Luận án tiến sĩ: Pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn và sự vận dụng trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam.Luận án tiến sĩ: Pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn và sự vận dụng trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam.Luận án tiến sĩ: Pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn và sự vận dụng trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam.Luận án tiến sĩ: Pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn và sự vận dụng trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỒ THỊ VÂN ANH
PHÁP LUẬT THỪA KẾ THỜI KỲ NHÀ LÊ, NHÀ NGUYỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THỪA KẾ
Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: Lý luận lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 62 38 01 01
Người hướng dẫn khoa học : 1 PGS.TS ĐOÀN ĐỨC LƯƠNG
2 PGS.TS NGUYỄN DUY PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án
Hồ Thị Vân Anh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 91.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 91.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 18
1.3 Đánh giá chung kết quả các công trình nghiên cứu và những vấn đề
cần tiếp tục nghiên cứu của luận án 22
Chương 2: NHẬN THỨC CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THỪA KẾ THỜI
KỲ NHÀ LÊ, NHÀ NGUYỄN 282.1 Hoàn cảnh lịch sử và các tiền đề của pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê,
2.2 Khái niệm và nội dung pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn 472.3 Các giá trị trong nội dung pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn 64
Chương 3: VẬN DỤNG PHÁP LUẬT THỪA KẾ THỜI KỲ NHÀ LÊ,
NHÀ NGUYỄN TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THỪA
KẾ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY 733.1 Khái niệm và các nguyên tắc vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà
Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế 733.2 Thực trạng vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn
trong hoàn thiện pháp luật thừa kế Việt Nam từ năm 1945 đến nay 873.3 Đánh giá thực trạng quá trình vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê,
nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam 102
Chương 4: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC VẬN DỤNG PHÁP LUẬT
THỪA KẾ THỜI KỲ NHÀ LÊ, NHÀ NGUYỄN TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 1084.1 Yêu cầu đảm bảo việc tiếp tục vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê,
nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam 1084.2 Giải pháp tiếp tục vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà
Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam 118
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự
CEDAW : Convention on the Elimination of all forms
of Discrimination against Women(Công ước của Liên Hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ)ĐTLL : Đại Thanh luật lệ
HVLL : Hoàng Việt luật lệ
KHXH : Khoa học xã hội
Nxb : Nhà xuất bản
PLTK : Pháp luật thừa kế
QTHL : Quốc triều hình luật
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 2.1: So sánh các chương trong Quốc triều hình luật và Luật nhà Đường 41Bảng 2.2: So sánh số lượng điều luật Hoàng Việt luật lệ và Đại Thanh luật lệ 44Bảng 3.1: Đánh giá tác động tiêu cực của quá trình hội nhập đối với nền
văn hóa Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh 112Bảng 3.2: Đánh giá tác động tiêu cực của quá trình hội nhập đối với nền
văn hóa Việt Nam ở Thành phố Hà Nội 112
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kì chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quantrọng trong các chế định pháp luật, pháp luật thừa kế phản ánh phần nào bản chấtchế độ xã hội, thậm chí còn phản ánh được tính chất từng giai đoạn lịch sử trongquá trình phát triển của chế độ xã hội đó
Dựa vào những ghi chép của các sử gia trong các tài liệu về lịch sử cũng như
sự suy đoán pháp lý có thể thấy được pháp luật thừa kế hình thành và phát triểncùng với sự hình thành Nhà nước Việt Nam cổ đại, từ thời Hùng Vương nước ta đã
có pháp luật thừa kế, và đến thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn đã đạt được những thànhtựu lập pháp nhất định Những thành tựu này đến bây giờ vẫn có ý nghĩa trong việcnghiên cứu về mặt lý luận và gợi mở một số vấn đề vận dụng về mặt thực tiễn đểtiếp tục hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 đãđược Quốc hội thông qua và có hiệu lực vào ngày 01/01/2017 Tuy nhiên, việc tiếptục hoàn thiện các chế định về thừa kế vẫn được đặt ra trong bối cảnh xây dựng xãhội dân sự và xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay
Thừa kế là chế định đặc biệt vì nó liên quan nhiều đến văn hóa - văn hóa tộcngười, đòi hỏi các nhà lập pháp, hành pháp cũng như tư pháp khi xây dựng những chếđịnh này cũng như khi vận dụng pháp luật thừa kế đều phải có sự am hiểu về phongtục tập quán của dân tộc, về văn hóa dân tộc mà thật ra nội dung này được tập trung ở
cổ luật của dân tộc Thực tế áp dụng pháp luật cho thấy vẫn còn những bất cập giữaquy định của pháp luật về thừa kế và thực tiễn thi hành, mà một trong những lý do củathực trạng này là vẫn còn khoảng cách giữa pháp luật và thực tiễn do một số quy địnhcủa pháp luật thừa kế chưa thực sự phù hợp với phong tục tập quán, thói quen ứng xửmang tính chất cộng đồng của người Việt Nghiên cứu các chế định thừa kế thời kỳnhà Lê, nhà Nguyễn ở Việt Nam còn là để hiểu biết về những phong tục tập quán củangười Việt tạo tiền đề cho việc vận dụng các giá trị cổ luật để hoàn thiện pháp luậtthừa kế ở Việt Nam hiện nay, phần nào giải quyết bất cập nêu trên Việc tìm hiểu tục
lệ của dân tộc thông qua việc nghiên cứu thừa kế trong cổ luật thiết nghĩ là hết sức cầnthiết trong
Trang 7thời buổi xã hội đang trải qua một “cơn sốt vỡ da” của nền kinh tế thị trường, nhữnggiá trị truyền thống đã và đang ít nhiều bị mai một, lãng quên.
Có thể nói, những giá trị cổ luật thừa kế này không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch
sử, về truyền thống, mang yếu tố dân tộc mà ít nhiều còn có ý nghĩa về xây dựngpháp luật thừa kế hiện hành Những giá trị này không mất đi mà nó đã, đang và sẽđồng hành cùng với sự phát triển của đời sống dân sự hiện đại; những yêu cầu vàgiải pháp tiếp tục vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn có ýnghĩa gợi mở cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện nay cũng như chocông tác thực thi pháp luật
Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24 tháng 5 năm 2005 về
“Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, địnhhướng đến 2020” đã khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm bảo tồn
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, “phát huy disản văn hóa dân tộc” [15]
Vì vậy, nghiên cứu về “Pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn và
sự vận dụng trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam” là cần thiết, có cơ sở
khoa học và phù hợp với mã ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu nội dung, giá trị của pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê,nhà Nguyễn và thực trạng vận dụng các giá trị của hệ thống pháp luật này qua cácthời kỳ lịch sử ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, luận án chỉ ra những hạn chế, bấtcập của quá trình vận dụng này, từ đó đưa ra các yêu cầu và đề xuất các giải pháptiếp tục vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn trong việc hoànthiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu chế định thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn từ đó chỉ ra cácgiá trị vận dụng trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam từ saucách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
Trang 8- Phân tích, đánh giá thực trạng vận dụng các giá trị pháp luật thừa kế thời kỳnhà Lê, nhà Nguyễn trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam từnăm 1945 đến nay.
- Phân tích, xác định rõ các yêu cầu và đề xuất các giải pháp tiếp tục vậndụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa
kế ở Việt Nam hiện nay
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn từ trước đến nay đã được nghiêncứu dưới nhiều góc độ khác nhau Luận án nghiên cứu đề tài này dưới góc độ lý luận
và lịch sử nhà nước và pháp luật; không nghiên cứu dưới góc độ luật nội dung chuyênngành (luật dân sự) Vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu chỉ rõ giá trị trong nội dungcủa pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn; cơ sở lý luận và thực trạng vậndụng các giá trị này từ năm 1945 đến nay; chỉ ra những bất cập của pháp luật thừa kếhiện hành nhất là những bất cập của quá trình vận dụng Trên cơ sở đó xác định rõ cácyêu cầu và đề xuất những giải pháp tiếp tục vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà
Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn ở Việt Nam
và nghiên cứu sự vận dụng các giá trị này trong hoàn thiện pháp luật thừa kế trongphạm vi không gian là ở Việt Nam
* Về thời gian nghiên cứu
- Đề tài tập trung vào pháp luật thừa kế của các thời kỳ lịch sử: Thời kỳ Lê
sơ (từ năm 1428 - 1527) và thời kỳ nhà Nguyễn giai đoạn độc lập tự chủ (từ năm
1802 - 1858) Cụ thể như sau:
+ Thời kỳ Lê sơ: Luận án nghiên cứu hệ thống pháp luật thừa kế của thời kỳnày trong khoảng thời gian bắt đầu từ khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi lênngôi vua, lập ra triều đại mới vào năm 1428 Và kết thúc năm 1527 khi quyền thầnMạc Đăng Dung phế bỏ vua Lê Cung Hoành lập ra nhà Mạc
Trang 9+ Thời kỳ nhà Nguyễn giai đoạn độc lập tự chủ: Luận án nghiên cứu hệthống pháp luật thừa kế của thời kỳ này trong khoảng thời gian bắt đầu từ năm 1802khi vua Gia Long lên ngôi đến năm 1858 là thời điểm thực dân Pháp bắt đầu sửdụng vũ lực xâm chiếm Việt Nam Pháp luật thừa kế của giai đoạn độc lập này trảiqua quá trình xây dựng pháp luật của 4 đời vua (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị
và Tự Đức)
- Thời gian nghiên cứu, đánh giá thực trạng vận dụng pháp luật thừa kế thời
kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện và xây dựng pháp luật thừa kế ở Việt Namđược luận án khảo sát từ năm 1945 đến nay
Ngoài thời gian nghiên cứu nêu trên, trong một số nội dung đề tài còn mởrộng nghiên cứu thêm về các khoảng thời gian lịch sử khác để có cứ liệu và số liệutrong quá trình đánh giá, so sánh, minh họa cho các luận cứ khoa học của luận án
4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh; luận án đã sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là hai phương pháp được sử dụngchủ yếu trong hầu hết các nội dung của luận án Cụ thể, tại chương 1, phương phápphân tích dùng để nghiên cứu nguồn tài liệu của các tác giả trong nước và nướcngoài về các công trình liên quan đến luận án Dựa trên kết quả phân tích này, luận
án tiếp tục sử dụng phương pháp tổng hợp để đánh giá kết quả các công trình nghiêncứu và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án
Tại chương 2, phương pháp phân tích được sử dụng để nghiên cứu hoàn cảnhlịch sử, các tiền đề của pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn; phương phápphân tích tiếp tục được sử dụng để nghiên cứu nội dung các quy định của pháp luậtthừa kế thời kỳ này Trên cơ sở phân tích các vấn đề liên quan, luận án tiếp tục sửdụng phương pháp tổng hợp để đưa ra khái niệm của pháp luật thừa kế thời kỳ nhà
Lê, nhà Nguyễn; sử dụng phương pháp tổng hợp để đánh giá những giá trị của phápluật thừa kế thời kỳ này qua các nội dung nghiên cứu
Tại chương 3, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp tiếp tụcđược sử dụng để đưa ra các khái niệm và nguyên tắc vận dụng pháp luật thừa kế
Trang 10thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam Phươngpháp phân tích được sử dụng để nghiên cứu quá trình vận dụng pháp luật thừa kếthời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn từ năm 1945 đến nay Phương pháp tổng hợp được sửdụng để đánh giá quá trình vận dụng, những bất cập, nguyên nhân những bất cậpcủa quá trình vận dụng này.
