BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ THẤT NGHIỆP VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM I. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thất nghiệp 1. Cách chủ nghĩa Mác giải thích về vấn đề thất nghiệp Thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa trong lịch sử loài người
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI & KINH TẾ QUỐC TẾ
- -BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ THẤT NGHIỆP VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Thị Thanh Hiếu
Sinh viên thực hiện:
Lớp sinh viên:
Mã sinh viên:
Hà Nội, 06/2021
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu……… …2
Phần nội dung……….………3
I Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thất nghiệp………3
1 Cách chủ nghĩa Mác giải thích về thất nghiệp ……….3
2 Quan điểm toàn diện của triết học Mác – Lênin ……… 5
II Phân tích thực trạng việc làm tại Việt Nam hiện nay……….…… 6
1 Thực trạng ………6
a Tình hình chung……….6
b Các nhân tố………8
2 Nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp tại Việt Nam ……… 9
a Nguyên nhân khách quan……….…….….9
b Nguyên nhân chủ quan……….12
3 Giải pháp ………16
a Với Nhà nước……… 16
b Với ngành giáo dục – đào tạo……… 16
c Với sinh viên và phụ huynh……… 17
KẾT LUẬN……….… 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 19
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo hơn 30 năm qua đã có rất nhiều biến đổi phức tạp, tạo ra cả thời cơ và thách thức Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới đất nước đã và đang giành được những thành tựu
to lớn và quan trọng, góp phần ổn định chính trị, đưa đất nước không ngừng phát triển và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế Trong những năm gần đây, chúng ta đã đạt được một số thành tựu trong các lĩnh vực du lịch, dịch vụ, xuất khẩu lương thực thực phẩm sang nhiều nước… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng vấp phải một số vấn đề khó khăn trong kinh tế Điển hình là, do mới hình thành và phát triển chưa đồng bộ, thị trường lao động của Việt Nam đang dần bộc lộ nhiều điểm yếu và mâu thuẫn, trong đó nghiêm trọng nhất là vấn đề thất nghiệp Nguồn cung thừa quá nhiều so với nguồn cầu do hệ quả của việc mở tràn lan các trường đại học, đào tạo không bài bản, dẫn đến sinh viên ra trường kĩ năng kém, không đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp
Không chỉ vậy, tình hình dịch bệnh covid-19 cho đến hiện tại vẫn còn hết sức nan giải không chỉ ở Việt Nam chúng ta mà nó còn có tầm ảnh hưởng mang tầm cỡ thế giới Dịch bệnh khiến cho nhiều nền kinh tế phải đóng cửa, gây nên sự suy thoái kinh tế lớn nhất từ trước đến nay kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II Điều đó lại càng làm cho tình hình thất nghiệp trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng ngày một tồi tệ hơn nữa Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp lại có tác động tiêu cực ngược trở lại đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Điều này đang khiến cho các nhà kinh tế, các nhà hoạch định chính sách đang đau đầu trong việc đưa ra các giải pháp giảm thiểu tỉ lệ thất nghiệp hiệu quả
Có thể thấy, việc quan tâm đến vấn đề thất nghiệp là một điều hết sức cần thiết đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại Đó cũng chính là lý do em chọn đề tài “Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề thất nghiệp và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam” Để đi sâu và hiểu thêm vấn đề, ta cần hiểu thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của nó Qua việc phân tích quan điểm Mác – Lênin,
em sẽ vận dụng để phân tích về tình hình thất nghiệp tại Việt Nam hiện nay
Trong bài tập lớn này sẽ có hai vấn đề chính gồm quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thất nghiệp và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam Do hiểu biết và kiến thức của em còn hạn chế nên bài viết này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và khuyết điểm Em kính mong cô sẽ có những
Trang 4nhận xét và góp ý để em hoàn thiện hơn bài tiểu luận này cũng như có được nhận thức đúng đắn,
rõ ràng hơn về vấn đề thất nghiệp ở nước ta hiện nay
Em xin chân thành cảm ơn !
