1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí ở Việt Nam.

94 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo luật này cũng quy định chế độ bảo hiểm bắt buộc do giới chủ doanh nghiệp đóng góp, những công nhân bị tai nạn trong xí nghiệp hoặc những người thân còn sống của họ được nhận trợ cấp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC :

TS Nguyễn Huy Ban

Hà Nội, 2004

Trang 2

1.1- KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển bảo hiểm xã hội

1.1.2 Những vấn đề cơ bản của bảo hiểm xã hội

1.1.3 Các loại hình thực hiện bảo hiểm xã hội

1.2.1 Khái niệm về chế độ hưu trí

1.2.2 Phân biệt chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội với chế

độ hưu trí thương mại

1.2.3 Các yếu tố cơ bản để xây dựng chế độ hưu trí

2.1.3 Giai đoạn từ 1995 đến nay

39

39

40

42

Trang 3

2.2- CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

2.2.1 Về đối tượng thực hiện chế độ hưu trí 2.2.2 Nguồn hình thành quỹ hưu trí:

3.1- NHỮNG GIẢI PHÁP SỬA ĐỔI VỀ NỘI DUNG CHẾ ĐỘ HƯU

3.1.4 Hạn chế việc chi trả trợ cấp một lần từ quỹ hưu trí 3.1.5 Tách quy định về mất sức lao động ra khỏi chế độ hưu trí, xây dựng chế độ trợ cấp mất sức lao động độc lập

3.1.6 Việc xử lý tiền trợ cấp hưu trí khi Nhà nước tăng tiền lương tối thiểu chung hoặc thực hiện chính sách cải cách tiền lương cho cán bộ công chức

Trang 4

3.2- NHỮNG GIẢI PHÁP VỀ NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ HƯU

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1- Lý do chọn đề tài

Chế độ hưu trí là một trong những chế độ bảo hiểm xã hội quan trọng nhất của hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội Đây là một chế độ bảo hiểm xã hội mang tính tổng hợp, dài hạn và có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia

Ở Việt Nam, ngay từ những năm 60, khi hệ thống bảo hiểm xã hội được

ra đời, Chính phủ đã quan tâm xây dựng và thực hiện chế độ hưu trí đối với

ngư-ời lao động Qua nhiều giai đoạn phát triển của đất nước, chế độ hưu trí đã trở thành một trong những chỗ dựa và là mục tiêu của người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội Đến nay, đã có hàng triệu người đã và đang được hưởng trợ cấp hưu trí hàng tháng Trong suốt hơn 40 năm qua, chế độ hưu trí đã có nhiều thay đổi để ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với yêu cầu của xã hội Trong những năm trước đây, chế độ hưu trí được thực hiện đối với cán bộ công nhân viên chức Nhà nước và được Nhà nước bao cấp hoàn toàn, điều này đã gây nên một gánh nặng lớn cho ngân sách Nhà nước khi số người hưởng hưu trí ngày càng tăng

Từ khi nước ta thực hiện đổi mới nền kinh tế, chính sách bảo hiểm xã hội nói chung, chế độ hưu trí nói riêng, đã có những thay đổi căn bản Kể từ khi Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành, bảo hiểm xã hội chính thức được chuyển đổi

từ cơ chế bao cấp sang cơ chế tạo nguồn quỹ bằng sự đóng góp của các bên, người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước vào một quỹ chung Tuy nhiên, cho đến nay chế độ hưu trí và quỹ hưu trí vẫn còn những tồn tại và chưa đảm bảo được sự cân đối , ổn định về lâu dài

Việc nghiên cứu, đánh giá pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí và nguồn quỹ để đảm bảo thực hiện chế độ hưu trí là một vấn đề đang được xã hội

quan tâm Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn vấn đề “Pháp luật về nguồn hình

thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí ở Việt Nam” làm đề tài Luận

văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế với hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào công tác nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật về bảo hiểm xã hội nói

Trang 6

chung và chế độ hưu trí nói riêng Tuy nhiên luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong các thầy cô giáo và các nhà khoa học lượng thứ

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm xã hội nói chung, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí ở nước ta

3- Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật quy định về nguồn hình thành và sử dụng quỹ hưu trí ở Việt Nam Phân tích về tình hình thực hiện chế độ hưu trí hiện hành, phát hiện những vấn đề bất cập trong các quy định của pháp luật Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ hưư trí ở nước ta

4- Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu và phân tích những nội dung chính sau :

- Thứ nhất: Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm xã hội và chế độ

hưu trí

- Thứ hai: Những quy định của pháp luật hiện hành về nguồn hình thành

và sử dụng quỹ hưu trí ở nước ta

- Thứ ba: Việc thực hiện chế độ hưu trí trong thực tiễn những năm qua,

5- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, đồng thời vận dụng các tư tưởng chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới tư duy chính trị - pháp lý, về cải cách hành chính tư pháp và

về mục tiêu phát triển bền vững

Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ đặt ra, luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp logíc với lịch

Trang 7

6- Những đóng góp chủ yếu về mặt khoa học của luận văn

- Xác định những nội dung cơ bản mang tính lý luận khoa học của chế độ hưu trí, những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và sử dụng của quỹ hưu trí

- Hệ thống những quy định của pháp luật về chế độ hưu trí Đánh giá thực trạng thực hiện và những bất cập trong pháp luật về việc hình thành và sử dụng quỹ hưu trí Đề xuất những kiến nghị sát thực để hoàn thiện chế độ hưu trí và đảm bảo ổn định quỹ hưu trí

- Có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, hoặch định chính sách bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ hưu trí nói riêng

7- Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1 - Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí Chương 2- Thực trạng về hình thành và sử dụng quỹ hưu trí ở Việt Nam Chương 3- Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về nguồn hình thành và

sử dụng quỹ hưu trí ở viêt nam

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

VÀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

Trang 8

1.1 KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI:

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội:

Trong cuộc đời của mỗi con người, trong quá trình tồn tại và trưởng thành không phải lúc nào người ta cũng gặp thuận lợi, cũng làm việc tạo ra được sản phẩm để có thu nhập, thoả mãn các nhu cầu của mình, trái lại họ phải chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên, của những rủi ro xảy ra mà họ không lường trước được như ốm đau, tai nạn, già yếu Tất nhiên khi gặp phải những hoàn cảnh này con người không làm việc được, do đó bị giảm hoặc mất thu nhập, dẫn đến những khó khăn trong cuộc sống

Để khắc phục những rủi ro, để giảm bớt khó khăn thì ngoài việc tự mình khắc phục, con người cần thiết phải được sự bảo trợ của cộng đồng, của xã hội

Sự bảo trợ này được thể hiện dưới hình thức bằng tiền hoặc bằng hiện vật để đảm bảo những nguồn vật chất cần thiết nhằm phục hồi nhanh chóng khả năng lao động, cũng như sự ổn định về thu nhập cần thiết để sinh sống

Từ xa xưa con người đã có sự san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trên tinh thần

“nhường cơm sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách” dần dần trở thành một truyền thống tốt đẹp của cả xã hội, ý thức cộng đồng Cùng với sự phát triển của xã hội, ý thức cộng đồng ngày càng được mở rộng, làm tiền đề cho sự ra đời của bảo hiểm xã hội ngày nay

Nhìn lại lịch sử thì từ đầu Công nguyên, ở Rôm (Italy) đã tự tổ chức các quỹ để trợ cấp cho người ốm đau Vào thế kỷ 14 các nhà thiên chúa giáo ở Châu

Âu cũng lập ra các quỹ để tương trợ ốm đau, tàn tật Đến thế kỷ thứ XV những người nông dân trồng nho ở vùng thung lũng Anpơ đã thành lập những hội tương tế với cách thức môĩ người đều trích một phần thu nhập đóng vào một quỹ chung phòng khi ai bị ốm đau, tai nạn thì dùng quỹ đó để trợ giúp, đáp ứng được sự bù đắp tức thời cho những người gặp rủi ro bất hanh Hình thức này dần dần được đa số các nước ở Châu Âu thực hiện

Trang 9

Những hình thức tương trợ của cộng đồng đối với những người gặp khó khăn đã góp phần cho họ vượt qua cam go, nhưng tính chất của những hình thức này chỉ là sự bù đắp tức thời, không ổn định Việc tương trợ trong phạm vi hẹp của những đơn vị nhỏ hoặc khu vực nhỏ không có thể khắc phục hết những rủi

ro của người lao động Cuộc sống của người lao động lại gặp phải bấp bênh ảnh hưởng đến lao động sản xuất, và trật tự an toàn xã hội Sự ảnh hưởng này đã tác động đến giới chủ và Nhà nước, buộc họ phải từng bước can thiệp vào để duy trì lực lượng lao động, những người tạo ra của cải vật chất

