Microsoft Word 080033003 18540400891 NGUYỄN THUỴ BẢO HÂN Tiểu luận Luật Bản quyền docx BỘ XÂY DỰNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP ~~~~~~*~~~~~~ TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN[.]
Trang 1BỘ XÂY DỰNG
ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
~~~~~~*~~~~~~
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT BẢN QUYỀN
TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý trong
Luật Bản quyền
Trang 2
Danh mục từ viết tắt
BLDS 2015: Bộ luật Dân sự 2015 Luật SHTT 2005: Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2015 và 2019
Trang 3MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 1
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 1
5 Kết cấu của đề tài 2
II PHẦN NỘI DUNG 2
Chương 1: Một số nội dung cơ bản về vấn đề pháp lý về Luật Bản quyền 2
1.1 Quyền tác giả 2
1.1.1 Quyền nhân thân 2
1.1.2 Quyền tài sản 3
1.1.3 Đặc điểm của quyền tác giả 3
1.1.4 Chủ sở hữu quyền tác giả 5
1.1.5 Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả 5
1.2 Quyền liên quan đến quyền tác giả 6
1.2.1 Quyền của người biểu diễn 6
1.2.2 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình 7
1.2.3 Quyền của tổ chức phát sóng 8
1.2.4 Điều kiện bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả 8
1.2.5 Đối tượng được bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả 9
1.3 Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả 10
1.3.1 Đăng ký quyền tác giả 10
1.3.2 Thủ tục đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả 10
1.4 Thời hạn bảo hộ 12
1.4.1 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả 12
1.4.2 Thời hạn bảo hộ quyền liên quan 13
1.5 Chuyển giao quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả 14
1.5.1 Chuyển nhượng quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả 14
1.5.2 Hợp đồng sử dụng quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả 15
Chương 2: Thực tiễn về trách nhiệm pháp lý trong Luật Bản quyền 16
III KẾT LUẬN 16
Trang 41
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới đất nước theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoả, thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang có những bước tiến vượt bậc Đời sống Nhân dân ngày được nâng cao, các quan hệ kinh tế - quốc tế phát triển mạnh mẽ, giao lưu kinh tế, dân sự, thương mại ngày một gia tăng Theo quy luật chung, quan hệ xã hội nhiều sẽ dẫn đến các tranh chấp cũng nhiều Hàng năm, ngành Toà án nhân dân đã thụ lý giải quyết một khối lượng rất lớn các vụ án tranh chấp liên quan đến quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả
Nhận thức được thực trạng này, ta cần tìm hiểu những quy định về vấn đề pháp lý quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả nhằm tìm ra những mặc lợi ích và bất cập trong thực tiễn Và từ đó nhìn nhận được các vấn đề pháp lý và trách nhiệm pháp lý trong Luật bản quyền
nhằm áp dụng vào thực tiễn trong học tập cũng như trong công việc sau này
2 Tình hình nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện sau khi Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 và 2019, các văn bản hướng dẫn đã được áp dụng trên thực tế Cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này và trên các tạp chí, bình luận của các tác giả đã phân tích về vấn đề pháp lý, thực tiễn về trách nhiệm pháp lý trong Luật Bản quyền cho nên việc nghiên cứu sẽ tham khảo rất nhiều các phân tích
đó
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án là: vấn đề pháp lý, và thực tiễn về trách nhiệm
pháp lý trong Luật Bản quyền Bên cạnh việc tập trung vào đối tượng nghiên cứu chính là những
vấn đề cơ bản về vấn đề pháp lý, và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý thì còn lồng ghép vào việc phân tích những hạn chế của nội dung cũng như việc áp dụng các quy định Luật bản quyền hay Quyền tác giả vào trong nghành Thiết kế thời trang trên thực tế hiện nay để tìm ra những ý kiến tích cực nhằm làm thay đổi cần thiết để áp dụng một cách hiệu quả, hợp lý theo quy định của pháp luật
về vấn đề này
4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được tiến hành tuần tự, theo một quy trình chặt chẽ từ nghiên cứu lý luận
và thực tiễn, đến phân tích, đánh giá hiện trạng Tiểu luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể: Phương pháp phân tích; Phương pháp so sánh, đối chiếu Ngoài ra, Tiểu luận
Trang 52
còn sử dụng phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia; sử dụng các tác phẩm viết về vấn đề này và kết quả nghiên cứu có liên quan
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 2 chương: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về vấn đề pháp lý trong Luật Bản quyền; Chương 2: Thực tiễn về trách nhiệm pháp lý trong Luật Bản quyền
II PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Một số nội dung cơ bản về vấn đề pháp lý về Luật Bản quyền
1.1 Quyền tác giả
Trong đời sống sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, giới văn nghệ sĩ hay dùng cụm từ “bản quyền” để nói đến việc sáng tạo tác phẩm nghệ thuật của một người nghệ sĩ nào đó Hiểu một cách nôm na, bản quyền là quyền của các tác giả đối với các tác phẩm do họ sáng tạo ra Luật Sở hữu Trí tuệ hiện
hành, không có thuật ngữ pháp lý “bản quyền” mà thay vào đó là “quyền tác giả” để đề cập đến
phạm trù này
Quyền tác giả là một khái niệm đã được quy định rõ trong Bộ Luật Dân sự 2005, Luật SHTT
2005 và Nghị Định 100/NĐ-CP/2006 của Chính phủ thì bản quyền hay quyền tác giả là: “Quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”1 Nội dung bảo hộ của Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản
1.1.1 Quyền nhân thân
Quyền nhân thân của tác giả là những quyền gắn liền với các giá trị nhân thân của tác giả, có liên quan trực tiếp đến uy tín, danh dự của tác giả Bao gồm:
Quyền nhân thân không gắn với tài sản2: Là các quyền không thể chuyển giao được Các quyền này chỉ có ở tác giả và nó được bảo hộ vô thời hạn Bao gồm:
“ + Đặt tên cho tác phẩm;
+ Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm Được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
+ Bảo vệ sự vẹn toàn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén Hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.”
