Nội dung của tập Giáo trình Trang trí thời trang gồm có 2bài: Bài 1: Trang trí cơ bản Bài 2: Trang trí thời trang Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình biên soạn, nhưng tài liệu k
Trang 1Ban hành kèm theo Quyết định số: 1195/QĐ-CĐCNN ngày 16 tháng 12 năm
2017 của Hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Công Nghiệp Nam Định
NAM ĐỊNH, NĂM 2017
Trang 2NAM ĐỊNH, NĂM 2017
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Trang phục là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người Trang phục giúp cho con người hòa hợp với môi trường tự nhiên Trang phục tô điểm cho người mặc, làm đẹp thêm cuộc sống Vì thế ngành công nghiệp Thời Trang là ngành sản xuất
ra những sản phẩm mặc và làm đẹp cho con người đang ngày một phát triển
Ở Việt Nam ngành công nghiệp Dệt – May – Thời trang thu hút ngày càng nhiều lao động Nhu cầu học nghề may và thiết kế thời trang để tham gia vào ngành công nghiệp
thời trang đang thu hút nhiều bạn trẻ Giáo trình Trang trí thời trang biên soạn nhằm
đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và giảng dạy của giáo viên, học sinh, sinh viên trong và ngoài trường Giáo trình đề cập đến phương pháp xây dựng bố cục trang trí, phác thảo màu và sử dụng chất liệu trong trang trí thời trang, nhìn nhận về bố cục thâm mỹ và có năng lực tự chủ về nghề nghiệp
Nội dung của tập Giáo trình Trang trí thời trang gồm có 2bài:
Bài 1: Trang trí cơ bản
Bài 2: Trang trí thời trang
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình biên soạn, nhưng tài liệu không tránh khỏi nhưng thiếu sót nhất định, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để tái bản tài liệu lần sau được hoàn chỉnh hơn phục vụ tốt cho công tác giảng dạy của Nhà trường
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: Khoa Công nghệ May & thời trang - Trường cao đẳng Công nghiệp Nam Định
Xin chân thành cảm ơn!
Nam Định, ngày… tháng… năm 2017
Tham gia biên soạn
Chủ biên: Phạm Thị Lâm
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 4
GIÁO TRÌNH TRANG TRÍ THỜI TRANG 6
BÀI 1: TRANG TRÍ CƠ BẢN 7
1.1 Lịch sử phát triển nghệ thuật trang trí 7
1.1.1 Nguồn gốc của trang trí 7
1.1.2 Trang trí nguyên thủy và cổ đại 11
1.1.3 Trang trí hiện đại 19
1.2 Màu sắc 22
1.2.1 Khái niệm 22
1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản của màu sắc 24
1.2.3.Vòng màu cơ bản 28
1.3 Trang trí hình cơ bản 28
1.3.1 Trang trí hình tròn 28
1.3.2 Trang trí hình vuông, chữ nhật 33
1.3.3 Trang trí hình tam giác 35
1.4 Chép vốn cổ dân tộc 35
1.5 Trang trí đường diềm 37
1.5.1 Các loại bố cục 37
1.6 Nghệ thuật cách điệu hoa lá, côn trùng, động vật 37
1.6.1 Phương pháp vẽ cách điệu 37
1.6.2 Cách điệu côn trùng, hoa lá, động vật 37
BÀI 2: TRANG TRÍ THỜI TRANG 42
2.1 Trang trí vải hoa 42
Trang 62.1.1 Các loại bố cục 42
2.1.2 Phương pháp vẽ trang trí vải hoa 46
2.2 Tranh chất liệu 46
2.2.1 Các loại nguyên vật liệu 46
2.2.3 Phương pháp ghép chất liệu 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
TT Tên hình vẽ, bảng, sơ đồ Trang
Trang 8Hình 1-29 Trang trí đường diềm 37
Trang 9GIÁO TRÌNH TRANG TRÍ THỜI TRANG
Tên mô đun: TRANG TRÍ THỜI TRANG
Mã mô đun: C615023711
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun
- Vị trí: Trang trí thời trang là mô đun nằm trong nhóm các môn học bắt buộc, chuyên ngành Thiết kế thời trang
- Tính chất: Môđun mang tính chất tích hợp giữa cơ sở thẩm mỹ và trang trí nghệ thuật
- Ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun: Mô đun Trang trí thời trang giúp cho sinh viên có kiến thức về nghệ thuật trang trí cơ bản và trang trí đặc thù ngành Thiết kế thời trang, giúp sinh viên hiểu về tư duy thiết kế và áp dụng linh hoạt vào thực tiễn thiết kế thời trang sau này
Mục tiêu của mô đun:
- Về kiến thức: Trang bị kiến thức cơ bản về trang trí cổ và hiện đại, trang trí thời trang
- Về kỹ năng: Xây dựng bố cục trang trí, phác thảo màu và sử dụng chất liệu
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Làm chủ ý tưởng, tìm tòi, trang trí nghệ thuật phù hợp
Nội dung của mô đun:
Trang 10BÀI 1: TRANG TRÍ CƠ BẢN Mục tiêu:
- Trình bày được kiến thức cơ bản nghệ thuật trang trí
- Sử dụng được các thủ pháp nghệ thuật trang trí
Nội dung chính:
1.1 Lịch sử phát triển nghệ thuật trang trí
1.1.1 Nguồn gốc của trang trí
Sự ra đời của nghệ thuật trang trí:
Trang trí có từ bao giờ? Ở đâu? Tại sao? Do khởi đầu người ta đã muốn làm đẹp hay chỉ để đánh dấu? - Đó là những băn khoăn của giới sử học nghệ thuật
Thiên nhiên - Người thầy vĩ đại
Ai cũng phải tiếp xúc với thiên nhiên từ lúc mới ra đời vì một lẽ thường tình: con người là sản phẩm cao cấp của tự nhiên và luôn sống trong thiên nhiên (đất, nước, không khí, nắng, gió, bóng đêm ) Ngược lại, thiên nhiên là người thầy đầu tiên, rất vĩ đại và vĩnh viễn của loài người, với những bài học ngọt ngào và nghiệt ngã để lại hệ quả ở tất cả các cấp độ cuộc sống
Nét vẽ màu trên sỏi Cách đây
khoảng 10.000 năm,
Pháp
Nét khắc trang trí trên sừng hươu Tìm thấy trong
hang Isturitz vùng núi Pyerenee miền nam nước Pháp Khoảng 12.000 TCN Bảo tàng cổ vật Quốc gia Pháp
Hình 1- 1 Nghệ thuật trang trí cổ xưa
Trang 11Hình 1-2: Hình bò vẽ đầy hoa văn trang trí trên vách đá Gufamaser, Ấn Độ Khoảng
8.000-10.000TCN
Thế đứng thăng bằng là bài học cơ bản nhất mà con người nhận biết qua bản năng của chính mình Lực hút của trái đất buộc mọi sinh vật phải giữ thăng bằng để tồn tại; cấu trúc cơ thể không cho phép chúng tự do nhào lộn liên miên Bạn nghĩ sao nếu thấy một người đứng nghiêng 450 mà chẳng dựa vào đâu? Cảm giác thăng bằng thường trực trong ta sẽ giúp ta có phản ứng Chính bởi vậy, nghệ thuật trang trí sẽ sử dụng yếu tố thăng bằng theo 2 cách đối lập: hoặc đúng quy luật muôn đời, gây cảm giác bình thường; hoặc ngược lại gây cảm giác giật gân (mà có khi hấp dẫn hơn)
Kết cấu đối xứng là bài học thứ hai nhưng rất trọng yếu vì đó là cơ sở của trang trí Đối xứng cũng là kết cấu cơ bản của tuyệt đại đa số sinh vật: lá ở hai bên cành cây, người có hai tay, hai chân, hai mắt, hai tai đối xứng; động vật có 2 hoặc 4 chân; côn trùng có 6, 8 hay 10 chân; thậm chí nhiều hơn như cuốn chiếu và rết thì chân vẫn là số chẵn (con vật nào có số chân lẻ 3, 5, 7 chắc là cực cực hiếm hoặc dị dạng, đáng dùng làm ảo thuật) Cũng có những bộ phận chỉ là độc nhất nhưng lại mọc lên ở chính giữa trục dọc cơ thể và do đó vẫn mang tính đối xứng: sừng tê giác, vòi voi, mào gà, u bò hay đuôi của nhiều loài vật như vậy trang trí đối xứng chính là mô phỏng cuộc sống một cách điển hình, có chọn lọc
Trang 12Kết cấu sole là bài học thứ 3 mà thiên nhiên mang lại Có thể gọi đây là sự “lệch pha” của kết cấu đối xứng Cành cây vẫn ngần ấy cái lá và lá cây vẫn ngần ấy đường gân nhưng không đối diện từng cặp nữa mà so le nhau một cách đều đặn, lần lượt Chính nhờ bài học này mà cách làm trang trí trở nên nhịp nhàng, sinh động hơn, đỡ cứng nhắc khô khan, nhất là ở hình loại diềm tường
Kết cấu toả tròn là bài học quý báu thứ tư mà trang trí học được ở các bông hoa nở nhìn chính diện hay các vòng sóng lan toả khi ta ném hòn sỏi xuống nước Kết cấu này bao giờ cũng có một tâm điểm chung cho mọi chi tiết toả đều bao quanh vòng trong, vòng ngoài Nếu đối xứng và so le mang tính nối tiếp, chạy dài thì toả tròn hấp dẫn hơn nhiều do có lực hút vào tâm và sức lan toả gợi lại ánh xạ của các vì tinh tú Do
đó, kết cấu toả tròn thường được ưu tiên làm trọng tâm cho các loại hình trang trí: vuông, tròn, chữ nhật, tam giác hoặc làm điểm nhấn cho đường diềm
Hình 1-4: Mặt trống đồng Ngọc Lũ, thô gốm Phùng Nguyên
Hình 1-3: Xiếc bò
Tranh tường trong cung điện Knossos Khoảng 1500 TCN Đảo Crete, Hy Lạp
Trang 13Sự lặp đi lặp lại là phương án chủ yếu mà nghệ thuật trang trí thường xuyên sử dụng Bài học này do con người học đuợc, khi quan sát các loại dây leo: dây có thể dài bao nhiêu cũng được nhưng bao giờ cũng chỉ kèm theo vài chi tiết phụ trợ như lá, tay cuốn, chồi nách, nụ và hoa mà lại với khoảng cách khá đều đặn Cũng đạt hiệu quả tương tự khi người ta quan sát vẩy cá hay những gợn sóng lăn tăn đều đều đến vô tận Các nguyên nhân trên lý giải tầng tầng lớp lớp sóng nước dưới đáy bệ tượng A di đà (Việt nam) hay diềm tranh tường của nền văn minh cổ Minoen (Hy Lạp) Và như thế chỉ cần vài hoạ tiết cơ bản là ta có thể nhân rộng các đồ án trang trí trên bất cứ diện tích tối đa nào Điều này cho thấy trang trí không đòi hỏi giá trị độc lập và độc nhất như một tác phẩm nghệ thuật mà đóng vai phụ trợ, làm nền, làm diềm
Từ mô phỏng tới sáng tạo
Các hình hình học của thiên nhiên
Thiên nhiên hấp dẫn ta bởi tính vừa độc đáo, vừa phổ biến của các hình hình học cơ bản: Hình tròn của trăng rằm và mặt trời, hình ống trụ của thân tre nứa, nhóm đường song song của gân lá tre, hình lục lăng của tổ ong, hình sin của thân rắn lượn, hình xoáy trôn ốc của trôn ốc, hình xương cá, hình giọt nước, đường cung tròn của lá cây v.v đều rất đẹp, lại rất cô đọng mà hoàn toàn tự nhiên Đó là những gợi ý tuyệt hảo để con người mô phỏng và đưa vào trang trí
Các hình hình học do con người tạo ra
Có những hình không có trong tự nhiên mà do con người sáng tạo trên cơ sở quan sát và tuyệt đối hoá hình thể của tự nhiên Các nhà khoa học đã chứng minh không có góc vuông tuyệt đối ngoài thiên nhiên Nhưng thiên nhiên cũng có những gợi
ý góc vuông khi những đường song song cắt nhau theo hai hướng hoàn toàn đối lập
Và do vậy, con người đã có thể tạo ra những hình tuyệt đối vuông, tuyệt đối tam giác đều và các biến thể của chúng như hình bình hành, hình thoi, hình thang cân Bản thân chúng đầy tính trang trí khi có các góc đều nhau và các cạnh đối lập song song và đều nhau
Nhờ có trí tuệ, con người đã mày mò, liên kết, lồng ghép các hình, nét và chấm đơn lẻ thành các tổ hợp trang trí rất hấp dẫn, trông rất quen mà cũng rất lạ Những tổ hợp này nâng cao giá trị cho vật dụng, nhạc cụ, vũ khí và trang phục của các bộ lạc nguyên thuỷ và đôi khi đẹp đến mức trở thành báu vật của các bảo tàng lịch sử nghệ thuật (mặt trống đồng Đông Sơn của Việt Nam là một thí dụ điển hình)
Trang trí đẹp gây ra những ảo giác kỳ lạ: đồ vật sang trọng hẳn lên, đôi khi mang sức mạnh tâm linh, thánh thần, ít nhất thì tác giả vô danh ngàn xưa cũng dồn hết tâm trí vào đó khi tạo tác và để lại dấu ấn sáng tạo bất diệt Trang trí đẹp đôi khi còn biến đổi hiệu quả chất liệu: đá mềm như vải, mặt đồng lung linh như mây khói, khúc xương khô xoắn xuýt mơ mộng ngàn xưa sống động đến tận ngày nay
Trang trí có từ bao giờ? Tại sao?
Thích trang hoàng và làm đẹp là bản tính của con người, không chỉ cho bản thân mà còn cho mọi vật dụng quanh mình Điều này xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử nhân loại khi con người có trí khôn Cùng với khả năng sử dụng lửa và công cụ, đây là điểm ưu việt nữa cho thấy tính hơn hẳn của loài người so với loài vật trên bước đường tiến hoá Bằng chứng còn lại đến ngày nay là vô vàn công cụ lao động sơ khai của người nguyên thuỷ được trau chuốt và trang trí tối giản nhưng không kém phần thú vị Mẫu trang trí xa xưa nhất
Đó là tổ hợp các vạch khắc song song bắt chéo nhau, tạo thành các ô hình thoi đều đặn
và liên tiếp trên mặt phẳng được mài nhẵn của một khối đất sét đã khô cứng Rõ ràng
Trang 14đấy là sản phẩm nhân tạo, dù hết sức sơ khai Vấn đề đáng chú ý ở chỗ những vạch nét này là cố tình, có tính toán, bởi nếu chỉ là vạch nét khắc chơi thì chắc khó lòng cách đều, càng khó lòng song song và chẳng thể tạo ra các ô hình thoi Tất nhiên những vạch nét trên đây rất sơ khai nhưng có chủ định và sự lặp đi lặp lại cho thấy cảm quan
có tính trang trí của con người đã xuất hiện từ rất sớm ở buổi bình minh của lịch sử Bằng phương pháp đồng vị phóng xạ cácbon C14, các nhà khảo cổ đã xác định được niên đại của nhóm cổ vật trong đó có khối đất khắc vạch trang trí: cách đây những 77.000 năm! Phát hiện chấn động nói trên do tiến sĩ Mỹ Christopher Henshilwood (Đại học New York) công bố năm 2002 sau 10 năm cùng các đồng nghiệp Nam Phi khai quật hang động ở Blombos (Nam Phi)
Trên khắp thế giới còn có vô số hình trang trí khác, dù không xưa bằng nhưng niên đại cũng rất “đáng nể” được công bố tại Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc v.v
1.1.2 Trang trí nguyên thủy và cổ đại
Loài người đã tiến những bước rất dài trên con đừơng vạn dặm của nghệ thuật trang trí Ngày nay, kho trang trí của nhân loại rộng mênh mông với vô số thành tựu Thế mà ngoảnh lại thời xa xưa mông muội, đôi khi chúng ta vẫn phải giật mình: tại sao những con người thô sơ đến vậy, chưa có dụng cụ tinh xảo (chỉ dùng đá nhọn, mũi dùi đồng, thỏi đất màu ) lại có thể thao tác và vẽ nên những đồ án trang trí hấp dẫn đến thế? Câu trả lời cũng mơ hồ không kém nhưng rất khó bác bỏ: tài năng sáng tạo của con người có những đỉnh cao đột xuất không nhất thiết tỉ lệ thuận với trình độ phát triển xã hội Có như vậy thì con người ngày nay và cả mai sau mới phải mãi mãi ngả
mũ cúi chào ánh hào quang của tranh tường Ai Cập, hoa văn gốm cổ Trung Quốc, tranh vách đá sa mạc Sahara và các vòng trang trí đồng tâm trên mặt trống đồng Ngọc
Lũ, Hoàng Hạ của Việt Nam
a Mỹ thuật thời nguyên thủy
Thời kỳ: Mỹ thuật nguyên thủy
Thời gian: từ 40.000 đến 10.000 năm TCN
Đặc điểm địa lý, văn hóa, xã hội
1 Công cụ sản xuất thô sơ, đời sống săn bắt hái lượm
2 Xã hội chưa phân chia giai cấp, cuộc sống bầy đàn chế độ mẫu hệ
3 Các vết tích Mỹ thuật nguyên thủy tìm thấy ở Nam Âu, châu Á và châu Phi
Đặc điểm nghệ thuật
Mỹ thuật ở thời kỳ này tồn tại dưới ba hình thức: hội họa, điêu khắc và kiến trúc và mang các tính chất sau:
1 Nghệ thuật hang động
2 Chủ yếu là tả thực, phản ánh chân thực và sinh động cuộc sống xung quanh
3 Giả thiết có nguồn gốc xuất hiện từ nhu cầu cuộc sống: do lao động, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng ma thuật hay để giải trí
Hội họa
• Nội dung: Các hình vẽ thú vật (bò, ngựa, hươu ) trên thành và trần hang động
và chân thực, hình khắc trên đất sét rồi đắp lên thành hang Hình người sinh hoạt nhưng sơ lược, khái quát
• Màu sắc: Dùng màu sắc tự nhiên Ví dụ: hình đàn bò rừng trong hang Altarmira, hình đàn ngựa rừng trong hang Latxcô.v.v
Trang 15• Chất liệu: đá tảng to Ví dụ: ba hình thức như Đônmen: để chôn người chết,
Menhia: dùng để thờ cúng hay Crômlếch: dùng làm nơi tế lễ
b Mỹ thuật cổ đại
Đặc điểm địa lý, văn hóa, xã hội
• Vị trí địa lý: Nằm bên bờ sông Nin, vùng đông bắc Châu Phi, phía tây là sa mạc Libya, phía đông là Hồng Hải, phía bắc là Địa Trung Hải, phía nam là Ethiopia Nên đất nước ít giao lưu với bên ngoài, văn hóa mang đậm tính chất dân tộc Đất nước chia thành hai vùng rõ rệt: thượng Ai Cập và hạ Ai Cập
• Văn hóa, tôn giáo: tín ngưỡng đa thần đóng vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân Tin tưởng và coi trọng thế giới sau cái chết, coi đó mới là cuộc sống vĩnh hằng nên văn hóa nghệ thuật cũng gắn liền với ý nghĩa này
• Xã hội: đất nước đầu tiên có giai cấp
Đặc điểm nghệ thuật
Tồn tại đủ ba hình thức: hội họa, kiến trúc và điêu khắc
Trang 16Kiến trúc
Thời kỳ đầu
Nội dung: Nổi bật nhất là kiến trúc Kim Tự Tháp Đó là nơi đặt xác nhà vua sau khi qua đời Do tín ngưỡng của Ai Cập tin về một cuộc sống vĩnh cửu ở thế giới bên kia nên sau khi nhà vua qua đời, người ta tiến hành ướp xác và đặt nó trong một khu lăng
mộ kỳ vĩ để mong linh hồn con người được tồn tại vĩnh viễn Thời cổ vương quốc là thời đại ưu thế của Kim Tự Tháp
Chất liệu: Kim Tự Tháp được xây bằng gạch có bậc thang, hình đơn giản Sau đó là những khối đá tảng to xếp chồng lên nhau, càng lên cao càng thu nhỏ dần Ví dụ như ở Gizeh (hay Giza) còn một quần thể kim tự tháp vĩ đại bao gồm ba kim tự tháp: Cheops, Kephren và Mykerinus, trong đó Cheops nổi tiếng nhất (xây dựng khoảng 2.900 năm TCN): cao 138 m, đáy hình vuông cạnh dài 225m
Thời kỳ sau
Nội dung: Người Ai Cập không xây dựng các lăng mộ đồ sộ dựa lưng vào vách núi nữa Đồ án kiến trúc đơn giản, với bộ phận kiến trúc cột rất quan trọng, có một số cột chính: cột hình cây thốt nốt, cột hình hoa súng và cột hình cây sậy, ngoài ra còn có cột hình người, khắc họa các sự tích
Chất liệu: Lăng tẩm bằng đá dựa lưng vào vách đá Ví dụ như lăng vua Tuttankhamun, đền thờ Karnak, Et phu v.v
Nghệ thuật hội hoạ Hy Lạp hầu như không còn giữ được tác phẩm nào, các tác giả, tác phẩm danh tiếng của họ còn được lưu truyền trong sách, truyện ta biết được tên tuổi: Apenlơ, Giơxít, Pôlinhơ, … với đề tài chủ yếu là lịch sử và thần thoại Hy Lạp Các tác phẩm được vẽ với phong cách tả thực, sinh động Ngoài ra có một nguồn tài liệu khá phong phú cho nghệ thuật vẽ hình mang tính đồ hoạ, đó là những hình vẽ trên những chiếc bình cổ Hy Lạp Bình cổ Hy Lạp có nhiều kiểu dáng đẹp
Điều đáng chú ý là các hình vẽ trang trí trên đồ gốm cổ Hy Lạp có hai cách trang trí: Hình vẽ đen trên nền trắng sáng hoặc hình vẽ màu đỏ trên nền gốm đen Các hoạ sĩ trang trí lưu ý đặc biệt đến yếu tố nét, mảng trong các hình vẽ Đề tài thay đổi qua các thời kỳ: Thần thoại, duyên dáng, đa tình, lịch sử, …
Trang 17Hình 1-6: Nghệ thuật trang trí của người Ai cập cổ đại
* Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
Mỹ thuật dân gian Việt Nam được ghi nhận gồm các hình trang trí trên trống đồng, trên các đồ khảo cổ tới điêu khắc đình làng, chùa ở nông thôn Bắc bộ và tranh dân gian Mỹ thuật Việt Nam trải qua các giai đoạn lịch sử sau
a/ Mỹ thuật thời tiền sử, sơ sử
Thời kỳ này chia làm ba thời kỳ là thời kỳ đồ đá, sắt, Đồng
ở thời kỳ này mỹ thuật Việt Nam cũng như mỹ thuật thế giới đó là xuất hiện những bức tranh khắc trên đá của những người tiền sử Họ đã biết làm ra vũ khí, công
cụ để phục vụ cho cuộc sống của mình : Rìu đá, giáo mác bằng đá, những bình gốm
Ở giai đoạn này phát triển nhất và rõ dàng nhất đó là những chi tiết hoa văn trên thân của Trống Đồng Đông Sơn Họ đã sử dụng những đường kỷ hà, nét sổ thẳng, nét
Trang 18cong, nét chéo tạo lên những hoa văn trang trí, hình tượng trong thiên nhiên cũng được đưa vào đó là hình ảnh những con chim, con thú, cảnh sinh hoạt: săn bắn,
Thời Lý - Trần chịu ảnh hưởng nhiều của Phật giáo do đó đặc điểm kiến trúc của các công trình xây dựng giai đoạn này thể hiện rõ
nhất qua việc xây dựng và trùng tu các ngôi chùa
như: Chùa Keo, Chùa Trấn Quốc, Chùa Một Cột,
Chùa Thầy, với các chi tiết như đuôi mái cong,
"lưỡng long chầu nguyệt" Các chùa thời Lý
thường có 4 cấp, xây dựng men theo triền núi, và
có mặt bằng hình vuông hoặc hình tròn, trung tâm
chùa là tháp cao có tượng Phật đặt trong
Đặc biệt, thời nhà Lý có tượng đức Phật lớn
nhất Việt Nam hiện có ở Chùa Phật Tích Tượng
tạc bằng đá hoa cương xanh ngồi thiền định trên tòa
sen, cao 1,87 m, kể cả bệ là 2.77 m Trên bệ và
trong những cánh sen, có những hình rồng và hoa lá
đặc trưng cho thời Lý Chùa được đại trùng tu thời
Lý và hiện còn giữ một số tác phẩm điêu khắc thời
Lý, như 10 tượng thú bằng đá gồm: sư tử, voi, trâu,
ngựa, tê giác, mỗi loại 2 con (mỗi con cao khoảng 2 m) nằm trên bệ hoa sen ở bậc nền thứ hai của chùa
Nghệ thuật thời Lý phong phú và đa dạng Đặc điểm dễ nhận thấy nhất của các loại hình nghệ thuật thời này là hình tượng con rồng( không có vẩy) , có trên các đồ dùng, trên các đĩa gốm, men, các loại gạch gốm, trên các cửa gỗ ra vào của công trình
Trang 19cũng thường có cặp rồng cuốn Đến triều đại nhà Trần hình tượng con Rồng lúc này đã
có sự thay đổi, Hình ảnh con rồng lúc này đã xuất hiện vẩy
* Thời Lê:
Nhờ sự quan tâm đến việc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ Các nghề thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển Kinh đô Thăng Long 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay Phường Yên Thái làm giấy, phường Nghi Tàm dệt vải lụa, phường Hà Tân nung vôi, phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Ngũ Xá đúc đồng, phường gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác Các ngành nghề thủ công truyền thống như ở các làng xã như kéo tơ, dệt lụa, đan lát, làm nón, đúc đồng, rèn sắt, làm đồ gốm v.v ngày càng phát triển Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công nhất
Các công xưởng do nhà nước quản lí gọi là Cục Bách tác sản xuất đồ dùng cho
nhà vua, vũ khí, đóng thuyền, đúc tiền đồng ; các nghề khai mỏ đồng, sắt, vàng được đẩy mạnh
Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Lê Sơ biểu hiện rõ rệt và đặc sắc ở các công trình lăng tẩm cung điện tại Lam Kinh (Thanh Hóa)
Trang 20Hiện nay còn lại một số dấu vết của Lam Kinh ở Thanh Hóa như nền cột bậc thềm một số con vật bằng đá Cung điện Lam kinh xây dựng trên một khu đất hình chữ nhật dài 314 mét rộng 254 mét, có tường thành bao bọc dày 1m Trong các bia đá, nổi
tiếng nhất là bia Vĩnh Lăng (viết về vua Lê Thái Tổ)
* Thời nhà Nguyễn
Giống các triều đại trước, thủ công nghiệp Nhà nước thời Nguyễn chiếm một vị trí rất quan trọng: nó chế tạo tất cả những đồ dùng cho hoàng gia, tham gia đóng thuyền cho quân đội, đúc vũ khí, đúc tiền,
Năm 1803, Gia Long thành lập xưởng đúc tiền Bắc Thành tiền cục ở Thăng
Long.[41] Nhà Nguyễn cũng lập các Ti trông coi các ngành thủ công Ví dụ như ti Vũ khố chế tạo quản lý nhiều ngành thủ công khác nhau, gồm 57 cục: làm đất, đúc, làm
đồ vàng bạc, vẽ tranh, làm ngói, làm đồ pha lê, khắc chữ, đúc súng, làm trục xe, luyện đồng,
Phần lớn nhân lực trong các xưởng thủ công Nhà nước là do triều đình trưng dụng thợ khéo trong các ngành như khảm xà cừ, kim hoàn, thêu thùa Đầu Thế kỷ XIX có người chế được men sứ tốt hơn của Trung Quốc nhưng phải bỏ trốn vì sợ bị trưng dụng làm cho triều đình Một số khác phải giả làm đồ Trung Quốc để không bị các quan mua rẻ hay lấy không
Từ các cuộc nội chiến ở Đại Việt trước, kỹ thuật công nghệ của phương Tây đó được các vua chúa đem vào Việt Nam rất nhiều Thời nhà Nguyễn vẫn kế thừa những thứ đó du nhập ấy, nhiều cụng trỡnh được xây dựng theo kiểu kiến trỳc Vauban của phương Tây như thành Bỏt Quỏi, kinh thành Huế, thành Hà Nội
Kinh thành Huế nằm ở bờ Bắc sông Hương với tổng diện tích hơn 500 ha và 3 vòng thành bảo vệ Kinh thành do vua Gia Long bắt đầu cho xây dựng năm 1805 và được Minh Mạng tiếp tục hoàn thành năm 1832 theo kiến trúc của phương Tây kết hợp kiến trúc thành quách phương Đông Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống thời Lý, Trần, Lê đồng thời tiếp thu tinh hoa của Mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được Việt Nam hóa Huế cũng đã được hiện đại hóa bởi những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời vua Gia Long Khi xây dựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhà kiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trục chính của công trình theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Yếu tố Ngũ hành quan trọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc cung thành tương ứng với ngũ phương
Sau khi trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925, chính thức mới
có sự đào tạo chính qui về hội họa Trước mốc thời gian này, đáng kể nhất là vốn mỹ thuật dân gian với điêu khắc đình chùa và các dòng tranh dân gian như tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), tranh Hàng Trống (Hà Nội), tranh Làng Sình (Huế), tranh Kim Hoàng (Hà Tây), tranh thờ Đạo Giáo (miền núi phía Bắc) Tuy nhiên kho tàng mỹ thuật dân gian Việt Nam vẫn đang tiếp tục được khám phá
Nghề làm tranh dân gian Việt Nam (NLTDGVN ) là một nghề thủ công mĩ thuật truyền thống ở Việt Nam, chuyên làm ra các loại tranh dân gian Việt Nam, đáp ứng nhu cầu tinh thần và thẩm mĩ xã hội NLTDGVN có từ lâu đời, gắn bó với nghề khắc ván in chữ, in tranh
Về nội dung, tranh dân gian Việt Nam có thể chia 4 nhóm:
+ Tranh thờ: được các trung tâm làm tranh dân gian dành một tỉ lệ lớn Sử dụng ở các chùa, đền, điện, phủ và nhà dân để canh gác, trừ tà, yểm quỷ (“Vũ Đình - Thiên
Trang 21ất”, “Tiến Tài - Tiến Lộc”, “Táo quân - Thổ công”, “Ngũ Hổ” ) Tranh làng Sình (Huế), Đồ Thế (Nam Bộ) - theo mê tín để đốt thế mạng cho người sống;
1-10: Tranh thờ điện đền, phủ chùa
+ Tranh chúc tụng: chủ yếu là tranh Tết (“Gà - Lợn”, “Thất Đồng”, “Tam Đa” );
1-11: Tranh Đông Hồ
+ Tranh sinh hoạt: phong phú, vui vẻ, đôi khi có tính châm biếm nhẹ nhàng (“Tứ quý”, “Tứ dân”, “Đánh ghen”, “Hứng dừa” );
+ Tranh minh hoạ - lịch sử: được chọn lọc để miêu tả lí thú (“Truyện Kiều”, “Trê
- Cóc”, “Bà Triệu cưỡi voi”, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo )
Trang 221-12: Tranh sinh hoạt
Nghề làm tranh dân gian sử dụng nhiều loại vật liệu:
+ Giấy in tranh: giấy điệp giấy dó quét lớp điệp (x Điệp) vẽ tranh Đông Hồ], giấy trắng (tranh Hàng Trống), giấy đỏ (tranh Kim Hoàng)
+ Gỗ: khắc ván in (còn gọi “ván thuốc” bằng gỗ thị, thứ đến là gỗ thừng mực + Màu: màu “thuốc cái” bằng các vật liệu lấy từ thiên nhiên như lá, hoa, khoáng chất (tranh Đông Hồ); màu hoá chất (các dòng tranh khác)
1.1.3 Trang trí hiện đại
Do hoàn cảnh xã hội lúc này ngoài nhu cầu cuộc sống cũng như nhu cầu về tinh thần của con người ngày càng phát triển Sự đòi hỏi về nghệ thuật không còn thuần thúy như trước nữa Ngoài những tranh dân gian ra còn xuất hiện nhiều nghệ thuật khác
Đến nay nghệ thuật còn phải được áp dụng vào trong cuộc sống hàng ngày và luôn luôn có sự đổi mới
Cho nên ở thời kỳ này xuất hiện những trào lưu nghệ thuật mới
Mỹ thuật bao gồm một số lĩnh vực nghệ thuật thị giác như:
Hội họa: nghệ thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách trực tiếp Các tác phẩm
hội họa mang tính độc bản Hội họa được coi là mảng quan trọng của mỹ thuật
Đồ họa: là nghệ thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách gián tiếp qua các kỹ
thuật in ấn, vì vậy một tác phẩm đồ họa thường có nhiều bản sao
Điêu khắc: là nghệ thuật tạo hình trong không gian ba chiều (tượng tròn) hoặc hai
chiều (chạm khắc, chạm nổi)
Hiểu rộng ra, cái gì thuộc nghệ thuật thị giác thì cũng được coi là thuộc mỹ thuật Đặc biệt những xu hướng mỹ thuật đương đại xuất hiện từ khoảng thập niên 1960 bao gồm:
Nghệ thuật Sắp đặt (Installation art)
Nghệ thuật Biểu diễn (Performance art)
Nghệ thuật Hình thể (Body art)
Nghệ thuật Đại chúng (Popart)
và nhiều loại hình khác nữa
Trang 23Lưu ý, tên gọi các môn nghệ thuật thị giác này chưa thực sự thống nhất trong tiếng Việt
Giai đoạn này mỹ thuật Việt Nam có những nghành nghệ thuật chủ yếu sau:
Tranh sơn mài:
Được coi là một trong các chất liệu hội họa ở Việt Nam Đây là sự tìm tòi và phát triển kỹ thuật của nghề sơn (nghề sơn ta) thủ công truyền thống của Việt Nam thành
kỹ thuật sơn mài riêng Tuy nhiên, từ dùng để gọi sơn mài (tiếng Anh: lacquer) thường
được hiểu sang các đồ dùng sơn mỹ nghệ của Nhật, Trung Quốc Xin lưu ý, kỹ thuật mài là điểm khác biệt lớn giữa đồ thủ công sơn mỹ nghệ và tranh sơn mài Việt Nam Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn như sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng thếp, vỏ trai, v.v vẽ trên nền vóc màu đen Đầu thập niên 1930, những họa sĩ Việt Nam đầu tiên học tại trường Mỹ thuật Đông Dương đã tìm tòi phát hiện thêm các vật liệu màu khác như vỏ trứng, ốc, cật tre, v.v và đặc biệt đưa kỹ thuật mài vào tạo nên kỹ thuật sơn mài độc
đáo để sáng tác những bức tranh sơn mài thực sự Thuật ngữ sơn mài và tranh sơn mài
cũng xuất hiện từ đó Tranh có thể được vẽ rồi mài nhiều lần tới khi đạt hiệu quả mà họa sĩ mong muốn Sau cùng là đánh bãng tranh
1-13: Tranh sơn mài
Người ta thường lưu ý rằng sơn mài có những điểm "ngược đời": muốn lớp sơn vừa vẽ khô, tranh phải ủ trong tủ ủ kín gió và có độ ẩm cao Muốn nhìn thấy tranh lại phải mài mòn đi mới thấy hình
Hầu hết họa sĩ đồng ý rằng: kỹ thuật vẽ sơn mài khó và có tính ngẫu nhiên nên nhiều khi các họa sĩ dày dặn kinh nghiệm cũng bất ngờ trước một hiệu quả đạt được sau khi mài tranh
Có thể nói công nghệ sơn mài chỉ có nguyên lý chung nhưng khác biệt trong kinh nghiệm, kỹ thuật của từng cá nhân, từng gia đình cũng như nó được biến đổi kỹ thuật làm tranh khác với làm tượng, lại khác với trang trí đồ vật, sơn phủ hoàng kim
Có thể chia làm một số công đoạn chính sau: bó hom vóc, trang trí, mài và đánh bóng
Tranh lụa:
Tranh lụa cổ Việt Nam trước Mỹ Thuật Đông Dương (MTĐD) các học giả trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) xếp vào loại tranh (trục) cuốn (Peinture rouleau), chỉ là tranh tín ngưỡng, tranh thờ Không phải là tranh mỹ thuật - hiểu theo nghĩa trang trí
Tranh lụa từ MTĐD trở đi, mới gọi là "tranh mỹ thuật", tức "hội hoạ giá vẽ (Peinture chevalet), du nhập từ Phương Tây vào Việt Nam
Trang 241-14: Tranh Lụa Nguyễn Chánh Tranh Sơn dầu:
Là một loại họa phẩm được làm từ sắc tố (pigment), thường dưới dạng bột khô
được nghiền kỹ với dầu lanh (cây gai) hay dầu cù túc Tuy nhiên, việc chế màu đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn để tránh pha trộn, gây những phản ứng hóa học giữa các chất màu bởi sắc tố có thể là nguyên liệu khoáng, nguyên liệu hữu cơ hoặc nguyên liệu hóa học
Sơn dầu không thấm nước, có độ dẻo và độ che phủ mạnh (dễ dàng phủ kín lớp sơn khác ở dưới, trừ các màu có tính đặc biệt)
Cũng có lúc người ta dùng từ "màu dầu" thay cho từ "sơn dầu" với ý định chỉ chất liệu dùng trong tác phẩm
1-15: Tranh sơn dầu
Mỹ thuật ứng dụng: dùng để chỉ các họat động sáng tạo mỹ thuật được đưa vào
ứng dụng trong cuộc sống thường ngày Khác với khái niệm "Mỹ thuật" - phục vụ cho các cảm xúc mỹ thuật hàn lâm
Mỹ thuật ứng dụng rất thường gặp và quan trọng trong cuộc sống: cách trình bày một trang báo, kiểu dáng một chiếc áo mới, kiểu dáng và cách trang trí mới trên một
Trang 25Thiết kế thời trang
a) Màu hữu sắc và màu vô sắc
Căn cứ theo vòng tròn màu thì các màu trong vòng tròn màu và các màu phát triển từ chúng là các màu hữu sắc, còn các màu đen và trắng và những màu tạo nên bởi
sự kết hợp giữa hai màu này được coi là màu vô sắc
b) Sắc độ
Trang 26Sắc độ là thuật ngữ dùng để chỉ độ đậm nhạt của màu Trên một diện tích bề mặt, nếu hàm lượng sắc tố nhiều ta được màu đậm và ngược lại Như vậy thì sắc độ là hàm lượng sắc tố chứa trong một đơn vị diện tích hay dung tích của màu Khi lượng sắc tố chứa trong một đơn vị diện tích màu hay dung tích màu đạt mức độ tối đa, màu đạt độ bão hòa
c) Sắc điệu
Đây là khái niệm dùng để chỉ độ biến thiên của màu sắc Ví dụ sự biến thiên từ
đỏ sang đỏ cam hay sang đỏ tím Sắc điệu là đặc chưng của màu hữu sắc còn màu vô sắc chỉ có đặc chưng duy nhất là độ sáng tối
c) Sắc loại
Đây cũng là đặc trưng cơ bản của màu hữu sắc Sắc của 3 màu gốc và hai màu đen và trắng là các sắc nguyên vì nó chỉ có một loại sắc tố Sắc của các màu còn lại trên vòng tròn màu cơ bản là những màu gồm 2 sắc tố nhưng theo tỷ lệ pha trộn khác nhau Trong tự nhiên có những màu được pha trộn từ đến năm hay vô số màu khác nhau pha trộn làm một
Chỉ cường độ kích thích của màu đối với mắt nhìn Màu trong qua phổ mặt trời
có độ kích thích mắt nhìn gần như nhau, còn các màu nhân tạo thường khác nhau về
độ chói
Những màu tương đối chói là màu đỏ, màu vàng
Những màu tương đối tươi là màu cam và màu lục
Những màu tương đối trầm là màu chàm, màu tím
Do đó:
Khi ta muốn cho một màu tươi hơn thường cho thêm màu vàng hoặc màu đỏ Khi ta muốn cho một màu sáng lên ta thường cho thêm trắng
Khi ta muốn cho một màu trầm xuống cho thêm màu chàm, đen
Khi ta thu nhỏ diện tích của một màu thì màu đó dường như là rực rỡ hơn Do vậy khi trang trí những sợi viền lé màu trên trang phục cũng rất dễ bắt mắt
Trang 27ở vị trí đối nhau 180o
1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản của màu sắc
Phối màu trên trang phục là sắp đặt các mảng màu của các chất liệu khác nhau, các chi tiết khác nhau của bộ trang phục Trong thiết kế thời trang thường vận dụng các màu sau đây
a) Trang phục một màu
Thường gặp trong đời sống hàng ngày Trang phục một màu cho cảm xúc nghiêm túc, lịch sự, giản dị…trang phục một màu rất thích hợp trong môi trường học đường, công sở
b) Phối hợp hai màu đối lập
Trên vòng tròn màu, màu đối lập là những màu đối xứng qua tâm, nằm trên đường kính của vòng tròn màu
Trang 281-18: Vòng màu đối lập
c) Phối hợp hai màu tương hỗ
Là những màu thuộc hai cung phần tư đứng cạnh nhau (hay cùng một nửa đường tròn) Hai màu này đối diện với nhau qua dây cung vuông góc với đường kính của nửa đường tròn Các màu tương hỗ đứng cạnh nhau sẽ tôn độ thuần của nhau đồng thời vẫn gây sự chú ý, làm cho bộ quần áo trở nên vui mắt trong khi vẫn bảo đảm sự hài hòa trang nhã
1-19: Vòng màu tương hỗ
d) Phối hợp màu bộ ba
Nguyên tắc 1: Phối hợp ba màu theo nguyên tắc tam giác cân, có đỉnh là một màu nằm trên trục chính của đường tròn, hai màu kia là hai màu tương hỗ (nằm trên dây cung vuông góc với đường kính đó) tạo thành hai đỉnh thuộc cạnh đáy