Năm 1850, ở Đức nhiều bang đã có sáng kiến thành lập quỹ ốm đau và bắt buộc công nhân phải đóng góp để dự phòng Tính bắt buộc đóng góp mới chỉ xuất hiện ở một bên người được bảo hiểm Đến những năm 1880 các hình thức tương trợ xã hội được mở rộng cho các trường hợp tai nạn, tuổi già và có thêm

sự tham gia đóng góp vào quỹ xã hội của giới chủ và Nhà nước

Cũng từ thời kỳ này, pháp luật bảo hiểm xã hội và hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội được ra đời ở Đức dưới thời Thủ tướng Bismarck Đạo luật về chế

độ bảo hiểm ốm đau của công nhân được ban hành năm 1883, theo đạo luật này việc thực hiện bảo hiểm xã hội là bắt buộc đối với những người làm công ăn lương Đạo luật quan trọng tiếp theo là luật bảo hiểm tai nạn ban hành năm

1884 Đạo luật này cũng quy định chế độ bảo hiểm bắt buộc do giới chủ doanh nghiệp đóng góp, những công nhân bị tai nạn trong xí nghiệp hoặc những người thân còn sống của họ được nhận trợ cấp từ các quỹ bảo hiểm tai nạn chuyên ngành, Đạo luật về bảo hiểm hưu trí và mất sức được ban hành năm 1889, bảo đảm cho người từ 70 tuổi trở lên một khoản trợ cấp hưu trí hoặc một khoản trợ cấp mất sức lao động Đến đây mở ra một thời kỳ mới của bảo hiểm: Bắt buộc tham gia đối với người lao động, đóng phí bảo hiểm do 3 bên, quản lý hệ thống

có đại diện của cả 3 bên (Nhà nước, giới chủ và giới thợ) Hệ thống bảo hiểm xã hội của Đức được nhân rộng ra khắp Châu Âu và một số nơi khác Vào những năm 1930 bảo hiểm xã hội được thực hiện ở Mỹ La tinh, Hoa kỳ và Canađa Sau

Trang 10

chiến tranh thế giới lần thứ II, bảo hiểm ở xã hội lan rộng tới nhiều nước ở Châu Phi, Châu Á và các nước vùng biển Caribê thực hiện Tuy nhiên việc áp dụng có những khác biệt tuỳ theo đặc điểm kinh tế xã hội từng thời kỳ của mỗi nước

Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã có pháp luật bảo hiểm xã hội Mục đích của pháp luật bảo bảo hiểm xã hội ở các nước đều giống nhau ở chỗ đều là sự bảo vệ cho người lao động khi gặp phải rủi ro do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập Tuy nhiên giữa các đạo luật bảo hiểm xã hội của các nước cũng

có nội dung khác nhau về các dạng lao động được áp dung, về số lượng các chế

độ trợ cấp, về phương thức tổ chức thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội v.v

Tổ chức lao động quốc tế là tổ chức liên Chính phủ được thành lập năm

1919, với mục đích đưa ra những khuyến nghị nhằm giúp đỡ về kỹ thuật đối với các thành viên trong tất cả các lĩnh vực lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động Từ khi thành lập đến nay Tổ chức lao động quốc tế đã coi việc xúc tiến bảo hiểm xã hội là một trong những hoạt động chính của mình Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế đã quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của các chế độ bảo hiểm xã hội và khuyến nghị các nước thành viên thực hiện tiêu chuẩn này Ngoài ra Công ước còn quy định những vấn đề cơ bản làm nòng cốt cho bảo hiểm xã hội, đó cũng là cơ sở để các nước luật hoá theo điều kiện của mỗi quốc gia

Ở nước ta, với truyền thống đùm bọc lẫn nhau trong gia đình và cộng đồng làng xã, mầm mống của bảo hiểm xã hội đã có từ lâu đời “trẻ cậy cha, già cậy con”, “lá lành đùm lá rách”, người dân Việt Nam đã đồng cam cộng khổ với nhau, giúp đỡ nhau những khi ốm đau , tai nạn cũng như san sẻ cho nhau bát cơm, manh áo lúc mất mùa đói kém

Ngay từ những ngày mới giành được chính quyền Đảng và Nhà nước ta

đã quan tâm đến bảo hiểm xã hội đối với người lao động Trong sắc lệnh số 76 ngày 20/5/1950 quy định về chế độ công chức, sắc lệnh số 77 ngày 22/5/1950 quy định về chế độ công đân Trong đó ngoài các chế độ tuyển dụng , thôi việc,

Trang 11

tiền lương, thì giờ làm việc cũng đã quy định những nội dung có tính nguyên tắc về bảo hiểm xã hội như chế độ ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, hưu trí và trợ cấp khi chết Nhưng do hoàn cảnh kháng chiến, nên việc áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội chưa được thực hiện toàn diện

Pháp luật bảo hiểm xã hội chỉ thực sự được thực hiện một cách tương đối hoàn chỉnh bắt đầu từ những năm 60, được đánh dấu bằng sự ra đời của Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước, được ban hành kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 của Chính phủ

Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội trong suốt hơn

30 năm qua cũng như các chính sách xã hội khác, được thực hiện trong cơ chế tập trung bao cấp Thời kỳ này bảo hiểm xã hội thể hiện sự đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước Cán bộ công nhân viên chức (gọi chung là người lao động) trong các cơ quan đơn vị của Nhà nước không phải đóng góp bảo hiểm xã hội , nhưng khi gặp phải những trường hợp rủi ro hoặc già yếu thì được Nhà nước trợ cấp Với quan niệm như vậy, vấn đề tài chính bảo hiểm xã hội dần dần trở thành một gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, đồng thời sự bình đẳng giữa những người lao động trong xã hội cũng không được đảm bảo vì lực lượng lao động ngoài quốc doanh không được quyền hưởng trợ cấp Vì thế, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định tại điều 56 “Nhà nước quy định chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương Nhà nước khuyến khích các hình thức bảo hiểm xã hội khác với người lao động” Đảng ta cũng ra Nghị quyết về từng bước thực hiện bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII)

Như vây, đến nay với việc xây dựng nền kinh tế mới nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo hiểm xã hội không chỉ áp dụng hạn hẹp đối với công nhân viên chức Nhà nước mà còn được

áp dụng đối với người lao động trong các thành phần kinh tế khác Bộ luật Lao

Trang 12

động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994, trong đó có một chương về bảo hiểm xã hội đã phần nào đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm xã hội của người lao động, đồng thời xây dựng được một hệ thống bảo hiểm xã hội tập trung, thống nhất và độc lập với sự đóng góp của cả ba bên, dần dần tách khỏi ngân sách Nhà nước Các quy định về bảo hiểm xã hội trong Bộ Luật Lao động là một chuyển biến lớn của pháp luật bảo hiểm xã hội ở nước ta

1.1.2 Những vấn đề cơ bản của bảo hiểm xã hội

Nghiên cứu về bảo hiểm xã hội, chúng ta thấy rằng bảo hiểm xã hội phát sinh, tồn tại và phát triển do nhu cầu khách quan của xã hội Có thể thấy nền kinh tế- xã hội càng phát triển thì nhu cầu về bảo hiểm xã hội càng tăng Bảo hiểm xã hội có mục đích là bảo vệ người lao động khi yếu thế, đặc thù của hình thức bảo hiểm này là những trường hợp được bảo hiểm chủ yếu là những biến cố gắn liền với quá trình lao động và những trường hợp diễn ra sau đó Cùng với sự phát triển của xã hội, bảo hiểm xã hội ngày càng đa dạng phong phú

Bảo hiểm xã hội là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, do vậy cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về nội dung khái niệm này, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu Từ điển Bách khoa tập I (Viện Từ điển Bách khoa Việt Nam – xuất bản 1995) có nêu “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc bị giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội” Khái niệm này thể hiện cách thức tổ chức và thực hiện bảo hiểm xã hội, coi quỹ bảo hiểm xã hội như là một “quỹ tài chính” Hơn nữa nguồn quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành trong mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia là khác nhau, có thể không hoàn toàn là do sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Thực tiễn ở Việt Nam, một thời gian dài quỹ bảo hiểm xã hội hoàn toàn do ngân

Trang 13

sách Nhà nước đảm bảo Khái niệm này cũng đã chỉ ra được bảo hiểm xã hội không chỉ góp phần ổn định đời sống người lao động và gia đình họ mà còn góp phần đảm bảo an toàn xã hội