PHẦN NỘI DUNG
I Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thất nghiệp
1 Cách chủ nghĩa Mác giải thích về vấn đề thất nghiệp
Thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa trong lịch sử loài người Ở xã hội cộng đồng xã hội nguyên thủy, mọi thành viên phải đóng góp lao động và làm việc để duy trì trật tự trong bầy đàn Trong xã hội nô lệ, chủ nô không bao giờ để tài sản của họ (nô lệ) rỗi rãi trong thời gian dài Ngay cả trong xã hội phong kiến châu Âu, truyền đời đất đai đảm bảo rằng con người luôn luôn có việc làm Theo học thuyết Mác – Lênin, các nền kinh tế luôn cố gắng tạo việc làm cho mọi cá nhân, thậm chí là phình to bộ máy nếu cần thiết
Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thương là lợi nhuận Họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa thải người lao động, do đó họ vui lòng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, thậm chí có thể kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp Người lao động không có các nguồn lực sản xuất trong tay để tự lao động phải chấp nhận đi làm thuê hoặc không có việc làm
Các học thuyết kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác nhau: Kinh tế học cổ điển
và tân cổ điển có xu hướng lý giải áp lực thị trường đến từ bên ngoài, như mức lương tối thiểu, thuế, các loại quy định hạn chế thuê mướn người lao động (thất nghiệp thông thường) Kinh tế học Keynes thì nhấn mạnh rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân (thất nghiệp chu kỳ) Một số khác chỉ rằng các vấn đề về cơ cấu ảnh hưởng thị trường lao động (thất nghiệp cơ cấu) Có ý kiến lại cho rằng thất nghiệp chủ yếu là sự lựa chọn tự nguyện Chủ nghĩa Mác giải thích theo hướng thất nghiệp là thực tế duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản Các quan điểm khác nhau có thể đúng theo những cách khác nhau, góp phần đưa ra cái nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp
Trang 5Một bài phân tích của Redflag đã đề cập đến cách Mác giải thích tình trạng thất nghiệp Ngày nay, tỉ lệ thất nghiệp 5-6% cũng được coi là bình thường Ở hầu hết phần còn lại của thế giới, ít nhất là ở các nước phát triển cũng có sự gia tăng tương tự trong tỷ lệ thất nghiệp Tại sao lại có điều này? Tại sao gần như luôn luôn có số lượng lớn những người không thể tìm được việc làm? Câu trả lời cơ bản cho câu hỏi trên là chủ nghĩa tư bản tạo ra và cần đến sự thất nghiệp Như Mác đã giải thích trong các bài viết về kinh tế cách mạng của ông, sự đầu tư của các nhà tư bản
có thể được chia thành hai phần: phần thuê nhân công và phần mua hoặc thuê phương tiện sản xuất – máy móc, nguyên liệu, nhà máy
Chủ nghĩa tư bản phát triển đã tạo nên sự xuất hiện của hai quy trình làm giảm phần vốn dùng
để thuê nhân công
Quy trình đầu tiên, cạnh tranh dẫn đến sự sáp nhập: cá lớn nuốt cá bé; hoặc hai công ty vừa và lớn hợp nhất để thành một con cá lớn hơn Công ty sáp nhập được hưởng lợi nhiều hơn về “quy
mô kinh tế”, nghĩa là một người lao động có thể vận hành một lượng vốn lớn hơn của công ty Bất kì ai theo dõi thông tin kinh doanh, kinh tế có thể chú ý, cứ khi nào có sự sáp nhập của hai công ty, luôn có một kết quả chắc chắn là xuất hiện sự sa thải lao động
Quy trình thứ hai là sự thúc đẩy nhằm tăng năng suất của các nhà tư bản do cạnh tranh gây ra Năng suất cao hơn có nghĩa là sản xuất một số lượng lớn hơn các sản phẩm từ một khoản đầu tư nhỏ hơn Một cách để làm việc này là giảm lương và tăng giờ làm việc Tuy nhiên, luôn có những giới hạn sinh lý cho việc này, đồng thời năng suất đơn vị khi tăng thêm một đơn vị lao động luôn luôn giảm đi theo quy luật hiệu suất giảm dần Một cách khác, lâu dài hơn và về cơ bản là không có giới hạn, chính là cung cấp cho người lao động các máy móc và công cụ hiệu quả
