1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

22 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Quyền Nhân Thân Của Cá Nhân Trong Bộ Luật Dân Sự
Người hướng dẫn P. P. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 50,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN MÔN LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM TIỂU LUẬN MÔN LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM MSV 163801010020 TIỂU LUẬN MÔN LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM MSV 163801010020 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I Cơ sở pháp lý về quyền nhân.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU:

NỘI DUNG:

I Cơ sở pháp lý về quyền nhân thân của cá nhân trong bộ luật dân sự năm 2015 và ý nghĩa việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân:

1 Khái niệm về quyền nhân thân:

2 Tính chất của quyền nhân thân của cá nhân:

3 Ý nghĩa việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân:

II Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong Bộ luật Dân sự năm 2015:

III.Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bảo vệ quyền nhân thân và một số kiến nghị hoàn thiện:

IV.Những điểm mới về quyền nhân thân so với Bộ luật Dân sự năm 2005:

KẾT LUẬN:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU:

Trong xã hội hiện nay, khi mà chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao,con người dần biết quan tâm đến các quyền lợi thuộc về bản thân, thì quyền nhânthân đối với cá nhân là một bộ phận không thể thiếu “Quyền nhân thân” là một thuậtngữ pháp lý dùng để chỉ đến những quyền gắn liền với mỗi con người, gắn liền vớiđời sống tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền, có liên quan mậtthiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín,…

Con người là một thành viên trong xã hội, chính vì vậy, ngay từ khi sinh ra họ đãđược hưởng những quyền nhất định trên mọi lĩnh vực của đời sống bao gồm quyền

tự do dân chủ về chính trị, quyền về dân sự, quyền về kinh tế - xã hội,…Trải qua quátrình đấu tranh đi lên của xã hội, các quyền của cá nhân ngày càng được phát triển,

mở rộng Trong các quyền dân sự của cá nhân thì quyền nhân thân là một bộ phận vôcùng quan trọng bởi lẽ đó là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người

đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Có thể nói, Bộ luật Dân sự năm 2015 là sự cụthể hóa của Hiến pháp năm 2013 về việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, và bảo đảmquyền con người, quyền công dân về dân sự Đây cũng là sự khẳng định của Nhànước đối với các giá trị về quyền nhân thân

Để hiểu rõ hơn về quyền nhân thân của cá nhân và các phương thức bảo vệ quyềnnhân thân của cá nhân, em xin được lựa chọn và phân tích đề tài: “Quyền nhân thâncủa cá nhân và phương thức bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong Bộ luật Dân

sự năm 2015”

Trang 3

NỘI DUNG:

I Cơ sở pháp lý về quyền nhân thân của cá nhân trong bộ luật dân sự năm

2015 và ý nghĩa việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân:

Qua 2 lần sửa đổi, chế định quyền nhân thân trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đãđược hoàn thiện và có nhiều quy định cụ thể hơn so với Bộ luật năm 2005 để giảiquyết các vấn đề bất cập từ thực tiễn

Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015

1 Khái niệm về quyền nhân thân:

Trong quan hệ dân sự, quyền nhân thân là một trong hai đối tượng điều chỉnhchủ yếu của Bộ luật Dân sự và là một loại quan hệ mang tính xã hội sâu sắc, rộnglớn, phản ánh sự phát triển của xã hội, thể hiện thái độ tôn trọng của Nhà nước đốivới công dân

Khái niệm về quyền nhân thân được quy định cụ thể ở khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là

quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừtrường hợp luật khác có liên quan quy định khác”

Khác với quy định về quyền nhân thân trong Bộ luật năm 2005 có phạm vi rấtrộng (26 quyền), trong đó bao gồm cả những quyền thể hiện mối quan hệ giữa Nhànước và công dân, quyền không chỉ gắn với lợi ích mà còn gắn cả với những lợi íchkhác về tài sản Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định các quyền nhân thân liênquan đến việc xác định tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia các quan hệ dân sự

và những quyền nhân thân gắn liền với lợi ích tinh thần của cá nhân, nhưng chưađược quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 Những quyền đó gồm:

 Quyền có họ, tên (Điều 26);

 Quyền thay đổi họ (Điều 27);

 Quyền thay đổi tên (Điều 28);

 Quyền xác định, xác định lại dân tộc (Điều 29);

 Quyền được khai sinh, khai tử (Điều 30);

 Quyền đối với quốc tịch (Điều 31);

Trang 4

 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32);

 Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thânthể (Điều 33);

 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34);

 Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (Điều 35);

 Quyền xác định lại giới tính (Điều 36);