Tại chương 4, phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để nghiêncứu những yêu cầu và giải pháp tiếp tục vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê,nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Nghiên cứu pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê,nhà Nguyễn là nghiên cứu hệ thống pháp luật đã qua trong lịch sử Muốn đảm bảotính khách quan khi nghiên cứu, đánh giá những giá trị của pháp luật thừa kế thời
kỳ này làm cơ sở để vận dụng pháp luật thì phải đặt nó trong mối liên hệ với điềukiện kinh tế - xã hội của thời đại ấy, tương ứng với phương thức sản xuất và nhữnghình thức cơ bản của sự phát triển cùng những mâu thuẫn xã hội của thời đại đó.Không đưa ra những yêu cầu quá xa, vượt lên những điều kiện lịch sử và thời đại
mà nó ra đời Đồng thời, trên cơ sở quan điểm phát triển, cần phải hiểu đúng quyluật của sự tiếp biến văn hóa Phải nắm vững quan điểm biện chứng giữa cái nộisinh và cái ngoại sinh trong giao lưu văn hóa và những biểu hiện thực tế của chúngtrong lịch sử - văn hóa - pháp luật Việt Nam Có vậy, mới có thể đánh giá kháchquan cả mặt tích cực và những hạn chế của nền pháp luật thừa kế trong hai thời kỳlịch sử này Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt quá trình thực hiện luận ánnhưng tập trung chủ yếu ở chương 2 khi nghiên cứu nội dung và đánh giá các giá trịtrong nội dung pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn; sử dụng trongchương 3 để nghiên cứu thực trạng vận dụng và đánh giá quá trình vận dụng phápluật thừa kế thời kỳ này trong pháp luật thừa kế Việt Nam từ năm 1945 đến nay
-Phương pháp thống kê, so sánh
Phương pháp này được sử dụng tại chương 1 để thống kê, tổng hợp các côngtrình nghiên cứu liên quan đến luận án của các tác giả trong nước và nước ngoài.Qua đó đánh giá được tổng quan tình hình nghiên cứu và chỉ ra những vấn đề cầntiếp tục nghiên cứu của luận án Tại chương 3, luận án sử dụng phương pháp này đểtập hợp các quy định của pháp luật về thừa kế qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1945
Trang 11đến nay, qua đó phân tích được thực trạng vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nàytrong các giai đoạn lịch sử Phương pháp thống kê được sử dụng để hệ thống cácgiải pháp thành các nhóm giải pháp về lý luận, về hoàn thiện và thực hiện pháp luậttại chương 4 của luận án.
-Phương pháp nghiên cứu thông qua các tài liệu thứ cấp
+ Luận án không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chế định thừa kế trong hai
bộ cổ luật: Quốc triều hình luật (QTHL) và Hoàng Việt luật lệ (HVLL) mà luận áncòn tiếp tục nghiên cứu chế định này ở các Chỉ, Dụ, các văn bản luật và văn bảnlịch sử ban hành dưới thời các triều vua khác trong cùng một giai đoạn lịch sử để bổkhuyết cho hai bộ luật chính Cụ thể:
Đối với pháp luật triều Lê: Để bổ khuyết cho QTHL luận án nghiên cứuthêm một số nội dung liên quan trong Hồng Đức thiện chính thư, Đại Việt sử kýtoàn thư, Thiên Nam dư hạ tập, Lịch triều hiến chương loại chí,
Đối với pháp luật triều Nguyễn: Ngoài HVLL luận án còn chú trọng đến cácLuật, các Chỉ, Dụ bổ sung trong các năm dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức,trong đó đặc biệt chú ý đến bộ Quốc triều tân luật ban hành dưới triều Minh Mạng
Đối với các Chỉ, Dụ ban hành dưới triều Nguyễn đã được Bộ Hình sưu tập vàsắp xếp thành 5 tập và về sau được Deloustal sắp xếp lại theo từng loại, theo thứ tự
các điều khoản trong bộ luật Gia Long và dịch ra tiếng Pháp để tiện sử dụng, đặt dưới tiêu đề là Reccueil des principales ordonnances royales édictées depuis la promulgation du code Annamite et en vigueur au Tonkin (Tập các Chỉ dụ chính yếu được ban hành từ khi ban bố bộ HVLL và vẫn còn thi hành ở Bắc Kỳ), gồm tất cả
251 đạo chỉ dụ (trong đó đặc biệt chú ý đến một số Chỉ, Dụ như chỉ dụ năm MinhMạng thứ 10 (1829), chỉ dụ năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), chỉ dụ năm Tự Đức thứ 8(1855) Đây là các chỉ dụ liên quan đến tài sản của người vô tự, thừa kế tài sản củangười con gái đối với tài sản của cha mẹ, của người vợ góa đối với chồng ), 560quyển Đại Nam thực lục, 25 quyển Minh Mạng chính yếu, 3.171 tập Châu Bản
nhưng quan trọng nhất là các Chỉ dụ được Nội các tập hợp lại trong bộ Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ gồm 15 tập Các nguồn tài liệu này nguyên bản dưới dạng
chữ Hán - Nôm, đa số bản gốc đều đã bị thất lạc hoặc tản mát, vì vậy tài liệu đượctác giả sử dụng chủ yếu là các bản dịch, các tài liệu thứ cấp
Trang 12Đối với một số nội dung không còn lưu trữ văn bản tài liệu trực tiếp, luận ánphải nghiên cứu thông qua các tài liệu thứ cấp là các tác phẩm của các tác giả thời
kỳ trước nghiên cứu về nội dung đó, như các công trình sách của GS Vũ Văn Mẫu,Nguyễn Mạnh Bách, Phan Huy Chú, Trương Quang Quýnh, Phương pháp nàyđược sử dụng rải rác trong toàn bộ nội dung nghiên cứu từ chương 1, chương 2,chương 3 và chương 4 của luận án
5.Những đóng góp về khoa học của luận án
Một là, luận án xác định được các tiền đề của pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê,
nhà Nguyễn; xây dựng được khái niệm về pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhàNguyễn Trên cơ sở đó đánh giá được các giá trị của cổ luật riêng về chế định thừa kế
Hai là, luận án chỉ rõ tính hợp lý và cần thiết của việc tiếp tục vận dụng
những giá trị của pháp luật thời kỳ này vào hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hànhbởi cách tiếp cận lợi ích chính đáng quyền con người trong lĩnh vực thừa kế đã cóngay chính trong các quy định của cổ luật thừa kế thời kỳ này
Ba là, luận giải cơ sở lý luận về vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê,
nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện nay Luận án tiếp cận vấn đềnày dưới góc độ phân tích khái niệm, các nguyên tắc vận dụng
Bốn là, luận án khái quát, phân tích và đánh giá được thực trạng vận dụng
pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn trong xây dựng và hoàn thiện phápluật thừa kế ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến nay
Năm là, luận án chỉ rõ các yêu cầu của việc tiếp tục vận dụng và đề xuất một
hệ thống các giải pháp nhằm tiếp tục vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê,nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam hiện nay
6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về lịch sử nhà nước
và pháp luật thông qua nghiên cứu cổ luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn Kếtquả nghiên cứu của luận án góp phần xây dựng cơ sở lý luận và đặt nền tảng khoahọc cho việc tiếp tục vận dụng cổ luật thừa kế trong hoàn thiện pháp luật thừa kếhiện nay ở Việt Nam
Trang 136.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án sẽ là tài liệu tập hợp lưu giữ những nội dung của cổ luật thời kỳnày Đây trước hết là công trình sưu tầm, hệ thống hóa nghiên cứu các bộ cổ luật,các Chỉ, Dụ dưới luật, các toàn thư, các bộ hội điển, liên quan đến lĩnh vực thừa
kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn Công trình còn góp phần tìm hiểu và lưu giữ nhữnggiá trị văn hóa cổ xưa, những tục lệ đặc sắc độc đáo của dân tộc tạo động lực, cơ hội
để tiếp nối công cuộc giữ gìn nền văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Luận án là một công trình độc lập để các nhà nghiên cứu, các giảng viên,sinh viên, học viên chuyên ngành luật tham khảo trong việc thực hiện các công trìnhnghiên cứu, giảng dạy và học tập các vấn đề liên quan
- Các kết quả nghiên cứu của luận án có thể được các cơ quan lập pháp sửdụng làm luận cứ khoa học, tài liệu tham khảo phục vụ cho việc xây dựng các giảipháp về hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện đại Ngoài ra, luận án còn có ý nghĩa chocác cơ quan chức năng quản lí về văn hóa, lịch sử trong việc lưu giữ những giá trịcủa cổ luật, là luận cứ khoa học cho việc tiếp tục tìm hiểu những giá trị truyền thốngcội nguồn dân tộc, giữ gìn, tôn tạo và phát huy bản sắc dân tộc Việt
7.Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung luận án gồm 4 chương, 11 tiết
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
CẦN NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật thừa kế thời
kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn
* Đề tài khoa học, các công trình sách
- Đề tài khoa học cấp bộ: “Nghiên cứu lịch sử hình thành, nội dung cơ bản
và những giá trị của Quốc triều hình luật thời nhà Lê (Bộ luật Hồng Đức)” của Lê
Thị Sơn [90] Đây là công trình tập hợp nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực cổ luậttham gia Một số bài viết trong công trình này ngoài việc nghiên cứu nội dung, điềukhoản của pháp luật các tác giả còn quan tâm đánh giá những giá trị tiến bộ, tíchcực trong các chế định của pháp luật thừa kế nhà Lê
- Đề tài nghiên cứu cấp trường: “Giá trị kế thừa về nhà nước và pháp luật dưới triều vua Lê Thánh Tông trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng Thị Kim Quế [72] Trong nội dung nghiên cứu, đề
tài đã chỉ ra những giá trị kế thừa của tư tưởng Lê Thánh Tông về pháp luật trongxây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, một trong những giá trị đó là quyền thừa
kế của vợ chồng và quyền thừa kế của các con đối với di sản do cha mẹ để lại Cáctác giả đánh giá nội dung quyền thừa kế này là giá trị nhân văn, tiến bộ của QTHL
-Các công trình sách bao gồm:
+ "Dân luật khái luận" của Vũ Văn Mẫu [49], trong đó có bàn về QTHL và
HVLL nội dung đề cập đến chế định thừa kế Trong giáo trình này tác giả đã đánhgiá cao những giá trị tiến bộ của pháp luật thừa kế nhà Lê Tuy nhiên, khi nghiêncứu pháp luật thừa kế nhà Nguyễn tác giả đi đến kết luận đây là sự sao chép phápluật Trung Hoa nên đã triệt tiêu các giá trị tích cực về quyền thừa kế được quy địnhtrước đó trong QTHL
+ "Việt Nam dân luật lược khảo" của Vũ Văn Mẫu [50]; "Dân luật lược giảng" của Vũ Văn Mẫu [51] Trong hai tác phẩm này tác giả cũng có đề cập ít
nhiều đến cổ luật thừa kế nhà Lê, nhà Nguyễn nhưng vẫn với quan điểm như trên
Trang 15+ "Cổ luật Việt Nam lược khảo" của Vũ Văn Mẫu [52] Bộ tác phẩm này
cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý cho việc nghiên cứu pháp luật thừa kế nhà
Lê, nhà Nguyễn Tuy nhiên trong tác phẩm này tác giả chỉ tập trung phân tích nộidung của cổ luật thừa kế qua các thời kỳ lịch sử từ Lý, Trần, Lê, Nguyễn Tác phẩmchưa có sự phân tích, đánh giá, so sánh để làm nổi bật những giá trị của cổ luật thừa
kế nhà Lê, nhà Nguyễn
+ "Sơ khảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam" của Đinh Gia Trinh
[109] Trong tác phẩm này, tác giả giữ nguyên quan điểm của giáo sư Vũ Văn Mẫukhi nghiên cứu về cổ luật thừa kế nhà Lê, nhà Nguyễn
Ngoài công trình của luật gia Đinh Gia Trinh, ở miền Bắc cho đến ngày đấtnước thống nhất không còn thấy có một công trình nào khác nữa về vấn đề này, nênđây là quan điểm chung về chế định thừa kế trong thời kỳ phong kiến của giới luậthọc ở miền Bắc Việt Nam trước năm 1975
Trong mười năm đầu sau 1975 không thấy có một công trình nghiên cứu nào
về pháp luật thừa kế trong thời kỳ phong kiến Chỉ từ năm 1986 trở đi, cùng với chủtrương đổi mới đất nước, ngành luật học ở Việt Nam dần phát triển Năm 1986,Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Huế đã xây dựng một chuyên đề giảng
dạy tại khoa với tiêu đề: "Lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX)" [32] Giáo trình đã được Hội đồng khoa học khoa Lịch sử Trường
Đại học Sư Phạm Huế nghiệm thu và đưa ra giảng dạy bắt đầu từ năm 1986-1987
và được trường Đại học Sư phạm Huế in ấn làm tài liệu học tập cho sinh viên (xuấtbản vào năm 1993) Mặc dù còn chịu ảnh hưởng của các công trình đi trước, nhưngtrong giáo trình đó các tác giả đã cố gắng chứng minh và nhận định một số giá trịtích cực trong quy định về thừa kế của pháp luật nhà Nguyễn
- "Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam (Từ nguồn gốc đến trước Cách mạng tháng Tám 1945)" của tác giả Vũ Thị Phụng [68] Ngoài việc khẳng định giá
trị tiến bộ trong QTHL, tác giả đồng thời cùng phê phán pháp luật nhà Nguyễn nhất
là các chế định về quyền thừa kế của phụ nữ
- Vào đầu năm 1994, tác giả Nguyễn Q Thắng đã dịch HVLL ra tiếng Việt,kèm theo nhận xét, đánh giá chung về Bộ luật Đây là lần đầu tiên công chúng đượctiếp cận với một bản dịch tương đối đầy đủ về HVLL Trong nội dung mở đầu tác
Trang 16giả đã có những luận giải về việc cần đánh giá lại những giá trị tích cực của HVLLtrong lĩnh vực dân sự mà đặc biệt là về chế định thừa kế [96].