Khi người lao động chuyển sang sử dụng máy móc hiệu quả hơn thì tất nhiên là các nhà thương nghiệp yêu cầu ít công nhân hơn để sản xuất một số sản phẩm nhất định Trong một hệ thống tư bản chủ nghĩa, công nghệ “tiết kiệm lao động” nhất định sẽ hủy hoại công việc của một số công nhân
Tuy vậy, điều này không có nghĩa là số lượng việc làm giảm liên tục theo thời gian Các ngành
cụ thể có thể tìm được thị trường mới và mở rộng, các ngành công nghiệp mới có thể được tạo ra nhu cầu cần công nhân, nhu cầu về lao động tăng và giảm với những thay đổi trong chu kỳ kinh
Trang 6doanh Nhưng điều đó có nghĩa là, chủ nghĩa tư bản có khuynh hướng dẫn dắt người lao động ra khỏi sản xuất
Đó chính là điều kiện mà chủ nghĩa tư bản cần Các nhà tư bản cần một nhóm công nhân mà Mác gọi là “đội quân dự trữ công nghiệp” – những người có thể được cần đến và bị ném ra theo yêu cầu thay đổi của các nhà tư bản Khi nền kinh tế đang được cải thiện, họ cần công nhân ngay thì họ sẽ thuê một số người thất nghiệp làm việc cho họ Khi kinh doanh bị giảm xuống, cần tiết kiệm tiền thì lại sa thải những người đó đi
Các nhà kinh tế học tư bản chủ nghĩa nói về cung và cầu lao động: bất kể tình hình nền kinh tế như thế nào, nhóm người thất nghiệp sẽ giúp giữ ổn định mức lương công nhân và các yêu cầu khác giảm xuống Các Mác chỉ ra rằng: “Đội quân dự trữ công nghiệp trong thời kỳ đình trệ và
sự bình ổn làm giảm hoạt động của đội quân lao động; trong giai đoạn sản xuất thừa và bùng nổ,
nó kím hãm sự kì vọng Đội quân dự trữ công nghiệp là trung tâm mà theo đó luật về nhu cầu và cung ứng lao động có hiệu quả Nó giới hạn luật này trong những giới hạn hoàn toàn thuận tiện cho sự khai thác và thống trị của giới tư bản”
2 Quan điểm toàn diện của triết học Mác – Lênin
Trong sự tồn tại của thế giới quang ta, mọi sự vật và hiện tượng đều có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau chứ không tách rời nhau, cô lập nhau
Như chúng ta đã biết “Quan điểm toàn diện” là quan điểm được rút ra từ nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến
Muốn nhân thức hoặc hoạt động thực tiễn đúng về đối tượng nào đó phải tính đến những mối liên hệ trong sự tồn tại của đối tượng, đề phòng khắc phục những quan điểm phiến diện Mối liên
hệ giữa các sự vật, hiện tượng là mối liên hệ của bản thân thế giới vật chất, không do bất cứ ai quy định và tồn tại độc lập với ý thức Trên thế giới này có rất nhiều mối liên hệ như mối liên hệ giữa sự vật hiện tượng, giữa vật chất và tinh thần Các mối liên hệ đều là sự phản ảnh những tác động qua lại, phản ánh sự quy định lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan Không chỉ có vậy, các mỗi liên hệ còn có tính đa dạng:
Mối liên hệ bên trong và bên ngoài
Mối liên hệ cơ bản và không cơ bản
Trang 7 Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu
Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp
Ở thế giới của các mối liên hệ, mối liên hệ bên ngoài tức là sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, mối liên hệ bên trong tức là sự tác động qua lại lẫn nhau của các mặt, các yếu tố, các bộ phận bên trong của sự vật Có mối liên hệ cơ bản thuộc về bản chất của sự vật, đóng vai trò quyết định, còn mối liên hệ không cơ bản chỉ đóng vai trò phụ thuộc, không quan trọng Đôi khi lại có mối liên hệ chủ yếu hoặc thứ yếu Ở đó còn có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hoặc nhiều sự vật và hiện tượng, có mối liên hệ gián tiếp trong đó các sự vật và hiện tượng tác động lẫn nhau thông qua nhiều khâu trung gian
Khi nghiên cứu hiện tượng khách quan, chúng ta có thể phân chia các mối liên hệ ra thành từng loại như trên tùy theo tính chất đơn giản hay phức tạp, phạm vi rộng hay hẹp, vai trò trực tiếp hay gián tiếp, nghiên cứu sâu hay sơ qua
