QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAMQUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
TÊN CHỦ ĐỀ: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Ngô Đặng Thùy Trúc
Mã số sinh viên : 030837210255
Lớp, hệ đào tạo : MLM306_211_D11, Chính quy
CHẤM ĐIỂM
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
1 Cơ sở lý luận
2 Nội dung
2.1 Quan điểm triết học con người trong lịch sử
2.1.1 Quan niệm con người trong triết học phương Đông
2.1.2 Quan niệm con người trong triết học phương Tây
2.1.3 Quan niệm của Mác – Lenin về con người
2.2 Sự vận dụng để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
2.2.1 Bối cảnh lịch sử
2.2.2 Vận dụng tư tưởng Mác – Lênin trong công cuộc xây dựng và phát triển con người Việt Nam
2.2.3 Thực trạng nguốn nhân lực nước ta
2.2.4 Hạn chế và một số giải pháp để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3 Kết luận TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 31 Cơ sở lý luận
Vấn đề con người - một vấn đề rất được quan tâm từ khi con người bắt đầu nhận thức được bản thân mình - luôn xuất hiện với tần suất cao trên các mặt sách, báo Vậy tại sao vấn đề này lại được đông đảo sự chú ý như vậy? Bởi lẽ, con người là đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học phức tạp, đa dạng và có
ý nghĩa thực tiễn vô cùng lớn đối với mỗi thời đại Mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học khác nhau đều định nghĩa con người theo một cách khác nhau tùy theo từng bối cảnh của lịch sử, văn hóa, xã hội Tuy nhiên, chỉ đến khi triết học Mác – Lênin xuát hiện mới hình thành nên một cái nhìn tổng quan, đầy
đủ, hoàn chỉnh hơn về con người theo hướng chủ nghĩa duy vật
Việc hiểu và vận dụng được những lý thuyết này trong thực tế đời sống là điều rất cần thiết đối với nước ta – một nước đang phát triển đi theo con đường
xã hội chủ nghĩa “do dân, của dân, vì dân” Điều này đã và đang được Đảng ta thực hiện trong công cuộc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được thể hiện cụ thể qua các nội dung trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc với mục tiêu hướng con người Việt Nam phát triển một cách toàn diện, là động lực phát triển lâu dài trong công cuộc cách mạng hóa, hiện đại hóa Song, vấn đề con người vẫn còn bị gặp nhiều khó khăn do các yếu tố khách quan và chủ quan, làm cho chất lượng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có
Nhận thức được tầm quan trọng của việc định hướng xây dựng này, em xin chọn đề tài “Quan niệm của Mác – Lênin về con người và sự vận dụng để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Do kiến thức còn nhiều hạn chế, em rất mong sẽ nhận được sự góp ý và chỉ dẫn của thầy Em xin chân thành cảm ơn!
2 Nội dung
2.1 Quan điểm triết học về con người trong lịch sử
Trang 42.1.1 Quan niệm con người trong triết học phương Đông
Ở phương Đông, hai quốc gia xuất hiện triết học sớm nhất có thể kể đến là Trung Hoa và Ấn Độ Nhưng đó chỉ là những quan niệm khá thô sơ, trực quan và mang tính duy tâm
Trung Hoa nổi tiếng với nền văn minh lâu năm cùng với nền triết học
có lịch sử chiều dài hơn hai ngàn năm cổ, nên vấn đề bản tính của con người sớm đã được quan tâm Các nhà triết học Trung Hoa tiếp cận vấn đề này theo hai hướng chính Với Nho gia và Pháp gia, họ đi từ giác độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người là Thiện (Nho gia) và Bất Thiện (Pháp gia) Còn đối với Đạo gia thì lại tiếp cận theo giác độ khác để đi đến kết luận Sự khác nhau giữa giác độ tiếp cận dẫn đến hình thành nên các trường phái, các quan điểm triết học khác nhau thời bấy giờ Khác với Trung Hoa, các trường phái triết học Ấn
Độ, tiêu biểu là Phật giáo lại tiếp cận vấn đề con người từ giác độ suy tư về con người và nhân sinh quan ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (siêu hình học) Từ đó đưa ra những kết luận đôc đáo về sự Vô ngã, Vô thường và tính thiện của con người trên con đường Giác Ngộ
Các trường phái triết học – tôn giáo phương Đông đa phần đều dựa trên
cơ sở thần bí và nhị nguyên luận Với sự ra đời của nhiều trường phái triết học khác nhau như vậy, triết học phương Đông cổ đại có một sự phong phú nhất định chủ yếu đặt con người trong các mối quan hệ đạo đức, chính trị Tuy nhiên, bản chất của con người trong những trường phái triết học này còn nhiều khuyết điểm, có tính hướng nội, hướng tới thế giới duy tâm và thần linh
2.1.2 Quan niệm con người trong triết học phương Tây
Trang 5Xuyên suốt chiều dài lịch sử triết học phương Tây từ xưa đến nay, vấn
đề con người luôn là một đề tài tranh luận chưa bao giờ chấm dứt Một trong những hệ thống triết học hình thành sớm tiêu biểu như: Hy Lạp, La
Mã cổ đại,
Thực tế lịch sử đã cho thấy giác độ tiếp cận và giải quyết vấn đề của phương Tây có nhiều điểm khác với phương Đông Nếu nói triết học ở phương Đông lấy cá nhân làm gốc, làm tâm điểm để nhìn xung quanh thì triết học phương Tây thường lại lấy gốc là tự nhiên Thật vậy, ngày từ thời
cổ đại, các nhà triết học đã coi con người cũng như các sự vật trong tự nhiên không có gì thần bí, đều do vật chất tạo nên Nổi bật có tư tưởng đó là quan niệm của Đêmocrit về bản tính vật chất nguyên tử cấu tạo nên thể xác
và linh hồn con người Những quan điểm duy vậy này khá phát triển ở thời
kì Phục hưng và Cận đại vào thế kỷ XVIII ở các nước Anh, Pháp Và trong một phạm vị nhất định những quan niệm duy vật này có thể coi là tiền đề cho triết học Mác – Lênin sau này
Bên cạnh những tư tưởng duy vật, một số triết gia phương Tây cũng theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, hay thần linh tạo ra họ Theo Socrates, con người được an bài bởi thần linh nên việc nhận thức về linh hồn là sự xúc phạm thần linh, chỉ được tìm hiểu, nhận thức về thế giới và bản thân trong một giới hạn nhất định Hay theo như nhà triết học người Athen – Plato, thể xác có thể mất đi còn linh hồn thì tồn tại vĩnh viễn Bản chất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối…
Nhìn chung, các quan điểm triết học trước Mác đều có hạn chế đó là chưa làm toàn diện trong việc đưa ra vấn đề triết học về con người
2.1.3 Quan điểm của Mác – Lênin về con người
a) Con người là thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội
Trang 6Theo triết học Mác – Lênin, con người là thực thể tự nhiên có sự thống nhất giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội Hai phương này ở con người
có sự thống nhất, quy định lẫn nhau, tác động qua lại
Trước hết, tiền đề vật chất đầu tiên quyết định sự tồn tại của con người
là giới tự nhiên Theo học thuyết Đácuyn về sự tiến hóa loài cùng với sự tiến bộ của triết học duy vật đã chứng minh rằng con người là kết quả của quá trình tiến hóa và phát triển lâu dài của tự nhiên Con người đã, đang và sau này con người có phát triển tới đâu thì con người vẫn là một cơ thể sống, hẹp hơn nữa là một động vật sống Đồng thời, giới tự nhiên cũng là
“thân thể vô cơ của con người” Do đó, sự biến đổi của tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới con người và ngược lại, con người cũng có thể quyết định điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên Chẳng hạn như con người thải khí thải công nghiệp có thể làm ô nhiễm môi trường, thế nhưng nếu biết cách
xử lí các khí thải ấy con người cũng có thể bảo vệ được môi trường xanh, sạch hơn
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng mặt tự nhiên không phải là yếu
tố duy nhất quy định bản chất của con người Đặc trưng để phân biệt con người với sinh vật khác đó là phương diện xã hội Con người tồn tại với tư cách là một thực thể xã hội vì chính các hoạt động xã hội đã làm cho con người là động vật nhưng tồn tại với thực tế là không hẳn động vật Hoạt động xã hội quan trọng nhất của con người đó là lao động sản xuất Các động vật khác thì chỉ biết dựa vào các sản phẩm tự nhiên và bản năng của chúng Trong khi đó, con người lại biết cách sử dụng lao động, cải tạo tự nhiên để tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của mình Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại và từ
đó dần hình thành ngôn ngữ (nói, viết) – công cụ của tư duy, các quan hệ xã
Trang 7hội Bởi vậy, thông qua quá trình lao động, con người từng bước dò dẫm khỏi lớp thú hoang dã, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong xã hội
Vì vừa là sản phẩm giữa tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển con người luôn chịu sự quyết định của ba hệ thống quy luật cơ bản Đầu tiên là quy luật tự nhiên: quy luật về trao đổi chất, biến dị, tiến hóa Thứ hai đó là hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như tình cảm, ý chí, niềm tin,
Và cuối cùng là các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người Ba quy luật này thống nhất với nhau, là cơ sở tạo nên nhu cầu về vật chất (ăn, ở, mặc ) và tinh thần (tình cảm, niềm tin, thẩm mỹ )
b) Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng o c c ối quan
hệ ội
Trong Luận cương về Feuerbach, C.Mác đã viết: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” Thật vậy, con người chung chung, trừu tượng, thoát ly khỏi đời sống xã hội Con người luôn cụ thể, xác định trong một điều kiện lịch sử nhất định, hoàn cảnh nhất định Trong điều kiện ấy, bằng những hoạt động thực tiễn con người mới tạo ra giá trị để tồn tại và phát huy được tư duy, thể lực Vì vậy, khi nghiên cứu về con người phải đặt con người trong những điều kiện cụ thể và gắn con người vào hiện thực Chẳng hạn như nghiên cứu con người ở thời phong kiến thì bản chất sẽ khác với con người của năm 2021
Tổng hoà các quan hệ xã hội là các quan hệ xã hội có sự tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc nhau, ảnh hưởng nhau, thâm nhập vào nhau, bao gồm nhiều loại quan hệ như: quan hệ quá khứ, quan hệ hiện tại, quan hệ vật chất, quan hệ tinh thần, quan hệ gián tiếp/trực tiếp Tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành nên bản chất của con người Nghiên cứu tất cả
Trang 8các quan hệ xã hội ở góc độ tri thức khoa học, đạo đức, thẩm mỹ, thời gian… để có cái nhìn tổng quan hơn về quan hệ xã hội của con người Song, quan hệ kinh tế giữ vai trò quyết định và suy cho cùng thì quan hệ kinh tế hiện tại giữ vai trò quyết định đối với bản chất của con người
c) Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Con người sẽ không tồn tại nếu không gắn bản thân vào thế giới tự nhiên và lịch sử xã hội Vì vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, sự tiến hóa lâu dài của thế giới hữu sinh Và hơn hết, con người là một chủ thể của lịch sử - xã hội Lịch sử là quá trình đan xen, nối tiếp nhau với tất cả các sự kiện luôn biến đổi xảy ra trong quá trình đó Con người tách mình ra khỏi động vật như thế nào thì bước vào lịch sử như thế ấy Lịch sử ấy bắt đầu khi con người biết lao động, hình thành nên các quan hệ xã hội Con người lao động, cải biến tự nhiên nhằm sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn cho những nhu cầu tồn tại và phát triển Trong quá trình ấy, con người không ngừng biến đổi tự nhiên, xã hội đồng thời biến đổi bản thân mình Từ đó, con người làm nên lịch sử của mình, tức là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người
Bản chất con người luôn biến đổi nhưng phải gắn liền với điều kiện lịch sử, xã hội Vì thế, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực cần phải làm cho hoàn cảnh, điều kiện xã hội theo hướng tốt đẹp hơn Khi
đó, con người có thể tiếp nhận thêm những tư duy mới, các phẩm chất trí tuệ hoặc các cách ứng xử, mối quan hệ có giá trị hơn
2.2 Sự vận dụng để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
2.2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội của nước ta