1 Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Trang 63
Quyền nhân thân gắn với tài sản: Ngược lại với quyền nhân thân không gắn với tài sản, đây là
quyền có thể chuyển giao được và được bảo hộ có thời hạn đó là: “Công bố tác phẩm hoặc cho phép
người khác công bố tác phẩm” 3
Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả4
1.1.2 Quyền tài sản
Quyền tài sản của tác giả là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác5
+ Làm tác phẩm phái sinh;
+ Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
+ Sao chép tác phẩm;
+ Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
+ Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện
tử Hoặc bất kỳ phương tiện thông tin kỹ thuật nào khác;
+ Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính
Các quyền này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện Hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật SHTT 2005 Các tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền trên và công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả
1.1.3 Đặc điểm của quyền tác giả
+ Quyền tác giả bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ ý tưởng và nội dung sáng tạo:
Quyền tác giả đối với tác phẩm chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ thể của tác phẩm
mà không bao gồm ý tưởng của tác giả thể hiện trong tác phẩm bởi vì không một ai có thể biết được một vấn đề đang nằm trong suy nghĩ của người khác
Những ý tưởng, kể cả cách sắp xếp, trình bày đã “có” trong suy nghĩ của tác giả nhưng chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất định thì không có căn cứ để công nhận và bảo hộ những điều chưa được bộc lộ ra bên ngoài đó Sự sáng tạo của tác giả không chỉ đem lại cho tác giả quyền tác giả đối với tác phẩm mà còn nhằm chống lại sự sao chép nó hoặc lấy và sử dụng hình thức trong tác phẩm gốc đã được thể hiện
+ Tác phẩm được bảo hộ không phân biệt nội dung, chất lượng:
5 Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 74
Theo quy định Điều 6 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013 thì Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công
bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký
Như vậy căn cứ theo quy định của pháp luật nêu trên thì các tác phẩm được bảo hộ không cần phải đáp ứng điều kiện về nội dung, chất lượng nghệ thuật Tuy nhiên, không phân biệt nội dung của tác phẩm không đồng nghĩa với việc bất kỳ nội dung nào cũng được bảo hộ Trừ các tác phẩm mang tính tha hóa, lệch lạc, trái với thuần phong mỹ tục, trái với đạo đức xã hội thì sẽ không để điều kiện để được bảo hộ
+ Tác phẩm phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định:
Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung sáng tạo tác phẩm Trừ các tác phẩm Văn hóa nghệ thuật dân tộc được quy định tại Nghị định 22/20186
Quyền tác giả đối với tác phẩm chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ thể của tác phẩm
mà không bao gồm ý tưởng của tác giả thể hiện trong tác phẩm bởi vì không một ai có thể biết được một vấn đề đang nằm trong suy nghĩ của người khác
Những ý tưởng, kể cả cách sắp xếp, trình bày đã “có” trong suy nghĩ của tác giả nhưng chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất định thì không có căn cứ để công nhận và bảo hộ Những điều chưa được bộc lộ ra bên ngoài đó.Sự sáng tạo của tác giả không chỉ đem lại cho tác giả quyền tác giả đối với tác phẩm mà còn nhằm chống lại sự sao chép nó hoặc lấy và sử dụng hình thức trong tác phẩm gốc đã được thể hiện
+ Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả phải có tính nguyên gốc:
Có nghĩa là tác phẩm đó phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác Theo pháp luật về quyền tác giả, tính nguyên gốc liên quan đến hình thức thể hiện ý tưởng chứ không liên quan đến bản thân ý tưởng hay ý nghĩa bên trong nó Tựu chung lại, tính nguyên gốc có nghĩa là tác phẩm được sáng tạo ra một cách độc lập và không sao chép từ bất kỳ một tác phẩm nào khác Việc bảo hộ quyền tác giả chỉ được áp dụng đối với những đóng góp mang tính nguyên gốc cho tác phẩm và không được áp dụng đối với bất kỳ yếu
tố nào vay mượn từ tác phẩm khác
Tính nguyên gốc được xác định trên cơ sở lao động sáng tạo mang dấu ấn cá nhân của chủ thể
và tính nguyên gốc của quyền liên quan còn được thể hiện ở việc quyền liên quan chỉ được xác định theo các đối tượng của quyền liên quan được tạo ra lần đầu tiên
Trang 85
+ Quyền tác giả phát sinh một cách tự động từ khi tác phẩm được sáng tạo ra mà không cần phải đăng ký:
Quyền tác giả được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả, không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục nào.Như vậy, pháp luật về quyền tác giả không quy định bắt buộc đối với các tác giả nghĩa vụ đăng kí và nộp đon yêu cầu bảo hộ quyền tác giả, bởi quyền này là một loại quyền