Ngoài ra, từ năm 2000 đến nay, trong xu hướng đầu tư đúng mức cho hoạtđộng nghiên cứu cổ luật Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung và giá trịcủa cổ luật tiếp tục được xuất bản thành sách Đáng chú ý có các tác phẩm liên quantrực tiếp đến đề tài luận án:
+ Tác phẩm “Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc” của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý [129] Nội dung tác phẩm
đề cập nhiều vấn đề, song chủ yếu là lịch sử và pháp luật xuyên suốt từ thời Lê chođến thời Pháp thuộc Tác phẩm này cung cấp nhiều thông tin và trích dẫn nhiều vănbản cổ luật về thừa kế có giá trị tham khảo cao Thông qua những chế định phápluật về dân sự từ thời Lê như QTHL đến thời Nguyễn với HVLL, các tác giả đã đisâu phân tích mặt tích cực cũng như những hạn chế của các quy định pháp luật dân
sự về thừa kế nhằm rút ra những vấn đề cần suy ngẫm
+ "Quốc triều Hình luật - Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị" của Lê Thị
Sơn [90] đã tập trung phân tích lịch sử hình thành của bộ QTHL, khái quát các nộidung của QTHL Đặc biệt chú trọng phân tích các giá trị tiến bộ, các nét đặc sắc củaQTHL được thể hiện trong các quy định của bộ luật này về thừa kế Nhiều bài viết
đã tập trung phân tích các nội dung về phân chia di sản theo chúc thư, chia di sảntheo pháp luật, lập hương hỏa, lập thừa tự, Nội dung các bài nghiên cứu đã nêu bậtgiá trị pháp lý và tính nhân văn của chế định thừa kế trong QTHL
+ "Hôn nhân và gia đình trong pháp luật triều Nguyễn Trong phần “thân quyền về tài sản khi cha mẹ chết” của tác giả Huỳnh Công Bá [9] đã nghiên cứu sơ
bộ các chế định về thừa kế trong pháp luật nhà Nguyễn Tác giả đã cung cấp nhiềunội dung và tư liệu đáng tin cậy tạo cơ sở nền tảng ban đầu để tiếp tục nghiên cứuchuyên sâu hơn về chế định thừa kế trong pháp luật nhà Nguyễn
+ "Nhận diện quyền dân sự trong bộ luật Hồng Đức" của Trần Quang Trung
[110] Trong tác phẩm này, tác giả đã nghiên cứu các chế định liên quan đến quyềndân sự QTHL trong đó có quyền thừa kế Qua đó, đi đến những nhận định, đánh giá
về tính tích cực và một số hạn chế trong chế định thừa kế của cổ luật nhà Lê
Trang 17* Luận án, luận văn
- Vấn đề thừa kế được nghiên cứu trong một số luận án tiến sĩ Tuy nhiên
phạm vi nghiên cứu chỉ chủ yếu trong pháp luật dân sự hiện đại, như: "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay” của Phùng Trung Tập [93]; “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam” của Trần Thị Huệ [41].
Các luận án tiến sĩ này chỉ hệ thống hóa các quy phạm pháp luật về thừa kế củapháp luật Việt Nam hiện hành Tập trung chủ yếu phân tích đánh giá các chế địnhthừa kế trong các văn bản pháp luật dân sự từ sau năm 1945 và trong BLDS năm
1995 Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện lý luận khoa học đối với chế định thừa
kế và nâng cao hiệu quả áp dụng
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam hiện nay”,
của tác giả Nguyễn Thị Châu [21] Trong luận văn này tác giả đã nghiên cứu cơ sở
lý luận của hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam; nghiên cứu quá trình pháttriển và thực trạng pháp luật thừa kế ở Việt Nam; nêu quan điểm và giải pháp hoànthiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam Trong phần nội dung khái quát về quá trìnhphát triển pháp luật thừa kế ở Việt Nam tác giả đã nêu sơ lược một số vấn đề vềpháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn Tuy nhiên đây chỉ là một nội dungchiếm dung lượng không đáng kể trong luận văn
- Luận văn cấp thạc sĩ “Thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn ở Việt Nam” của tác giả Hồ Thị Vân Anh [2] Trong luận văn này tác giả đã
tập trung nghiên cứu chuyên sâu về nội dung và giá trị của pháp luật thừa kế trongHVLL thời kỳ nhà Nguyễn Luận văn không chỉ dừng lại nghiên cứu chế định thừa
kế trong HVLL mà còn mở rộng phạm vi nghiên cứu trong cả hệ thống các Chỉ, Dụ
bổ sung suốt thời kỳ các vua sau vua Gia Long: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Trên cơ sở so sánh đối chiếu với pháp luật triều Lê và pháp luật Trung Hoa cùngthời kỳ tác giả đã đi đến một số kết luận cho việc nhìn nhận lại những giá trị tíchcực của pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Nguyễn
* Tạp chí, báo, kỷ yếu hội thảo khoa học
- Trong “Hội thảo khoa học về triều Nguyễn” (thuộc Chương trình nghiên
cứu khoa học cấp Bộ) do Trường Đại học sư phạm Huế tổ chức năm 1994, đã cócác báo cáo khoa học trao đổi nhận định về chế định pháp luật thừa kế thời kỳ nhà
Trang 18Nguyễn, nổi bật có các báo cáo của TS Huỳnh Công Bá và nhà nghiên cứu Nguyễn
Q Thắng Qua đó các tác giả đã ghi nhận sự đóng góp và sáng tạo của các nhà lậppháp dưới các triều đại sau vua Gia Long về việc xây dựng nội dung các quy định
về quyền thừa kế dưới thời kỳ này [9]
- Vào năm 2000, Đại học Huế tổ chức hội thảo khoa học: “Văn hóa Việt Nam thời Nguyễn và những vấn đề đặt ra hiện nay” [31] Hội thảo cũng đã có nhiều
bài viết với những góc nhìn đa chiều về chế định thừa kế trong pháp luật thời kỳnhà Nguyễn
- Tiếp đến, là các cuộc hội thảo quy mô quốc gia, quy tụ nhiều bài viết củacác nhà nghiên cứu về cổ luật Hội thảo nghiên cứu chuyên sâu về QTHL được tổchức vào 2 ngày 17 và 18 tháng 3 năm 2007 tại Thành phố Thanh Hóa (do Bộ Tưpháp phối hợp với Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Thanh Hóa tổ chức) với tiêu đề
“Quốc triều Hình luật - những giá trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” [119] Các bài tham luận trong hội thảo này đã tập
trung phân tích những thành tựu lập pháp dưới thời nhà Lê Đặc biệt chú trọng đếnnhững chế định pháp luật được đánh giá là có tính tiến bộ vượt bậc mang giá trịnhân văn cao với tính dân tộc Việt đậm nét, có thể được tham khảo để kế thừa vàhoàn thiện pháp luật hiện đại trong đó có các chế định về thừa kế trong QTHL Và
gần đây nhất là Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch
sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” mang tầm cỡ quốc gia được UBND tỉnh
Thanh Hóa phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức tại Thanh Hóa từngày 18 đến ngày 19 tháng 10 năm 2008 [120] Đáng tiếc, là trong các cuộc hộithảo này, vấn đề về pháp luật dân sự, thừa kế thời kỳ nhà Nguyễn chưa được quantâm đúng mức Chưa có bài tham luận nào về thừa kế theo pháp luật trong HVLLthời Nguyễn
- Việc nghiên cứu còn được tập trung ở một số bài báo đăng trên các tạp chí
chuyên ngành trước năm 2010 như: “Tương đồng và khác biệt Bộ luật Hồng Đức và
bộ luật của Trung Hoa” của Nguyễn Minh Tuấn [116]; “Những giá trị tích cực của Nho giáo trong Bộ luật Hồng Đức” của Nguyễn Minh Tuấn [117]; “Quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ trong QTHL” của tác giả Nguyễn Phương Lan [45];
“Những bộ cổ luật Việt Nam và một số giá trị đương đại” của tác giả Vũ Thị Phụng
Trang 19[69]; “Pháp chế triều Nguyễn đối với vấn đề nhân thân của người phụ nữ” của Huỳnh Công Bá [7], “Vấn đề tài sản trong pháp luật hôn nhân và gia đình dưới triều Nguyễn” của Huỳnh Công Bá [8]
Trong thời gian này, hầu hết các bài báo chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứucác giá trị tích cực trong QTHL Việc nghiên cứu về chế định dân sự trong HVLL
và pháp luật nhà Nguyễn hầu như ít được quan tâm Chỉ duy nhất có hai bài báo của
TS Huỳnh Công Bá và nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hữu Châu Phan được đăngtrên tạp chí chuyên ngành viết về pháp luật triều đại này nhưng không viết chuyênsâu về thừa kế trong pháp luật thời kỳ nhà Nguyễn
Đến năm 2010 trở lại đây, HVLL mới bắt đầu được một số tác giả quan tâmnghiên cứu Bắt đầu xuất hiện một số bài báo nghiên cứu về pháp luật nhà Nguyễn
trên các tạp chí chuyên ngành như bài viết trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: “Cần công bằng với bộ luật Hoàng Việt luật lệ” của tác giả Vũ Anh Tuấn [115] Trên cơ
sở điểm lại một số quan điểm khác nhau về cách đánh giá bộ luật, tác giả cũng nêu
ra một vài suy nghĩ có tính gợi mở về hình thức, nội dung của bộ luật trong so sánhvới các bộ luật Trung Hoa và bộ QTHL nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ chung
chung “Về mối quan hệ giữa “Hoàng Việt luật lệ” và “Đại Thanh luật lệ”” của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy [100] Và “Tính tích cực của “Hoàng Việt luật lệ” và giá trị của nó đối với nền tư pháp Việt Nam hiện đại” đăng trong Kỷ yếu Hội thảo quốc
tế Việt Nam học lần thứ IV năm 2012 Như vậy, việc nghiên cứu pháp luật triềuNguyễn mới chỉ dừng lại ở nội dung nghiên cứu tổng quát HVLL, so sánh với phápluật Trung Hoa, còn chế định thừa kế trong pháp luật triều Nguyễn đến nay vẫn ítđược quan tâm nghiên cứu
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến vận dụng pháp luật và vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn
* Đề tài khoa học, các công trình sách
Trong đề tài khoa học cấp bộ: “Nghiên cứu lịch sử hình thành, nội dung cơ bản và những giá trị của Quốc triều hình luật thời nhà Lê (Bộ luật Hồng Đức)” của
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp [90] đã nêu trên, các bài viết còn tập trungphân tích, đánh giá những giá trị tích cực mang tính đương đại trong các quy định
về pháp luật thừa kế trong QTHL Từ đó, một số bài viết đã chỉ ra tính kế thừa trong
Trang 20các quy định pháp luật thừa kế hiện hành và đặt ra một số gợi mở cho việc tiếp tụcvận dụng các giá trị của pháp luật thừa kế nhà Lê trong việc hoàn thiện pháp luậtthừa kế hiện hành tập trung vào các vấn đề: Di chúc chung của vợ chồng, di sảndùng vào việc thờ cúng
về thừa kế Công trình đã nghiên cứu bài học kinh nghiệm được rút ra từ hoạt độnglập pháp của các vua nhà Lê và gợi mở cho việc vận dụng một số nội dung đối vớicông tác hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành
+ Trong tác phẩm: “Hôn nhân và gia đình trong pháp luật triều Nguyễn” của
Huỳnh Công Bá [9] đã khái quát lại một số giá trị về mặt nội dung và kỹ thuật lậppháp của chế định thừa kế nhà Nguyễn góp phần vận dụng hoàn thiện pháp luậtthừa kế hiện hành Tác giả cho rằng pháp luật thừa kế là một lĩnh vực gắn bó chặtchẽ với phong tục tập quán Một sự định hướng thiên lệch sẽ rất khó lấy lại thăngbằng Vì vậy, nghiên cứu những giá trị tích cực trong pháp luật thừa kế dưới triềuNguyễn để vận dụng hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành là rất cần thiết
+ Trong tác phẩm: “Nhận diện quyền dân sự trong bộ luật Hồng Đức” của
