng cách tiếp cận nhắm vào người nhận, bằng việckết hợp sử dụng nhuần nhuyễn với các kích thích thị giác Cách này nhằm giúpmọi người có thể rèn luyện được khả năng tri nhận thị giác tốt hơn

Phương diện cuối cùng là quan điểm về thuyết trình, trong đó kết hợpmột phương thức tiếp cận hướng vào người trình bày đồng thời cải tiến quytrình truyền thông qua những thiết kế kích thích thị giác 25

Bên cạnh đó, họ còn đề xuất nên đưa khái niệm tư duy bằng hình ảnh vào

lý thuyết tri nhận thị giác Griffin và Whiteside cho rằng tri nhận thị giác là khảnăng hiểu và sử dụng hình ảnh, chính vì vậy mà nó có liên quan mật thiết đếnviệc tư duy bằng hình ảnh Do đó, con người cần không ngừng rèn luyện khíacạnh này

Cách tiếp cận này của Griffin và Whiteside cũng tương tự như Mc Kim,người đã gợi ý rằng tri nhận thị giác được thực hiện bằng cách sử dụng ba loạihình ảnh trực quan (visual images) bao gồm những hình ảnh chúng ta thấy,

những hình ảnh chúng ta tưởng tượng và những hình ảnh chúng ta vẽ “Biểu đồ

Mc Kim” bao gồm ba vòng tròn chồng lên nhau một phần, các vòng tròn tượng

trưng cho ý tưởng rằng tư duy hình ảnh hay tri nhận thị giác được hình thànhđầy đủ nhất khi nhìn, tưởng tượng, vẽ được hợp nhất thành tác động qua lại tíchcực Người có khả năng tri nhận thị giác sẽ sử dụng khả năng nhìn, tưởng tượng

24 Griffin, R E & Whiteside, J A (1984), Visual literacy: A model for understanding the discipline,

Virginia Tech University.

25 Griffin, R E & Whiteside, J A (1984), Visual literacy: A model for understanding the discipline,

Virginia Tech University.

12

Trang 13

và vẽ một cách linh hoạt, chuyển từ hình ảnh này sang hình ảnh khác mà không

bị gò bó, từ đó hướng đến những thông điệp có chủ đích.26

2.3 Bốn nguyên tắc của Reynolds Myers

Trong khi đó, Reynolds Myers đã công nhận bốn “Nguyên tắc của lý thuyết tri nhận thị giác”

Nguyên tắc đầu tiên đó chính là khả năng tri nhận thị giác là khả năngphát triển trước đồng thời là nền tảng cho sự phát triển ngôn ngữ bằng lời nói.Ông viết, mỗi con người từ khi sinh ra, thứ họ được tiếp cận đầu tiên đó là hìnhảnh chứ không phải chữ viết Khi trẻ sơ sinh đạt được 9 tháng tuổi, chúng bắtđầu nhận biết mọi thứ và cha mẹ thường cung cấp các công cụ bằng hình ảnh

26 Mc Kim, R H (1980), Thinking visually A strategy manual for problem solving, Belmont:

Lifetime Learning Publications

13

Ngày đăng: 24/02/2023, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w