Phân chia các mối liên hệ phải phụ thuộc vào việc nghiên cứu cụ thể trong sự biến đối và phát triển của chúng Hay nói khác đi, khi xem xét sự vật thì phải có quan điểm toàn diện tức là nhìn nhận sự việc, vấn đề ở mọi góc cạnh, mọi phương diện Theo Lênin, muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật
đó Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, những sự vật cần thiết phải xét đến tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và cứng nhắc (Lênin toàn tập – NXB Tiến Bộ)
Khi xem xét sự vật và hiện tượng thì luôn phải chú ý đến quan điểm toàn diện vì các mối quan
hệ trong xã hội không cô lập nhau, tách rời nhau mà trái lại chúng đan xen tác động qua lại với nhau
Tình trạng thất nghiệp cũng là một vấn đề xã hội mà nguyên nhân gây ra là tập hợp của nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến nhau
II Phân tích thực trạng việc làm tại Việt Nam hiện nay
1 Thực trạng:
a Tình hình chung
Trang 8Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm
2020 là gần 1,2 triệu người, giảm 60,1 nghìn người so với quý trước và tăng 136,8 nghìn người
so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2020 là 2,37%, giảm 0,13 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,33 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 3,68%, giảm 0,32 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,78 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Đại dịch Covid-19 đã làm tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị quý IV năm 2020 cao nhất so với cùng kỳ trong vòng 10 năm qua
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2020 là 2,48%, cao hơn 0,31 điểm phần trăm so với năm 2019, trong đó khu vực thành thị là 3,88%, tăng 0,77 điểm phần trăm Dù tăng cao hơn năm trước nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi khu vực thành thị năm 2020 đã không vượt quá 4,0%, đạt muc tiêu như Quốc Hội đề ra tại Nghị quyết số 85/2019/QH-14 về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2020
Tính đến tháng 12 năm 2020, cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Trong đó, 69,2% người bị giảm thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14,0% buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh
Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 71,6% lao động bị ảnh hưởng, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 64,7% lao động bị ảnh hưởng; tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 26,4%
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý IV năm 2020 là 55,1 triệu người, tăng 563,8 nghìn người so với quý trước nhưng vẫn thấp hơn 860,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Điều này một lần nữa khẳng định xu hướng phục hồi của thị trường lao động sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II năm 2020
So với quý III năm 2020, lao động quý IV ở khu vực nông thôn có dấu hiệu phục hồi nhanh hơn lao động ở khu vực thành thị, trong khi đó tốc độ phục hồi của lao động nam đã đuổi kịp tốc độ hồi phục của lao động nữ So với quý trước, lực lượng lao động tại khu vực nông thôn tăng 1,4%, cao hơn 1,1 điểm phần trăm so với mức tăng của khu vực thành thị; lực lượng lao động nữ
và lực lượng lao động nam cùng tăng 1,0%
Trang 9Tính chung năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,6 triệu người, giảm 1,2 triệu người so với năm 2019 Trong giai đoạn 2016-2019, trung bình mỗi năm lực lượng lao động tăng 0,8% Nếu lực lượng lao động năm 2020 duy trì tốc độ tăng như giai đoạn 2016-2019 và không
có dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thêm 1,6 triệu lao động Nói cách khác, dịch Covid-19 có thể đã tước đi cơ hội tham gia thị trường lao động của 1,6 triệu người
b Các nhân tố
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan của kinh tế hàng hòa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử
Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế Điều đó được thể hiện ở các khía cạnh:
Ở khía cạnh quản lý nhà nước đối với thị trường lao động, việc làm và vai trò điều tiết của nhà nước đối với quan hệ cung cầu lao động còn hạn chế Sự kiếm soát, giám sát thị trường lao động, việc làm chưa chặt chẽ Cải cách hành chính hiệu quả thấp đối với bản thân người lao động và cả
xã hội
Ở khía cạnh cung – cầu lao động, việc làm mất cân đối lớn, cung lớn hơn cầu Tỷ lệ thất nghiệp
ở thành thị có xu hướng tăng do dịch bệnh, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn vẫn còn thấp Số doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao động còn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn Tình trạng thiếu việc làm cao, chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động gắn bó tận tâm với công việc
Cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp Kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động, việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh, gây áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm Khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở những lĩnh vực yêu cầu lao động có trình độ cao Cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đòi hỏi
Trang 10Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức to lớn Cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước Một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, người lao động
có nguy cơ thất nghiệp cao, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp Chất lượng nguồn lực lao động nước ta chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập Không chỉ vậy, diễn biến dịch bệnh phức tạp trên thế giới cũng đã và đang là một vấn đề rất lớn đối với tình trạng thất nghiệp ở nước ta hiện nay
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (World Bank) thì nước ta đang rất thiếu lao động có trình
độ tay nghề, công nhân kĩ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các nước khác Trong khi tồn tại một nghịch lý đó là cử nhân, thạc sĩ ra trường không có việc làm vẫn còn ở mức báo động Cử nhân mới ra trường hoặc đã tốt nghiệp nhiều năm nhưng lại chưa có việc làm, thậm chí là thạc sĩ cũng chấp nhận làm trái ngành được đào tạo
Sự dư thừa về lao động có trình độ dẫn đến tình trạng rất nhiều cử nhân đang làm những công việc đơn giản, không yêu cầu bằng cấp đang là thực tế của thị trường lao động hiện nay
Như vậy, so với thế giới, Việt Nam thuộc diện có tỉ lệ thất nghiệp thấp nhưng đối với tình hình lao động việc làm trong nước thì tỉ lệ thất nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ cao
2 Nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp tại Việt Nam
a Nguyên nhân khách quan
Ở nước ta, lực lượng lao động phân bố không đồng đều giữa các vùng kinh tế, chủ yếu tập trung
ở đồng bằng song Cửu Long, đồng bằng sông Hồng Tình trạng mất cân đối cung – cầu lao động cục bộ vẫn thường xuyên xảy ra Thị trường lao động nước ta chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, nơi có nhiều khu chế xuất – khu công nghiệp, các vùng kinh tế trọng điểm Nhưng một số tỉnh lại có tình trạng dư cung, đang phải đối mặt với tỉ lệ thất nghiệp cao Hơn thế nữa, hiệu quả, năng suất lao động trong các ngành kinh tế thấp và có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực công nghiệp, khu vực nông nghiệp và khu vực dịch vụ Vì vậy, chúng ta chưa tạo điều kiện phát huy được lợi thế về đất đai, tạo việc làm cho người lao động và góp phần phân bố lại lực lượng lao động hợp lý hơn Đây chính là nguyên nhân tạo ra sự mất cân đối về lao động và là tác nhân của thiếu việc làm, thất nghiệp Không chỉ vậy, chất lượng lao động còn thấp Theo đánh giá của