“tuyên nhận”, quyền tự động phát sinh khi ý tưởng, của tác giả đã được thể hiện dưới hình thức nhất định – tác phẩm Việc đăng kí quyền tác giả không phải là căn cứ làm phát sinh quyền tác giả, mà chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh của đương sự khi có tranh chấp về quyền tác giả và một bên khởi kiện tại toà án nhân dán hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
Việc đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả là không bắt buộc nhưng được khuyến khích vì sẽ giúp tác giả/chủ sở hữu có được một chứng cứ quan trọng khi có tranh chấp xảy ra
1.1.4 Chủ sở hữu quyền tác giả
Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả được quy định tại Điều 39 Luật SHTT 2015
+ Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19, trừ trường hợp có thoả thuận khác
+ Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19, trừ trường hợp có thoả thuận khác
Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế theo quy định tại Điều 40 Luật SHTT 2015
Chủ sở hữu là người được chuyển quyền theo quy định tại Điều 41 Luật SHTT 2015
Ví dụ: Nhạc sĩ bán nhạc cho ca sĩ Thì ở đây, nhạc sĩ đóng vai trò là Tác giả của sản phẩm nhạc
và ca sĩ sau khi mua sẽ đóng vai trò là chủ sỡ hữu quyền tác giả Và chủ sở hữu quyền tác giả có thể
là cá nhân hoặc tổ chức
1.1.5 Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả
1.1.5.1 Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT 2005 bao gồm:
+ Tác phẩm văn học
+ Tác phẩm nghệ thuật
+ Tác phẩm khoa học và số hóa
Trang 96
1.1.5.2 Tác phẩm phái sinh
Tác phẩm phái sinh được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.7
Tác phẩm phái sinh bao gồm tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.8
1.1.5.3 Các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả
+ Ý tưởng
+ Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin Như đã được trình bày ở trên không mang tính sáng tạo và chỉ đơn giản là những bản tin, số liệu sự thật như tai nạn, dịch bệnh, tin tức xã hội hằng ngày mang tình nhất thời… Tuy nhiên bản tin thời sự có kèm bình luận, nhận xét, phân tích thể hiện sự sáng tạo về trí tuệ của tác giả thì vẫn được pháp luật bảo hộ quyền tác giả
+ Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó gồm có văn bản từ cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và những tổ chức khác theo quy định của pháp luật
+ Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu Khái niệm không thành đối tượng được bảo hộ quyền tác giả là vì nó không bảo đảm các điều kiện về tính sáng tạo và
được thể hiện dưới từng hình thức vật chất nhất định
1.2 Quyền liên quan đến quyền tác giả
Quyền liên quan đến quyền tác giả là: “quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”9
Đối tượng quyền liên quan bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá
1.2.1 Quyền của người biểu diễn
Bao gồm diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm Được
chia thành hai trường hợp:
+ Thứ nhất, Nếu người biểu diễn tự mình đầu tư tài chính và cơ sở vật chất kĩ thuật để thực hiện cuộc biểu diễn thì người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân
thân và các quyền tài sản
8 Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
9 Khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Trang 107
+ Thứ hai, Nếu do người khác đầu tư tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật để thực hiện cuộc biểu diễn
đó thì người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân,
còn chủ đầu tư có các quyền tài sản
“Quyền sao chép trực tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật SHTT 2005 là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác từ bản ghi âm, ghi
hình đó
Quyền sao chép gián tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật SHTT 2005 là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác không từ bản ghi
âm, ghi hình đó như việc sao chép từ chương trình phát sóng, mạng thông tin điện tử, viễn thông và
các hình thức tương tự khác
Quyền truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 29 của Luật SHTT 2005là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc phổ biến cuộc biểu diễn chưa được định hình đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngoài phát sóng.”10
Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu
diễn được định hình
1.2.2 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Theo quy định của pháp luật hiện hành tại Điều 30 Luật SHTT 2005 thì Nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình là cá nhân, tổ chức đã đầu tư tài chính, cơ sở vật chất cho việc định hình lần đầu bản
ghi âm, ghi hình
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:
+ Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình;
+ Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình được phân phối đến công chúng
Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố