Để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng tháng 6 năm 1996 chỉ rõ: Xây dựng g
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
LUẬT CÔNG ĐOÀN
Biên soạn: Thạc sĩ Diệp Thành Nguyên
Lưu hành nội bộ Năm 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời giới thiệu .2
Bài 1: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam .3
Bài 2: Tổng quan về lịch sử ra đời và chức năng của Công đoàn Việt Nam .7
Bài 3: Hệ thống tổ chức Công đoàn và tài chính Công đoàn .24
Bài 4: Đoàn viên, cán bộ công đoàn và đại hội công đoàn các cấp .31
Bài 5: Nhiệm vụ và quyền hạn của Công đoàn các cấp .38
Bài 6: Vai trò của Công đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong các doanh nghiệp 52
Bài 7: Công đoàn với công tác vận động lao động nữ .59
Bài 8: Công tác đối ngoại và đổi mới hoạt động Công đoàn trong giai đoạn hiện nay .66
Danh mục tài liệu tham khảo 74
Trang 32
LỜI GIỚI THIỆU
Luật Công đoàn là môn học trong chương trình đào tạo Cử nhân Luật của Khoa Luật – Đại học Cần Thơ
Giáo trình Luật Công đoàn được biên soạn nhằm mục đích giảng dạy và học tập môn học Luật Công đoàn, bên cạnh đó đây còn là tài liệu để cán bộ công đoàn các ngành, các cấp và người lao động tham khảo vận dụng vào thực tiễn hoạt động của tổ chức công đoàn, nghiệp đoàn
Họat động công đoàn đã và đang được đổi mới phù hợp với chủ trương,
đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và tổ chức Công đoàn, do vậy, yêu cầu
xây dựng được giáo trình thật hoàn thiện là điều rất khó Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy, giáo trình sẽ được tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh để đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn Việt Nam
Trong quá trình biên soạn có thể còn nhiều khiếm khuyết nhất định, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc
Tác giả Thạc sĩ Diệp Thành Nguyên Giảng viên Khoa Luật – Đại học Cần Thơ
Trang 4Bài 1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ XÂY DỰNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là động lực chính của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, cơ sở xã hội chủ yếu của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay Đặc biệt hiện nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vai trò của giai cấp công nhân hết sức quan trọng Đó là yêu cầu khách quan đối với giai cấp công nhân, nhằm bảo
đảm cho giai cấp công nhân đảm đương là vị trí trung tâm của cách mạng trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh nhằm đáp ứng yêu
cầu cách mạng trong giai đoạn mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng (tháng 6 năm 1996) chỉ rõ: Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh về mọi
mặt, phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, nâng cao trình độ học vấn và tay nghề, có năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, có tác phong công nghiệp
và ý thức tổ chức kỷ luật, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao làm nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức
và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
1 Giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng và đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Vào giữa thế kỷ XIX, trên cơ sở phân tích sâu sắc nền kinh tế đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã rút ra kết luận khoa học: Giai cấp công nhân là người lãnh đạo cách mạng thủ tiêu xã hội tư bản chủ nghĩa và xây dựng thành công
xã hội XHCN
Là đại biểu cho phương thức sản xuất mới và lại là giai cấp tiên tiến, cách mạng nhất trong xã hội, giai cấp công nhân Việt Nam đảm nhận trọng trách lãnh
đạo cách mạng, xây dựng một xã hội mới dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh
Tuy chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số, nhưng giai cấp công nhân Việt Nam vẫn
có đầy đủ điều kiện để lãnh đạo cách mạng và trong thực tế đã giữ vai trò ấy một cách xuất sắc
Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế (tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới, triệt để cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật cao), giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như trưởng thành trước giai cấp
tư sản dân tộc, ra đời khi có sự khai thác đầu tiên của thực dân Pháp trên đất nước
Trang 54
ta và gắn liền với nền kinh tế đó, có mối liên hệ tự nhiên, mật thiết với nông dân, sớm có Đảng trung thành với học thuyết Mác – Lênin lãnh đạo cho nên không bị chia rẽ về tư tưởng và tổ chức, đảm bảo cho vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân nước ta
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN hiện nay giai cấp công nhân không chỉ là giai cấp lãnh đạo mà còn là lực lượng quan trọng đi đầu và trực tiếp tham gia quá trình chuyển đổi từ nền sản xuất thủ công nghiệp sang nền sản xuất có công nghệ hiện đại Bởi vậy phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải đồng thời với việc phát huy vai trò lãnh đạo và nòng cốt của giai cấp công nhân
2 Giai cấp công nhân là nền tảng của liên minh công – nông – trí thức và của khối đại đoàn kết dân tộc
Xuất phát từ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta coi liên minh công – nông – trí thức là một vấn đề chiến lược, là một điều kiện đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Nông dân lao động nước ta là lực lượng cách mạng rất đông đảo, nhưng giai cấp nông dân phải đi cùng với giai cấp công nhân và chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thì mới có thể tự giải phóng và mới đi lên CNXH được Mặt khác, giai cấp công nhân đánh giá đầy đủ vai trò cách mạng to lớn của nông dân lao động, luôn coi họ là người bạn đồng minh tự nhiên đáng tin cậy, cùng đoàn kết, giáo dục
và lãnh đạo họ làm cách mạng
Trong xây dựng đất nước, giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức tạo thành nòng cốt của khối đoàn kết toàn dân tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất
Trong liên minh công – nông – trí thức, giai cấp công nhân giữ vị trí trung tâm để phát triển các mối quan hệ liên minh vững chắc về kinh tế và chính trị với nông dân; thúc đẩy giao lưu hàng hóa giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn, từng bước công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, mở rộng thành phần công nhân trong lao động nông nghiệp Giai cấp công nhân vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, đồng thời động viên đội ngũ trí thức
đem hết tâm huyết và tài năng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, xây dựng xã hội mới
3 Giai cấp công nhân là cơ sở chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước
Mỗi chính đảng đều có cơ sở chính trị - xã hội của mình, đó trước hết là lực lượng chính trị - xã hội mà chính đảng đó đại biểu Điều quan trọng là lực lượng chính trị - xã hội đó giữ vai trò như thế nào trong quy luật phát triển xã hội, đối với các giai cấp, đội ngũ cũng như cộng đồng xã hội
Trang 6Trong thời đại ngày nay, giai cấp công nhân là lực lượng trung tâm của thời
đại, giai cấp công nhân là lực lượng chính trị - xã hội quyết định chiều hướng phát
triển xã hội, theo quy luật phát triển của nhân loại
Cơ sở chính trị - xã hội của Đảng là giai cấp công nhân cũng có nghĩa Đảng cộng sản vừa là sản phẩm, vừa là đội tiên phong, là bộ phận tiên tiến nhất của giai cấp công nhân Mặt khác, giai cấp công nhân với đội tiên phong của nó là Đảng cộng sản còn có một cơ sở chính trị - xã hội nữa là quốc gia, dân tộc, Tổ quốc
Giai cấp công nhân có nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ chính quyền Nhà nước của mình, gương mẫu chấp hành mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước, không ngừng phấn đấu tăng năng suất lao động, tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng, góp phần vào việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
4 Xây dựng giai cấp công nhân gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, chỉ trở thành giai cấp lãnh đạo khi giác ngộ sâu sắc về sứ mệnh lịch sử của giai cấp và chỉ khi giai cấp công nhân được tổ chức chặt chẽ, được dẫn dắt bởi một Đảng tiên phong trong sạch, vững mạnh
Xây dựng giai cấp công nhân gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tầm nhìn sâu rộng, tổ chức chặt chẽ nghiêm minh, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo giỏi, có khả năng đề ra và chỉ đạo thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, giữ vững ổn định chính trị, xã hội,
tranh thủ thời cơ, đẩy mạnh phát triển kinh tế, đưa đất nước vượt qua mọi thử thách
Để làm cho Đảng trong sạch, Đảng cần loại bỏ những phần tử thoái hóa biến
chất, Đảng kết nạp những quần chúng ưu tú từ phong trào quần chúng vào tổ chức
Đảng
5 Chú trọng tạo động lực cho giai cấp công nhân vươn lên đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, không ngừng phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Động lực trực tiếp đối với công nhân là những lợi ích thiết thực về việc làm
và các yêu cầu về văn hóa, xã hội Đảng, Nhà nước, Công đoàn cần quan tâm thường xuyên và có những giải pháp cụ thể khắc phục hiện tượng thiếu việc làm, thu nhập thấp, ít được hưởng thụ văn hóa của công nhân
Trong giai đoạn mới, để nâng cao chất lượng giai cấp công nhân, điều trước hết là phải tổ chức tốt việc đào tạo nâng cao trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp, khả năng tiếp cận với công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến Đồng thời nâng cao giác ngộ giai cấp, bồi dưỡng truyền thống yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, ý
Trang 76
thức trách nhiệm cho công nhân, tạo thêm việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, thực hiện đúng pháp luật lao động, xây dựng cơ chế bảo đảm quyền của công dân trong từng doanh nghiệp, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa của công nhân, đẩy mạnh thi đua xây dựng nếp sống văn hóa trong công nhân, lao động
6 Xây dựng giai cấp công nhân là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng trong thời kỳ phát triển mới
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng giai cấp công nhân
là một điều kiện quyết định cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của giai cấp công nhân trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời gắn chặt hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng với công nhân lao động