Trần Quang Trung [110] đã phân tích và nghiên cứu chế định về thừa kế như đã nêutrên Trong chương 5, tác giả đã kết luận giá trị về quyền dân sự trong đó có giá trị
về quyền thừa kế của QTHL mang tính tiến bộ, cần thiết phải tiếp tục kế thừa đểvận dụng hoàn thiện về mặt pháp lý cũng như trong công tác thực tiễn nhằm bảo vệquyền thừa kế của công dân hiện nay
+ Tác phẩm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, pháp chế và sự vận dụng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nhà nước và pháp luật [39] Tác phẩm nàymặc dù không trực tiếp liên quan đến đề tài, tuy nhiên tác phẩm đã cung cấp cho tác
giả phương pháp luận tiếp cận vấn đề lý luận về “vận dụng” và cách tiếp cận hệ
Trang 21thống lý luận các quan điểm và giải pháp về việc “tiếp tục vận dụng” để hoàn thiệnpháp luật hiện hành Đây là cơ sở phương pháp luận giúp tác giả tiếp cận một nộidung nghiên cứu quan trọng của luận án về “Vận dụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà
Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành”
+ Sách chuyên khảo: “Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án”
của Đỗ Văn Đại [29] đã vận dụng một số nội dung và cách giải quyết các tranh chấpthừa kế trong cổ luật thừa kế nhà Lê, nhà Nguyễn làm cơ sở để đánh giá và bình luậnmột số vụ án trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế của các Tòa án ViệtNam hiện nay, cụ thể, tại các bản án sau: án số 14, 17, 68, 69, 45, 47, 48, 50, 38, 39,
61, 64,
75, 78, 54, 57, 18, 19, 91, 93, 110, 113, 65, 66, 20 và 21 Trong hai tập sách chuyênkhảo này tác giả đã có những lập luận và căn cứ khoa học vững chắc để gợi mở choTòa án những phương án giải quyết các tranh chấp thừa kế trên cơ sở vận dụng nhữngnội dung tích cực và hợp lý của cổ luật thừa kế nhà Lê, nhà Nguyễn
* Luận án, luận văn
+ “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay”
của tác giả Phùng Trung Tập [93] đã phân tích, lập luận để làm rõ quá trình xâydựng và phát triển cũng như đánh giá nội dung những quy định về thừa kế theopháp luật của công dân Việt Nam qua từng giai đoạn phát triển trong hơn 50 năm.Luận án đã giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quát về quá trình xây dựng và pháttriển của pháp luật thừa kế ở Việt Nam sau năm 1945, tạo tiền đề cho việc tiếp tụcnghiên cứu quá trình vận dụng cổ luật trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thừa
kế từ 1945 đến nay ở Việt Nam
+ “Học thuyết pháp trị Trung Hoa thời cổ đại: Giá trị và sự kế thừa trong quản lí xã hội ở nước ta hiện nay” của tác giả Đỗ Đức Minh [55] Trên cơ sở làm rõ
quá trình hình thành, nội dung, những giá trị, hạn chế và ảnh hưởng của học thuyếtpháp trị Trung Hoa cổ đại trong lịch sử phong kiến Việt Nam, luận án làm rõ sự cầnthiết những quan điểm và gợi mở tính kế thừa cũng như vận dụng những giá trị củahọc thuyết này trong quản lí xã hội ở nước ta hiện nay Đây là luận án vận dụngnhững quan điểm của học thuyết cổ đại trong lịch sử để kế thừa trong việc giảiquyết những vấn đề hiện tại của xã hội Có giá trị tham khảo cho tác giả trong việc
Trang 22tiếp cận phương pháp luận của việc nghiên cứu hệ thống lý luận và yêu cầu, giảipháp vận dụng các giá trị cổ luật trong hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành.
+ “Áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc dân sự của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai [48] Trong luận án
này tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận về áp dụng tập quán (trong đó có các tậpquán về thừa kế) trong việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân(TAND) Trên cơ sở thực trạng áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc dân
sự của TAND, luận án đã đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dụng tậpquán (bao gồm các tập quán về thừa kế) trong giải quyết các tranh chấp dân sự
+ “Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lí nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam” của tác giả Vi Văn Sơn [91].
Trong luận án này, tác giả chú trọng đề cập đến một số nội dung về lý luận vậndụng: luận giải khái niệm vận dụng; các phương thức vận dụng; những vấn đề đặt ra
về vận dụng luật tục người Thái trong quản lí Nhà nước đối với người dân tộc thiểu
số và cộng đồng người Thái ở Việt Nam Mặc dù không trực tiếp liên quan đến đềtài nhưng luận án đã cung cấp cho tác giả những góc nhìn đa chiều về nghiên cứu lýluận vận dụng pháp luật và nghiên cứu hệ thống các quan điểm và giải pháp về vậndụng Ngoài ra, luật tục cũng là một trong những nội dung được đề cập đến trongluận án nên những thông tin này rất có ý nghĩa cho tác giả trong việc nghiên cứu
+ “Vận dụng truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam trong xây dựng văn hóa pháp lý hiện nay” của tác giả Dương Văn Chăm [20] Luận văn tập trung
nghiên cứu truyền thống văn hóa pháp lí trong pháp luật thời phong kiến, tác giảdành một dung lượng nhỏ đề cập đến cổ luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn;nghiên cứu những yêu cầu về việc vận dụng những truyền thống này trong xây dựngvăn hóa pháp lí hiện nay Luận văn đã đề xuất những giải pháp vận dụng truyềnthống văn hóa pháp lí từ lịch sử nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam trongxây dựng nền văn hóa pháp lí ở nước ta hiện nay
* Tạp chí, báo, kỷ yếu hội thảo khoa học
Hội thảo nghiên cứu chuyên sâu về QTHL được tổ chức vào 2 ngày 17 và 18tháng 3 năm 2007 tại Thành phố Thanh Hóa (do Bộ Tư pháp phối hợp với UBND
tỉnh Thanh Hóa tổ chức) với tiêu đề “Quốc triều Hình luật - những giá trị lịch sử và
Trang 23đương đại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” [119] Trên cơ sở
phân tích nội dung chế định thừa kế thời kỳ nhà Lê, các bài viết trong hội thảo đãđánh giá tính tiến bộ, sự kế thừa và những bài học kinh nghiệm, sự gởi mở trongviệc vận dụng để hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành, giải quyết các vướng mắctrong hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật thừa kế
- Việc nghiên cứu nội dung liên quan đến vận dụng cổ luật còn được tập
trung ở một số bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “Tương đồng và khác biệt Bộ luật Hồng Đức và bộ luật của Trung Hoa” [116] và “Những giá trị tích cực của Nho giáo trong Bộ luật Hồng Đức” của Nguyễn Minh Tuấn [117];
“Quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ trong QTHL” của tác giả Nguyễn Phương Lan [45]; “Những bộ cổ luật Việt Nam và một số giá trị đương đại” của tác giả Vũ
Thị Phụng [69]
Các tác giả đều thống nhất cho rằng nghiên cứu chế định thừa kế trongQTHL và HVLL là một trong những cơ sở để giáo dục truyền thống, là nền tảngvăn hóa giúp Việt Nam hội nhập với thế giới nhưng vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc.Với ý nghĩa đó, những giá trị đương đại trong các quy định về thừa kế của các bộ cổluật Việt Nam cần thiết phải tiếp tục khảo cứu, ghi nhận, vận dụng và phổ biến
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI
Các tác phẩm của tác giả nước ngoài liên quan đến đề tài luận án chủ yếu tậptrung vào việc nghiên cứu nội dung, giá trị các chế định pháp luật về thừa kế thời kỳnhà Lê, nhà Nguyễn mà hầu như không đề cập đến vấn đề vận dụng nội dung nàytrong hoàn thiện pháp luật thừa kế Việt Nam hiện nay Vì vậy, trong tình hìnhnghiên cứu nước ngoài tác giả chỉ chủ yếu liệt kê và phân tích nhóm các công trìnhnghiên cứu liên quan đến pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn
* Luận án, luận văn
Người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu HVLL thành một luận án tiến sĩ là luật
sư Phan Văn Trường (1875-1933) trình tại Đại học đường Paris vào những năm 20
của thế kỷ XX Luận án gồm 2 đề tài có tên là Essais sur le code Gia Long (86 trang) và một luận án phụ có tên Le droit pénal à travers l’ancienne l’Egislation Chinoise (Etude comparée sur le code Gia Long) đã được Hội đồng giám khảo công
nhận là Tiến sĩ luật khoa đầu tiên của một người Việt tại Pháp Trong luận án, luật
Trang 24sư Phan Văn Trường đã nghiên cứu bộ HVLL khá tường tận; đồng thời tác giả cũng
so sánh, đối chiếu, phân tích giữa bộ HVLL và cổ luật Trung Hoa nhất là luật nhàThanh, so sánh, đối chiếu một số nội dung giữa HVLL và QTHL Luận án có đề cậpđến chế định thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn nhưng chưa chuyên sâu và chưamang tính hệ thống Tuy nhiên những nội dung này cũng có những giá trị nhất địnhcủa việc đặt nền tảng ban đầu cho công tác nghiên cứu luận án [trích theo 9]
- Luận án Tiến sĩ Luật học: "De la propriété familiale comme fondement du droit familial Vetnamien, d’ après Le Code Gia Long et Le Code des Lê" của Trần
Văn Liêu Trong luận án tác giả nghiên cứu các vấn đề thuộc về gia đình, dòng tộc,nghiên cứu nội dung về thừa kế trong QTHL thời Lê và HVLL thời Nguyễn nhưngchủ yếu là nghiên cứu QTHL Pháp luật thừa kế của các thời kỳ này được các tácgiả nghiên cứu trong mối tương quan với phong tục, tập quán, luật tục của dân tộc[trích theo 9]
* Các công trình, sách
- Vào năm 1865, Gabriel Anbaret là người đầu tiên dịch xong HVLL ra tiếng
Pháp và cho xuất bản với tiêu đề của tác phẩm là “Code annamite: Lois et rèlements du Royaune d’ Annam”, xuất bản ở Paris năm 1865 Tiếp đó, đến năm
1876, Paul Louis Philastre dịch lại bộ HVLL ra tiếng Pháp xuất bản tại Paris, tiêu đề
Le Code Annamite, gồm 2 tập Ở hai công trình này, các tác giả ngoài việc dịchthuật, còn bình luận và chú giải bộ HVLL Đáng chú ý là những bình luận và so sánhcủa Paul Louis Philastre về chế định hôn sản và thừa kế trong HVLL với pháp luật nhàThanh Trung Quốc Những so sánh và nhận định ban đầu của P Philastre trong tácphẩm xuất bản từ năm 1876 được xem là một trong những nền tảng cho việc tiếp tụcnghiên cứu cổ luật thừa kế phong kiến về sau Tuy nhiên, đây chỉ là những nhận định
sơ khởi, ít nhiều còn mang tính chủ quan của tác giả [trích theo 96]
+ Tác phẩm “An Nam Yi You, Xiao Fang Hu Zhai Yu Di Cong Chao” của
tác giả Phan Đỉnh Khuê Tác giả là người đã đến sinh sống và làm việc tại ViệtNam từ những năm 1788 Tác phẩm bao gồm những truyện kể của ông Phan về cácphong tục hôn lễ, và các quy định về thừa kế và phong tục thừa kế trong xã hội xưa.Đây là một công trình nghiên cứu về luật thừa kế và xã hội Việt Nam xưa đầu tiêncủa một tác giả người Trung Quốc Vì vậy, những nhận định của tác giả rất đáng
Trang 25lưu ý, đặc biệt ở nội dung so sánh với cổ luật Trung Hoa được giới khoa học đánhgiá là có giá trị tham khảo cao [trích theo 131].
- Văn bản cổ xưa đầu tiên đầy đủ về bộ QTHL được Claude E.Maitre tìmthấy tại Huế vào năm 1978 Claude Maitre, lúc đó là giám đốc trường Viễn ĐôngBác Cổ Trong công trình này Claude E.Maitre đã dịch thuật QTHL và bình luậnmột số nội dung liên quan đến hôn nhân và thừa kế trong QTHL Claude E.Maitre
đã đi đến kết luận rằng, nhà Lê sau khi giành được nền độc lập chính trị từ TrungHoa đã cắt đứt mọi ràng buộc về tinh thần pháp lý với nền văn minh Trung Hoa Vìvậy, trong QTHL các chế định về thừa kế mặc dù mô phỏng pháp luật nhà Đườngnhưng vẫn có rất nhiều điểm dị biệt, trong đó đặc biệt là quy định về hương hỏa Vănbản do Claude Maitre nghiên cứu về Bộ luật này là một trong số những thư tịch cổ đạivẫn đang được tàng trữ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) [trích theo 50]
- Cổ luật thừa kế Việt Nam còn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của cả cáchọc giả Nhật Bản, nổi bật là các tác phẩm của học giả Yamamoto Tatsuro Đầu
tiên phải kể đến tác phẩm “Shina Kazoku Kenkyu” của tác giả Nhật bản Makino
Tatsumi là nền tảng để tác giả Yamamoto Tatsuro thu thập, đưa vào các tácphẩm nghiên cứu cổ luật nhà Lê, nhà Nguyễn đối sánh với cổ luật Trung Hoa vềchế định gia đình và thừa kế Tác giả đã nghiên cứu tương đối toàn diện chế định
thừa kế trong các tác phẩm: “Annam reicho no koninho” xuất bản năm 1938,
“Annam no fudosan bai monjo” xuất bản năm 1940 và “Koku chokeiritsu ni miere henshaku” xuất bản năm 1984 Các tác phẩm này cung cấp nhiều tư liệu
cho việc nghiên cứu lĩnh vực thừa kế trong xã hội phong kiến Việt Nam Trongcác tác phẩm này, tác giả đã chứng minh chế độ hôn sản trong QTHL là chế độtài sản chung hợp nhất của vợ chồng, trong đó người vợ có kỷ phần riêng và cóquyền hưởng thừa kế [trích theo 131]
- Tác phẩm “De droit familial et patrimonial au Vietnam” của tác giả Paul
Pompei đã một lần nữa khẳng định quan điểm của Yamamoto Tatsuro và lý giải xahơn về quyền thừa kế của người vợ góa khi người chồng chết [trích theo 131]
- Tác phẩm “Varieties of huong hoa: A Problem of Vietnamese Law” của
Henry Mc Aleavy Là tác phẩm duy nhất của một tác giả nước ngoài nghiên cứu về chếđịnh hương hỏa trong cổ luật Việt Nam Tác giả đã có những nhận định khái quátvề
Trang 26thành phần hương hỏa, người ăn hương hỏa, lập thừa tự Tuy nhiên, cũng do chưa hiểuhết được tục lệ của người Việt nên trong tác phẩm này, Henry Mc Aleavy lại cho rằngchỉ có con trai mới có quyền thừa kế việc thờ cúng tổ tiên [trích theo 131].
- Tác phẩm “London school of Economics Monographys on Social Anthropolygy” của Edmund Leach Trong tác phẩm, tác giả tập trung nghiên cứu
lĩnh vực hôn nhân và gia đình trong QTHL và HVLL trong đó có một phần liênquan đến hương hỏa và thừa kế nhưng không đáng kể [trích theo 131]
- Trong năm 1970, có hai tác phẩm của học giả người Pháp cùng xuất bảnđều nghiên cứu về luật và xã hội phong kiến Việt Nam dưới thời kỳ phong kiến
Qua tác phẩm “Vietnamese Historical Sources” của Gaspardone và tác phẩm “The Mandarin Road to Old Hue” của Charles Chapman Đây là hai tư liệu quý của các
học giả nước ngoài về luật và tục của xã hội Việt Nam xưa, trong đó có nhiều cứliệu về phong tục hương hỏa, thừa tự [trích theo 131]
- Với tác phẩm “The Birth of Vietnam” của tác giả Keith Taylor đã tiếp tục
nghiên cứu luật và xã hội phong kiến Việt Nam dưới thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn.Tuy nhiên, K Taylor chủ yếu tập trung luận giải năng cách của người phụ nữ trong
xã hội xưa và kết luận “đàn bà Việt Nam tự do đi lại mà không xa lánh đàn ông như
ở Trung Hoa” và “đàn bà Việt Nam vẫn có quyền hưởng thừa kế” [trích theo 131]
- “Social Organization and Confucian Thought in Viet Nam” của John
Whitmore Nội dung tác phẩm này nghiên cứu địa vị pháp lý và chia di sản thừa kếgiữa các con trong gia đình Tuy nhiên J Whitmore lại cho rằng con gái không cóquyền hưởng thừa kế trong xã hội phong kiến Việt Nam [trích theo 131]
- Công trình nghiên cứu “Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII” của
Insun Yu Đây là công trình bằng tiếng Anh và tiếng Hàn Quốc của một giáo sư ngườiHàn Quốc nghiên cứu xã hội truyền thống Việt Nam Công trình đề cập chủ yếu đếnlĩnh vực đời sống pháp luật dân sự dưới thời Lê và dành hẳn một chương riêng nghiêncứu về quyền thừa kế Đây là tài liệu có giá trị trong việc nghiên cứu cổ luật thừa kếthời kỳ nhà Lê [131]
* Các bài viết, hồi ký
- Quyển hồi ký của John Craufurd một đặc phái viên người Anh đến Việt
Nam vào hai thập kỷ đầu của thế kỷ XIX với tiêu đề “Journal of an Embassy to the Courts of Sian and Cochin China” Trong tác phẩm này, tác giả đã nghiên cứu luật
Trang 27và xã hội Việt Nam cổ, rút ra kết luận tích cực cho luật và xã hội Việt Nam thời kỳnhà Lê, nhà Nguyễn vì đã có ghi nhận vị trí xứng đáng cho người phụ nữ và chorằng địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam hơn hẳn các nước Viễn đông, đặc biệt làquyền thừa kế của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ này [trích theo 9].
- Trong thời gian này, còn ghi nhận một số tác phẩm tiếp tục nghiên cứu vềtục lệ và xã hội Việt cổ như: Các tác phẩm hồi ký của Léo Pold Cardière, tiêu đề
“Les Europeens qui ont vu le vieux Hué: l’ Abbé de Choisy” xuất bản tại Paris năm
1929, tác phẩm “Voyages and Discoveries” của William Dam Pier xuất bản năm 1931; tác phẩm “A Sketch of the Geography of Cochin China” của Charles
Chapman xuất bản năm 1817, tái bản năm 1970 tại Paris [trích theo 9] Nội dungcác tác phẩm nghiên cứu tục lệ của xã hội Việt Nam thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn vàkhi nghiên cứu một số nội dung trong chế định cổ luật thừa kế, một lần nữa các tácgiả tiếp tục khẳng định sự ngạc nhiên với vị trí, vai trò của người phụ nữ trong giađình và quyền lợi của họ trong việc hưởng di sản thừa kế
-Một thầy tu người Trung Quốc tên Đại Sán đã viết hồi ký “Shi Liu Qi Shi
Ji Guang - Nam Zhih Xin Shi Lao” xuất bản tại Trung Quốc năm 1960 nhân một
chuyến thăm Huế vào giữa thế kỷ XIX đã kết luận rằng: luật pháp và xã hội triềuNguyễn coi trọng phụ nữ không khác gì đàn ông Trong gia đình người phụ nữ cóquyền có tài sản riêng là của hồi môn của cô ấy, có quyền hưởng dụng di sản dongười chồng quá cố để lại Thậm chí Đại Sán còn mạnh dạn cho rằng người phụ nữViệt Nam được coi trọng hơn hẳn phụ nữ Trung Quốc cùng thời kỳ [trích theo 131]
1.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.3.1 Đánh giá chung
- Một số kết quả đạt được trong nhóm các công trình nghiên cứu liên quanđến pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn trong và ngoài nước có thể kháiquát ở một số nội dung sau:
+ Về mặt lý luận:
Góp phần sưu tầm, hệ thống hóa và dịch thuật các bộ cổ luật có chế định
về thừa kế, các Chỉ, Dụ dưới luật về thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn Việc sưutầm, hệ thống hóa và dịch thuật các bộ cổ luật, các toàn thư, các bộ hội điển đồ sộ
Trang 28cũng như việc dịch thuật các tư liệu liên quan về cổ luật thừa kế là thành quả đángghi nhận đầu tiên của các tác giả Qua đó, góp phần giới thiệu cổ luật thừa kế ViệtNam cho các học giả trên thế giới, tạo nguồn tư liệu phong phú cho việc tìm hiểu cổluật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn được phổ biến rộng rãi hơn trong giớinghiên cứu luật và nhân dân cả nước.