 Quyền chuyển đổi giới tính (Điều 37);

 Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38);

 Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình (Điều 39)

Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, vấn đề xác định lại giới tính vàchuyển đổi giới tính đã được ghi nhận tại Điều 36, 37 Điều 37 Bộ luật Dân sự năm

2015 quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật Cánhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quyđịnh của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã đượcchuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan” Khi ghi nhậnnhững quy định này, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đáp ứng được nhu cầu của một bộphận công dân trong xã hội mà không trái với truyền thống, thuần phong mỹ tục củadân tộc ta và phù hợp với thông lệ quốc tế chung

Một số quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 đã khôngđược tiếp tục ghi nhận trong Bộ luật năm 2015, trong đó có quyền bất khả xâm phạm

về chỗ ở; quyền tự do đi lại, cư trú; quyền lao động; quyền tự do kinh doanh; quyền

tự do nghiên cứu sáng tạo Các quyền này thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước vàcông dân, không chỉ gắn với lợi ích tinh thần của chủ thể, mà còn gắn với lợi íchkhác về tài sản Mặt khác, các quyền này cũng được các luật khác quy định cụ thểnhư Luật Cư trú, Bộ luật Lao động, Luật Sở hữu trí tuệ

2 Tính chất của quyền nhân thân của cá nhân:

 Gắn liền với cá nhân: Quyền nhân thân được thừa nhận cho tất cả mọi người,

không phân biệt giới tính, địa vị, giai cấp, trình độ học vấn,… Một khi con ngườiđược sinh ra thì các quyền nhân thân cũng đồng thời được xác lập Trong một số

trường hợp, theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015 thì: “Việc

Trang 5

bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân có thể được thực hiện sau khi cánhân chết theo yêu cầu…” Điều này thể hiện, quyền nhân thân không hẳn là mất

đi khi người đó chết bởi vì cuộc sống xã hội mà một người trải qua có thể tạo nênnhững giá trị không bao giờ biến mất

 Không thể chuyển giao được: Các quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân

của cá nhân nói riêng là do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa trên nhữngđiều kiện kinh tế – xã hội nhất định Nói cách khác, sự tồn tại của chủ thể chính là

lý do tồn tại của quyền, đồng thời đó cũng là điều kiện để quy định và bảo tồn giátrị xã hội của quyền Do vậy, về mặt nguyên tắc, cá nhân không thể dịch chuyểnquyền nhân thân của cá nhân cho chủ thể khác trong lúc còn sống, hay quyềnnhân thân của cá nhân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các

cá nhân

 Tính chất phi tài sản: Quyền nhân thân của cá nhân, về bản chất, là những

quyền không có giá trị tiền tệ Đây không phải là những đại lượng tương đươngnên không thể trao đổi ngang giá với nhau Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đạingày nay, dưới sự tác động của các phương tiện truyền thông một số quyền nhânthân có xu hướng được cân đo bằng tiền Một trong những ví dụ điển hình làquyền đối với hình ảnh của các nhân vật nổi tiếng Nhưng không thể chối cãi rằngtính chất phi tài sản được coi là thuộc tính cơ bản của quyền nhân thân đối với cánhân và việc một số quyền nhân thân định giá được bằng tiền trong một số trườnghợp đặc thù chỉ là các ngoại lệ rất cá biệt

 Không mất đi do thời hiệu: Quyền nhân thân tồn tại ngay cả trong trường hợp

không được sử dụng trong một thời gian dài Nó tồn tại song song với sự tồn tạicủa chủ thể hay đúng hơn là với nhân thân pháp lý của chủ thể Mỗi chủ thể cógiá trị nhân thân khác nhau nhưng được bảo vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâmphạm

3 Ý nghĩa việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân:

Quyền nhân thân của cá nhân là một trong những quyền dân sự cơ bản của conngười được pháp luật bảo hộ Việc tôn trọng quyền nhân thân của người khác lànghĩa vụ của mọi người và cũng là nghĩa vụ của chính người đó Khi thực hiện

Trang 6

quyền nhân thân của mình về nguyên tắc không được xâm phạm đến quyền, lợi íchhợp pháp của người khác.

Tuy nhiên, trên thực tế, nhận thức của mỗi người là khác nhau nên việc xâmphạm đến quyền nhân của cá nhân là việc không thể tránh khỏi Thậm chí, ngay cảbản thân người bị xâm phạm quyền nhân thân, đôi khi cũng chưa có ý thức bảo vệquyền của chính mình Điều này không chỉ gây trở ngại cho việc thực hiện các quyềndân sự của cá nhân đó mà còn ảnh hưởng tới trật tự pháp lý của xã hội

Vậy để đảm bảo cho các quyền nhân thân của cá nhân được áp dụng vào thựctiễn, đồng thời bảo vệ trật tự pháp lý của xã hội, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đưa racác chế tài trong từng điều luật cụ thể tại Mục 2 Chương III: “Quyền nhân thân”.Mặt khác, pháp luật còn quy định các phương thức để bảo vệ người bị xâm phạmquyền nhân thân trong trường hợp người có hành vi xâm phạm không tự chấm dứthành vi của mình ở các Điều 11, 12, 13 và 14 Bộ luật Dân sự năm 2015 Như thế,bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân là việc cá nhân có quyền nhân thân bị xâmphạm dùng các biện pháp luật định hoặc yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩmquyền thực hiện những phương thức theo quy định của pháp luật để chống lại cáchành vi xâm hại đến quyền nhân thân của cá nhân, nhằm buộc người có hành vi tráipháp luật phải chấm dứt hành vi của mình và chịu trách nhiệm dân sự về hành vi đó.Khác với những quyền dân sự khác, quyền nhân thân thể hiện trong mọi mặt đờisống của cá nhân, đặc biệt là còn gắn liền với giá trị tinh thần của chính cá nhân đó.Mỗi hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân đều sẽ tác động sâu sắc đếntinh thần của người bị xâm phạm Vì vậy, việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhântrong trường hợp bị xâm phạm mang một ý nghĩa rất quan trọng

Đầu tiên, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân chính là bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của chính cá nhân đó Là những cá nhân sống trong một xã hội đang khôngngừng phát triển, kéo theo đó là sự gia tăng của các tệ nạn xã hội, quyền nhân thân bịxâm phạm ngày một nhiều, chính vì vậy ý thức bảo vệ quyền nhân thân cá nhân cầnđược nâng cao Tránh việc quyền nhân thân bị xâm phạm, lợi dụng và sử dụng vàomục đích xấu, trái pháp luật. 

Trang 7

Tiếp đến, bảo vệ quyền nhân thân sẽ ngăn chặn được những kẻ đã và đang xâmphạm quyền nhân thân của người khác, đồng thời đây còn là lời cảnh cáo, cảnh tỉnhđối với những người đang manh nha ý nghĩ đó Điều này không chỉ mang tính giáodục mà còn là sự răn đe giúp mọi người hiểu rõ, tôn trọng quyền nhân thân của cánhân mình và mọi người trong xã hội hơn.

Cuối cùng, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân tạo điều kiện thuận lợi cho việc

áp dụng quyền nhân thân của cá nhân vào thực tiễn, bảo đảm đời sống tinh thần chotừng cá nhân, xây dựng một môi trường tốt để các cá nhân có thể lao động và sángtạo Tuy nhiên, quyền nhân thân mang những đặc điểm rất riêng như không trị giáđược bằng tiền, không thể chuyển giao, trừ trường hợp luật khác có liên quan quyđịnh khác

II Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong Bộ luật Dân

sự năm 2015:

Việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân là một khâu trong cơ chế bảo đảmviệc thực hiện quyền nhân thân của cá nhân Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền nhân thânmột cách bừa bãi, tùy tiện trong một số trường hợp sẽ xâm phạm, gây thiệt hại đếnquyền, lợi ích hợp pháp của người khác vì vậy pháp luật phải quy định các phươngthức, biện pháp bảo vệ quyền nhân thân trong trường hợp bị xâm hại Tức là nếu cánhân bị xâm phạm về quyền nhân thân thì có thể sử dụng một trong các phương thứcluật định để bảo vệ quyền nhân thân của mình

Khác với Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định việc bảo vệ quyền nhân thân thànhmột điều riêng trong mục về quyền nhân thân (Mục 2, Điều 25), Bộ luật Dân sự năm

2015 xác định quyền nhân thân cũng là một quyền dân sự, do vậy phương thức bảo

vệ được quy định chung như việc bảo vệ các quyền dân sự khác, được thể hiện tại

Điều 11 – Các phương thức bảo vệ quyền dân sự:

“Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền

tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơquan, tổ chức có thẩm quyền:

1 Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình;

2 Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;

Trang 8

3 Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

4 Buộc thực hiện nghĩa vụ;

5 Buộc bồi thường thiệt hại;

6 Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩmquyền;

7 Yêu cầu khác theo quy định của luật."

Thứ nhất, công nhận, tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo quyền dân sự của mình.

Theo đó, các cá nhân nếu phát hiện quyền nhân thân của mình bị xâm phạm thì cóquyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tôn trọng và thực hiệncác biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của mình một cách hợp pháp nhằm đảm bảotối đa quyền và lợi ích của bản thân

Thứ hai, buộc chấm dứt hành vi xâm phạm Đây là biện pháp đầu tiên mà hầu

hết các chủ thể đều thực hiện khi phát hiện có hành vi xâm phạm đến quyền nhânthân của mình, bằng việc yêu cầu các bên có hành vi trái pháp luật phải chấm dứtngay hành vi của mình Ví dụ, buộc một người phải chấm dứt hành vi nói xấu, bịađặt, xuyên tạc các thông tin nhằm gây mất uy tín, danh dự cá nhân

Thứ ba, buộc xin lỗi, cải chính công khai Là việc yêu cầu các chủ thể có hành

vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân thực phải xin lỗi, cải chính công khai trêncác phương tiện thông tin đại chúng nhằm đính chính lại những thông tin sai lệch,khôi phục lại danh dự, uy tín cho chủ thể bị xâm phạm

Thứ tư, buộc thực hiện nghĩa vụ Là việc yêu cầu bên chủ thể có nghĩa vụ phải

thực hiện đúng theo những nghĩa vụ mà hai bên đã giao kết, xác lập trong hợp đồng,biên bản thỏa thuận, giấy xác nhận,…và đã được các cá nhân, tổ chức có thẩm quyềnchứng minh là đúng Đối với quyền nhân thân, thì phương thức này rất ít được sửdụng vì quyền nhân thân là quyền gắn liền với cá nhân và không thể chuyển giao.Tuy nhiên, với một số trường hợp cá biệt như sử dụng hình ảnh của người khác vìmục đích thương mại, thì bên sử dụng hình ảnh có nghĩa vụ phải hoàn thành những

gì mà hai bên đã giao kết, như trả thù lao cho người có hình ảnh trừ trường hợp cácbên có thỏa thuận khác

Trang 9

Thứ năm, buộc bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát

sinh khi có thiệt hại xảy ra, ở đây vì quyền nhân thân gắn liền với các giá trị tinhthần, nên việc xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân thường gây ra các thiệt hại vềmặt tinh thần Pháp luật không quy định cụ thể mức bồi thường nên hai bên sẽ căn

cứ vào những thiệt hại thực tế xảy ra và điều kiện kinh tế của mỗi bên để thỏa thuậnkhoản bồi thường

Thứ sáu, hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền Việc hủy quyết định của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền phải

do một cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện

Thứ bảy, yêu cầu khác theo quy định của luật Trong trường hợp các phương

thức tự bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân không có hiệu quả, dẫn đến việc tranhchấp thì việc bảo vệ quyền nhân cần phải có sự hỗ trợ, bảo vệ của các cơ quan cóthẩm quyền Theo đó, cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm có thể yêu cầu các

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật bảo vệ như yêu cầu Uỷban nhân dân các cấp, Tòa án, Viện kiểm sát,…Các cơ quan tổ chức này sẽ căn cứvào yêu cầu của đương sự, nhiệm vụ, quyền hạn của mình để tiến hành các biện phápcần thiết theo quy định của luật để bảo vệ cá nhân bị xâm phạm quyền nhân thân,cũng như xử lý người có hành vi trái pháp luật, buộc họ phải chấm dứt hành vi, xinlỗi, cải chính công khai, thậm chí là bồi thường trong trường hợp cần thiết Phươngthức bảo vệ này đã được cụ thể hóa ở Điều 14 – Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơquan có thẩm quyền trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Mặt khác, vì quyền nhân thân của cá nhân được xác định là một trong các quyềndân sự nên để bảo vệ quyền nhân thân chúng ta còn có thể áp dụng các Điều 12 – Tựbảo vệ quyền dân sự, Điều 13 – Bồi thường thiệt hại, Điều 14 – Bảo vệ quyền dân sựthông qua cơ quan có thẩm quyền và Điều 15 – Hủy quyết định cá biệt trái pháp luậtcủa cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong Bộ luật Dân sự 2015 Những điềutrên như là một sự cụ thể hóa các phương thức bảo vệ tại Điều 11 của Bộ luật này.Việc pháp luật quy định cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm có thể bảo vệquyền nhân thân của mình theo các phương thức khác nhau là vô cùng cần thiết, tạođiều kiện cho việc bảo vệ quyền nhân thân có hiệu quả Thông thường, trong trường

Trang 10

hợp quyền nhân thân của mình bị xâm phạm thì việc đầu tiên các cá nhân làm là tựtiến hành các hành vi bảo vệ cần thiết, tương xứng với hành vi xâm phạm để chốnglại và ngăn chặn không cho các hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân tiếp tục diễn

ra như: Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; Buộc cải chính, xin lỗi công khai;…