Có ý kiến cho rằng “bảo hiểm xã hội là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế tiền lương cho người lao động trong các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay việc làm, do đó bị mất hoặc giảm thu nhập do lao động tạo ra, nhằm bảo đảm thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu cho người lao động” (Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam- Trần Quang Hùng, Bộ Lao động- Thương binh và xã hội, xuất bản 1994) Như vậy, cách hiểu này thể hiện

rõ tính chất của các trợ cấp bảo hiểm xã hội là nhằm thay thế tiền lương hoặc tiền công Khi người lao động tham gia vào các quan hệ lao động mà vì một lý

do nào đó dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập từ tiền lương hoặc tiền công thì trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ thay thế khoản thiếu hụt đó Định nghĩa này chưa phản ánh hết nội dung của bảo hiểm xã hội, vì bảo hiểm xã hội không chỉ thay thế tiền lương hoặc tiền công, vì người lao động khi cao tuổi không làm việc thì không còn tiền lương hoặc tiền công nhưng được hưởng trợ cấp hưu trí hoặc nhiều dạng trợ cấp khác như trợ cấp tử tuất, trợ cấp gia đình Đồng thời, bảo hiểm xã hội còn bao gồm một tổng hợp các hoạt động từ việc huy động các nguồn đóng góp, đến việc quản lý quỹ bảo hiểm xã hội và cách thức tổ chức thực hiện việc chi trả các trợ cấp

Tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu nên có nhiều cách định nghĩa khác nhau

về bảo hiểm xã hội, nhưng chúng ta có thể thấy khái niệm do Tổ chức lao động quốc tế nêu ra là phù hợp chung với các mô hình bảo hiểm xã hội của nhiều nước: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi

ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già, chết

Trang 14

Đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các thân nhân trong gia đình người lao động, để góp phần ổn định cuộc sống bản thân người lao động và gia đình, góp phần bảo đảm an toàn xã hội” Định nghĩa này đã phản ánh toàn diện khái niệm về bảo hiểm xã hội, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ hai mặt của bảo hiểm

xã hội đó là kinh tế và xã hội, tạo nên bản chất của bảo hiểm xã hội

Xem xét toàn diện về bảo hiểm xã hội chúng ta có thể thấy bảo hiểm xã hội có những đặc điểm sau:

Thứ nhất về tài chính để đảm bảo trợ cấp bảo hiểm xã hội thông thường được hình thành từ sự huy động các nguồn đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước Từ đó các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội được đảm bảo Đặc trưng này thể hiện nghĩa vụ của người lao động

và trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội thông qua việc hỗ trợ thêm cho quỹ bảo hiểm xã hội

Thứ hai trong bảo hiểm xã hội các rủi ro được cộng đồng chia sẻ, nhưng

để bảo đảm được mục tiêu phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo đảm an toàn xã hội nên Nhà nước phải dùng công cụ pháp luật để điều chỉnh nghĩa vụ của người lao động và trách nhiệm của người sử dụng lao động, vì thế sự tham gia bảo hiểm xã hội là bắt buộc đối với mọi lao động và người sử dụng lao động Trừ một số ngoại lệ đối với những người lao động mà công việc của họ không thường xuyên, có tính chất vụ việc hoặc theo mùa vụ nên thu nhập của họ không

ổn định, có thể không áp dụng bắt buộc đối với các dạng lao động này

Thứ ba các nguồn thu bảo hiểm xã hội được tập trung vào một quỹ tiền tệ hạch toán độc lập để các chi phí trợ cấp bảo hiểm xã hội và chi phí cho bộ máy quản lý thực hiện

Thứ tư, đa số các quỹ bảo hiểm xã hội được thiết lập theo sự tồn tích để bảo đảm cho việc cân đối dài hạn hoặc để dự phòng cho các chế độ trợ cấp ngắn

Trang 15

hạn Do đó, phần tiền nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm xã hội được đầu tư để sinh lợi

và bảo toàn giá trị Hoạt động này có ý nghĩa trong việc góp phần phát triển kinh

tế xã hội và trực tiếp tạo ra nhiều việc làm, làm tăng thêm người tham gia bảo hiểm xã hội

Thứ năm, mức đóng và mức hưởng bảo hiểm xã hội thường có mối liên

hệ với chính sách tiền lương, tiền công của người lao động vì tiền lương hoặc tiền công của ngườ lao động là thu nhập thường xuyên, ổn định là thước đo giá trị sức lao động và phản ánh đời sống của người lao động thường được quy định bởi các văn bản pháp luật Mức đóng góp và trợ cấp bảo hiểm xã hội đều căn cứ vào mức tiền lương, tiền công của người được bảo hiểm

Hiện nay theo thống kê của Tổ chức lao động quốc tế thì ở các nước đang thực hiện các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội là: Ốm đau; thai sản ; mất sức lao động; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; tuổi già; tử tuất; thất nghiệp; chăm sóc y tế; trợ cấp gia đình

Tuy trên thế giới tồn tại 9 dạng trợ cấp bảo hiểm xã hội như trên, nhưng trong thực tế tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước thực hiện một số dạng trợ cấp nhất định Nước ta hiện nay áp dụng 6 dạng trợ cấp bảo hiểm xã hội đó là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và bảo hiểm y tế Nhưng bảo hiểm y tế được hình thành theo một nhánh riêng, không nằm trong quy định của bộ luật Lao động

1.1.2.1- Bản chất của bảo hiểm xã hội:

Bảo hiểm xã hội vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội Về tính kinh tế, trước hết xem xét từ giác độ người được bảo hiểm thì bảo hiểm xã hội tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi họ gặp phải các rủi ro trong phạm vi bảo hiểm xã hội, nhằm bảo đảm đời sống cho họ và cho những người trong gia đình Khi xem xét về vấn đề tài chính của bảo hiểm xã hộithì tất

Trang 16

cả các nguồn đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và của Nhà nước đều trực tiếp liên quan đến vấn đề sản xuất kinh doanh của đơn vị, đến giá thành sản phẩm, đến chính sách tài chính của quốc gia Về tính xã hội, do có sự

“chia sẻ rủi ro” của bảo hiểm xã hội, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ bảo hiểm xã hội, nhưng toàn xã hội

sẽ có một lượng vật chất lớn để trang trải cho những rủi ro xảy ra Ở đây, bảo hiểm xã hội lấy nguyên tắc “số đông bù số ít”, xuất phát từ sự liên kết của những người tham gia bảo hiểm xã hội, từ lợi ích chung của họ để trợ cấp cho một số ít người gặp phải rủi ro Vì thế bảo hiểm xã hội là sự tương trợ cộng đồng mang tính nhân văn, tiến bộ xã hội vì một cộng đồng an sinh, trật tự Để làm rõ hơn bản chất của bảo hiểm xã hội cần xem xét thêm

-Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động bảo hiểm xã hội là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm xã hội Khác với bảo hiểm thương mại, trong bảo hiểm xã hội mối quan hệ này chủ yếu dựa trên quan hệ lao động và dĩên ra giữa 3 bên: người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước

Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng góp bảo hiểm cho người lao động mà họ thuê mướn

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội để thực hiện bảo hiểm cho chính mình trong quá trình lao động và sau lao động

Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội với tư cách là chủ thể quản lý, hoạch định, thực hiện chế độ chính sách bảo hiểm xã hội, định hướng cho các hoạt động bảo hiểm xã hội Ngoài ra Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội với tư cách

là bảo vệ cho các thành viên trong cộng đồng và là người bảo hộ cho các hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội, hỗ trợ cho quỹ bảo hiểm xã hội trong những trường hợp cần thiết

Trang 17

- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong bảo hiểm xã hội có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản Những biến cố đó có thể diễn ra trong và ngoài quá trình lao động

- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc bị mất khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ này được hình thành chủ yếu từ đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội

và một phần từ hỗ trợ của Nhà nước

1.1.2.2- Chức năng của bảo hiểm xã hội:

Bảo hiểm xã hội có những chức năng chủ yếu sau:

- Bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Đây là chức năng cơ bản của bảo hiểm xã hội Nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của bảo hiểm xã hội

- Thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội

- Góp phần khuyến khích người lao động tích cực lao động sản xuất Người lao động có việc làm, khi khoẻ mạnh làm việc bình thường sẽ có tiền lương, tiền công, khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già đã có trợ cấp bảo hiểm xã hội thay thế nguồn thu nhập bị mất Nhờ bảo hiểm xã hội, đời sống của người lao động và gia đình họ sẽ được đảm bảo, vì thế người lao động sẽ gắn bó với công việc, yên tâm tích cực lao động sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng hiệu quả kinh tế

Trang 18

- Gắn bó lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động, giữa người tham gia bảo hiểm xã hội với nhau Bảo hiểm xã hội dựa trên cơ sở đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm xã hội Các mức đóng góp này được tồn tích dần thành quỹ tập trung, quỹ này lại huy động phần nhàn rỗi tương đối để sinh lợi tăng nguồn thu Nhờ quỹ tập trung này, bảo hiểm

xã hội có thể đảm bảo việc bù đắp thu nhập cho người lao độgn khi họ gặp rủi ro đồng thời cũng giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp khi xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Bảo hiểm xã hội đã phát huy tiềm năng của số đông để bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động cũng như cho xã hội, từ đó tạo ra sự gắn bó chặt chẽ về lợi ích của các bên tham gia bảo hiểm xã hội