Nghiên cứu sâu rộng về văn hóa và tục lệ của dân tộc liên quan đến lĩnhvực thừa kế Các công trình nghiên cứu cả trong nước và nước ngoài về văn hóa, tục
lệ của người Việt liên quan đến lĩnh vực thừa kế tính đến nay cũng hết sức phongphú Những tác phẩm của các học giả chuyên nghiên cứu về phong tục tập quán nhưToan Ánh, Phan Kế Bính, John Crawfurd, Phan Đỉnh Khuê đã bước đầu tiếp cậnnghiên cứu tìm hiểu văn hóa tục lệ thừa kế của người Việt trong đời sống dân sự.Tiếp đến là các công trình của những nhà khoa học trong nước hoạt động trên nhiềulĩnh vực khác nhau như: dân tộc học, văn hóa học, khoa học lịch sử, văn hóa dângian Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đánh giá người Việt cổ có bản sắc dân tộcđộc đáo, nhân văn, tiến bộ, cần được nghiên cứu, vận dụng, bảo tồn và phát huy
Trong điều kiện hội nhập quốc tế, đứng trước yêu cầu xây dựng và phát huynền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Khi Nghị quyết của Đảng
đã đặt văn hóa ngang tầm với các yếu tố chính trị, kinh tế thì những công trình liênquan đến văn hóa trong pháp luật dân sự về thừa kế là những di sản vô giá cho cácthế hệ hậu sinh người Việt Nam Đồng thời là kho tư liệu quý phục vụ cho việcnghiên cứu về lịch sử, văn hóa, pháp luật
Nghiên cứu, đánh giá những giá trị tiến bộ của pháp luật thừa kế thời kỳnhà Lê, nhà Nguyễn Trong hầu hết các công trình nghiên cứu với những căn cứthuyết phục, các tác giả đã tập trung chỉ ra những điểm dị biệt giữa QTHL,HVLL so với cổ luật Trung Hoa cùng thời kỳ Tìm hiểu các công trình nghiêncứu cổ luật thừa kế nhà Lê cho thấy đa số các tác giả đều đồng thuận trong việcđánh giá giá trị tích cực trong các quy định về thừa kế trong QTHL, chứng minhđược yếu tố khác biệt và sự tiến bộ của pháp luật thừa kế QTHL so với pháp luậtcác nước Viễn Đông cùng thời kỳ trong các chế định về: hương hỏa, thừa tự,quyền hưởng di sản và người vợ góa, quyền lợi của con gái trong việc hưởngthừa kế
Trang 29 Bước đầu đánh giá và nhìn nhận lại pháp luật nhà Nguyễn trong đó cópháp luật thừa kế thời kỳ nhà Nguyễn Đối với pháp luật nhà Nguyễn mặc dù cònnhiều ý kiến khác nhau nhưng các nhà khoa học cũng đã bước đầu quan tâm nghiêncứu trong bối cảnh nhìn nhận lại và đánh giá khách quan hơn đối với nền pháp luậtnhà Nguyễn nói chung và cổ luật thừa kế của thời kỳ này nói riêng.
+ Về mặt thực tiễn
Đánh giá giá trị pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn góp phầnhoàn thiện pháp luật hiện hành Nhiều công trình đã đào sâu về nội dung của cổ luậtthừa kế nhà Lê, đánh giá những giá trị về cổ luật thừa kế nhà Lê và gợi mở việc kếthừa trong quá trình hoàn thiện pháp luật Một số công trình đã bước đầu nghiên cứu
về HVLL, về những giá trị của HVLL, bước đầu nghiên cứu về hệ thống pháp luậtdân sự nhà Nguyễn, đặc biệt là pháp luật thừa kế thời kỳ này Đây là những tư liệu
có ý nghĩa không chỉ về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn góp phầnvận dụng trong hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành
- Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến vận dụng pháp luật và vậndụng pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa
kế hiện hành cũng tạo thành một tập hợp gồm nhiều công trình Mặc dù đa số cáccông trình này không trực tiếp liên quan đến luận án nhưng nhóm công trình này đã
bổ trợ cho tác giả phương pháp tiếp cận lý luận về vận dụng pháp luật Ngoài ra,một số công trình liên quan đến đánh giá các giá trị của cổ luật thừa kế của các thời
kỳ này đã gợi mở cho tác giả những nội dung về kế thừa và vận dụng cổ luật nhà
Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành Các công trình nàycũng tồn tại ở nhiều dạng: đề tài nghiên cứu khoa học, sách, luận văn, luận án, tạpchí, bài báo, kỷ yếu hội thảo khoa học Các nhà khoa học có thể nghiên cứu về vậndụng pháp luật nói chung hoặc vận dụng các học thuyết chính trị pháp lý để hoànthiện pháp luật hoặc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn.Hoặc là những bài báo, đề tài nghiên cứu theo hướng rút ra những bài học kinhnghiệm từ những giá trị của cổ luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn gợi mở choviệc vận dụng để hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành Nguồn tư liệu trên hỗ trợcho tác giả luận án nghiên cứu các vấn đề như: cơ sở lý luận về vận dụng, khái niệm
và các nguyên tắc vận dụng; nghiên cứu quá trình vận dụng và đánh giá thực trạng
Trang 30vận dụng cổ luật thừa kế nhà Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ởViệt Nam; Nghiên cứu hệ thống các yêu cầu và giải pháp tiếp tục vận dụng cổ luậtthừa kế cho công tác hoàn thiện và áp dụng pháp luật thừa kế hiện nay
1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu của luận án
Với tổng quan công trình khoa học của các tác giả trong nước và nước ngoàinhư trên, tác giả cho rằng có nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu cả về phươngdiện lý luận và thực tiễn
* Về phương diện lý luận
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận về pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà
Nguyễn Trong nội dung này, luận án tập trung giải quyết được những vấn đề: quanniệm về pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn; các cơ sở tiền đề cho sựhình thành cổ luật thừa kế; khái quát được khái niệm thừa kế trong cổ luật, nghiêncứu nội dung các quy định của cổ luật thừa kế theo các thời kỳ khác nhau và theocác nhóm nghiên cứu
Hai là, nghiên cứu quan niệm về vận dụng và cơ sở lý luận về vận dụng pháp
luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ViệtNam Trong nội dung này, luận án luận giải sâu hơn về khái niệm, các nguyên tắcvận dụng giá trị trong nội dung của pháp luật thời kỳ này để tiếp tục xây dựng vàhoàn thiện pháp luật thừa kế Việt Nam hiện nay
Ba là, nghiên cứu những nhóm quan hệ pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà
Nguyễn: nhóm các quy định những vấn đề chung về thừa kế, nhóm các quy địnhđiều chỉnh quan hệ phát sinh giữa những chủ thể được hưởng thừa kế, nhóm cácquy định về các hình thức thừa kế, nhóm các quy định do Nhà nước thừa nhận vềhương ước và luật tục để giải quyết các quan hệ thừa kế
Bốn là, đánh giá những giá trị của cổ luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà
Nguyễn Không chỉ dừng lại ở việc đánh giá chuyên sâu các quy định của pháp luậtnhà nước về thừa kế mà luận án còn tiếp tục đánh giá khái quát các giá trị của nộidung này trong hương ước và luật tục được nhà Lê, nhà Nguyễn thừa nhận trong xãhội xưa Trên cơ sở đánh giá giá trị cổ luật thừa kế của hai triều đại này, luận ánphân tích cả mặt tích cực cần được vận dụng và cả những hạn chế là tàn dư cầnđược khắc phục và loại bỏ
Trang 31* Về phương diện thực tiễn
Một là, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng quá trình vận dụng pháp
luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay Luận ánđánh giá quá trình vận dụng này đã đạt được những thành tựu gì và đánh giá cảnhững bất cập, hạn chế của quá trình vận dụng ấy Luận án tiếp tục luận giải và chỉ
ra nguyên nhân của những bất cập, vướng mắc trong quá trình vận dụng
Hai là, trước yêu cầu tiếp tục đổi mới và hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt
Nam hiện nay, luận án chỉ rõ các yêu cầu và giải pháp trong việc tiếp tục vận dụngpháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn trong hoàn thiện pháp luật thừa kếhiện hành Vấn đề đặt ra trong nội dung này là cần nghiên cứu hệ thống các yêu cầuđảm bảo cho việc tiếp tục vận dụng cổ luật thừa kế của hai triều đại này trong điềukiện hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành Một nội dung quan trọng nữa cần chútrọng là nghiên cứu các nhóm giải pháp để đảm bảo tiếp tục vận dụng cổ luật thừa
kế trong hoàn thiện pháp luật hiện hành Không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu cácgiải pháp chung về lý luận, luận án còn nghiên cứu cụ thể các giá trị của cổ luậtthừa kế để tiếp tục góp ý sửa đổi bổ sung trực tiếp các điều luật trong chương thừa
kế của BLDS hiện hành
Kết luận chương 1
Qua sự tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên cho thấy vấn đề pháp luậtthừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn đã được các nhà nghiên cứu, các tác giả đề cậptương đối đầy đủ Song, nếu đặt các vấn đề đó một cách lôgíc, hệ thống trong một
tên đề tài: “Pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn và sự vận dụng trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam”, thì có thể nhận thấy các công trình đã
nghiên cứu phần nhiều chỉ mang tính cắt xén, hoặc chỉ nghiên cứu về cổ luật thừa
kế thời kỳ nhà Lê, hoặc chỉ nghiên cứu về cổ luật thời kỳ nhà Nguyễn Chưa cócông trình nào nghiên cứu về cổ luật thời kỳ nhà Nguyễn trong lĩnh vực thừa kế.Đáng lưu ý là, nghiên cứu cổ luật dưới phương diện vận dụng các giá trị của cổ luậttrong việc hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện hành đến nay vẫn là nội dung chưađược quan tâm đúng mức
Trang 32Có thể khẳng định rằng, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiêncứu một cách toàn diện, có hệ thống về cổ luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễncũng như đánh giá được những thành tựu tiến bộ và yếu tố vận dụng trong hoànthiện pháp luật dân sự hiện đại Chưa có công trình nào nghiên cứu quá trình vậndụng các giá trị này trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam Hơn nữa, đặtvấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền trong bối cảnh vẫn giữ gìn và phát huy giátrị truyền thống để xây dựng nền văn hóa pháp lý Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc thì đây là vấn đề càng cấp thiết Đó cũng là lý do tác giả chọn vấn đề
“Pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn và sự vận dụng trong hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ luật học.