Toàn thể Đảng viên có trách nhiệm xây dựng giai cấp công nhân và đẩy mạnh phong trào công nhân, xây dựng tổ chức công đoàn – tổ chức chính trị-xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, tích cực tham gia sinh hoạt công đoàn, gương mẫu thực hiện công tác công đoàn, thể hiện vai trò, trách nhiệm vận động công nhân của
Công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng lãnh đạo tổ chức Công
đoàn nhằm phát huy vai trò của Công đoàn Công đoàn là sợi dây chuyền nối liền Đảng với quần chúng công nhân, lao động Công đoàn là chỗ dựa, là người cộng
tác của Nhà nước
Công đoàn có nhiệm vụ vận động, tổ chức, tập hợp, giáo dục và xây dựng
đội ngũ công nhân, lao động thành lực lượng cách mạng thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Những quan điểm trên đây của Đảng là những định hướng lớn cho công tác vận động, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn trong giai đoạn hiện nay
Trang 8Bài 2 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ RA ĐỜI
VÀ CHỨC NĂNG CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
1 Tổng quan về lịch sử ra đời của Công đoàn
1.1 Lịch sử ra đời và sự phát triển của Công đoàn trên thế giới
Giữa thế kỷ 18, cuộc Cách mạng công nghiệp đã diễn ra ở Anh, sau đó tiếp tục ở nhiều nước khác Cuộc cách mạng này bắt đầu từ việc phát minh và sử dụng các máy kéo sợi, máy dệt và đặc biệt là máy hơi nước cùng các máy móc khác, chuyển lao động bằng tay sang lao động bằng máy đưa năng suất lao động lên cao chưa từng thấy
Từ cuộc cách mạng công nghiệp, giai cấp công nhân và giai cấp tư sản đã ra
đời Hai giai cấp này đối lập nhau về quyền lợi Do bị bóc lột tàn tệ, giai cấp công
nhân đã đấu tranh chống giai cấp tư sản từ lẻ tẻ, rời rạc, tự phát dần dần thành cuộc
đấu tranh của cả một phân xưởng, một nhà máy, một ngành, một địa phương Trong đấu tranh, công nhân nhận thấy cần tập hợp lực lượng, thống nhất hành động mới
bảo vệ được quyền lợi của mình Do đó đã hình thành một tổ chức để đáp ứng yêu cầu ấy- đó là Công đoàn
Vậy nguyên nhân chủ yếu công đoàn ra đời là vì quan hệ lao động do mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ thợ và để tập hợp bảo vệ quyền lợi của công nhân, công đoàn ra đời là tất yếu khách quan Công đoàn ra đời đầu tiên ở Anh vào đầu năm 1776, Pháp năm 1789, Mỹ năm 1827, Đức năm 1848
Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác, phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng được củng cố Để truyền bá Chủ nghĩa Mác vào sâu rộng trong giai cấp công nhân, Mác và Ăng-gen đã đứng ra thành lập Hội Liên hiệp Lao động quốc tế (tức Quốc tế thứ nhất) vào ngày 28-9-1864 ở Luân Đôn Quốc tế thứ nhất đồng thời làm nhiệm vụ Quốc tế công đoàn, vạch ra cương lĩnh cơ bản và tích cực đấu tranh cho các yêu cầu cụ thể của công đoàn
Phong trào đấu tranh của công nhân và công đoàn ngày càng diễn ra mạnh
mẽ, đặc biệt là sau Quốc tế II được thành lập ngày 14-5-1889 và trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ I Thắng lợi Cách mạng tháng 10 Nga 1917 đã làm vang dội thế giới, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga, thành lập nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, phong trào công đoàn thế giới bước sang giai đoạn mới
Trong thời kỳ này, công đoàn Xô Viết có một vị trí cực kỳ quan trọng trong tổ chức công đoàn quốc tế Từ sự thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga, phong trào
Trang 98
công nhân và công đoàn đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước khác trên thế giới như
Ý, Hung-ra-ri Sự ra đời của quốc tế III (1919) và Công hội Đỏ (RILU) năm 1921
đã đánh dấu một bước tiến mới của công đoàn thế giới
Chiến tranh thế giới lần II kết thúc, hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa ra đời thể hiện sự cân bằng lực lượng giữa Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa tư bản Bấy giờ, tổ chức công đoàn đã tích cực tham gia quản lý kinh tế -xã hội Trong thời kỳ này, nhiều tổ chức công đoàn ra đời, tiêu biểu nhất là Liên hiệp công đoàn thế giới tháng 10-1945 (Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này từ năm 1949); Liên hiệp Quốc tế các công đoàn tự do (1949) Những tổ chức công đoàn mang tính quốc tế này vẫn tồn tại cho đến ngày nay
Tuy nhiên, vào thập kỷ cuối của thế kỷ 20, khi chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào công đoàn thế giới đã có những khủng hoảng về kinh nghiệm, mô hình tổ chức, nội dung và phương pháp hoạt
động Ở các nước Xã hội chủ nghĩa còn lại như Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba,
Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, công đoàn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền đang tiến hành đổi mới để phù hợp với tình hình mới
Hiện nay, trong cơ chế thị trường đang diễn ra sôi động trên phạm vi toàn thế giới, các tập đoàn tài chính quốc tế, các công ty đa quốc gia đã áp dụng chính sách
đầu tư linh hoạt và phương pháp quản lý mềm dẻo, tăng cường bóc lột công nhân
Thêm vào đó là tình hình việc làm của công nhân và người lao động trên thế giới
đang trở thành vấn đề lớn.Vì vậy, công đoàn thế giới cần phải đổi mới, kiện toàn tổ
chức công đoàn, phải phấn đấu vươn lên không ngừng vì sự nghiệp hoà bình thế giới, ổn định kinh tế xã hội và bảo vệ người lao động
Trải qua một thời gian dài phát triển, nhiều tổ chức công đoàn ở các quốc gia
đã có đủ điều kiện nhận thức và kinh nghiệm xây dựng tổ chức công đoàn, vai trò
và vị trí công đoàn ngày càng được khẳng định Nhiều tổ chức công đoàn đã đứng
ra đấu tranh đòi dân chủ, công bằng xã hội, đưa ra nhiều kiến nghị đòi tăng tiền lương, giảm giờ làm, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động Từ khi ra đời cho đến nay, tổ chức công đoàn đã có nhiều đóng góp đáng kể cho tiến trình cách mạng thế giới Ngày nay, công đoàn đã trở thành một tổ chức quan trọng trong hệ thống chính trị của nhiều quốc gia
1.2 Lịch sử ra đời và sự phát triển của Công đoàn ở Việt Nam
Sau Đại chiến thế giới lần thứ I, thực dân Pháp tiến hành ồ ạt đợt khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) ở nước ta Đây là lúc giai cấp công nhân Việt Nam tăng nhanh về số lượng và chuyển biến mau lẹ về chất lượng Đến cuối năm 1929,
số công nhân chuyên nghiệp đã lên tới 22.000 người với cơ cấu thuần nhất, sống tập trung và phân bố đều trên địa bàn kinh tế cả nước
Trang 10Ảnh hưởng từ Cách mạng tháng 10 Nga và sau đó đặc biệt là với sự truyền bá
Chủ nghĩa Mác - Lênin của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phong trào công nhân Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, hoàn thành bước chuyển biến từ tự phát sang
tự giác, từ đó, sự hình thành và phát triển của tổ chức công đoàn Việt Nam gắn chặt với cuộc vận động thành lập Đảng Có thể nói, từ khi Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội được thành lập (tháng 6-1925) đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) cũng là lúc xuất hiện các tổ chức công đoàn đầu tiên trong lịch sử phong trào công nhân nước ta Các cuộc bãi công từ 1925 đã thể hiện rõ nét
ý thức giai cấp, mục đích chính trị của cuộc tranh đấu Từ những tổ chức tương tế buổi đầu đã dần dần xuất hiện các Công hội đỏ bí mật Năm 1919, sau khi tham gia
vụ binh biến Hắc Hải bị trục xuất về nước, đồng chí Tôn Đức Thắng đã lập ra Công hội đỏ Sài Gòn với nhiều cơ sở ở nhà máy đèn chợ Quán, xưởng Ba Son Trong cuộc bãi công lịch sử ở Ba Son (tháng 8-1925), số hội viên Công hội đỏ ở Sài Gòn lên tới 300 người, ghi một dấu son trong lịch sử công nhân Việt Nam
Cùng lúc ấy, một số công nhân và thuỷ thủ Việt Nam làm việc ở Pháp và Trung Quốc được kết nạp vào Tổng công đoàn thống nhất Pháp và Hải viên Công hội (Công nhân tàu biển) Từ mùa thu 1928, khi Kỳ bộ Bắc kỳ của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội phát động phong trào vô sản hoá thì Công hội đỏ càng lớn mạnh nhất là ở Bắc kỳ- trung tâm của phong trào công nhân nước ta Sau cuộc bãi công A-vi-a (tháng 6-1929) thắng lợi, đồng chí Nguyễn Đức
Cảnh đã triệu tập Hội nghị Công hội đỏ Bắc kỳ lần thứ I vào ngày 28-7-1929 tại
số nhà 15 Phố Hàng Nón (Hà Nội) Hội nghị quyết định ra báo Lao động, tạp chí Công hội đỏ để đẩy mạnh công tác công vận
Công hội đỏ trong cao trào 1930-1931 đã có cơ sở mạnh mẽ khắp trong nước
và đi đầu trong các cuộc bãi công mở đường cho việc thành lập Xô Viết Nghệ Tĩnh Tháng 8-1930, thay mặt Đông phương Bộ của Quốc tế cộng sản, đồng chí Nguyễn
Ái Quốc đã chỉ định Công hội đỏ Việt Nam cử đại biểu đi dự Đại hội Công hội đỏ quốc tế lần thứ VI ở Mát-xcơ-va Khi ấy thông qua Công hội đỏ, đồng chí Trần Phú
đã đi khảo sát phong trào công nhân Nam Định, Hải phòng, Hòn Gai để viết bản
Luận cương chính trị lịch sử Được cử làm trưởng ban Công vận trung ương, ngày 20-1-1931 tại Sài Gòn, đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng đã triệu tập Hội nghị công nhân Đông Dương lần thứ I vạch ra phương hướng tổ chức và
đấu tranh cho phong trào công nhân và công đoàn
Trong thời kỳ mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939) hưởng ứng phong trào Đông Dương đại hội và đòi tự do cơm áo hoà bình dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương hàng ngàn cuộc bãi công của nửa triệu công nhân tham gia
đã nổ ra liên tiếp ở các thành phố lớn trong cả nước Đầu năm 1937 công nhân đấu
tranh sôi sục đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn, Vinh Mặc dù
Trang 1110
bọn phản động thuộc địa ngăn cản, nhiều nghiệp đoàn vẫn được thành lập và tự do hoạt động, báo chí vẫn tự do xuất bản và công khai tuyên truyền Chủ nghĩa Mác- Lênin Chưa giành được toàn bộ quyền tự do nghiệp đoàn, công nhân Việt Nam không bỏ lỡ cơ hội lập các Hội ái hữu ở khắp nơi
Tháng 9-1939, Đại chiến Thế giới lần thứ II bùng nổ, các tổ chức của công nhân và công bộ công đoàn phải rút vào bí mật
Trong thời kỳ vận động Cách mạng tháng Tám (1939-1945), Hội công nhân cứu quốc - một lực lượng quan trọng của Mặt trận Việt Minh được thành lập nhất là
ở Bắc và Trung Bộ Hội công nhân cứu quốc vừa bí mật đấu tranh đòi quyền lợi
hằng ngày, vừa tổ chức các đội võ trang làm nòng cốt cho cuộc nổi dậy ở đô thị Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân lao động Việt Nam từ chỗ là dân
nô lệ mất nước đã đứng lên làm chủ đất nước, chủ xí nghiệp Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà- nhà nước do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Để thực sự thống nhất về tổ chức công đoàn, Hội nghị cán bộ công nhân cứu quốc họp ngày 20-5-
1946 quyết định đổi Hội công nhân cứu quốc thành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Ngày 20-7-1946, tại thủ đô Hà Nội, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam chính thức tuyên bố thành lập đánh dấu bước ngoặt của phong trào công đoàn Việt Nam với một tổ chức thống nhất và ổn định thật sự trong cả nước
Tháng 1-1949, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam lần thứ I họp ở Thái Nguyên đã bầu ra Ban chấp hành Trung ương do đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch danh dự và đồng chí Hoàng Quốc Việt làm Chủ tịch
Trong sự nghiệp cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam (1954-1975), công đoàn Việt Nam lớn mạnh vượt bậc Ngày 14-9-1957, Quốc hội nhất trí thông qua Luật công đoàn qui định vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của công đoàn Việt Nam
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9-1960), trong Đại hội công
đoàn Việt Nam lần thứ II (tháng 2-1961), Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đổi
tên thành Tổng công đoàn Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới Tháng 2-1974, tiến hành đại hội Đại biểu lần thứ III
Khi nước nhà đã thống nhất từ năm 1978 đến nay công đoàn Việt Nam đã tiến hành 5 lần đại hội: Đại hội lần thứ IV (tháng 5-1978) và tiếp theo Đại hội công
đoàn Việt Nam lần thứ V (tháng 11-1983), Đại hội công đoàn lần VI (tháng
10-1988), Đại hội công đoàn lần VII (tháng 11-1993), Đại hội công đoàn lần VIII (tháng 11-1998) Đặc biệt tại Đại hội công đoàn lần VI, đại hội quyết định đổi tên Tổng công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam nhằm xác
định rõ nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động công đoàn không chỉ chú
Trang 12trọng đến đối tượng công nhân- viên chức trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước mà phải mở rộng đến mọi công nhân lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Để định hướng và xây dựng nền tảng cho hoạt động công đoàn trong giai đoạn mới, Nhà nước ta đã ban hành Luật công đoàn được Quốc hội thông qua ngày
30-6-1990 thay cho Luật công đoàn 1957; đồng thời các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Công đoàn Việt Nam đã thông qua Điều lệ Công đoàn Việt Nam, và Điều
lệ Công đoàn Việt Nam hiện hành được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX thông qua vào ngày 13/10/2003 Đại hội lần IX công đoàn Việt Nam đã thành công tốt đẹp, với sứ mệnh lịch sử của mình công đoàn sẽ tiếp tục là một nhân tố không thể thiếu được trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu không ngừng cho sự nghiệp công đoàn, cho việc bảo vệ quyền lợi của người lao động
2 Chức năng của Công đoàn Việt Nam
2.1 Khái niệm về công đoàn Việt Nam
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao
động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ
quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 10 Hiến pháp 1992)
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của
xã hội Việt Nam; là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động (Điều 1 Luật Công đoàn 1990)
Nghiệp đoàn là tổ chức cơ sở của công đoàn, tập hợp những người lao động
tự do hợp pháp cùng ngành, nghề, được thành lập theo địa bàn hoặc theo đơn vị lao
động có 10 đoàn viên trở lên và được công đoàn cấp trên quyết định thành lập.1
Công đoàn xuất hiện khi giới công nhân biết ý thức về sức mạnh tập thể và biết chăm lo bảo vệ quyền lợi cho chính mình Tổ chức công đoàn ban đầu chỉ là một tổ chức được lập ra nhằm đấu tranh và hạn chế sự bóc lột của giới chủ chứ chưa phải là một tổ chức có nhiều quyền năng như ngày nay Sự phát triển của công
đoàn gắn liền với sự lớn mạnh của giai cấp công nhân, với sự phát triển của công
nghiệp, kỹ nghệ và sự liên kết của giới những người chủ Chính trong sự phát triển
đó, sinh hoạt công đoàn cũng được thúc đẩy và dần chiếm được vị trí quan trọng
trong hệ thống các tổ chức xã hội, cũng như trong đời sống của người lao động Từ
Trang 13
12
chỗ chỉ được thừa nhận trong phạm vi hẹp, ngày nay công đoàn đã được thừa nhận trong phạm vi toàn xã hội
2.2 Chức năng của công đoàn Việt Nam
Chức năng của công đoàn biểu hiện một cách khái quát về phạm vi hoạt động, mục đích hoạt động và sự định hướng trong hoạt động của các cấp trong tổ chức công đoàn Các chức năng của công đoàn bao gồm :
- Chức năng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân và người lao động
- Chức năng tổ chức giáo dục, vận động công nhân và người lao động;
- Chức năng đại diện cho người lao động tham gia quản lý kinh tế xã hội, quản lý Nhà nước
Chức năng này có thể thay đổi tùy thuộc và điều kiện kinh tế xã hội có liên quan
ở từng giai đoạn Từ các chức năng đó có thể xác định được các nhiệm vụ chung và
những nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp công đoàn ở từng lĩnh vực phù hợp
2.3 Mục đích, vai trò của công đoàn
* Mục đích của Công đoàn
Hoạt động của công đoàn vừa có mục đích kinh tế vừa có mục đích xã hội Mục
đích kinh tế của công đoàn thể hiện ở chỗ hoạt động của tổ chức công đoàn gắn với
việc bảo đảm đời sống và điều kiện lao động cho giới lao động, như đòi tăng lương, giảm giờ làm, bảo đảm các phúc lợi xã hội Mục đích xã hội của công đoàn thể hiện ở chỗ bên cạnh các mục tiêu kinh tế, tổ chức này còn nhằm bảo vệ các quyền gắn liền với việc bảo vệ nhân phẩm của người lao động và nâng cao địa vị của người lao động trong mối tương quan lao động và xã hội của giới chủ
* Vai trò của Công đoàn
Trong xã hội tư bản, các nghiệp đoàn có vai trò rất quan trọng Ở đó, các tổ
chức nghiệp đoàn có tư cách như là “lực lượng quân bình”, kéo cân lại vị thế vốn
nhỏ bé của người lao động làm thuê so với thế lực “vạn năng” của nhà tư bản Nhà nước tư sản đã dùng công cụ pháp lý để xác lập quyền thành lập và hoạt động nghiệp đoàn của người lao động, và cũng bằng công cụ pháp lý giữ cho các nghiệp
đoàn hoạt động trong khuôn khổ của trật tự xã hội tư bản
Ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và Việt Nam nói riêng, công đoàn cũng
có một vị trí, vai trò rất quan trọng Ngoài tính chất là một tổ chức nghề nghiệp của
người lao động, công đoàn ở Việt Nam còn được xác định là một tổ chức chính trị
xã hội Chính tính chất nghề nghiệp và tính chất chính trị xã hội đã khiến cho tổ
chức công đoàn có vị trí, vai trò, chức năng đặc biệt: không chỉ đại diện cho lực lượng tự mình, công đoàn còn đại diện cho mọi người lao động trong xã hội; không
Trang 14chỉ bảo vệ cho lợi ích của người lao động, công đoàn còn đại diện cho họ tham gia quản lý kinh tế xã hội
2.4 Tính chất, vị trí của Công đoàn
* Tính chất của Công đoàn Việt Nam
Tính chất của một tổ chức là đặc điểm riêng tương đối ổn định của tổ chức,
để từ đó phân biệt tổ chức đó với đó chức khác Công đoàn Việt Nam có tính chất
giai cấp của giai cấp công nhân và tính chất quần chúng rộng lớn
Biểu hiện tính chất giai cấp công nhân của Công đoàn Việt Nam
- Công đoàn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Hoạt động của Công đoàn Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của
Đảng đề ra và thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xóa bỏ
chế độ người bóc lột người, xây dựng chế độ xã hội mới không có người bóc lột người
- Xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam đảm bảo thống nhất hành động của giai cấp công nhân Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn theo đường lối cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Tổ chức và hoạt động Công đoàn quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ - một nguyên tắc tổ chức của giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam
Biểu hiện tính chất quần chúng của Công đoàn Việt Nam
- Công đoàn Việt Nam kết nạp đông đảo công nhân, viên chức và lao động vào tổ chức Công đoàn Mọi người công nhân, viên chức và lao động đều
có quyền tự nguyện gia nhập và ra khỏi tổ chức Công đoàn theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam
- Cơ quan lãnh đạo của Công đoàn Việt Nam bao gồm những người được quần chúng người lao động tín nhiệm để đại diện cho họ
- Nội dung hoạt động của Công đoàn Việt Nam đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của người lao động
- Cán bộ Công đoàn trưởng thành từ phong trào công nhân, từ phong trào quần chúng ở cơ sở
Hai tính chất của Công đoàn nêu trên có mối quan hệ gắn bó với nhau và
đều quan trọng như nhau
* Vị trí của Công đoàn Việt Nam
Vị trí của Công đoàn là địa vị của Công đoàn giữa các tổ chức khác của hệ thống chính trị và mối quan hệ của Công đoàn với các tổ chức đó
Trang 1514
Trong chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, vị trí của Công đoàn khác nhau căn bản Trong chủ nghĩa tư bản, công đoàn đại diện cho quần chúng lao động
đứng đối lập với giai cấp bóc lột đấu tranh đòi lợi ích kinh tế, tiến tới giành chính
quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trong chủ nghĩa xã hội, Công đoàn trở thành một thành viên quan trọng trong hệ thống chính trị, là đại diện cho những người làm chủ xã hội
Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động Công đoàn là chổ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng Công đoàn là người cộng tác đắc lực của Nhà nước
2.5 Nhiệm vụ của công đoàn
Nhiệm vụ của công đoàn là toàn bộ những mục tiêu mà công đoàn cần đạt tới, là những vấn đề đặt ra mà công đoàn cần giải quyết Thực hiện các nhiệm vụ đó chính là thực hiện các chức năng đã được xác định của công đoàn trong một giai
đoạn nhất định, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của giai đoạn ấy Nhiệm vụ
của công đoàn là yếu tố dễ biến động hơn so với chức năng Mỗi nhiệm vụ cũng có thể có sự quan tâm ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn nhất định
Trong giai đoạn hiện nay, công đoàn có những nhiệm vụ sau đây :
- Đại diện cho người lao động tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng và thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, các chính sách, các cơ chế quản lý kinh tế, các chủ trương chính sách có liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của người lao
động
- Tập hợp, giáo dục và tuyên truyền pháp luật để người lao động hiểu rõ quyền
và nghĩa vụ của mình, của các cơ quan và các tổ chức Từ đó tạo cho người lao
động các phương thức xử sự phù hợp trong các mối quan hệ xã hội và pháp lý
- Thực hiện các quyền đã được pháp luật ghi nhận một cách có hiệu quả để bảo
vệ và chăm lo đến lợi ích và đời sống của người lao động
- Tham gia các quan hệ trong nước và quốc tế nhằm xây dựng các mối quan hệ
đối nội và đối ngoại rộng rãi, góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước, tạo điều kiện tốt cho môi trường lao động xã hội
Những nhiệm vụ này đã được thể chế trong các văn bản pháp luật của Nhà nước và chi tiết hóa thành những nhiệm vụ trực tiếp của công đoàn trong quá trình hoạt động ở các công đoàn cơ sở Song muốn quá trình hoạt động đó đạt được hiệu quả, công đoàn cần có những điều kiện nhất định bao gồm:
- Quyền tự do công đoàn,
- Tư cách pháp nhân
- Quyền sở hữu tài sản,
Trang 16- Sự bảo trợ của Nhà nước và các đơn vị sử dụng lao động,
- Các điều kiện khác
Các điều kiện này, vừa mang tính chất pháp lý, vừa mang tính chất kinh tế -
xã hội, có ý quan trọng đối với hoạt động của công đoàn, chi phối và quyết định quá trình thực hiện các nhiệm vụ đề ra
2.6 Đặc điểm và phân loại thẩm quyền của công đoàn
* Đặc điểm thẩm quyền của công đoàn
Thẩm quyền của công đoàn là tổng hợp các quyền và các nghĩa vụ của công
đoàn được pháp luật ghi nhận, có thể thực hiện hoặc phải thực hiện một cách độc
lập với tư cách là một chủ thể, trong một giới hạn nhất định Đề cập đến thẩm quyền của công đoàn chính là đề cập đến vấn đề quyền hạn và trách nhiệm của công đoàn
Thẩm quyền của công đoàn có những đặc điểm sau đây :
- Mặc dù Công đoàn là một tổ chức chính trị-xã hội của người lao động nhưng thẩm quyền của công đoàn không phải do công đoàn sáng tạo mà do ý chí của Nhà nước Nhà nước quy định cho công đoàn những quyền hạn và trách nhiệm nhất
định trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua
Luật Công đoàn
- Tuy chịu sự điều chỉnh của pháp luật song giới hạn của thẩm quyền không chỉ
ở pháp luật mà còn ngay ở các hành vi của tổ chức công đoàn, hơn nữa còn bị chi
phối bởi pháp luật quốc tế trong những trường hợp nhất định
- Thẩm quyền của công đoàn được pháp luật ghi nhận là các quyền của công
đoàn chứ không gồm các nghĩa vụ Nói cách khác, pháp luật chỉ ghi nhận quyền
hạn của công đoàn mà không trực tiếp ghi nhận các nghĩa vụ
- Thẩm quyền của công đoàn vừa là quyền hạn trong việc đại diện cho tập thể người lao động trong mối tương quan với người sử dụng lao động, vừa là quyền hạn trong việc tham gia “điều chỉnh” quan hệ lao động
* Phân loại thẩm quyền của công đoàn:
Việc phân loại các quyền của công đoàn là cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn Nó chẳng những cho thấy được tính chất các quyền của công
đoàn mà còn cho thấy sự tương quan về địa vị pháp lý của tổ chức này với địa vị
pháp lý của các cơ quan, tổ chức hữu quan khác, đặc biệt là với người sử dụng lao
động
Tùy theo những tiêu chí phân biệt khác nhau, thẩm quyền của công đoàn
được phân thành những loại khác nhau
Trang 17- Lĩnh vực chăm lo cải thiện điều kiện lao động, điều kiện sống, bảo vệ quyền
và lợi lịch hợp pháp của người lao động
Căn cứ vào tính chất, công đoàn có ba loại quyền sau :
- Loại quyền tham gia: là loại quyền mà công đoàn chỉ được tham gia đóng góp
ý kiến, hỏi ý kiến, còn việc quyết định là thuộc về cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hay người sử dụng lao động
- Loại quyền chung: Tổ chức công đoàn và cơ quan Nhà nước, người sử dụng lao động có quyền như nhau trong khi quyết định một vấn đề nào đó
- Loại quyền độc lập: công đoàn có quyền quyết định, còn nghĩa vụ đáp ứng là thuộc về phía các cơ quan Nhà nước, người sử dụng lao động
Căn cứ vào cấp công đoàn, thẩm quyền của Công đoàn được chia thành:
- Thẩm quyền của công đoàn trung ương: Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
- Thẩm quyền của công đoàn cấp trên cơ sở: Các công đoàn tỉnh, ngành, quận, huyện
- Các quyền của công đoàn cơ sở: công đoàn của các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
3 Địa vị pháp lý của Công đoàn Việt Nam
Địa vị pháp lý của công đoàn thể hiện trên hai lĩnh vực chủ yếu là:
- Lĩnh vực tham gia quản lý nhà nước về lao động, quản lý sản xuất kinh doanh, thực hiện quyền làm chủ tập thể lao động
- Lĩnh vực chăm lo cải thiện đời sống và việc làm cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động được pháp luật quy định
3.1 Địa vị pháp lý của Công đoàn trong lĩnh vực tham gia quản lý nhà nước về lao động, quản lý sản xuất kinh doanh, thực hiện quyền làm chủ của tập thể lao
độ ng
3.1.1 Công đoàn trong việc tham gia quản lý Nhà nước về lao động
Nội dung quản lý Nhà nước về lao động bao gồm: việc xây dựng và tổ chức các chương trình quốc gia về lao động, việc làm, các chế độ chính sách về lao động
và xã hội; phân bổ sử dụng nguồn lao động, thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động
Trong hoạt động quản lý Nhà nước về lao động, công đoàn có quyền :
Trang 18- Tham gia xây dựng các chương trình quốc gia về kinh tế xã hội,
- Quyền tham dự hội nghị của các cơ quan chính quyền các cấp,
- Tham gia giải quyết việc làm,
- Tham gia quản lý bảo hiểm xã hội,
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và công đoàn các cấp có quyền tham gia giám sát việc quản lý Nhà nước về lao động theo quy định của pháp luật
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có quyền trình dự án luật ra Quốc hội, tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật lao động, tham gia hướng dẫn việc thực hiện những văn bản pháp quy về lao động có liên quan và trong phạm vi được Nhà nước giao
Liên đoàn lao động địa phương tham gia ý kiến với chính quyền cùng cấp về những vấn đề quản lý lao động tại địa phương, tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản pháp luật lao động Công đoàn ngành đi sâu vào việc quản lý kinh tế kỹ thuật trong ngành, tham gia xây dựng và thực hiện các chế độ chính sách
về lao động, tiền lương, tiền thưởng, về đào tạo, quản lý và sử dụng tốt đội ngũ cán
bộ kỹ thuật của ngành
Trong phạm vi chức năng của mình, công đoàn tham gia kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hợp đồng lao động, tiền lương, kỷ luật lao động, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội và các quy định khác có liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động Trong khi kiểm tra giám sát, công đoàn có quyền yêu cầu người sử dụng lao động (người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức ) trả lời những vấn đề đặt ra, kiến nghị các biện pháp sửa chữa thiếu sót, ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm Người sử dụng lao động trong phạm vi chức trách của mình, phải trả lời cho công đoàn biết kết quả giải quyết những kiến nghị do tổ chức này nêu ra trong thời hạn pháp luật quy định Đối với những vấn đề chưa có điều kiện giải quyết hoặc không thể giải quyết được cũng cần phải cho biết rõ lý do
Ngoài ra trong những trường hợp cần thiết, công đoàn có thể tổ chức đối thoại giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động để giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động
3.1.2 Việc thừa nhận tổ chức công đoàn cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi để công
đoàn hoạt động
Khi tổ chức công đoàn được thành lập theo đúng Luật Công đoàn, Điều lệ công
đoàn, thì người sử dụng lao động phải thừa nhận tổ chức đó Người sử dụng lao động phải cộng tác chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi để công đoàn hoạt động theo
quy định của Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn Người sử dụng lao động không
được phân biệt đối xử vì lý do người lao động thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, không được dùng các biện pháp kinh tế và các thủ đoạn khác để can thiệp
Trang 1918
vào tổ chức, hoạt động công đoàn; phải bảo đảm các phương tiện cần thiết cho công đoàn hoạt động, phải dành một số thời gian cần thiết cho cán bộ công đoàn không chuyên trách hoạt động, có trả lương2 Đối với người làm công tác công
đoàn chuyên trách thì tiền lương của họ do quỹ công đoàn chi trả, song phúc lợi tập
thể và các quyền lợi khác cũng được hưởng như mọi người khác trong doanh nghiệp
Ở những doanh nghiệp đang hoạt động chưa có tổ chức công đoàn thì chậm
nhất sau sáu tháng, kể từ ngày 01/01/2003 và ở những doanh nghiệp mới thành lập thì sau sáu tháng kể từ ngày bắt đầu hoạt động, công đoàn địa phương, công đoàn ngành có trách nhiệm thành lập tổ chức công đoàn lâm thời tại doanh nghiệp để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và tập thể lao động
3.1.3 Công đoàn trong việc tổ chức, chỉ đạo đại hội công nhân viên chức, và phong trào thi đua trong cơ quan, doanh nghiệp
Đại hội công nhân viên chức là hình thức hoạt động dân chủ của người lao động
để bàn về việc thực hiện mục tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh và vấn đề cải thiện
các điều kiện làm việc, sinh hoạt và đời sống của người lao động
Giám đốc cùng với công đoàn chịu trách nhiệm chuẩn bị nội dung và tổ chức
đại hội Thông thường đại hội công nhân viên chức họp mỗi năm 2 lần, ít nhất mỗi
năm 1 lần Thông qua đại hội, tập thể lao động đề ra phương hướng và biện pháp thực hiện sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, kể cả việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tay nghề cho người lao động
Để có thể hoàn thành tốt mục tiêu sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó cải thiện đời sống của người lao động, công đoàn cùng với người sử dụng lao động đề ra
phương hướng, biện pháp và các chỉ tiêu thi đua để tổ chức và vận động các phong trào thi đua Mục đích của việc tổ chức các phong trào thi đua là nhằm phát huy sáng kiến, trao đổi kinh nghiệm để tăng năng suất lao động, hiệu quả công tác, tiết kiệm nguyên vật liệu, hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ đề ra Đối với những người trực tiếp sản xuất, mục tiêu đó thể hiện ở việc áp dụng các biện pháp hoàn thành tốt định mức lao động, định mức tiêu hao vật tư Đối với những người làm công tát khoa học kỹ thuật, mục tiêu đó thể hiện ở các biện pháp thực hiện tốt các
đề tài nghiên cứu nhằm thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật Đối với những người
làm công tác nghiệp vụ hành chính, mục tiêu đó là việc hoàn thành nhiệm vụ, chương trình công tác chuyên môn
Trong phong trào thi đua, giám đốc có nghĩa vụ cung cấp các điều kiện vật chất cho việc duy trì phong trào thi đua Công đoàn có quyền yêu cầu giám đốc và các
2 Không được ít hơn 3 ngày làm việc trong một tháng
Trang 20cơ quan chuyên môn hữu quan khác giải quyết những khó khăn về vật chất kỹ thuật, nhất là việc áp dụng các thành tựu khoa học, sáng kiến mới vào sản xuất Công đoàn phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức việc sơ kết, tổng kết phong trào thi đua; có khen thưởng đối với những người lao động có thành tích trong phong trào và bồi dưỡng những điển hình tốt Công đoàn có quyền cử đại diện của mình vào các ban thi đua để tổ chức và chỉ đạo phong trào thi đua
3.1.4 Công đoàn trong việc ký kết thỏa ước lao động tập thể với người sử dụng lao
động
Thỏa ước lao động tập thể là văn bản ký kết giữa Ban chấp hành công đoàn cơ
sở (hoặc tổ chức công đoàn lâm thời) với giám đốc doanh nghiệp về những vấn đề
có liên quan trong quan hệ lao động
Theo điều 45 Bộ luật Lao động, công đoàn la một trong hai chủ thể tham gia xây dựng thỏa ước lao động tập thể nội dung thỏa ước lao động tập thể bao gồm những cam kết về việc làm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, tiền thưởng, định mức lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội
đối với người lao động Nhà nước khuyến khích các bên ký kết thỏa ước lao động
tập thể với những quy định có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao động
Các điều khoản của thỏa ước lao động tập thể chỉ có thể được hình thành trên cơ
sở các bên thương lượng, thỏa thuận tự nguyện và bình đẳng Người sử dụng lao
động không thể đưa ra các điều kiện ép buộc phía công đoàn ký kết những điều
khoản vi phạm pháp luật
Nhà nước, bằng công cụ pháp luật để cho công đoàn đại diện cho người lao
động trong việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể thể hiện sự tôn
trọng của Nhà nước đối với tổ chức rộng rãi nhất của giai cấp công nhân và những người lao động Với quy định đó Nhà nước không chỉ tạo điều kiện để công đoàn thực hiện chức năng cơ bản nhất là bảo vệ người lao động, mà còn là một phương pháp pháp lý hữu hiệu để công đoàn tham gia có hiệu quả vào việc quản lý doanh nghiệp, điều hòa quyền lợi, ngăn ngừa xung đột Đối với tổ chức công đoàn, việc pháp luật lao động quy định sự tham gia của công đoàn vào việc ký kết thỏa ước lao động tập thể cho thấy vai trò và trách nhiệm của công đoàn rất to lớn trong việc tham gia có hiệu quả vào quản lý doanh nghiệp, và đặc biệt trong việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người lao động
3.1.5 Công đoàn trong việc kiểm tra, giám sát an toàn lao động, vệ sinh lao động
và kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tham gia cùng với Chính phủ trong việc xây dựng chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động,
Trang 2120
xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật về bảo hộ lao
động, an toàn lao động, vệ sinh lao động (Khoản 3 Điều 95 Bộ luật Lao động)
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành danh mục các loại bệnh nghề nghiệp sau khi đã lấy ý kiến của tổng liên đoàn lao động Việt Nam và
đại diện người sử dụng lao động
Luật Công đoàn cũng quy định khá cụ thể quyền của tổ chức công đoàn kiểm tra, giám sát công tác bảo hộ lao động và chấp hành pháp luật gồm:
- Quyền đề xuất việc xây dựng, bổ sung hoặc sửa đổi các chế độ bảo hộ lao
động và pháp luật lao động với các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước
- Quyền theo dõi việc cấp phát trang bị phòng hộ; giám sát việc thi hành chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động; theo dõi, đôn đốc việc kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người lao động; đề xuất với giám đốc và các cơ quan
có trách nhiệm những biện pháp khắc phục và xử lý các vi phạm về an toàn lao
động, vệ sinh lao động
- Quyền thành lập các tiểu ban bảo hộ lao động ở các cơ sở nhằm giúp cho Ban chấp hành công đoàn nắm bắt kịp thời các hiện tượng vi phạm về bảo hộ lao động,
đề xuất các kiến nghị về việc xử lý
- Quyền tổ chức đối thoại giữa người sử dụng lao động với tập thể người lao
động trong những trường hợp cần thiết nhằm làm sáng tỏ hoặc giải quyết những
vướng mắc mà tập thể lao động nêu ra
3.2 Địa vị pháp lý của Công đoàn trong lĩnh vực chăm lo cải thiện đời sống và việc làm cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
3.2.1 Công đoàn trong việc giải quyết việc làm cho người lao động và can thiệp khi người lao động mất việc làm
Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người lao động có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội, trong đó có tổ chức công đoàn
Các cấp công đoàn từ Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tới các công đoàn cơ
sở phải kết hợp với cơ quan Nhà nước và những người sử dụng lao động trong việc bàn bạc, giải quyết các vấn đề về quan hệ lao động ở cả tầm vĩ mô và vi mô; Có quyền lập các tổ chức dịch vụ việc làm, dạy nghề, tương tế, tư vấn pháp luật và các
cơ sở phúc lợi chung cho người lao động và các quyền lợi khác theo quy định của Luật Công đoàn và của Bộ luật Lao động
Đối với người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp mà có thu nhập
thấp hoặc không có đủ việc làm, công đoàn có trách nhiệm bàn bạc với người sử
Trang 22dụng lao động bằng nhiều cách nâng cao tay nghề, đào tạo lại nghề, tạo thêm việc làm để giúp người lao động có thêm nguồn thu nhập đảm bảo đời sống
Pháp luật cũng quy định quyền và nghĩa vụ của công đoàn trong việc bảo vệ người lao động trong lĩnh vực chấm dứt hợp đồng lao động và mất việc làm
Để tránh việc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
với người lao động một cách tùy tiện, Điều 17 Bộ luật Lao động quy định nếu người sử dụng lao động thấy cần cho lần lượt nhiều người lao động thôi việc trong trường hợp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ thì phải công bố danh sách, căn cứ vào nhu cầu của doanh nghiệp, tay nghề, hoàn cảnh gia đình và những yếu tố khác của từng người để lần lượt cho thôi việc sau khi đã trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp Việc cho thôi việc chỉ được tiến hành sau khi
đã báo cho cơ quan lao động địa phương biết
Trong những trường hợp người sử dụng lao động được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì trước khi chấm dứt hợp đồng, người sử dụng lao động phải trao đổi nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan tổ chức có thẩm quyền Sau 30 ngày kể từ ngày báo cho cơ quan lao động biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết
định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trường hợp không nhất trí
với người sử dụng lao động, Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định Khi người lao động có quyền tạm đình chỉ người lao động trong những trường hợp cần thiết theo luật định thì trước khi quyết định tạm đình chỉ công việc, người
sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sơ (Điều
92 Bộ luật Lao động)
Các thủ tục trên là bắt buộc và phải có trong mọi trường hợp Tổ chức công
đoàn có nghĩa vụ góp ý kiến, bàn bạc cụ thể trước những vấn đề có đụng chạm đến
lợi ích hợp pháp của người lao động, nếu không được người sử dụng lao động nhất trí thì có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động
3.2.2 Công đoàn với vấn đề đảm bảo tiền lương cho người lao động
Tiền lương là khoản thu nhập chính của người lao động Vai trò của công đoàn trong việc đảm bảo tiền lương cho người lao động thể hiện trong các nội dung sau :
- Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam được Chính phủ hỏi ý kiến trước khi quyết
định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương
tối thiểu ngành và công đoàn có quyền giám sát người sử dụng lao động trả lương cho người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định
Trang 2322
- Trong trường hợp người sử dụng lao động khấu trừ tiền lương thì phải cho người lao động biết lý do cụ thể và trước khi khấu trừ, người sử dụng lao động phải thảo luận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở Nếu có khấu trừ cũng không được quá 30 % tiền lương hàng tháng
3.2.3 Công đoàn với vấn đề kỷ luật lao động và xử lý kỷ luật lao động
Kỷ luật lao động thể hiện trong bản nội quy của doanh nghiệp do người sử dụng lao động ban hành Tuy nhiên, người lao động lại là đối tượng chủ yếu phải thực hiện bản nội quy ấy Công đoàn với tư cách là đại diện tập thể người lao động
có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng dự thảo nội quy lao động Bộ luật Lao động quy định trước khi ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở Ban chấp hành công đoàn cơ sở cũng được tham khảo ý kiến khi người sử dụng lao động lao động quy định lịch nghỉ hàng năm
Việc xử lý kỷ luật lao động mặc dù thuộc thẩm quyền của người sử dụng lao
động song do việc xử lý kỷ luật lao động là một việc hệ trọng có liên quan đến
danh dự việc làm của người lao động, đồng thời để bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động và nâng cao hiệu quả giáo dục người vi phạm, pháp luật lao động quy định khi xem xét kỷ luật bắt buộc phải có mặt đương sự và phải có sự tham gia của Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp
Trong trường hợp người sử dụng lao động ra quyết định sa thải, đơn phương
đình chỉ hợp đồng lao động đối với Ủy viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì
phải có thỏa thuận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở Nếu người sử dụng lao
động ra quyết định sa thải, đơn phương đình chỉ hợp đồng lao động đối với Chủ
tịch Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì phải có thỏa thuận với tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp
3.2.4 Công đoàn trong việc tổ chức, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, nghỉ ngơi, du lịch cho người lao động
Vấn đề nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động không chỉ riêng trách nhiệm của người sử dụng lao động mà còn là trách nhiệm của các cấp công đoàn, nhất là Ban chấp hành công đoàn cơ sở, nơi trực tiếp chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động
Công đoàn có quyền và trách nhiệm nắm vững hoàn cảnh kinh tế gia đình của các thành viên tổ chức mình trong doanh nghiệp để từ đó có biện pháp giúp đỡ về tinh thần và vật chất Công đoàn cơ sở cùng với người sử dụng lao động chăm lo
đến đời sống văn hóa, hoạt động thể dục, thể thao, tổ chức nghỉ ngơi, du lịch cho
người lao động, nhất là vấn đề tạo nguồn kinh phí và sắp xếp thời gian cho mọi người lao động hàng năm đều được hưởng các quyền này
Trang 24Công đoàn phối hợp với người sử dụng lao động trong việc sử dụng quỹ phúc lợi tập thể của đơn vị được thực hiện công khai và dân chủ trong việc cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, chăm lo sức khỏe cho người lao động Trong những trường hợp nhất định công đoàn trong các doanh nghiệp Nhà nước còn có quyền kiểm tra hoặc đình chỉ việc sử dụng quỹ này nếu thấy việc sử dụng quỹ sai mục đích hoặc không đúng với nghị quyết của hội nghị công nhân viên chức
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam còn có thẩm quyền tham gia với Chính phủ trong các vấn đề xây dựng Điều lệ Bảo hiểm xã hội, thành lập hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội, xây dựng quy chế tổ chức, hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội (Điều
150 Bộ luật Lao động) Công đoàn địa phương và cơ sở tham gia cùng với các cấp chính quyền và người sử dụng lao động trong việc thực hiện và giám sát việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội do Nhà nước ban hành
3.2.5 Công đoàn trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động và giải quyết tranh chấp lao động
Tùy từng lĩnh vực và phạm vi hoạt động, công đoàn có quyền tham gia trực tiếp với người sử dụng lao động hoặc chính quyền cùng cấp giải quyết các khiếu nại, tố cáo của người lao động hoặc với tư cách là đại diện hợp pháp của tập thể người lao
động, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động khiếu nại, tố cáo với các cơ
quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét và giải quyết
Công đoàn cơ sở có quyền cử đại diện của mình vào thành phần của hội đồng hòa giải lao động cơ sở, cử thành viên vào danh sách Hội đồng trọng tài lao động hoặc tham gia vào quá trình tố tụng tại tòa án
Ban chấp hành công đoàn cơ sở là người quyết định cuộc đình công sau khi
được quá nửa tập thể người lao động tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ
ký Sau khi đình công Ban chấp hành công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn đến tòa án yêu cầu kết luận cuộc đình công là hợp pháp
Trường hợp doanh nghiệp không trả được lương cho người lao động ba tháng liên tiếp thì đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn nộp đơn đến tòa án nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Tóm lại, trong quan hệ lao động, công đoàn là đại diện bảo vệ quyền lợi hợp
pháp cho người lao động Khi pháp luật lao động quy định công đoàn cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ quyền lợi của người lao động, tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật lao động thì quyền của công đoàn được cụ thể hóa ở những mức độ khác nhau Trong thực tiễn, việc thực thi áp dụng các quy định trên đây của pháp luật lao
động còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố thuộc về năng lực hoạt động thực tiễn của chính bản thân tổ chức công đoàn
Trang 2524
Bài 3
HỆ THỔNG TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VÀ TÀI CHÍNH CÔNG ĐOÀN
1 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Công đoàn
Công đoàn tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, với nội dung cơ bản như sau:3
1 Cơ quan lãnh đạo các cấp công đoàn do bầu cử lập ra Trường hợp cần thiết, công đoàn cấp trên được quyền chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành và các chức danh trong cơ quan thường trực của ban chấp hành công đoàn cấp dưới
2 Quyền quyết định cao nhất của mỗi cấp công đoàn là đại hội công đoàn cấp đó Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo là ban chấp hành
3 Ban chấp hành công đoàn các cấp hoạt động theo nguyên tắc tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân
phục tùng tổ chức
4 Nghị quyết của công đoàn các cấp, được thông qua theo đa số và phải
được thi hành nghiêm chỉnh
5 Khi thành lập mới hoặc tách, nhập tổ chức công đoàn hoặc những đơn
vị, doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn, công đoàn cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành công đoàn lâm thời hoặc chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành công đoàn lâm thời Thời gian hoạt động của ban chấp hành công đoàn lâm thời không quá 12 tháng
2 Hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam
Công đoàn Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, của người lao động Việt Nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam và tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Vì vậy, khi nghiên cứu về tổ chức công đoàn cũng mang một ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu pháp luật lao động vì hoạt động của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động phải thông qua một hệ thống tổ chức nhất định Việc nghiên cứu tổ chức công đoàn là một biện pháp tiếp cận địa vị pháp lý của công
đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động
2.1 Hệ thống tổ chức công đoàn Việt Nam
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là tổ chức thống nhất có các cấp cơ bản sau
Trang 261 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
2 Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là
liên đoàn lao động tỉnh, thành phố), công đoàn ngành trung ương, công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn.4
3 Công đoàn cấp trên cơ sở
Công đoàn cấp trên cơ sở gồm:
+ Công đoàn ngành địa phương;
+ Công đoàn Tổng Công ty;
+ Liên đoàn lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
+ Công đoàn cơ quan một số Bộ, Ban của Đảng, Đoàn thể Trung ương; công
đoàn một số Sở ở địa phương; công đoàn khu công nghiệp tập trung; khu
chế xuất và cấp tương đương
4 Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn
Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn được tổ chức theo 4 loại hình:
+ Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn không có tổ công đoàn, tổ nghiệp đoàn + Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn có tổ công đoàn, tổ nghiệp đoàn
+ Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn có công đoàn bộ phận, nghiệp đoàn bộ phận, kế tiếp có tổ công đoàn, tổ nghiệp đoàn
+ Công đoàn cơ sở có công đoàn cơ sở thành viên
Công đoàn cơ sở thành viên:
Công đoàn cơ sở thành viên là công đoàn trực thuộc công đoàn cơ sở được thành lập ở các đơn vị thành viên của Công ty, viện, trường, các ban, ngành Trung
ương, địa phương và các công đoàn chưa có công đoàn ngành địa phương
Công đoàn cơ sở thành viên là tổ chức công đoàn được công đoàn cơ sở thành lập, phân cấp quản lý hoặc uỷ quyền một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể phù hợp với vai trò, nhiệm vụ của công đoàn cơ sở thành viên nhằm phát huy tính chủ
Trang 27
26
động, sáng tạo của cơ sở trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức năng của tổ chức
công đoàn
Công đoàn cơ sở thành viên có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu,
được mở tài khoản tại ngân hàng Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng đơn vị, công đoàn cơ sở thành viên được công đoàn cơ sở trực tiếp phân cấp quản lý tài chính,
tài sản (nếu có)
3 Tài chính và tài sản của Công đoàn
3.1 Đoàn phí công đoàn
* Mức thu đoàn phí công đoàn
- Mức thu bằng 1% tiền lương cấp bậc và phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có) đối với đoàn viên thuộc khối hành chính sự nghiệp, các cơ quan Đảng, đoàn thể, hội quần chúng
- Đối với đoàn viên đang giảng dạy, công tác hoặc theo học tập trung
(do nhà trường trả lương hoặc sinh hoạt phí) đóng bằng 1% tiền lương hoặc phụ cấp thực lãnh;
- Mức thu bằng 1% tiền lương hay tiền công thực lãnh đối với đoàn viên làm việc trong các doanh nghiệp (đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ) thuộc các thành phần kinh tế và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (quốc phòng, công an nhân dân)
- Đoàn viên trong các tổ chức nghiệp đoàn và trong các doanh nghiệp Nhà
nước thuộc các ngành Nông, Lâm, Ngư nghiệp hiện đang áp dụng chế độ khoán, giao đất giao rừng cho công nhân lao động (khó xác định mức tiền công tiền lương, thu nhập) thì thu theo một mức tiền ấn định thống nhất do BCH nghiệp đoàn, công đoàn cơ sở đề nghị và được công
đoàn cấp trên trực tiếp đồng ý
- Mức thu bằng 1% tiền lương và phụ cấp thực lãnh (kể cả phần tiền lương
để lại cho gia đình và phần tiền lương hoặc phụ cấp ở nước ngoài) đối
với đoàn viên là cán bộ, công nhân viên chức đang học tập, công tác ở nước ngoài
- Mức thu bằng 1% tiền công ghi trong hợp đồng lao động, đối với đoàn viên là công nhân lao động đi lao động hợp tác nước ngoài và đang làm việc cho các cơ quan tổ chức nước ngoài tại Việt Nam
* Cách thức thu nộp đoàn phí công đoàn
- Áp dụng thống nhất hình thức thu đoàn phí Công đoàn qua lương, BCH công đoàn phối hợp với các cơ quan quản lý cùng cấp tiến hành thu khi
cơ sở phát lương vào kỳ 1 hàng tháng
- Ở những nơi thu theo một mức tiền ấn định thống nhất thì thu vào cuối
tháng hoặc tuỳ theo tình hình cụ thể mà thu gộp một lần xong trong quý
Trang 283.2 Trích nộp kinh phí công đoàn
* Mức trích nộp kinh phí công đoàn
- Cơ quan hành chính, sự nghiệp thực hiện mức trích nộp kinh phí công
đoàn bằng 2% quỹ tiền lương theo ngạch, bậc và các khoản phụ cấp
- Các khoản phụ cấp lương không được tính để trích kinh phí công đoàn gồm: phụ cấp ưu đãi đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy trong các trường công lập của Nhà nước, phụ cấp phẫu thuật và phụ cấp thường trực 24/24 giờ của ngành y tế, phụ cấp làm đêm, phụ cấp làm thêm giờ
* Thời điểm trích nộp kinh phí công đoàn
- Đối với các cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, thời điểm trích nộp được thực hiện cùng với thời điểm cấp phát hạn mức kinh
phí cho cơ quan, tổ chức
- Đối với các cơ quan, tổ chức không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
và các doanh nghiệp có trách nhiệm nộp kinh phí công đoàn mỗi quý một lần vào tháng đầu quý
- Trường hợp cơ quan công đoàn uỷ nhiệm cho cơ quan thuế thu hộ thì thời điểm trích nộp cùng với thời điểm thu nộp thuế
3.3 Tài chính công đoàn dùng để chi các khoản sau đây:
- Chi trả lương cán bộ chuyên trách, phụ cấp trách nhiệm cán bộ không chuyên trách;
- Chi cho các hoạt động của công đoàn;
- Chi thăm hỏi, giúp đỡ đoàn viên và làm các công tác xã hội do công đoàn
Trang 2928
* Nguyên tắc chung
- Tài sản công đoàn là tài sản XHCN, do tổ chức công đoàn quản lý và sử dụng để phục vụ các hoạt động của công đoàn
- Tài sản công đoàn phải được quản lý thống nhất Tổng Liên đoàn lao
động Việt Nam là chủ sở hữu, các công đoàn cấp dưới là cấp trực tiếp
quản lý và sử dụng theo sự phân cấp của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam
- Phân định quyền sở hữu và sử dụng tài sản là dựa vào nguồn kinh phí hình thành tài sản
* Phân định quyền sở hữu và sử dụng tài sản công đoàn
Tài sản thuộc sở hữu công đoàn bao gồm:
- Tài sản được mua sắm, xây dựng bằng các nguồn quỹ do công đoàn quản
lý
- Tài sản do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ công đoàn
- Tài sản do các cơ sở sản xuất, kinh doanh của công đoàn tạo nên
- Tài sản hình thành từ nguồn kinh phí công đoàn và nguồn Ngân sách Nhà nước cấp tính đến 30-6-1994 không phân biệt tỷ lệ phần % đóng góp của mỗi nguồn
Từ 01-7-1994 trở đi nếu tài sản từ nguồn kinh phí của công đoàn chiếm
tỷ lệ từ 50% trở lên thì thuộc quyền sở hữu công đoàn
Tài sản thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm:
- Tài sản do Nhà nước cấp kinh phí xây dựng hoặc mua sắm
- Nhà vắng chủ đã được xác định quyền sở hữu hợp pháp của Nhà nước theo Quyết định 297/CT ngày 2-10-1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)
- Trụ sở, nhà ở, vật kiến trúc thuộc quyền quản lý của cơ quan nhà đất, hiện đang cho cơ quan công đoàn thuê mượn
- Đất đai gắn với tài sản mà các cơ quan công đoàn đang quản lý sử dụng
- Tính từ 01-7-1994 trở đi, tài sản thuộc nguồn Ngân sách Nhà nước cấp chiếm tỉ lệ trên 50% thì thuộc sở hữu Nhà nước
Những tài sản nói trên, công đoàn tiếp tục quản lý và sử dụng theo pháp luật hiện hành để phục vụ người lao động
4 Việc trả lương cho cán bộ công đoàn chuyên trách đang làm việc tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước 5
5 Xem Quyết định số 525/QĐ-TLĐ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ngày 25/4/2011 ban hành Quy định tạm thời về tiền lương, phụ cấp cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước
Trang 30* Điều kiện áp dụng:
Công đoàn cơ sở có nguồn kinh phí chi trả tiền lương, tiền công, phụ cấp, trích nộp BHXH, BHYT, … và các quyền lợi khác của cán bộ công đoàn chuyên trách theo quy định của Tổng Liên đoàn Khuyến khích các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập trả lương cho cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở
* Điều kiện để bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở:
Công đoàn cơ sở có 500 lao động trở lên được bố trí 1 cán bộ công đoàn chuyên trách
Số lượng cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở do Ban chấp hành công đoàn cơ sở đề nghị, công đoàn cấp trên trực tiếp của công đoàn cơ sở chấp thuận Ban thường vụ LĐLĐ tỉnh - thành phố, Công đoàn ngành TW, Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn quyết định
Đối với công đoàn cơ sở có dưới 500 lao động, nhưng có nguồn kinh phí trả
lương và quyền lợi khác của cán bộ công đoàn chuyên trách, có nhu cầu bố trí cán
bộ công đoàn chuyên trách, có thể bố trí 1 cán bộ công đoàn chuyên trách
* Chế độ tiền lương cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở khu vực ngoài
nhà nước:
Cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở khu vực ngoài Nhà nước hưởng tiền lương hàng tháng bằng hệ số nhân với tiền lương, tiền công bình quân làm căn cứ trích nộp kinh phí công đoàn của lao động trong doanh nghiệp, đơn vị
- Chủ tịch công đoàn cơ sở hệ số: 3,0
- Phó chủ tịch công đoàn cơ sở hệ số: 2,5
- Cán bộ công đoàn chuyên trách khác hệ số: 2,0
* Cách tính tiền lương bình quân:
- Đối với doanh nghiệp tiền lương, tiền công bình quân hàng tháng để tính lương cán bộ chuyên trách công đoàn được xác định trên cơ sở tổng quỹ tiền lương, tiền công trả cho người lao động trong kỳ được phép khấu trừ vào chi phí hợp lý, hợp lệ
để tính thuế thu nhập doanh nghiệp chia cho tổng số lao động trong kỳ (thuộc đối
tượng trích nộp kinh phí công đoàn) chia 12 tháng
- Đối với đơn vị sự nghiệp ngoài công lập tiền lương, tiền công bình quân hàng tháng tính lương cán bộ chuyên trách công đoàn được xác định trên cơ sở tổng quỹ tiền lương, tiền công trả cho người lao động (thuộc đối tượng trích nộp kinh phí
Trang 31
30
công đoàn) và thu nhập tăng thêm tính vào chi phí hoạt động sự nghiệp (nếu có) chia cho tổng số lao động trong kỳ (thuộc đối tượng trích nộp kinh phí công đoàn) chia 12 tháng
- Kỳ tính lương bình quân: 1 năm 1 lần, tiền lương, tiền công bình quân năm trước liền kề làm cơ sở trả lương hàng tháng của cán bộ công đoàn chuyên trách năm nay
Trường hợp tiền lương đang hưởng theo hợp đồng lao động của người lao
động được bố trí làm cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở cao hơn tiền
lương tính theo hệ số quy định tại khoản 1, điều này thì được tính thêm phần chênh lệch cho bằng tiền lương hiện hưởng theo HĐLĐ
* Chế độ phụ cấp thâm niên:
Từ nhiệm kỳ Đại hội công đoàn cơ sở lần thứ 2, cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở khu vực ngoài Nhà nước được hưởng phụ cấp thâm niên bằng 5% mức lương đang hưởng/ 1 nhiệm kỳ đối với công đoàn cơ sở nhiệm kỳ đại hội 5 năm 2 lần Mức phụ cấp 10% mức lương đang hưởng /1 nhiệm kỳ đối với công đoàn cơ sở nhiệm kỳ đại hội 5 năm 1 lần
Ngoài phụ cấp thâm nhiên theo quy định trên cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở khu vực ngoài Nhà nước còn được hưởng chế độ phụ cấp lương như: Phụ cấp khu vực, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu hút, … theo quy định đối với cán bộ công chức, viên chức và người lao động tại đơn vị, doanh nghiệp (nếu có)
* Chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp:
Cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở khu vực ngoài Nhà nước được hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật Đơn vị trả lương cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở khu vực Nhà nước có trách nhiệm trích nộp kinh phí Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y
tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở
* Chế độ khác:
Ngoài chế độ tiền lương cán bộ công đoàn chuyên trách công đoàn cơ sở khu vực ngoài Nhà nước được hưởng các chế độ phúc lợi do doanh nghiệp, đơn vị chi trả như người lao động tại doanh nghiệp theo quy chế và thỏa ước lao động tập thể của đơn vị, doanh nghiệp Trường hợp doanh nghiệp, đơn vị không chi trả các chế độ phúc lợi theo Quy chế và thỏa ước lao động tập thể cho cán bộ công đoàn chuyên trách thì công đoàn cơ sở chi trả khoản này từ nguồn ngân sách của công
đoàn cơ sở
Trang 32Bài 4 ĐOÀN VIÊN, CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN VÀ ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN CÁC CẤP
1 Đoàn viên Công đoàn (Công đoàn viên)
Công nhân, viên chức, người lao động (CNVCLĐ) Việt Nam làm công, hưởng lương; người lao động tự do hợp pháp, không phân biệt nghề nghiệp, nam
nữ, tín ngưỡng, nếu tán thành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, tự nguyện sinh hoạt trong một tổ chức cơ sở của công đoàn, đóng đoàn phí theo quy định thì được gia nhập công đoàn.6
Người gia nhập Công đoàn phải có đơn tự nguyện Ban chấp hành công
đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên xét, ra quyết định kết nạp và trao thẻ đoàn
viên công đoàn Khi chuyển nơi làm việc, đoàn viên xuất trình thẻ đoàn viên công
đoàn với ban chấp hành công đoàn cơ sở nơi mới để được tiếp tục sinh hoạt công đoàn Khi đoàn viên xin thôi tham gia sinh hoạt công đoàn, ban chấp hành công đoàn cơ sở xoá tên và thu lại thẻ đoàn viên
Đoàn viên có quyền:
1 Được thông tin, thảo luận, đề xuất và biểu quyết công việc của công đoàn; ứng
cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo công đoàn; những đoàn viên ưu tú được công
đoàn giới thiệu để đảng xem xét kết nạp, giới thiệu để bầu vào cơ quan lãnh đạo của đảng (nếu là đảng viên), của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội khác; được phê
bình, chất vấn cán bộ lãnh đạo công đoàn, kiến nghị bãi miễn cán bộ công đoàn có sai phạm
2 Được yêu cầu công đoàn bảo vệ nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng khi bị xâm phạm; đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật
3 Được công đoàn tư vấn miễn phí về pháp luật lao động và công đoàn; hướng dẫn giúp đỡ tìm việc làm, học nghề; ưu tiên xét vào học tại các trường, lớp do công
đoàn tổ chức; thăm hỏi, giúp đỡ lúc ốm đau hoặc khi gặp hoàn cảnh khó khăn; được
tham gia các sinh hoạt văn hoá, thể thao, du lịch, nghỉ ngơi do công đoàn tổ chức
4 Khi nghỉ hưu, đoàn viên được nghỉ sinh hoạt công đoàn, được công đoàn
cơ sở nơi làm thủ tục về nghỉ và công đoàn địa phương nơi cư trú giúp đỡ, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng; được tham gia sinh hoạt câu lạc bộ hưu trí, ban liên lạc hưu trí do công đoàn giúp đỡ
Trang 33
32
Đoàn viên có nhiệm vụ:
1 Thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2 Thực hiện các nghị quyết của công đoàn, tham gia các hoạt động và sinh hoạt công đoàn, đóng đoàn phí, tuyên truyền phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức công đoàn
3 Không ngừng học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, chuyên môn, tay nghề; rèn luyện phẩm chất giai cấp công nhân; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật
4 Giúp đỡ đồng nghiệp nâng cao trình độ nghề nghiệp, lao động có hiệu quả
và tổ chức tốt cuộc sống; đoàn kết giúp nhau bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ và tổ chức Công đoàn
2 Cán bộ Công đoàn
Cán bộ công đoàn là người được bầu vào các chức danh thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn (từ tổ công đoàn trở lên); được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền của công đoàn chỉ định hoặc bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn Việt Nam
Cán bộ công đoàn gồm cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách
Cán bộ công đoàn chuyên trách là những người đảm nhiệm công việc thường xuyên trong tổ chức công đoàn, được đại hội, hội nghị công đoàn các cấp bầu ra hoặc
được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền của công đoàn chỉ định, bổ nhiệm vào chức danh
cán bộ công đoàn và giao nhiệm vụ thường xuyên
Cán bộ công đoàn không chuyên trách là những người làm việc kiêm nhiệm,
do đoàn viên tín nhiệm bầu vào các chức danh từ tổ công đoàn trở lên và được cấp
có thẩm quyền của công đoàn công nhận hoặc chỉ định
Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ công đoàn:
Ngoài những nhiệm vụ và quyền của người đoàn viên, cán bộ công đoàn có những nhiệm vụ và quyền sau:
1 Đấu tranh chống những biểu hiện vi phạm đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của công đoàn các cấp
2 Là người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động
Trang 343 Liên hệ chặt chẽ với đoàn viên và người lao động; tôn trọng ý kiến của đoàn viên và người lao động
4 Báo cáo, phản ánh và thực hiện thông tin hai chiều giữa các cấp công
đoàn, giữa người lao động với người sử dụng lao động hoặc đại diện của người sử
dụng lao động
5 Tổ chức đối thoại giữa CNVCLĐ với người sử dụng lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoặc giữa tổ chức công đoàn với đại diện của người sử dụng lao động
6 Tổ chức và lãnh đạo đình công (đối với cán bộ công đoàn cơ sở ở doanh nghiệp) theo đúng quy định của pháp luật
7 Được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của Đảng, Nhà nước
và Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
8 Được công đoàn bảo vệ, giúp đỡ, hỗ trợ khi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do tổ chức công đoàn phân công
9 Cán bộ công đoàn không chuyên trách khi có đủ điều kiện theo quy định và
có nguyện vọng được xem xét ưu tiên tuyển dụng làm cán bộ công đoàn chuyên trách
3 Đại hội Công đoàn các cấp
3 1 Nhiệm vụ của đại hội công đoàn các cấp
a Thảo luận, thông qua các báo cáo của ban chấp hành; quyết định phương hướng nhiệm vụ của công đoàn nhiệm kỳ tới
b Tham gia xây dựng văn kiện của đại hội công đoàn cấp trên
c Bầu ban chấp hành công đoàn mới và bầu đại biểu đi dự đại hội công đoàn cấp trên
d Thông qua Điều lệ Công đoàn Việt Nam (đối với Đại hội Công đoàn toàn quốc)
3.2 Nhiệm kỳ đại hội công đoàn các cấp
Đại hội công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn 5 năm 2 lần Đối với công đoàn cơ
sở có số lượng đoàn viên đông, nhiều công đoàn cơ sở thành viên, hoạt động phân tán có thể 5 năm đại hội 1 lần
Đại hội công đoàn cấp trên cơ sở: 5 năm 1 lần
Trường hợp đặc biệt, nếu được công đoàn cấp trên đồng ý, đại hội công
đoàn các cấp có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá 12 tháng đối
với công đoàn cấp trên cơ sở và 6 tháng đối với công đoàn cơ sở Riêng đối với Đại hội Công đoàn toàn quốc do Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quyết định
Trang 3534
3.3 Số lượng và thành phần đại biểu
Số lượng đại biểu dự đại hội cấp nào do ban chấp hành cấp đó quyết định và triệu tập theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Thành phần đại biểu chính thức gồm:
a Các ủy viên đương nhiệm của ban chấp hành cấp triệu tâp
b Các đại biểu do đại hội hoặc hội nghị đại biểu, hội nghị toàn thể công
đoàn cấp dưới bầu lên
c Các đại biểu do ban chấp hành cấp triệu tập chỉ định với số lượng không quá 3% (ba phần trăm) tổng số đại biểu chính thức được triệu tập
Đại biểu dự đại hội phải được đại hội biểu quyết công nhận tư cách đại
biểu Trường hợp đại biểu bị kỷ luật từ hình thức khiển trách (theo quy định của
Bộ luật Lao động) hoặc cảnh cáo (đối với các trường hợp khác) trở lên, thì ban chấp hành cấp triệu tập xem xét, quyết định tư cách đại biểu và sau đó báo cáo cho đại hội biết Người bị khởi tố, truy tố, tạm giam thì không đủ tư cách đại biểu
3.4 Hội nghị đại biểu, hội nghị toàn thể
Những nơi xét thấy cần thiết và được ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp đồng ý thì ban chấp hành ở cấp đó được triệu tập hội nghị đại biểu hoặc hội nghị toàn thể
Số lượng đại biểu do ban chấp hành cấp triệu tập hội nghị quyết định Đại biểu dự hội nghị phải được hội nghị biểu quyết công nhận tư cách đại biểu Thành phần đại biểu gồm:
a Các ủy viên đương nhiệm của ban chấp hành cấp triệu tập hội nghị
b Các đại biểu do đại hội (nếu trùng vào dịp đại hội) hoặc do hội nghị đại biểu, hội nghị toàn thể công đoàn cấp dưới bầu lên Trường hợp không thể tổ chức
được hội nghị đại biểu, hội nghị toàn thể và được công đoàn cấp trên trực tiếp đồng ý
thì hội nghị ban chấp hành công đoàn cấp đó bầu
c Đại biểu chỉ định với số lượng không quá 3% (ba phần trăm) tổng số đại biểu chính thức được triệu tập
Nội dung của hội nghị đại biểu, hội nghị toàn thể:
a Kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết đại hội; bổ sung phương hướng nhiệm vụ và chương trình hoạt động của công đoàn
b Tham gia xây dựng văn kiện đại hội công đoàn cấp trên
c Bổ sung kiện toàn ban chấp hành và bầu đại biểu đi dự đại hội hoặc hội nghị đại biểu công đoàn cấp trên (nếu có)
Trang 36Đại hội, hội nghị đại biểu, hội nghị toàn thể, hội nghị ban chấp hành công đoàn các cấp phải có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số thành viên được triệu tập đến dự mới có giá trị Việc bầu cơ quan lãnh đạo các cấp công đoàn và bầu đại
biểu đi dự đại hội công đoàn cấp trên đều phải tiến hành bỏ phiếu kín; người trúng cử phải được quá 1/2 (một phần hai) số phiếu bầu
đồng ý của công đoàn cấp trên trực tiếp thì đại hội công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn có
thể bầu trực tiếp chủ tịch công đoàn cơ sở, chủ tịch nghiệp đoàn trong số ủy viên ban chấp hành mới do đại hội bầu ra
Số lượng ủy viên ban chấp hành cấp nào do đại hội công đoàn cấp đó quyết
định và không vượt quá số lượng quy định của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Khi khuyết ủy viên ban chấp hành ở cấp nào, thì hội nghị đại biểu, hội nghị toàn thể hoặc ban chấp hành cấp đó bầu bổ sung Số lượng ủy viên ban chấp hành khuyết cần bầu bổ sung trong nhiệm kỳ đại hội không vượt quá 1/3 (một phần ba) số lượng ủy viên ban chấp hành do đại hội quyết định
Trường hợp đặc biệt cần bổ sung mà số ủy viên ban chấp hành vượt quá số lượng đại hội đã thông qua, thì phải được sự đồng ý của công đoàn cấp trên trực tiếp và không vượt quá số lượng quy định của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam Việc bầu bổ sung số ủy viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vượt quá số lượng Đại hội Công đoàn toàn quốc đã thông qua do
Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xem xét, quyết định nhưng không quá 3% (ba phần trăm) số lượng ủy viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã được Đại hội Công đoàn toàn quốc quyết định
Ủy viên ban chấp hành khi chuyển công tác ra khỏi ngành hoặc địa phương, đơn vị thì thôi tham gia ban chấp hành công đoàn ở ngành, địa phương, đơn vị đó Uy
viên ban chấp hành công đoàn các cấp khi nghỉ hưu, thôi việc thì thôi tham gia ban chấp hành kể từ thời điểm nghỉ hưu hoặc thôi việc ghi trong quyết định
Trường hợp ủy viên ban chấp hành là cán bộ chuyên trách công đoàn, khi chuyển công tác không là chuyên trách công đoàn nữa thì do ban chấp hành công đoàn cấp đó xem xét việc tiếp tục tham gia hay không tham gia ban chấp hành và đề nghị công đoàn cấp trên quyết định
Trang 3736
Nhiệm vụ của ban chấp hành công đoàn các cấp:
a Tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội công đoàn cấp mình
b Thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, công đoàn cấp trên
c Chỉ đạo, kiểm tra hoạt động đối với công đoàn cấp dưới
d Định kỳ báo cáo tình hình tổ chức hoạt động công đoàn cấp mình với cấp
ủy đảng đồng cấp, công đoàn cấp trên và thông báo cho công đoàn cấp dưới
đ Quản lý tài chính, tài sản và hoạt động kinh tế công đoàn theo quy định
của Nhà nước và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Hội nghị thường kỳ của ban chấp hành công đoàn các cấp:
Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ban chấp hành liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, ban chấp hành công đoàn ngành trung ương và ban chấp hành công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn 1 năm họp 2 lần
Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp công đoàn cơ sở, ban chấp hành công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn, công đoàn cơ sở thành viên 3 tháng họp ít nhất 1 lần
Đối với ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có công đoàn cơ sở hoạt động trên nhiều tỉnh, thành phố 6 tháng họp ít nhất 1 lần
Cơ quan thường trực của ban chấp hành công đoàn các cấp
Cơ quan thường trực của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
là Đoàn Chủ tịch; cơ quan thường trực của ban chấp hành công đoàn các cấp là ban thường vụ Đoàn Chủ tịch (ban thường vụ) công đoàn cấp nào do ban chấp hành cấp
đó bầu Số lượng ủy viên Đoàn Chủ tịch (ban thường vụ) nhiều nhất không quá 1/3
(một phần ba) số ủy viên ban chấp hành công đoàn cấp đó, gồm có chủ tịch, các phó chủ tịch và một số ủy viên
Đoàn Chủ tịch (ban thường vụ) được phân công một số đồng chí làm thường
trực
Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chuẩn bị nội dung các
kỳ họp Ban Chấp hành, tổ chức thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được ra các nghị quyết hoặc quyết định để tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội toàn quốc Công
đoàn Việt Nam và các nghị quyết của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam; trực tiếp chỉ đạo hoạt động của Cơ quan Tổng Liên đoàn và các đơn vị trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; đại diện cho công nhân, viên chức, lao động đề đạt kiến nghị với Đảng, Nhà nước những vấn đề liên quan đến CNVCLĐ và tổ chức Công đoàn
Trang 38Ban thường vụ công đoàn các cấp chuẩn bị nội dung các kỳ họp ban chấp hành
và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của ban chấp hành; điều hành các hoạt động giữa hai
kỳ họp ban chấp hành, báo cáo hoạt động của mình tại hội nghị thường kỳ của ban chấp hành; trực tiếp chỉ đạo hoạt động của cơ quan và đơn vị trực thuộc; đại diện cho đoàn viên và người lao động tập hợp các kiến nghị để tham gia với hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, bộ, ngành, hội đồng quản trị doanh nghiệp cùng cấp; cử đại diện tham gia vào các cơ quan, tổ chức có liên quan
Chủ tịch là người đứng đầu ban chấp hành có trách nhiệm điều hành hoạt
động của Đoàn Chủ tịch (ban thường vụ) và là đại diện theo quy định pháp luật của
ban chấp hành công đoàn cùng cấp
Khi khuyết Chủ tịch, Phó Chủ tịch hoặc ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng Liên
đoàn thì Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn bầu bổ sung trong số các ủy viên Ban Chấp
hành Tổng Liên đoàn theo đề nghị của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn
Khi khuyết chủ tịch, phó chủ tịch hoặc ủy viên ban thường vụ thì ban chấp hành công đoàn cấp đó đề nghị công đoàn cấp trên trực tiếp cho bầu bổ sung trong
số các ủy viên ban chấp hành