- Góp phần ổn định chính trị xã hội Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội càng nhiều thì càng giảm đi số người đói nghèo do gặp phải rủi ro trong cuộc sống, từ đó làm cho xã hội lành mạnh và ổn định

1.1.2.3- Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội được thiết lập với những nguyên tắc chủ yếu như :

- Tất cả mọi người lao động đều có quyền tham gia và được hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật

- Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn đóng góp, thông thường là sự đóng góp của chủ sử dụng lao động, người lao động, với một phần

Trang 19

- Bảo hiểm xã hội thực hiện trên cơ sở lấy số đông bù số ít, dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro, đây là nguyên tắc rất quan trọng trong bảo hiểm

xã hội

1.1.3 Các loại hình thực hiện bảo hiểm xã hội:

Trong lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội, tồn tại 3 loại hình phổ biến như sau:

1.1.3.1- Loại hình bảo hiểm xã hội tự phát: Đây chính là nguồn gốc phôi

thai của pháp luật bảo hiểm xã hội Như phần đầu đã nêu ngay từ đầu công nguyên ở Rôm người dân đã tự tổ chức các quỹ để trợ cấp cho người ốm Giữa thế kỷ 15 những người nông dân ở vùng Anpơ đã trích từ thu nhập của mình để đóng vào quỹ ốm đau, tai nạn Loại hình bảo hiểm xã hội tự phát này được hình thành sớm nhất trên thế giới và vẫn được duy trì phát triển đến ngày nay Loại hình này mang nhiều đặc tính của cứu trợ xã hội vì có thể đáp ứng được sự bù đắp tức thời cho những người gặp rủi ro, nhưng lại khó có thể đảm bảo trợ cấp

ổn định, lâu dài được

1.1.3.2- Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc: Khi công nghiệp phát triển

đội ngũ những người làm công ăn lương tăng nhanh, thì vấn đề bảo hiểm xã hội càng trở nên cấp thiết Loại hình bảo hiểm xã hội tự phát không thể đáp ứng được nhu cầu về bảo hiểm xã hội của công nhân Lúc này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước thông qua việc tổ chức thực hiện bằng những quy định pháp luật , loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc ra đời Đến nay bảo hiểm xã hội bắt buộc đã khẳng định được vị trí vững mạnh, bảo đảm được trợ cấp ổn định, chắc chắn và lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác, đáp ứng được mục tiêu cơ bản của bảo hiểm xã hội Đối tượng của bảo hiểm xã hội bát buộc chủ yếu là những người lao động có quan hệ lao động, tuy nhiên ở một số nước bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng được thực hiện với những lao động khác có thu nhập ổn định Đến nay đã có trên 180 nước có pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc

Trang 20

1.1.3.3- Loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện: trước hết cần phân biệt loại

hình bảo hiểm xã hội tự nguyện với loại hình bảo hiểm xã hội tự phát, hai loại hình này khác nhau ở chỗ bảo hiểm xã hội tự nguyện được Nhà nước quy định bằng pháp luật, mọi người có thể tự nguyện tham gia theo các quy định của pháp luật, còn bảo hiểm xã hội tự phát là tập thể người lao động tự tổ chức, tự đặt ra các thể lệ để thực hiện với nhau

Bảo hiểm xã hội tự nguyện ra đời nhằm mục đích thực hiện với những đối tượng không có quan hệ lao động, hoặc những đối tượng có nhu cầu đóng góp

để được hưởng thêm về trợ cấp Bảo hiểm xã hội tự nguyện áp dụng cho đối tượng này thường chỉ thực hiện chế độ hưu trí, thí dụ ở Anh, ở Pháp có chế độ hưu trí bắt buộc chung đối với mọi người lao động, ngoài ra Nhà nước còn quy định chế độ hưu trí bổ sung tự nguyện, ai có nhu cầu thì tham gia để khi đủ điều kiện thì được hưởng thêm một khoản lương hưu tự nguyện Đối tượng thứ hai của bảo hiểm xã hội tự nguyện là những đối tương không thuộc diện bảo hiểm

xã hội bắt buộc như người tự tạo việc làm, người nội trợ, nông dân, ngư dân và phạm vi thực hiện các chế độ trợ cấp là hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia, có thể thực hiện tất cả các chế độ như bảo hiểm xã hội bắt buộc,

có thể chỉ thực hiện một số chế độ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội của quốc gia và phụ thuộc vào khả năng quản lý của cơ quan thực hiện bảo hiểm xã hội Đến nay có khoảng gần 70 nước có pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2 CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG HỆ THỐNG CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.2.1 Khái niệm về chế độ hưu trí

Theo Đại từ điển tiếng việt do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo xuất bản năm 1999 thì hưu trí là “Nghỉ việc khi đã già hoặc đủ thời gian phục vụ được hưởng chế độ lương bổng theo quy định của Nhà nước”

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì chế độ hưu trí là dạng trợ cấp cho những người tham gia bảo hiểm xã hội đạt đến độ tuổi cao mà không tiếp tục làm việc bình thường nữa Qua hai định nghĩa này có thể thấy :

Trang 21

Chế độ hưu trí là một chế độ bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo thực hiện quyền lợi hợp pháp của người lao động sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động

và đóng bảo hiểm xã hội, nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động khi không còn khả năng lao động bình thường, hay còn gọi là khi đã hết tuổi lao động Nó thể hiện sự quan tâm chăm sóc của Nhà nước đối với người lao động không những lúc còn trẻ, khoẻ đang làm việc mà còn cả khi già yếu, đồng thời còn phản ánh trình độ văn minh của một chế độ xã hội

Thực tế cho thấy trong toàn bộ quá trình sinh sống của con người thì thời gian cần được bảo vệ, cần được xã hội quan tâm nhất là khi già yếu Bởi vì, thời gian này không chỉ con người không thể làm việc, không có thu nhập mà sự mất thu nhập do tuổi già là vĩnh viễn là không còn khả năng “ hồi phục” lại như khi

ốm đau, tai nạn Đồng thời từ khi nghỉ việc do tuổi già đến khi chết là quãng thời gian kéo dài có thể hàng chục năm

Xuất phát từ ý nghĩa trên, mà chế độ hưu trí là chế độ được các nước quan tâm, xây dựng và phát triển Có thể khẳng định rằng, chế độ hưu trí là một trong những chế độ bảo hiểm được thực hiện sớm trong lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội Theo quy định của ILO, chế độ này là một trong những chế độ bắt buộc của hệ thống bảo hiểm xã hội, là chế độ mà mỗi quốc gia cần xây dựng khi thành lập một hệ thống bảo hiểm xã hội Qua đó ta thấy:

- Chế độ hưu trí là cấu phần quan trọng nhất, cơ bản nhất trong chính sách bảo hiểm xã hội, thuộc hệ thống an sinh xã hội quốc gia;

- Chế độ hưu trí nhằm đảm bảo mức thu nhập để duy trì mức sống cơ bản

và ổn định cuộc sống cho người lao động từ khi nghỉ việc đến lúc chết

1.2.1.1- Vai trò của chế độ hưu trí trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội

Trong một hệ thống bảo hiểm xã hội thường bao gồm nhiều chế độ khác nhau Số lượng các chế độ bảo hiểm xã hội được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào trình độ phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống bảo hiểm xã hội trong từng thời kỳ ở mỗi nước Tuy nhiên, trong bất cứ hệ thống bảo hiểm xã

Trang 22

hội nào thì chế độ hưu trí hay chế độ bảo hiểm tuổi già cho người lao động đều được coi là chế độ trụ cột của hệ thống bảo hiểm xã hội Đây là chế độ quan trọng nhất trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội vô cùng quan trọng đối với vấn đề an sinh xã hội của mỗi quốc gia không chỉ về mặt ý nghĩa kinh tế mà còn

cả về chính trị và xã hội Bởi lẽ chế độ này liên quan đến toàn bộ người lao động

từ khi tham gia bảo hiểm xã hội (đóng bảo hiểm xã hội ) đến khi người lao động nghỉ hưu, đồng thời liên quan rất lớn đến hoạt động về tài chính của quỹ bảo hiểm xã hội Phần tài chính đóng góp để hưởng chế độ hưu trí và phần chi cho chế độ hưu trí đều chiếm phần lớn toàn bộ kinh phí của quỹ bảo hiểm xã hội

Theo “Bảo hiểm xã hội trên toàn thế giới” ILO xuất bản năm 1999 (bản tiếng Anh), trong số 172 nước đang áp dụng các chế độ bảo hiểm xã hội có tới

167 nước thực hiện chế độ hưu trí (chỉ có 5 quốc gia chưa thực hiện chế độ hưu trí đó là Bangladesh, Myanmar, Malawi, Grenadines và Somalia)

Bảng 1: Tình hình thực hiện các chế độ BHXH ở một số nước trên thế giới

Năm

Trang 23

Nguồn: Bảo hiểm xã hội trên toàn thế, ILO- 1999

Chế độ hưu trí mang tính xã hội cao được thực hiện một cách thường xuyên, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác Về lĩnh vực tài chính của chế độ hưu trí thì một mặt mọi người lao động cùng đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội

để hưởng chế độ hưu trí, mặt khác còn thông qua đóng góp của những người đang lao động để trợ cấp cho những người đã nghỉ việc hưởng hưu trí Có thể nói là còn thể hiện sự đóng góp của thế hệ sau để chi trả cho các thế hệ trước Điều đó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi người trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn, thể hiện tính đạo lý sâu sắc giưã người với người trong xã hội

Hơn nữa, chế độ hưu trí còn thể hiện sự quan tâm chăm sóc của Nhà nước, người sử dụng lao động đối với người lao động, đồng thời phản ánh trình

độ văn minh của một chế độ xã hội Chế độ hưu trí còn giúp người lao động tiết kiệm cho bản thân mình ngay trong quá trình lao động để đảm bảo đời sống khi nghỉ hưu, giảm bớt phần nào gánh nặng cho người thân, gia đình và xã hội Trên thực tế, tất cả những người tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội đều có mong muốn tham gia vào chế độ hưu trí để có sự đảm bảo an toàn về thu nhập khi hết tuổi lao động

Trang 24

Một vấn đề nữa đặt ra là xu hướng già hoá của dân số thế giới ngày càng tăng cao Ta có thể thấy xu hướng này qua số liệu về tỷ lệ người già ở một số nước trong khu vực như sau:

Bảng 2: Tỷ lệ dân số trên 60 tuổi so với tổng dân số của một số nước

Châu Á, 1990-2050

Đơn vị: %

Năm

Như vậy, với xu hướng già hoá dân số, quá trình hưởng hưu trí sẽ ngày càng kéo dài, trong khi quá trình làm việc và đóng bảo hiểm xã hội không thay đổi Đây là một thách thức lớn đối với quỹ hưu trí và đối với toàn xã hội

Vai trò chế độ hưu trí cho thấy trách nhiệm ngày càng nặng nề của mỗi quốc gia trong việc xây dựng và hoàn thiện chế độ hưu trí để đảm bảo ổn định đời sống của những người nghỉ hưu sau này

1.2.1.2- Bản chất của chế độ hưu trí

Trang 25

Để làm rõ bản chất của chế độ hưu trí cần xem xét những nội dung chủ yếu như :

- Chế độ hưu trí nhằm đảm bảo vật chất cho người lao động khi bị mất thu nhập do không còn tiếp tục lao động vì nguyên nhân sinh học, vì tuổi cao, không còn khả năng làm việc ở điều kiện bình thường Chế độ này được thực hiện từ khi người lao động nghỉ hưu cho đến khi chết

- Chế độ hưu trí là một chế độ bảo hiểm xã hội dài hạn Đặc trưng này thể hiện ở hai quá trình là quá trình đóng và quá trình hưởng hưu trí Người lao động có trách nhiệm tham gia đóng bảo hiểm xã hội trong suốt thời gian đang làm việc Khi đã đủ các điều kiện về tuổi đời và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội thì người lao động sẽ dược hưởng trợ cấp hưu trí trong khoảng thời gian tính

từ lúc về hưu cho đến khi người lao động chết Quá trình hưởng này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào tuổi thọ của từng người

- Có sự thừa kế giữa các thế hệ lao động trong việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí, qua đó thể hiện nguyên tắc lấy số đông bù số ít của bảo hiểm xã hội

1.2.2- Phân biệt chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội với chế độ hưu trí thương mại

Ngoài chế độ hưu trí thuộc hệ thống bảo hiểm xã hội thì ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới còn thực hiện chế độ hưu trí thương mại Mục đích của hai chế độ hưu trí này là đều nhằm trợ giúp những người già yếu không còn làm việc, có một khoản thu nhập thường xuyên hoặc 1 lần để sinh sống

Tuy nhiên, chế độ hưu trí thuộc hệ thống bảo hiểm xã hội thường là do Nhà nước quy định bắt buộc người lao động và người sử dụng lao động phải đóng góp về tài chính để trợ cấp cho người lao động khi tuổi già Ở nhiều quốc gia, Nhà nước còn hỗ trợ cho quỹ bảo hiểm xã hội để đảm bảo thực hiện chế độ hưu trí , nhằm mục đích an sinh xã hội Mọi hoạt động về tài chính của quỹ bảo

Trang 26

hiểm xã hội như thu, chi, đầu tư quỹ đều không nhằm mục tiêu vì lợi nhuận cho

cơ quan bảo hiểm xã hội mà nhằm bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ Vì vây, hoạt động của cơ quan bảo hiểm xã hội được điều chỉnh theo luật hành chính

Còn chế độ hưu trí trong bảo hiểm thương mại là Nhà nước cho phép các công ty thực hiện theo pháp luật do Nhà nước ban hành Vì vậy, hưu trí thương mại được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, thể hiện bằng hợp đồng được ký giữa chủ thể tham gia bảo hiểm với công ty bảo hiểm Hoạt động của các công

ty bảo hiểm thương mại chịu sự điêù chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật Kinh doanh bảo hiểm

Ở Việt Nam hiện nay có Tổng công ty Bảo việt, Công ty Bảo Minh và một số chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài như AIA, Prudential…

1.2.3 Các yếu tố cơ bản để xây dựng chế độ hưu trí

Chế độ bảo hưu trí là một chế độ nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống cho người lao động khi họ đã hết tuổi lao động theo luật định Cũng như các chế độ khác của hệ thống bảo hiểm xã hội, chế độ hưu trí cũng cần nghiên cứu làm rõ được 3 nội dung sau: Đối tượng được hưởng chế độ hưu trí; Các điều kiện được hưởng; Mức hưởng và thời hạn hưởng trợ cấp hưu trí

1.2.3.1 Về đối tượng hưởng chế độ hưu trí:

Nhiều nước đang phát triển, đã thực hiện chế độ hưu trí phổ cập cho tất cả các công dân của mình, vì vậy đối tượng điều chỉnh của chế độ hưu trí là toàn bộ người lao động Tuy nhiên, ở một số nước khác do điều kiện kinh tế-xã hội, chế

độ hưu trí chỉ áp dụng đối với một số loại hình lao động, khi họ đạt được những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội về tuổi đời, thời gian đóng bảo hiểm xã hội, tỷ lệ suy giảm sức khỏe thì được hưởng chế độ hưu trí Thông thường các nước thường tập trung áp dụng với công chức, viên chức Nhà nước, lực lượng vũ trang, người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước

Trang 27

Trong thực tế cho thấy các nước không thực hiện chế độ hưu trí cho tất cả các đối tượng lao động cùng một lúc, mà mở rộng dần diện được bảo hiểm xã hội Trước hết thực hiện đối với công chức, viên chức Nhà nước, quân đội, tiếp theo là công nhân thuộc các doanh nghiệp Nhà nước, rồi người làm công ăn lương thuộc doanh nghiệp tư nhân Những người tự tạo việc làm và những dạng lao động khác thường thực hiện sau, hoặc chưa thực hiện Ngay cả trong một loại đối tượng cũng được thực hiện dần dần, như đối với các doanh nghiệp tư nhân, đầu tiên có thể thực hiện đối với các doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động, sau mở dần và thực hiện đến mọi người lao động có tham gia quan hệ lao động (chẳng hạn ở Philippin thời kỳ đầu bảo hiểm xã hội được thực hiện với các doanh nghiệp tư nhân có sử dụng từ 50 lao động trở lên, sau đó mở rộng đến

25 lao động, đến 10 lao động và hiện nay không giới hạn số lượng lao động trong doanh nghiệp)

Xu hướng phát triển của bảo hiểm xã hội là tạo cho mọi người lao động đều có thể và có quyền tham gia bảo hiểm xã hội

1.2.3.2- Các điều kiện hưởng chế độ hưu trí

Qua nghiên cứu về khái niệm, bản chất của chế độ hưu trí và những quy định của pháp luật về điều kiện hưởng hưu trí ở nước ta và một số nước trên thế giới, có thể xác định tiêu chuẩn để hưởng chế độ hưu trí bao gồm 2 nội dung chủ yếu là tuổi đời và thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội

1.2.3.2.1- Về tuổi đời để hưởng hưu trí (gọi tắt là tuổi nghỉ hưu)

Tuổi nghỉ hưu là tuổi mà về mặt sinh học khi đó người lao động bị suy giảm khả năng lao động thể hiện ở các mặt như chức năng vận động giảm, phản ứng thần kinh giảm… dẫn đến tình trạng người lao động không thể tiếp tục làm việc bình thường được nữa Những suy giảm về khả năng lao động để hưởng hưu trí là do độ tuổi đã cao, do quy luật của sự sống

Trang 28

Tuy nhiên, cũng có tiêu chuẩn bổ trợ cho tiêu chuẩn về độ tuổi sinh học là người lao động bị suy giảm khả năng lao động do nghề nghiệp hoặc bệnh tật nên

có thể nghỉ hưu ở độ tuổi thấp hơn một vài tuổi

Tuổi nghỉ hưu là một trong những điều kiện được quan tâm nhiều khi xây dựng chế độ hưu trí, là tiêu chuẩn quan trọng để nghỉ hưu Bởi vì mục đích của chế độ hưu trí là trợ cấp cho người lao động khi đã cao tuổi Nhiều nước còn gọi chế độ hưu trí là chế độ trợ cấp tuổi già (old age)

Tham khảo ở một số nước trong khu vực và những nước có trình độ phát triển kinh tế tương đồng nước ta có quy định về tuổi nghỉ hưu như sau:

Thái lan: Tuổi nghỉ hưu là 55 cho cả nam và nữ

Philippin: Tuổi nghỉ hưu là 60 tuổi cho cả nam và nữ

Đài loan: Tuổi nghỉ hưu là 60 đối với năm và 55 tuổi đối với nữ

Trung quốc: Tuổi nghỉ hưu của nam là 60, của nữ là 50 nếu làm công việc chân tay và 55 tuổi nếu làm nghệ lao động trí óc

Như vậy, tuổi nghỉ hưu ở các nước trong khu vực thường dao động từ 60; tuổi nghỉ hưu của nam và nữ có thể bằng nhau, hoặc cách nhau 5 tuổi

55-Việc xác định tuổi nghỉ hưu đóng một vai trò quan trọng trong việc sử dụng lao động trong xã hội , xác định quyền lợi và nghĩa vụ tham gia bảo hiểm

xã hội của người lao động và đảm bảo sự cân bằng thu chi của quỹ hưu trí Theo các chuyên gia của ILO nếu nghỉ hưu ở tuổi 55, sẽ tăng chi phí cao hơn đến 50%

so với nghỉ hưu ở độ tuổi 60 Do vậy, việc xác định đúng độ tuổi nghỉ hưu của người lao động có ý nghĩa quan trọng tới việc sử dụng lực lượng lao động trong

xã hội, tới sự phát triển kinh tế xã hội và sự bền vững của quỹ bảo hiểm xã hội

Theo Công ước 102 của ILO thì tuổi nghỉ hưu không được quá 65 tuổi Song cũng nêu rõ các quốc gia có thể ấn định ở một độ tuổi cao hơn, xác định bởi khả năng làm việc của những người cao tuổi trong nước đó

Trang 29

Khi nghiên cứu về tuổi nghỉ hưu để quy định cần dựa trên các yếu tố sau:

- Cơ sở sinh học của người lao động (khả năng làm việc, giới tính, tuổi thọ bình quân của người lao động)

- Cung cầu lao động của xã hội

- Tương quan giữa các nước có cùng điều kiện về dân số, kinh tế, xã hội

- Điều kiện, môi trường lao động Tuổi nghỉ hưu bình thường là từ 65 tuổi trở xuống, tuổi nghỉ hưu của lao động nữ thường được quy định thấp hơn so với lao động nam tối đa là 5 năm và thường khác nhau giữa các ngành nghề có điều kiện làm việc khác nhau Thông thường đối với các ngành nghề độc hại, nguy hiểm thường có độ tuổi nghỉ hưu thấp hơn so với các ngành nghề có điều kiện lao động bình thường, bởi vì khả năng làm việc bị suy giảm chậm hơn

Trên đây là một số yếu tố chính liên quan trực tiếp đến việc xác định tuổi nghỉ hưu cho người lao động Đây là vấn đề phức tạp vì liên quan đến nhiều chính sách kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, cũng như những yếu tố khách quan và chủ quan khác

1.2.3.2.2-Thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ hưu trí:

Thời gian đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng chế độ hưu trí là một điều kiện không thể thiếu trong nội dung chế độ hưu trí và là cơ sở để tính toán mức trợ cấp hưu trí

Việc quy định thời gian đóng bảo hiểm xã hội nhằm xác định sự cống hiến về mặt lao động của mỗi người với xã hội nói chung và phần đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội nói riêng Vì thế, thời gian đóng bảo hiểm xã hội là một trong những căn cứ để tính toán mức trợ cấp cho người lao động sau này Về bản chất , điều kiện này là điều kiện nhằm cân đối tài chính giữa quá trình đóng góp và hưởng bảo hiểm xã hội của người tham gia bảo hiểm xã hội, đảm bảo sự điều tiết hợp lý giữa cống hiến và hưởng thụ của những người tham gia bảo hiểm xã hội

Trang 30

Theo công ước Quốc tế 102 và 128 của Tổ chức Lao động Quốc tế trợ cấp hưu trí có thể được trả cho những người tối thiểu đã có đủ 15 năm đóng góp Thời gian làm việc và đóng bảo hiểm xã hội có nhiều ý nghĩa nhưng trước hết

nó thể hiện sự đóng góp từ lao động, từ việc làm của người lao động cho xã hội

Nó được căn cứ vào quỹ thời gian lao động bình quân của người lao động Có thể thấy rằng quỹ thời gian lao động bình quân là 30 năm (làm việc từ 25 tuổi đến 55 tuổi) Tuy nhiên không phải ai cũng làm việc liên tục mà còn nhiều khoảng thời gian không lao động do nhiều nguyên nhân khác nhau Nên trong pháp luật về bảo hiểm xã hội của các nước thường quy định mức tối thiểu về thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội mới được hưởng chế độ hưu trí Mặt khác quy định này cũng là yêu cầu phải đóng góp thực tế vào quỹ bảo hiểm xã hội ở một mức độ cần thiết mới được hưởng chế độ hưu trí để tránh sự lạm dụng quỹ bảo hiểm xã hội Nhiều nước thường quy định thời gian tối thiểu đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng chế độ hưu trí là 20 năm Ở Việt Nam, theo quy định hiện hành , thời gian tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí là 15 năm tham gia bảo hiểm xã hội

1.2.3.2.3- Mức đóng của chế độ hưu trí:

Mức đóng của chế độ hưu trí là yếu tố vô cùng quan trọng trong nội dung của chế độ hưu trí, mức đóng được quy định đối với người lao động, người sử dụng lao động trong quá trình đóng và là cơ sở để tính hưởng trợ cấp hưu trí hàng tháng trong quá trình hưởng

Việc quy định mức đóng cho chế độ này được xác định riêng theo một tỷ

lệ trên thu nhập hay tiền lương của người lao động và người sử dụng lao động cũng đóng một tỷ lệ trên tổng quỹ lương của những người lao động tham gia bảo hiểm xã hội Ở nhiều quốc gia Nhà nước cũng tham gia đóng góp cho quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan) như là một bên trong quan

hệ pháp luật bảo hiểm xã hội, hoặc nhà nước hỗ trợ thêm cho quỹ

Trang 31

Ở một số nước, có quy định mức trần để đóng bảo hiểm xã hội Nếu người lao động có thu nhập hoặc mức lương cao hơn mức trần thì chỉ đóng đến mức trần đó

Theo quy định ở hầu hết các nước trên thế giới, để được hưởng chế độ hưu trí, người lao động phải đạt được những điều kiện về tuổi đời và thời gian tham gia đóng bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, do chế độ hưu trí là một chế độ dài hạn, nghĩa vụ của người lao động được thực hiện trong suốt cả quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, quá trình hưởng trợ cấp hưu kéo dài đến tận khi người lao động chết, nên có rất nhiều yếu tố kinh tế – xã hội và đặc điểm sinh học của con người liên quan đến việc quy định hai điều kiện trên

1.2.3.2.4- Mức hưởng trợ cấp hưu trí :

Mức hưởng trợ cấp hưu trí là số tiền mà một người về hưu nhận được hàng tháng kể từ khi nghỉ hưu Trợ cấp hưu trí phụ thuộc vào các yếu tố sau :

- Độ dài quá trình đóng bảo hiểm xã hội

- Thu nhập hoặc tiền lương lúc đang làm việc

- Mức sống trung bình của lao động xã hội

- Điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước trong từng thời kỳ

Tuy nhiên về nguyên tắc mức trợ cấp hưu trí phải thấp hơn mức thu nhập hoặc tiền lương khi người lao động đang làm việc, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu Điều này vừa phản ánh tính cộng đồng xã hội vừa phản ánh nguyên tắc phân phối lại của quỹ bảo hiểm xã hội cho những người tham gia bảo hiểm xã hội Ở các nước kinh tế phát triển do mức tiền lương lúc đi làm cao, nên tỷ lệ trợ cấp hưu trí thường thấp (thường khoảng 60% mức tiền lương khi đang làm việc) và ngược lại ở những nước đang phát triển do mức tiền lương thấp nên phải áp dụng một tỷ lệ trợ cấp hưu trí cao ( thường từ 65% đến 75% mức tiền lương khi đang làm việc)

Trang 32

Quy định về cách tính mức thu nhập hay tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cũng khác nhau tuỳ vào luật pháp của từng nước, có nước tính bình quân tất cả các mức tiền lương trong suốt thời gian làm việc có đóng bảo hiểm

xã hội, có nước tính mức tiền lương bình quân của 5 hoặc 10 năm cuối cùng trước khi người lao động nghỉ hưu, có nước căn cứ vào mức tiền lương cuối cùng trước khi người lao động nghỉ hưu

Nhiều nước khống chế mức trợ cấp hưu trí tối thiểu và tối đa Mức trợ cấp hưu trí được điều chỉnh khi có lạm phát ở mức độ quy định, đồng thời cũng có thể điều chỉnh khi nền kinh tế phát triển, mức sống xã hội tăng

Việc tính trợ cấp hưu trí dựa trên mức thu nhập hay tiền lương của người lao động là xu hướng chung trên thế giới Tuy nhiên cũng có một số nước quy định một mức cơ bản thống nhất, áp dụng chung cho tất cả những người nghỉ hưu Một số nước áp dụng kết hợp cả 2 cách trên, lương hưu có phần nền là lương hưu cơ bản, cộng thêm phần lương hưu theo thu nhập

Ngoài ra, tuỳ theo luật pháp của từng nước về chế độ này mà người nghỉ hưu được hưởng thêm các quyền lợi như trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, hay đối với những người lao động nghỉ việc chưa đủ tuổi để hưởng chế độ hưu hàng tháng cũng nhận được trợ cấp một lần và ngoài lương hưu hàng tháng, người nghỉ hưu còn được bảo hiểm y tế, khi chết gia đình được hưởng chế độ tử tuất

Do vậy, chế độ hưu trí và tử tuất thường đi liền với nhau, gộp thành hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội dài hạn

1.2.3.2.5- Thời gian hưởng trợ cấp hưu trí:

Thời gian hưởng trợ cấp hưu trí là thời gian kể từ khi người lao động nghỉ hưu đến khi qua đời Với mỗi người thì thời gian hưởng trợ cấp hưu trí là khác nhau vì tuổi nghỉ hưu và tuổi thọ của mỗi người không giống nhau Để có căn cứ tính toán thời gian hưởng trợ cấp hưu trí làm cơ sở xác định chế độ hưu trí, các nhà nghiên cứu thường lấy số bình quân thời gian hưởng trợ cấp hưu trí của

Trang 33

những người nghỉ hưu trong cùng một hệ thống bảo hiểm xã hội để tính toán Thông thường, thời gian hưởng trợ cấp hưu trí phải ngắn hơn thời gian làm việc

có đóng bảo hiểm xã hội cho chế độ hưu trí Trong thực tế, tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật thường ổn định trong thời gian dài và nếu có thay đổi thì cũng ở trong khoảng từ 55-65 tuổi đối với người lao động bình thường trong xã hội Khi tuổi thọ bình quân tăng lên thì thời gian hưởng trợ cấp hưu trí cũng tăng lên Vấn đề có tính quy luật này buộc các nhà nghiên cứu các chế độ chính sách về lao động và bảo hiểm xã hội phải tính đến để điều chỉnh tuổi về hưu cho phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội và đảm bảo cân đối quỹ bảo hiểm xã hội

1.3 NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ HƯU TRÍ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG QUỸ HƯU TRÍ

1.3.1- Nguồn hình thành quỹ hưu trí của các nước trên thế giới

Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước Quỹ hưu trí nằm trong hệ thống quỹ bảo hiểm xã hội và luôn chịu tác động của chính sách tài chính ở mỗi quốc gia Về cơ bản quỹ hưu trí được hình thành từ các nguồn sau:

Một là, sự đóng góp của người lao động Đây là nguồn tài chính quan

trọng hình thành quỹ hưu trí, hầu như tất cả các nước trên thế giới đều quy định mọi người lao động khi tham gia quỹ hưu trí đều phải có trách nhiệm đóng góp một phần thu nhập của mình vào quỹ, đầy chính là sự “tiết kiệm bắt buộc” của mọi người lao động khi họ còn làm việc và còn lĩnh tiền lương, tiền công thì phải trích một phần thu nhập để bù đắp cho chính mình khi về hưu để ổn định cơ bản cuộc sống khi hết tuổi lao động

Hai là, sự đóng góp của người sử dụng lao động Các nước trên thế giới

đều có quy định chủ sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng góp vào quỹ hưu trí cho người lao động mà họ sử dụng để đảm bảo đời sống cho người lao động được hưởng quyền lợi hưu trí do pháp luật quy định Những cán bộ, công chức làm việc do Nhà nước trả lương thì nhà nước với tư cách là người sử dụng

Trang 34

lao động cũng đóng bảo hiểm xã hội Phần đóng góp của người sử dụng lao động cùng với phần đóng góp của người lao động là nguồn tài chính chủ yếu nhất của quỹ hưu trí

Ba là, Nhà nước ngoài tư cách là người sử dụng lao động phải đóng góp

cho người làm công ăn lương Nhà nước Đồng thời, với tư cách là người quản lý toàn bộ xã hội Nhà nước thường đóng và hỗ trợ cho quỹ trong trường hợp cần thiết

Bốn là, lãi thu được từ hoạt động đầu tư tăng trưởng phần tiền tồn tích của

quỹ hưu trí để bảo toàn và tăng trưởng quỹ

Năm là, các nguồn khác

Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ hưu trí được hình thành từ các nguồn nói trên Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội có khác nhau Sự phân bố các mức đóng góp cũng đã được

đề cập trong tiêu chuẩn lao động quốc tế Công ước số 102 quy định: “Tổng số tiền đóng góp bảo hiểm xã hội do người lao động phải chịu không được vượt quá 50% tổng số tiền sử dụng vào việc bảo vệ người lao động và gia đình họ Để xác đ0ịnh việc đáp ứng điều kiện đó có được thực hiện hay không, tất cả các loại trợ cấp do các nước trả theo công ước này có thể được xem xét tổng thể, loại trừ trợ cấp gia đình và trợ cấp tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp nếu thuộc những nhánh riêng” Trên thực tế mức đóng rất đa dạng giữa các nước, nhiều nước quy định người sử dụng lao động đóng góp nhiều hơn người lao động, nhưng nhiều nước mức đóng góp được phân bổ đều giữa người lao động và người sử dụng lao động

1.3.2- Một số cơ chế tài chính và phương pháp cân đối của quỹ hưu trí

1.3.2.1- Cơ chế tài chính mức hưởng xác định trước (Difined Benefit - DB)

Trang 35

Cơ chế tài chính này được Tổ chức lao động Quốc tế ủng hộ Đây là cơ chế cổ điển của bảo hiểm xã hội, xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của các chế độ bảo hiểm xã hội Với mục đích trợ cấp bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo ổn định được cuộc sống của người lao động, do đó các nhà luật pháp về tài chính bảo hiểm xã hội trước hết xác định nhu cầu của người nghỉ hưu, mức độ thoả mãn các nhu cầu đó và các chi phí quản lý khác, trên cơ sở đó xác định trở lại mức đóng nhằm đảm bảo sự cân đối của quỹ bảo hiểm xã hội

Thực hiện cân đối quỹ hưu trí theo cơ chế tài chính mức hưởng xác định

trước này có 3 phương pháp cân đối quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí như sau:

1.3.2.1.1- Phương pháp chi đến đâu thu đến đó PAYGO (viết tắt của thuật ngữ tiếng anh PAY AS YOU GO)

Đây là phương pháp truyền thống của bảo hiểm xã hội, thể hiện tính cộng đồng cao, trong đó tất cả sổ tiền đóng góp của những người đang làm việc được dùng để chi trả toàn bộ cho những người về hưu cùng kỳ Theo ngyên tắc tài chính này, mỗi thế hệ sẽ dựa vào các khoản đóng góp của thế hệ tiếp theo để tạo nguồn chi trả hưu trí Theo phương pháp này mức hưởng sẽ được xác định trước, trên cơ sở đó xác định mức đóng để đủ chi Hệ thống PAYGO không được hưởng bất cứ tỷ lệ lãi suất nào do không có các khoản tích luỹ cho giai đoạn sau

Như vậy, khi áp dụng hệ thống này, trong các nước có mô hình dân số trẻ, nhiều người đóng bảo hiểm xã hội, số người hưởng hưu trí không nhiều thì khả năng chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội được đảm bảo và mức đóng sẽ thấp Nhưng đối với các nước có dân số ổn định hay tỷ lệ người già trong dân số cao (như các nước Châu Âu hiện nay) thì mức đóng khá cao Khi đến giai đoạn mà thu không đủ chi thì hệ thống này cần có các biện pháp khắc phục để tránh tình trạng khủng hoảng do bội chi Hiện nay các nước Đức, Pháp, áo đang gặp phải tình trạng này, Chính phủ phải tiến hành cải cách chế độ hưu trí

Trang 36

Ở thời kỳ trước đây, khi hệ thống bảo hiểm xã hội mới hình thành, các nước thường áp dụng theo hệ thống PAYGO Trên thế giới đã có rất nhiều nước

áp dụng hệ thống PAYGO cho chế độ hưu trí từ đầu thế kỷ 20 như Chilê năm

1924, Hungari năm 1928, Balan năm 1927 và Mỹ năm 1938 và đặc biệt là ở Đức

từ năm 1883 Tuy nhiên, sau hơn 100 năm áp dụng hệ thống này, hiện nay nhiều nước đang phải đối mặt với sự già hoá hoàn toàn của hệ thống và phải tiến hành cải cách lại hệ thống hưu trí

1.3.2.1.2- Phương pháp cân đối theo từng giai đoạn

Đây là phương pháp mà tỷ lệ đóng góp được xác định ổn định trong một thời gian, sao cho trong thời gian đó đảm bảo được cân đối thu chi Khoảng thời gian ổn định này thường được xác định là từ 15 năm, 20 năm hoặc 30,40 năm Ở các nước phát triển, điều kiện kinh tế có nhiều biến động thì khoảng thời gian này sẽ ngắn hơn Trong khoảng thời gian này các khoản thu từ người tham gia chế độ hưu trí, lãi suất đầu tư quỹ đủ đáp ứng các yêu cầu chi trả trong thời kỳ

đó Phương pháp này tương đối phức tạp hơn trong kỹ thuật tính toán và dự báo nhưng lại phù hợp với hệ thống hưu trí của những nước đang phát triển, điều kiện kinh tế - xã hội biến động

Tỷ lệ đóng góp cũng được xác định trên cơ sở dự báo về các nguồn hình thành quỹ và các chi phí sẽ phải có trong giai đoạn đó Do phần cho của chế độ hưu trí luôn có xu hương tăng lên, nên đến một thời điểm nào đó sẽ không còn

đủ đảm bảo sự cân đối thu chi nữa, lúc này phải tăng tỷ lệ đóng góp cao hơn và tạo ra một sự cân đối thu chi của giai đoạn mới Tuy nhiên, thời kỳ cân đối được chọn với một độ dài giới hạn nhưng đủ để đảm bảo mức độ ổn định nhất định của tỷ lệ đóng góp Hiện nay, chế độ hưu trí ở Việt Nam đang được thực hiện theo phương pháp này

Ưu điểm của phương pháp này là quỹ bảo hiểm xã hội được ổn định tương đối lâu, có lượng tiền tồn tích để đầu tư nhằm tăng thêm nguồn để phát triển quỹ Song lại có nhược điểm là phái tính toán dự báo để điều chỉnh mức

Trang 37

đóng trước nhiều năm khi quỹ mất cân đối và khi lạm phát cao sẽ ảnh hưởng đến giá trị của quỹ

1.3.2.1.3- Phương pháp cân đối bình quân tổng thể:

Theo phương pháp này, tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội cho chế độ hưu trí được xác định ngay từ đầu và gần như không thay đổi, nhằm tạo ra một sự dự trữ về tài chính để đầu tư sinh lời, đảm bảo sự cân đối thu chi của chế độ hưu trí trong suốt quá trình thực hiện

Với phương pháp bình quân tổng thể, quỹ hưu trí sẽ có độ ổn định cao Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển và mới xây dựng hệ thống hưu trí thì sẽ tạo nên những khó khăn cho nền kinh tế nói chung Vì, việc đóng góp cho chế độ hưu trí sẽ rất lớn, trong khi đó số người hưởng hưu còn chưa nhiều

Với các phương pháp cân đối qũy hưu trí theo cơ chế tài chính mức hưởng xác định trước, có thể đánh giá chung rằng với xu hương phát triển của thế giới, khi tuổi thọ của con người ngày một kéo dài thì các phương pháp trên

sẽ càng khó đảm bảo ổn định được quỹ hưu trí nếu mức đóng góp không tăng cao hoặc không giảm mức hưởng, cả hai vấn đề trên đều trở thành thách thức của hầu hết các quốc gia trên thế giới

1.3.2.2- Cơ chế tài chính mức đóng xác định trước (Difned Contribution – DC)

Đây là cơ chế tài chính mới xuất hiện trên thế giới cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, do Ngân hàng Thế giới ( World Bank – WB) đề xướng Thể hiện của cơ chế tài chính này là phương pháp cân đối quỹ hưu trí theo tài khoản cá nhân

Phương pháp tài khoản cá nhân là phương pháp mà các khoản tiền đóng bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động và người lao động cộng thêm lãi đầu tư được lưu giữ trong tài khoản của mỗi cá nhân và các cá nhân sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí với tổng số tiền có được trong tài khoản đó Ở phương pháp này thì mức đóng góp của các bên được xác định trước, mức hưởng sẽ được tính khi người lao động nghỉ hưu Số tiền tích luỹ có trong tài khoản được

Trang 38

đầu tư vào mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc các hình thức đầu tư khác để hưởng lãi

Hệ thống đầu tư có thể bao gồm hệ thống các tài khoản quản lý cá nhân trong đó mỗi cá nhân tự quyết định việc đầu tư, hoặc hệ thống quản lý tập trung trong đó Chính phủ hoặc Ban Giám đốc quyết định các phương án đầu tư

Áp dụng phương pháp này có những lợi ích sau:

- Tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tài chính phát triển

- Do số tiền đóng bảo hiểm xã hội được tích luỹ lại trong một thời gian dài, được tính lãi đầu tư nên so với phương pháp PAYGO thì phương pháp đầu

tư ứng trước có tỷ lệ đóng góp thấp hơn, vì sẽ được cộng thêm khoản tiền sinh lời do đầu tư, vì vậy làm giảm bớt gánh nặng cho người lao động và người sử dụng lao động

- Độ an toàn của quỹ cao hơn

Vì những lý do trên, nên một số nước đang từng bước chuyển sang áp dụng phương pháp đầu tư ứng trước cho hệ thống hưu trí của mình ( Chi lê tiến hành quá trình chuyển đổi từ hệ thống tài chính PAYGO sang hệ thống tài khoản

cá nhân vào năm 1982)

Tuy nhiên thực hiện theo hình thức này có những hạn chế sau:

- Không có sự chia sẻ cộng đồng của bảo hiểm xã hội, mà chỉ là hình thức tiết kiệm bắt buộc

- Ảnh hưởng của lạm phát đối với giá trị của quỹ lúc thanh toán là rất lớn

- Thường áp dụng phương thức thanh toán trả gọn một lần thay vì phương thức trả theo chế độ định kỳ dài hạn, ảnh hưởng đến cuộc sống của người lao động khi tuổi già

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG QUỸ HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM 2.1- SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở NƯỚC TA

Pháp luật bảo hiểm xã hội ở nước ta được ban hành từ rất sớm, ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt nam Dân chủ cộng hoà, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc xây dựng và thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội (trong đó có chế độ hưu trí) cần thiết chăm lo cuộc sống của người lao động

Trang 40

Để có thể thấy được những bước phát triển của pháp luật bảo hiểm xã hội,

có thể phân chia theo các giai đoạn hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam như sau:

Trong giai đoạn này các văn bản pháp luật có những quy định về bảo hiểm xã hội được ban hành là: Sắc lệnh số 29 - SL ngày 12.3.1947 về các chế độ đối với công nhân làm việc tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và tư nhân Trong Sắc lệnh này có các điều quy định về chế độ thai sản, chế độ trợ cấp

ốm đau Sắc lệnh số 76 - SL ngày 20.5.1950 về quy chế công chức, Sắc lệnh số

77 - SL ngày 22.5.1950 về quy chế công nhân, hai sắc lệnh này ngoài những quy định về quan hệ lao động của công chức và công nhân còn có những quy định về bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, các văn bản pháp luật thời kỳ này mới quy định những nét có tính nguyên tắc về bảo hiểm xã hội Các chế độ bảo hiểm xã hội như chế độ bệnh nghề nghiệp, hưu trí, trợ cấp mất sức lao dộng chưa có quy định toàn diện

2.1.2 Giai đoạn từ 1961 đến 1994

Bảo hiểm xã hội trở thành một chính sách lớn và được thực hiện ở nước ta khi có “ Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước” ban hành kèm theo nghị định 218/CP ngày 27 tháng 12 năm 1961 của Chính phủ

Ngày đăng: 26/09/2020, 01:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w