Trang 33Chương 2 NHẬN THỨC CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THỪA KẾ
THỜI KỲ NHÀ LÊ, NHÀ NGUYỄN
2.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ CÁC TIỀN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT THỪA
KẾ THỜI KỲ NHÀ LÊ, NHÀ NGUYỄN
2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử
* Điều kiện kinh tế - xã hội và pháp luật thời kỳ Lê sơ (1428 - 1527)
Trong lịch sử phát triển các nhà nước phong kiến ở Việt Nam, thời Lê sơ (thế
kỷ thứ XV - thế kỷ XVIII) được đánh giá là thời kỳ phát triển hưng thịnh, đặc biệt làgiai đoạn khi vua Lê Thánh Tông (1442 - 1497) trị vì đất nước (1460 - 1497), một
vị vua anh minh, xuất chúng và mẫn tiệp
Những chuyển biến về kinh tế thời Trần mạt (nửa sau nhà Trần, tức 1300 1400) tạo tiền đề để nhà Lê xây dựng nền kinh tế ổn định, thịnh vượng hơn trước.Nhà Lê xóa bỏ chế độ ban cấp ruộng đất quy mô lớn thời Lý - Trần, thủ tiêu nềnkinh tế điền trang, thái ấp, phát triển nền kinh tế tiểu nông với chế độ sở hữu nhỏ vàvừa Thực hiện chủ trương này, Nhà nước Lê sơ đã tiến hành thực hiện các chínhsách về ruộng đất: chính sách lộc điền và phong thưởng ruộng đất công; chính sáchquân điền; chính sách đồn điền và khẩn hoang Ở thời kỳ này, bên cạnh chính sáchlộc điền, Nhà nước còn thi hành chính sách phân chia lại ruộng đất - gọi là phépquân điền nhưng thực chất là sự can thiệp của Nhà nước vào việc phân chia ruộngđất công của làng xã Để thi hành chế độ quân điền, nhà nước Lê sơ đã thực hiệntrên thực tế quyền sở hữu Nhà nước về ruộng đất, biến làng xã thành người quản lýđất đai của Nhà nước; đồng thời biến nông dân công xã thành tá điền của Nhà nước.Ngoài tính giai cấp, phép quân điền bảo đảm cho người nông dân, kể cả hạng cốcùng nhất - số ruộng tối thiểu để cày cấy sinh sống “Ý nghĩa tích cực chính của chế
-độ quân điền là đã góp phần phát triển kinh tế tiểu nông” [114, tr.120] Bên cạnhviệc thực thi chính sách lộc điền, chính sách quân điền, nhà Lê còn thực hiện chínhsách đồn điền và khẩn hoang nhằm mở mang diện tích đất nông nghiệp
Nền kinh tế và chế độ ruộng đất dưới thời kỳ này phát triển, đời sống ngườidân ấm no, đầy đủ Dân gian vẫn lưu truyền câu ca dao: “Đời vua Thái Tổ, Thái
Trang 34Tông / Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”; “Kì này lúa mọc xanh đồng / Giỗvua Thái Tổ, Thái Tông mưa rào” Người dân ngày càng nhiều của cải và đất đaitích lũy được, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển trong đó có các quan hệ vềthừa kế.
Trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng Theo quan điểm của một số nhà văn hóa
học, đến thời Lê sơ, quá trình giao lưu - tiếp thu (tiếp biến) giữa văn hóa bản địaViệt Nam với văn hóa Trung Hoa và văn hóa khu vực đã có thể coi là đạt đến đỉnhđiểm Pháp luật chịu ảnh hưởng của pháp luật Trung Hoa, văn hóa thời kỳ này
chuyển sang kiểu văn hóa Nho giáo Trong bối cảnh đó, các quan điểm “tôn quân
quyền”, “quân chủ thần quyền”, “chính danh”, “lễ trị”, “đức trị” được giai cấpphong kiến Đại Việt tiếp thu làm cơ sở tư tưởng chính trị pháp lý của giai cấp mình
Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, khi khảo cứu các sử liệu, có thể nhận thấy,nhân dân và các vua triều Lê sơ vẫn luôn chú trọng giữ gìn và phát triển văn hóabản địa Bên cạnh việc tiếp biến văn hóa Trung Hoa, triều Lê sơ vẫn phát huy tinhthần độc lập, tự chủ trong việc khuyến khích sự phát triển giá trị truyền thống củadân tộc Việt trong đó có các tục lệ về thừa kế
Không nghi ngờ gì thời Lê sơ mà tập trung là giai đoạn Lê Thánh Tôngtrị vì, chế độ phong kiến nhà nước quan liêu đã đạt tới sự ổn định, kỷcương và thịnh trị thường vẫn được coi vào bậc nhất trong chế độ phongkiến Việt Nam Thế kỷ XV như là thế kỷ cổ điển của chế độ nhà nướcquân chủ phong kiến quan liêu [126, tr.32]
- Tình hình pháp luật thời Lê sơ
Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật là một quá trình pháp điển hóa liêntục được bắt đầu từ đời vua Lê Thái Tổ đến đời vua Lê Cung Hoành và đỉnh cao làdưới thời vua Lê Thánh Tông Đầu năm 1428, khi còn ở dinh Bồ Đề, Bình ĐịnhVương đã “bàn định pháp lệnh cai trị quân dân” và đưa ra yêu cầu xây dựng phápluật: “Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn”
[89, tr.27] Dưới thời vua Lê Thái Tông (1423-1442) những chỉ dẫn trong Hồng Đức thiện chính thư với Quốc triều hình luật cho thấy có 5 điều khoản đã được Lê
Thái Tông bổ sung vào Bộ luật Ngoài ra, ông đã cho đưa thêm vào Bộ luật nộidung điều khoản phù hợp với lệnh chỉ năm 1434 và một số Chỉ Dụ của ông năm
Trang 351437 Vua Lê Nhân Tông (1443 - 145), năm 1449 bổ sung thêm 14 điều luật vềquyền tư hữu ruộng đất và nguyên tắc xét xử những tranh chấp về ruộng đất màtheo Phan Huy Chú, “từ đó về sau các vụ tranh kiện về phân chia tài sản trong dân
gian mới có tiêu chuẩn” [25, tr.29] Đó là Chương Điền sản của Bộ luật thời Lê sơ.
Vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) - vị vua của triều Lê sơ đã có những đónggóp lớn lao để hoàn thiện pháp luật triều Lê, đặc biệt là bộ QTHL Phần lớn các luật lệban hành dưới triều vua Thái Tông được tập hợp trong hai tập tư liệu về pháp luật là
Thiên Nam dư hạ tập và Hồng Đức thiện chính thư Theo chính sử, Thiên Nam dư hạ tập là bộ sách được biên soạn vào năm 1483 gồm có 100 quyển Hiện nay chỉ còn 4,5
quyển trong đó có quyển ghi chép lại một số luật lệnh với niên hiệu Quang Thuận và
Hồng Đức Khi so sánh từng điều khoản trong Thiên nam dư hạ tập với QTHL cho
thấy có 41 điều khoản đã được Thánh Tông đưa thêm vào Bộ luật Tiếp tục so sánh
từng điều khoản trong Hồng Đức thiện chính thư với QTHL cho thấy có 42 điều
khoản đã được đưa vào QTHL Trên cơ sở tổng hợp và hệ thống hóa toàn bộ các điềuluật đã ban hành trong thời Lê sơ và bổ sung thêm, vua Lê Thánh Tông đã tập hợp,
xây dựng thành một Bộ luật hoàn chỉnh thường gọi là Luật Hồng Đức hay Quốc triều hình luật.
Riêng đối với các quy định về thừa kế, QTHL cũng đã có những quy định chặtchẽ, đặc biệt là các điều luật về hương hỏa hoàn toàn mang bản sắc dân tộc Việt (quyđịnh từ Điều 388 đến Điều 400 QTHL) Theo nhận định của GS Vũ Văn Mẫu:
So với luật nhà Đường, Quốc triều hình luật nhà Lê ngay cách sắp xếp,
bố cục cũng không giống nhau, nhưng điều quan trọng là về nội dung,trong Bộ luật nhà Lê đã có rất nhiều điều tân kỳ, chưa hề được ban hànhbao giờ ở Trung Hoa Những điều luật ấy rải rác khắp trong Bộ Hình luậtnhà Lê, nhất là trong hai chương Hộ hôn và Điền sản Hai chương nàylà một sự tân kỳ mới mẻ [51, tr.89]
Nhìn chung pháp luật thế kỉ XV - XVIII không những đồ sộ về khối lượng
mà còn phong phú về hình thức văn bản và đa dạng về lĩnh vực điều chỉnh Nhữngthành tựu lập pháp trong thời kỳ này được xây dựng trên nền tảng kinh tế - xã hộithịnh trị của phong kiến Việt Nam, nhất là ở thời kỳ Lê sơ mà đỉnh cao là thời kỳ LêThánh Tông đã trở thành mẫu mực, các triều đại trước đó chưa hề đạt tới, triều đạisau cũng khó có thể vượt qua và phải lấy đó để noi theo
Trang 36* Điều kiện kinh tế - xã hội và pháp luật thời Nguyễn (giai đoạn độc lập tự chủ) (1802 - 1858)
Trong nhận định và đánh giá về các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn(thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX) vẫn còn có những khác biệt giữa các nhà nghiên cứu
và còn nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, thảo luận Tuy nhiên, tác giảthống nhất với nhận định của GS Phan Huy Lê:
Mẫu số chung của những công trình nghiên cứu vẫn thống nhất phải khaithác những nguồn tư liệu phong phú, phân tích và xử lý một cách khoahọc để nâng cao nhận thức về thời kỳ này một cách khách quan, trả lạicác giá trị đích thực cho các triều vua chúa, các nhân vật lịch sử, nêu caonhững cống hiến tích cực, đồng thời phân tích cả những mặt hạn chế, tiêucực [111, tr.373]
Các nguồn tư liệu và kết quả nghiên cứu cho đến nay đã tạo lập một cơ sởkhoa học vững chắc để các nhà khoa học trên các lĩnh vực lịch sử và pháp luật cùngnhau nhìn nhận và đánh giá một cách công bằng đối với những thành tựu về kinh tế
- xã hội và pháp luật vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX, phântích một cách khách quan mặt tích cực và cả mặt hạn chế, mặt mạnh và cả mặt yếu
Trên cơ sở phương pháp tiếp cận nêu trên, luận án đưa ra những đánh giákhách quan về điều kiện kinh tế - xã hội và pháp luật triều Nguyễn
- Về điều kiện kinh tế - xã hội
Thời phát triển của vương triều bao gồm các đời vua Gia Long (1802 1820), Minh Mạng (1820 - 1841) và Thiệu Trị (1841 - 1847), tức khoảng nửa đầuthế kỷ XIX, thời thịnh đạt nhất là dưới triều vua Minh Mạng Nước Việt Nam, quốchiệu đặt năm 1804, và Đại Nam năm 1838, là một quốc gia thống nhất trên lãnh thổrộng lớn gần như tương ứng với lãnh thổ Việt Nam hiện nay, bao gồm cả ĐàngTrong và Đàng Ngoài cũ
-Về mặt kinh tế, Nhà nước vẫn duy trì phương thức sản xuất phong kiến trên
cơ sở chế độ sở hữu tư nhân như dưới triều Lê sơ và ngày càng mở rộng; có chínhsách tích cực trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt là việc quản lý và mở rộng đấtđai (nhiều nhất là quai đê, lấn biển lập làng) Nông nghiệp vẫn chú trọng, nhưngcông thương nghiệp vẫn bị hạn chế nhiều Dưới triều Nguyễn, đánh dấu sự phát
Trang 37triển mạnh mẽ của chế độ sở hữu và chiếm hữu tư nhân về ruộng đất Xu hướngchung đối với ruộng đất công làng xã là ngày càng thu hẹp để nhường chỗ cho chế
độ ruộng đất tư hữu ngày càng phát triển Đây cũng là tiền đề cho sự phát triển củapháp luật dân sự nhất là sự bức thiết ra đời của pháp luật thừa kế xuất phát từ nhucầu thừa kế đất đai của tư nhân Song song với chính sách thừa nhận tư hữu đất đai,nhà Nguyễn cũng có các chính sách bảo vệ ruộng đất công làng xã như ban hànhchính sách quân điền (năm 1804 dưới thời vua Gia Long và năm 1839 dưới thời vuaMinh Mạng)
Các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận một số thành tựu khai hoang, thủy lợi,phát triển nông nghiệp thời Nguyễn, nhất là vùng đồng bằng Nam Bộ và vùng đồngbằng ven biển Bắc Bộ Hệ thống giao thông thủy bộ phát triển mạnh, nhất là hệthống kênh đào ở Nam Bộ và hệ thống đường dịch trạm nối liền kinh đô Huế vớicác trấn, tỉnh thành trên cả nước Các trạm dịch được tổ chức rất chặt chẽ với nhữngquy định về thời hạn chuyển văn thư phân làm ba loại: tối khẩn, khẩn, thường Thí
dụ loại “tối khẩn”, từ kinh đô Huế vào đến Gia Định là 9 ngày, ra đến Hà Nội là 4ngày 6 giờ
Về mặt xã hội, Nhà nước vẫn chú trọng và duy trì chế độ học hành, thi cử để
tuyển dụng quan lại, tiếp tục đề cao Nho giáo, quan tâm và khuyến khích sự pháttriển của các loại hình văn hóa dân tộc khác như văn học, sử học, nghệ thuật triềuNguyễn cũng lập Quốc Tử Giám, mở khoa thi Hương và thi Hội để đào tạo nhân tài
Từ khoa thi Hội đầu tiên năm 1822 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, triều Nguyễn
tổ chức được 39 khoa thi Hội, lấy đỗ 292 Tiến sĩ và 266 Phó bảng, cộng 558 người.Khu Văn Miếu tại kinh đô Huế còn lưu giữ 32 tấm bia Tiến sĩ thời Nguyễn Côngviệc biên soạn quốc sử, các bộ chính sử của vương triều, các bộ tùng thư và địa chíđược đặc biệt quan tâm và để lại một di sản rất đồ sộ “Có thể nói, trong thời quânchủ, chưa có Quốc Sử Quán của vương triều nào hoạt động có hiệu quả và để lạinhiều công trình biên soạn đến như thế” [42, tr.376]
Những cống hiến tích cực của vương triều Nguyễn đã được nhìn nhận vàđánh giá lại một cách khách quan, công bằng Nhưng bên cạnh đó cũng cần nhìnnhận những hạn chế về kinh tế - xã hội thời kỳ này
Trang 38- Những năm đầu nắm chính quyền, vua Gia Long đã cho thi hành chính sách
hà khắc, mở rộng phạm vi trừng trị hình sự, củng cố sự bất bình đẳng xã hội và khôngquan tâm nhiều đến chính sách xã hội, bảo đảm đời sống cho người dân Đây cũng lànguyên nhân pháp luật dân sự ít được đề cập đến ở triều vua Gia Long, là sự thiếu sótban đầu trong chính sách dân luật nhất là pháp luật thừa kế của thời nhà Nguyễn
- Vương triều Nguyễn dù ban hành nhiều chính sách khẩn hoang tích cực, kể
cả một số chính sách giảm nhẹ tô thuế, nhưng xã hội thời Nguyễn không ổn định.Trong gần như suốt thời Nguyễn, khởi nghĩa nông dân nổ ra triền miên và triềuNguyễn không thể nào giải quyết nổi
- Từ triều Tự Đức (1848 - 1883), vương triều Nguyễn càng ngày càng bộc lộnhiều hạn chế, bất cập, làm cho thế nước ngày càng suy yếu và cuối cùng thất bại
trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
Những vấn đề về chính trị, kinh tế, xã hội xét cả trên phương diện thành tựu
và hạn chế đều là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá khách quan về nền pháp luật(nhất là pháp luật thừa kế) thời kỳ nhà Nguyễn
- Tình hình pháp luật thời nhà Nguyễn (giai đoạn độc lập tự chủ).