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như vậy nhằm kịp thời ngăn chặn các hậuquả xấu có thể xảy ra và rút ngắn khoảng cách mâu thuẫn, giữ cho mối quan hệ giữacác đương sự không xấu thêm Tuy vậy, việc tự bảo vệ quyền nhân thân của cá nhânthường chỉ có hiệu quả khi người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân ý thức được

sự sai trái trong hành vi và trách nhiệm của bản thân Đối với những trường hợpngược lại, khi người xâm phạm quyền nhân thân không có ý thức nhìn nhận lại hành

vi, cũng như hậu quả, trách nhiệm từ hành động của mình thì phương thức tự bảo vệ

sẽ không còn hiệu quả Khi đó, ta cần sự can thiệp, hỗ trợ đến từ các cơ quan nhànước có thẩm quyền như Tòa án, Viện kiểm sát,… để có thể bảo đảm quyền nhânthân và giành lại quyền lợi, công bằng cho chính mình

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có rất nhiều phươngthức để bảo vệ quyền nhân thân cá nhân, tùy quyền nhân thân nào bị xâm phạm, tùymức độ xâm phạm và thái độ của người có hành vi trái pháp luật mà cá nhân cóquyền nhân thân bị xâm phạm có thể lựa chọn thực hiện phương thức pháp lý cầnthiết, phù hợp để bảo vệ quyền nhân thân cho mình Trong các điều quy định tại Mục

2 Chương III về “Quyền nhân thân”, một số điều còn có các chế tài cụ thể như sau:

Khoản 3 Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Việc sử dụng hình ảnh mà vi

phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyếtđịnh buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêuhủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp

xử lý khác theo quy định của pháp luật”

Hay như Khoản 3,4,5 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015:

“3 Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân đượcđăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chínhbằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó Nếu thông tin này được cơ quan, tổchức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ

Trang 11

4 Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh

dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên

bố thông tin đó là không đúng

5 Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thìngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thôngtin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại”

Tóm lại, theo quy định của pháp luật dân sự thì cá nhân có quyền nhân thân bịxâm phạm được thực hiện các biện pháp bảo vệ trên để bảo vệ quyền nhân thân củamình Việc áp dụng một hay nhiều phương thức bảo vệ quyền nhân thân, hoặc ápdụng phương thức nào là tùy vào từng trường hợp cụ thể và do người bị xâm phạm

tự lựa chọn quyết định Khi lựa chọn đúng phương pháp phù hợp thì việc bảo vệquyền nhân thân của cá nhân sẽ trở nên hiệu quả hơn

III Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bảo vệ quyền nhân thân và một số kiến nghị hoàn thiện:

Quyền nhân thân của cá nhân được quy định rất cụ thể, rõ ràng trong Bộ luậtDân sự 2015 và qua hai lần sửa đổi cũng đã giải quyết được một số các bất cập cả vềmặt lý luận lẫn thực tiễn trong những bộ luật trước Tuy nhiên, xã hội phát triển ngàycàng đa dạng và phức tạp, kéo theo đó là vô vàn các nguyên nhân dẫn đến tình trạngxâm phạm quyền nhân thân của cá nhân, cũng như mức độ, tính chất ngày càng trởnên nghiêm trọng Một ví dụ dễ thấy đó là trong thời gian qua liên tục xảy ra các vụbôi nhọ cá nhân, tổ chức trên Facebook nói riêng, các mạng xã hội khác nói chung

và đây chỉ là một trong các tình trạng điển hình hiện nay Tuy chưa có số liệu thống

kê cụ thể của một cơ quan, tổ chức nào về những trường hợp bị xâm phạm quyềnnhân thân nhưng qua các phương tiện thông tin đại chúng, ta có thể thấy nhan nhảnnhững tin tức về các vụ xâm phạm quyền nhân thân Trong đó xuất hiện không ítnhững vụ án có tính chất, mức độ vô cùng nghiêm trọng không chỉ xử lý về mặt dân

sự mà còn phải xét đến tính hình sự như vụ năm người hành hung, lột đồ cô gái trẻgiữa đường để đánh ghen xảy ra tại xã Bá Hiến tỉnh Vĩnh Phúc ngày 3/9/2017; Vụmột đối tượng trộm chó ở Hưng Yên bị người dân đánh đập dã man và nhốt cùngchó trong lồng sắt; Vụ quay video tung tin bắt cóc hai trẻ em ở Đà Nẵng để bán hàng

Ngày đăng: 16/02/2023, 19:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w