1 Một số khái niệm Bài tập nhóm số 2 Các thành viên Nguyễn Mạnh Cường Trần Quang Mạnh Trần Trung Đức Lê Quang Tuấn Nguyễn Kim Chung Nguyễn Thị Lan Anh Nguyễn Hương Thảo Phạm Mỷ Hương Nguyên đơn bà L.
Trang 1 Lê Quang Tuấn
Nguyễn Kim Chung
Nguyễn Thị Lan Anh
Nguyễn Hương Thảo
Phạm Mỷ Hương
Trang 2Nguyên đơn: bà Lê Thị Ph, sinh năm1963
Bị đơn: bà Lê Thị C, sinh năm
1965
Nội dung vụ án như sau
Trang 3Tất cả hai bản di chúc này đều đáp ứng điều kiện của pháp luật
- Bản 15/10/2010: Nội dung di chúc này giống bản lập năm
2007 nhưng có thêm nội dung là cho bà Trần Thị H (một người
họ hàng của mẹ bà) hưởng bộ ghế thờ gồm lư hương, chân đèn,
đĩa quả, bình hoa
Trang 4Sau khi cụ B qua đời, chị em bà Ph không thỏa thuận được việc chia di sản ngày 09/ 6/2016 bà Lê Thị Ph đã khởi kiện ra TAND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Tại buổi hòa
Bà Lê Thị C đề nghị tòa công nhận bản di chúc này.
Sơ thẩm
TAND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cho rằng bản di chúc lập năm
2008, còn bản di chúc do VPCC Vi Dân lập năm 2010 là vô hiệu
Trang 5Bản di chúc năm 2010 có ba trang nhưng không được đánh số thứ tự, điểm chỉ thiếu, không có sơ đồ minh họa
vị trí đất Ngoài ra, tại trang thứ nhất di chúc thể hiện tài sản của cụ Trần Thị B để lại chỉ bao gồm hai thửa đất nhưng trang thứ hai lại nói thêm cụ Trần Thị B cho một người họ hàng khác là bà Trần Thị H được hưởng bộ ghế thờ, lư hương, chân đèn, bình hoa Như vậy, tài sản để lại và sự định đoạt của cụ Trần Thị B không rõ ràng
Lýdo
Vì vậy
TAND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ph, đồng thời tuyên cho bà Lê Thị C được hưởng di sản thừa kể của cụ Trần Thị B kể lại theo di chúc năm 2008
Trang 6Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
khẳng định: xét về hiệu lực thi bản di chúc được lập tại
VPCC Vì Dân (năm 2010) là đi chúc có hiệu lực pháp luật
Phúc thẩm
Theo tòa, đây là bản di chúc cuối cùng được lập trước khi cụ Trần Thị B chết, khi lập di chúc cụ B còn minh mẫn, nói chuyện được Tại thời điểm lập, ngoài công chứng viên VPCC Vì Dân cố 1 có các nhân chứng khác chứng kiến
việc cụ Trần Thị B nghe rõ và đồng ý với nội dung công
chứng
Về nội dung, di chúc ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc, họ tên người lập di chúc cũng như người được hưởng di sản, tên di sản và nơi có di sản Dù có sai sót một số lỗi kỹ thuật nhưng những sai sót này không ảnh hưởng đến nội dung
Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà
Lê Thị Ph tuyên di sản của cụ Trần Thị B được chia theo di chúc lập ngày 15/10/2010 tại VPCC Vì Dân
Trang 71 Một số khái niệm
- Điều 624 BLDS 2015 quy định:“di chúc là sự thể hiện ý chí của cá
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Như
vậy, về phương diện khoa học pháp lý thì di chúc là phương tiện phản ánh trung thực ý nguyện cuối cùng của cá nhân trong việc dịch chuyển tài sản của họ cho người khác sau khi họ chết.
- Thừa kế theo di chúc là hình thức thừa kế mà việc dịch chuyển tài
sản của người chết để lại cho người thừa kế theo ý chí của người để lại
di sản được thể hiện trong di chúc.
- Di chúc vô hiệu là di chúc vi phạm một trong các điều kiện để một di
chúc được xem là hợp pháp và do đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người chỉ định trong di chúc và những nội dung khác của
di chúc.
Trang 82 Các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Điều kiện về ý chí của người lập di chúc
Điều kiện về nội dung của di chúc Điều kiện về hình thức của di chúc
Trang 91 Điều kiện về năng lực chủ thể của người lập
di chúc
- Khoản 1 điều 625 BLDS 2015 quy định: “Người thành niên có đủ điều
kiện theo quy định định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình”
- Điểm a Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép”
- Đối với người chưa thành niên được quy định khoản 2 Điều 625 BLDS
2015 như sau: “Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được lập di chúc, nếu
được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc”
Nếu cha, mẹ hoặc người giám hộ không đồng ý thì không được lập di chúc, ở đây chúng ta có thể thấy rằng sự đồng ý này là đồng ý cho việc lập di chúc mà không cần sự đồng ý về nội dung di chúc nhằm tôn trọng sự định đoạt của người lập di chúc.
Trang 102.Điều kiện về ý chí của người lập di chúc
- Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện trong việc lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 BLDS 2015)
- Tự nguyện của việc lập di chúc được hiểu là sự thống nhất giữa ý chí bên trong và bày tỏ ý chí của họ ra bên ngoài, là sự thống nhất giữa mong muốn chủ quan của người lập di chúc với hình thức thể hiện ra bên ngoài sự mong muốn đó
- Di chúc được lập vào thời điểm người lập di chúc không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình, như di chúc được lập khi người lập di chúc
đã già yếu không còn minh mẫn hoặc di chúc được lập khi người lập di chúc mất khả năng nhận thức, khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được xem là di chúc được lập không nằm trong sự kiểm soát lý trí của người lập di chúc Khi đó, người lập di chúc được xem là trong tình trạng không minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc Trong trường hợp này di chúc cũng không có hiệu lực.
Trang 113 Điều kiện về nội dung của di chúc
Điều 631 Nội dung của di chúc
1 Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
Dù một văn bản với tên gọi như thế nào nhưng có chứa đựng các yếu tố như trên thì cũng được xem là một bản di chúc, và ngược lại.
Trang 124 Điều kiện về hình thức của di chúc
- Để di chúc có hiệu lực thì hình thức của di chúc không trái với quy định của pháp luật
- Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015quy định: “Di chúc
phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.” Như vậy theo quy
định của pháp luật thì việc lập di chúc có thể tiến hành theo hai hình thức hoặc bằng văn bản (chúc thư) hoặc thông qua lời nói (chúc ngôn)
Trang 13Thứ nhất: về di chúc miệng.
- Hoàn cảnh lập di chúc miệng: Di chúc miệng không thể được lập
trong mọi trường hợp thông thường như di chúc bằng văn bản Nghĩa
là di chúc miệng được lập trong hoàn cảnh đặc biệt do luật định thì mới được phép lập di chúc miệng
- thời điểm ghi chép lại di chúc miệng: Khoản 5 Điều 630 quy
định: “Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng
thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người chứng thực “
- công chứng, chứng thực di chúc miệng: BLDS 2015 quy định là 5
ngày làm việc, di chúc này phải được công chứng, chứng thực mới hợp pháp
Trang 14Thứ hai: về hình thức viết của di chúc.
-Đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015, đối với loại di chúc này, ngoài những yêu cầu về nội dung, để di chúc có hiệu lực thì cần đáp ứng yêu cầu do chính tay người lập di chúc viết và ký
- Đối với di chúc bẳng văn bản có người làm chứng: Điều
656 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó, một người có thể tự đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy di chúc trong trường hợp không thể tự viết di chúc, tuy nhiên đối với loại di chúc này cần có ít nhất hai người làm chứng và
người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc
trước mặt hai người làm chứng đồng thời trong bản di chúc phải có chữ ký của những người làm chứng và xác nhận của
họ về chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc
Trang 15- Đối với di chúc có công chứng nhà nước hoặc chứng thực: Điều
645 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về việc yêu cầu công chứng của người lập di chúc Nếu người lập di chúc tự viết tay viết bản di chúc và
có yêu cầu công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn chứng thực thì người lập di chúc phải ký vào bản
di chúc trước mặt người có thẩm quyền chứng nhận hoặc chứng thực Trong trường hợp người để lại di sản đến cơ quan công chứng hay đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để lập di chúc tại đó hoặc di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở của người để lại di sản thì việc
di chúc phải tuân theo trình tự thủ tục tại Điều 636 Bộ luật dân sự năm 2015.
- di chúc có xác nhận hay di chúc bằng văn bản có giá trị như di
chúc được công chứng hoặc chứng thực: Đây là quy định dự liệu cho
những trường hợp cá nhân có nhu cầu lập di chúc nhưng đang ở xa nơi công chứng, xa Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc trong những hoàn cảnh đặc biệt nên không thể lập được di chúc có chứng nhận hoặc chứng thực được
Trang 16Hiệu lực của di chúc
1 Thời điểm có hiệu lực của di chúc
- Khoản 1 Điều 643 BLDS 2015 quy định: “di chúc
có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế”
- Thời điểm mở thừa kế được quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS 2015 là thời điểm người có tài sản chết, trong trường hợp người để lại di chết được tòa tuyên bố chết (cái chết pháp lý) thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 điều 71 BLDS 2015
Trang 17Thứ nhất, di chúc không có hiệu lực do bất hợp pháp: nếu di
chúc vi phạm một trong số các điều kiện đã được quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 thì sẽ bi coi là không có điều kiện
Thứ hai, di chúc hợp pháp nhưng không có hiệu lực do những nguyên nhân khác được quy đinh tại điều 643 BLDS 2015 hay còn gọi là di chúc thất hiệu:
- Có hai nguyên nhân chính dẫn đến di chúc mặc dù hợp pháp nhưng vẫn không có hiệu lực pháp luật, đó là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan.
Nguyên nhân chủ quan là do người lập di chúc thay đổi ý chí của mình thông qua việc sửa đổi, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập trước đó Trong trường hợp này thì phần di chúc đã sửa đổi, những bản di chúc bị thay thế hoặc hủy bỏ sẽ không có hiệu lực pháp luật
2 Xác định mức độ có hiệu lực của di
chúc
Trang 18*Nguyên nhân chủ quan
- Do người lập di chúc thay đổi ý chí của mình thông qua việc sửa đổi, thay thế, hủy bỏ
di chúc đã lập trước đó Trong trường hợp này thì phần di chúc đã sửa đổi, những bản di chúc
bị thay thế hoặc hủy bỏ sẽ không có hiệu lực pháp luật (khoản 5 điều 643 BLDS 2015 và khoản 2,3 điều 640 BLDS 2015).
Trang 19* Nguyên nhân khách quan bao gồm nhiều nguyên nhân khác nhau:
-Một là, người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
- Hai là, người thừa kế khước từ quyền hưởng di sản
- Ba là, người thừa kế theo di chúc không được quyền hưởng di sản, theo điều 621 của Bộ luật Dân sự 2015 đã qui định rõ
- Bốn là, di sản được xác định trong di chúc không còn vào thời điểm thừa kế kể từ lúc lập di chúc đến khi người lập di chúc chết bao giờ cũng có một khoảng thời gian nhất định, thậm chí trong nhiều trường hợp, khoảng thời gian đó có thể rất dài
Trang 20II Giải quyết tình huống.
Bản án sơ thẩm
- Nhóm không đồng ý với cách giải quyết của tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu vì lý do như sau: Bản di chúc năm 2010 của cụ B lập tại VPCC Vì Dân có đủ điều kiện có hiệu lực của di chúc
- Về chủ thể: Khoản 1 Điều 625 BLDS 2015 về người
lập di chúc quy định: “1 Người thành niên có đủ điều
kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.”
Rõ ràng, cụ B không bị Tòa án tuyên là người mất năng lực hành vi dân sự hay người hạn chế trong nhận thức và làm chủ hành vi, do đó Cụ B là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Vì vậy, cụ B đáp ứng điều kiện về chủ thể.
Trang 21- Về ý chí: Khi cụ B lập di chúc tại VPCC Vì Dân năm 2010
thì cụ B hoàn toàn minh mẫn, nói chuyện được, vì thế cụ B đáp ứng điều kiện về ý chí
- Về nội dung: Điểm b Khoản 1 Điều 630 BLDS 2015 quy
định: “Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của
luật, không trái đạo đức xã hội”
nội dung của di chúc trên là chia thừa kế 2 thửa đất và bộ ghế thờ, lư hương… rõ ràng không vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội
Ở quyết định sơ thẩm của tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa
Vũng Tàu : “Bản di chúc năm 2010 ’’ kết luận bản di chúc
lập tại VPCC Vì Dân năm 2010 là không có hiệu lực
Trang 22* nhóm chúng tôi không đồng ý với lý do này của tòa án.
- Việc ba trang ở bản di chúc không được đánh số thứ tự, điểm chỉ thiếu, không có hồ sơ minh họa vị trí đất, đây chỉ là những lỗi sai sót nhỏ về kỹ thuật, nó không ảnh hưởng đến nội dung của di chúc.
- Tiếp theo, việc cụ B định đoạt bộ ghế thờ, lư hương, chân đèn, bình hoa… cho bà H chỉ là việc bổ sung thêm nội dung của di chúc Theo tòa án, việc định đoạt này là không rõ ràng thì ta áp dụng giải thích nội dung di chúc tại điều 648 BLDS 2015:
“Trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến
nhiều cách hiểu khác nhau thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết’’.
Trang 23- Trường hợp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực.”
- Như thế, ở đây rõ ràng những người thừa kế theo di chúc phải giải thích hoặc yêu cầu tòa án nhân dân giải thích nội dung của bản di chúc này Nếu trong trường hợp phần tài sản để lại và định đoạt cho bà H là không giải thích được thì chỉ phần di chúc đó bị vô hiệu, những phần còn lại vẫn có hiệu lực Tuy nhiên ở đây thấy rằng, việc giải thích này là có thể
Vì vậy, bản di chúc này của cụ B đáp ứng
đủ điều kiện về nội dung
Trang 24- Về hình thức: Bản di chúc này của cụ B
đáp ứng đủ điều kiện về hình thức Tại thời điểm lập ngoài công chức viên VPCC Vì Dân còn có các nhân chứng khác chứng kiến việc cụ B nghe
rõ và đồng ý với nội dung di chúc
- Hơn nữa, trong 3 bản di chúc, bản di chúc năm 2010 lập tại VPCC Vì Dân là bản di chúc cuối cùng cụ B lập, thế cho nên đương nhiên bản
di chúc này có hiệu lực Còn về bản di chúc lập năm 2008 và 2007 nhóm chúng tôi sẽ đề cập đến trong phần giải quyết vụ việc
Trang 25Bản á n phúc
thẩm
* Nhóm chúng tôi không đồng ý với quyết định của tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
- Thứ nhất: Khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự
2015: “Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều
kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái với quy định của pháp luật”