Với những thành tựu đạt được sau hơn 30 năm đổi mới, nước ta đang ngày càng phát triển, tiềm lực ngày càng mở rộng Với những chính sách
Trang 9cải cách kinh tế hợp lí kết hợp với xu hướng toàn cầu thuận lợi đã nhanh chóng đưa nước ta từ một trong những nước thuần nông, nghèo nhất trên thế giới trở thành nước có thu nhập trung bình thấp trong một thế hệ Từ năm 2002 đến 2020, GDP đầu người tăng gấp 2,7 lần, đạt gần 2.800 USD Như cố chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “ Dân giàu,nước mạnh” Để thực hiện được mục tiêu ấy chính là sự nỗ lực không ngừng của nước ta Mức sống và chất lượng đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, ngheo đói được đẩy lùi, hệ thống an ninh được quan tâm củng cố Tính đến năm 2020, tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ 32% (năm 2011) xuống còn dưới 2% Y tế đạt nhiều tiến bộ lớn khi mức sống được cải thiện, tỉ lệ tử vong giảm, chỉ số sức khỏe bao trùm toàn dân đạt ngưỡng 73, cao hơn trung bình khu vực và trung bình thế giới Khả năng tiếp nhận cơ sở hạ tầng cũng được cải thiện đáng kể
Cùng với đó là quá trình “ hòa nhập chứ không hòa tan” với các nền kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới diễn ra mạnh mẽ và hiệu quả, tạo ra các mối quan hệ hợp tác, đầu tư và phát triển cho Việt Nam
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà nước ta đạt được thì nên kinh tế cũng còn tồn tại những khó khăn, thách thức đặc biệt là trong tình trạng diễn biến phức tạp và kéo dài của dịch bệnh
2.2.2 Vận dụng tư tưởng Mác – Lênin trong công cuộc xây dựng và phát
triển con người Việt Nam
Con người là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao
tăng trưởng kinh tế Các yếu tố tài nguyên thiên nhiên, máy móc, trang thiết bị dù có hiện đại hay tân tiến đến đâu, nếu không có con người đều
vô nghĩa Vì vậy, cần phát huy tối đa hóa tiềm năng của con người về lần trí lực (trình độ chuyên môn, kĩ năng mềm) và thể lực
Trang 10Như C Mác đã từng khẳng định rằng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, mỗi nhà tư bản đều lợi dụng con người để thu lợi ích cho mình Ngược lại, đối với nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, chúng ta lại ưu tiên con người, đặt con người làm trọng tâm, vừa là nhân tố lao động quan trọng vừa là mục tiêu để phát triển Kế thừa tư tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội
đó, Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh quan điểm trong mỗi kì họp Đại
hội Đảng, tiêu biểu như sau khi tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết
Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng đã ban hành Nghị quyết 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” (Nghị quyết số 33), trong đó, đề cao việc phần xây dựng con người phát triển toàn diện hay chủ tịch Hồ Chí Minh từng có câu: “ vì lợi ích trăm năm trồng cây, vì lợi ích nghìn năm trồng người” Do đó, những đường lối và chính sách xây dựng nền xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta luôn lấy con người là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội; đặt con người trong mục tiêu lâu dài và phát triển toàn diện
Bên cạnh đó là mục tiêu của quá trình xây dựng con người mới đã và đnag được Đảng và Nhà nước thực hiện Thứ nhất, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách – là giá trị cốt lỗi để bảo vệ Tổ quốc, hướng tới các quan hệ xã hội, giá trị nhân văn mới Thứ hai, xây dựng con người có trình độ lao động cao Thứ ba, xây dựng con người hội nhập quốc tế, phát triển toàn diện Thứ tư là con người đoàn kết, có trách nhiệm Thứ năm, tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ Thứ sáu, nâng cao thể lực song hành với trí lực Thứ bảy, xây đi đôi với chống; phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực, cổ hủ
2.2.3 Thực trạng nguồn nhân lực của nước ta