Thành tựu lập pháp của giai đoạn này tập trung ở Bộ HVLL (ban hành dướitriều Gia Long), bộ Quốc triều tân luật (ban hành dưới triều Minh Mạng) và hệthống các văn bản pháp luật bổ khuyết cho hai Bộ luật chính (các đạo, chỉ, dụ…)
+ Về Bộ HVLL dưới triều Gia Long
Sau khi lên ngôi năm 1802, Vua Gia Long đã ra Chỉ Dụ cho các quan đạithần tham chước lại luật Hồng Đức và luật Đại Thanh để soạn một bộ luật thíchhợp Năm 1812, bộ HVLL (còn gọi là Bộ luật Gia Long) được ban hành và năm
1815 được in thành sách để phân phát cho các quan cai trị.
Về mặt nội dung, bộ HVLL gồm có 398 điều chia làm 22 quyển, các điềuđược phân theo chức năng quản lý của 6 Bộ ở cấp Trung ương Trong HVLL, cácquy định về dân sự đặc biệt là các quy định về thừa kế chiếm một tỷ lệ rất nhỏ,nhiều vấn đề dân sự không được ghi nhận và thiếu những quy định cụ thể, tính chấthướng dẫn trong các quy phạm rất hạn chế, chủ yếu là những cấm đoán, vì vậy khivận dụng và áp dụng chắc chắn không tránh khỏi việc thiếu sót và tùy tiện Trong
quyển 6, 7, 8 HVLL gồm 66 điều luật Hộ Tuy nhiên trong đó chỉ có 10 điều về
Trang 39ruộng, nhà, 16 điều về hôn nhân, 3 điều về vay nợ là thuộc sự điều chỉnh của phápluật dân sự Điều đáng chú ý là trong HVLL chỉ có duy nhất 1 điều lệ quy định vềlập đích tử (lập con thừa tự), ngoài ra hầu như không đề cập đến vấn đề về hươnghỏa, chế độ tài sản của vợ chồng, thừa kế, khế ước mà chỉ chú ý đến vấn đề thuế
ruộng, thuế thân
Hoàng Việt luật lệ là sản phẩm lập pháp dưới triều Gia Long - triều đại đầutiên của vương triều Nguyễn - ra đời trong bối cảnh chính trị hết sức phức tạp.Trong những năm đầu nắm quyền thống trị, đất nước không ổn định sau thời giannội chiến kéo dài, mối quan hệ nặng về thù hận với những người lãnh đạo củaphong trào Tây Sơn nhất là nghĩa quân Tây Sơn vẫn còn rải rác trong nhân dân,phạm vi biên giới mở rộng không tránh khỏi sự dòm ngó của phong kiến phươngBắc, sự tác động mạnh mẽ của Chủ Nghĩa Tư Bản phương Tây Chính trong hoàncảnh chính trị đặc biệt này nên HVLL tất nhiên ra đời nhằm giải quyết các vấn đềtrước mắt của xã hội đương thời nên nặng về hình luật Tình hình đất nước chưa ổnđịnh nên vua Gia Long chưa thể tập trung phong tục các quan hệ dân sự, trong đó cóquan hệ về thừa kế mà chỉ chủ yếu giải quyết vấn đề cấp thiết về ruộng đất Nhưvậy, sẽ là khập khiễng khi các nhà nghiên cứu đặt HVLL (ra đời trong bối cảnhchính trị - xã hội đang nhiều biến động) của triều Nguyễn để so sánh với QTHL (rađời trong giai đoạn thịnh vượng của nhà nước phong kiến) dưới triều Lê sơ Đâycũng là nguyên nhân khiến cho ban đầu dưới triều Nguyễn, trong HVLL còn nhiềuthiếu sót về mặt pháp luật nhất là thiếu sót về các chế định dân luật và thừa kế
+ Bộ Quốc triều tân luật dưới triều Minh Mạng
Nghiên cứu nền pháp luật nhà Nguyễn giai đoạn độc lập tự chủ không chỉ tậptrung nghiên cứu mỗi HVLL dưới triều Gia Long mà còn phải mở rộng phạm vikhảo cứu các văn bản pháp luật của các triều đại sau Gia Long, nhất là dưới thờiMinh Mạng (1820 - 1841), Thiệu Trị (1841 - 1847) và Tự Đức (1848 - 1883), trong
đó pháp luật nhà Nguyễn dưới thời Minh Mạng được xem là phát triển rực rỡ tronggiai đoạn thịnh đạt nhất triều Nguyễn Khảo cứu các tài liệu về cổ luật thời kỳ nhàNguyễn, nhận thấy thật ra ngoài HVLL ban hành dưới triều Gia Long, vua Minh
Mạng trong thời gian trị vì còn ban hành bộ Quốc triều tân luật Trong bộ luật thứ
hai dưới triều Nguyễn này, vua Minh Mạng đã chủ yếu bổ khuyết các vấn đề dân
Trang 40luật và về thừa kế, hương hỏa nghiên cứu một số chế định cho thấy nội dung
Quốc triều tân luật gần với QTHL triều Lê sơ Chắc chắn rằng Minh Mạng đã kế thừa các giá trị tiến bộ của triều Lê sơ để hoàn thiện Quốc triều tân luật Đáng tiếc
là bộ Quốc triều tân luật hiện nay vẫn đang ở nguyên mộc bản - chữ Hán chưa được
dịch ra chữ quốc ngữ vì vậy chưa được lưu hành rộng rãi trong giới nghiên cứu
+ Hệ thống các văn bản dưới luật, bổ khuyết cho các Bộ luật chính
Để bổ khuyết cho 2 Bộ luật chính này, nhà Nguyễn còn ban hành rất nhiềucác văn bản pháp luật khác như Chiếu, Chỉ và đặc biệt là Đạo, Dụ của các Vua Đạo
dụ năm Thiệu Trị thứ tư (1844) bổ sung cho Điều 83 HVLL điều chỉnh các vấn đề
di sản của người vô tự Đạo dụ năm Gia Long thứ ba (1805) và Đạo dụ năm Tự Đứcthứ tám (1855) quy định về hôn nhân Các Đạo dụ và Chỉ dụ này đầu tiên được chép
trong Minh Mạng luật đại lược, Hoàng triều khai định luật lệ và Chấn chỉnh hương phong Nội dung của Hoàng triều khai định luật lệ và Chấn chỉnh hương phong
chép gần giống nhau và bổ sung cho nhau “Điều chú ý là có thể thấy trong hai bảnvăn đó có một số điều luật hộ, hoặc không thấy hoặc có nội dung khác với nhữngđiều luật hộ trong bộ Luật Gia Long Trừ vài điểm thuộc thời Minh Mạng (năm thứ 6)còn hầu hết đều thuộc năm đầu thời Thiệu Trị” [9, tr.71] Và “ cách giải quyết cácquan hệ dân sự trong Hoàng triều khai định luật lệ và Chấn chỉnh hương phong dướithời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức không khác gì pháp luật triều Lê sơ” [9, tr.73]
Từ các luận giải trên đi đến kết luận, pháp luật thời kỳ nhà Nguyễn giai đoạnđộc lập cũng là một nền pháp luật tương đối hoàn bị, vẫn phản ánh tinh thần độc lập
tự chủ, trên cơ sở tiếp thu tinh hoa pháp luật Trung Hoa và kế thừa cổ luật nhà Lê
2.1.2 Tiền đề xác lập pháp luật thừa kế thời kỳ nhà Lê, nhà Nguyễn
* Tiền đề thứ nhất: Quyền thừa kế được xác lập trên cơ sở điều kiện kinh tế của nền sản xuất nông, công và thương nghiệp.
Nhà Lê, nhà Nguyễn với trạng thái kinh tế phổ biến nhất là nông nghiệp;ruộng đất trở thành tư liệu sản xuất quan trọng, quý giá nhất và là tài sản giá trị nhấttrong khối di sản thừa kế của người dân Cả 2 thời kỳ này đã có những chính sáchhợp lý để khuyến khích người dân tích cực trong hoạt động sản xuất nông nghiệp vìbản thân họ được sở hữu đất đai và được hưởng lợi từ những chính sách ruộng đấtcủa Nhà nước Theo đó, “Nhà nước không chỉ thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất