1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn môn tư tưởng hồ chí minh

16 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập lớn môn tư tưởng hồ chí minh
Trường học Trường Đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 158,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÀI TẬP LỚN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ BÀI Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BÀI TẬP LỚN

MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ĐỀ BÀI: Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh : “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” Làm rõ ý nghĩa của luận điểm

đó đối với Việt Nam hiện nay

Họ và tên SV:

Lớp:

Mã SV:

Hà Nội , Ngày 6 Tháng 3 Năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Lời Mở Đầu……… ….3

I Những ý nghĩa to lớn của “độc lập, tự do, hạnh phúc” đối với nhân dân và đất nước ……… 4

II Hiện thực hóa khát vọng độc lập - tự do - hạnh phúc cho nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh ……….6 III Liên hệ thực tiễn với Việt Nam hiện nay……… 8

IV Kết Luận ………13

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước Việt Nam đã phải trải qua hàng chục năm chiến đấu với những đế quốc phương Tây, bất chấp muôn vàn những áp bức bóc lột, những sự khó khăn mà thực dân Pháp lẫn đế quốc Mỹ đem đến, thì dân tộc ta vẫn kiên cường chiến đấu đến cùng với tinh thần yêu nước mãnh liệt và để rồi cuối cùng chúng ta đã vượt qua và giành được chiến thắng cuối cùng vào năm 1975 qua đó chính thức giành được độc lập và khẳng định chủ quyền biển đảo đất nước Việt Nam Tuy nhiên để có được những chiến thắng vang dội đó và hòa bình như ngày nay thì vô vàn những chiến

sĩ, cán bộ cách mạng đã anh dũng chiến đấu và hi sinh trong lúc bảo vệ tổ quốc Và nổi bật nhất trong những vị anh hùng đó chính là chủ tịch Hồ Chí Minh, một vị lãnh tụ thiên tài, vĩ đại và là nhà tư tưởng lớn của cách mạng Việt Nam Người đã cống hiến gần như toàn bộ cuộc đời của mình cho cuộc cách mạng, chu du khắp mọi miền thế giới để tìm ra con đường cứu nước và trong quá trình đó Người đã kế thừa và phát triển được quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về sự quan trọng của nhân dân và vai trò to lớn của họ đối vợi sự phát triển của đất nước, nổi bật nhất có thể kể đến như “ Lấy dân làm gốc” Chính vì vậy mà những di sản tư tưởng mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho những thế hệ sau luôn chú trọng về việc đặt nhân dân lên hàng đầu cũng như vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Theo quan điểm của Người thì nhân dân không chỉ đơn thuần là lực lượng cách mạng mà một trong những lực nòng cốt quan trọng để phát triển đất nước về mọi mặt, họ là những người mà Đảng và Nhà Nước cần phải chú trọng đến cả về vật chất lẫn tinh thần Và để thực hiện được điều đó thì tự do và hạnh phúc đều là những yếu tố cần thiết nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ rằng “Nước độc lập

mà người dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa

lý gì” Đây là một trong những luận điểm có ý nghĩa sâu sắc và Đảng và Nhà nước vẫn tiếp tục áp dụng theo luận điểm này để nhằm có thể phát triển một đất nước hòa bình, phát triển và hạnh phúc Và để hiểu rõ mối quan hệ giữa độc lập dân tộc gắn với con đường xây dựng đất nước theo tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Em xin phép được phân tích và làm rõ quan điểm trên cũng như liên hệ luận điểm đó đối với Việt Nam hiện nay

Trang 4

I Những ý nghĩa to lớn của “độc lập, tự do, hạnh phúc” đối với nhân dân và đất nước

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc chính là những quyền làm người cao cả nhất theo Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước quốc tế về quyền con người, song những quyền đó chỉ được thực thi trong một quốc gia độc lập Vì những giá trị cao quý

đó, suốt chiều dài lịch sử, nhân loại tiến bộ, trong đó có nhân dân Việt Nam đã không quản ngại hy sinh, gian khổ đấu tranh để giành lấy/giành lại Trân trọng giá trị độc lập, tự do của dân tộc đã giành được, không lâu sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 12/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 49 về việc ghi tiêu đề: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm thứ nhất; bên dưới là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc trên các công văn, điện văn, công điện, trát, đơn từ, báo chí, chúc từ,v.v

6 chữ quý giá Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ghi dưới quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hiện thân khát vọng của toàn dân tộc; là sự hiện thực hóa tâm nguyện và ý chí "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu” của Hồ Chí Minh từ thập niên 1920; đồng thời cũng là sự chắt lọc, vận dụng chất tinh túy trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) vào điều kiện cụ thể của Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, ham muốn tột bậc của Người là "làm sao cho nước

ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm

ăn áo mặc, ai cũng được học hành" và Người nguyện cùng Đảng ta, nhân dân ta kiên trì thực hiện "ham muốn tột bậc" đó Song thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã bị thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ phá bỏ Vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất, không cam tâm làm nô lệ, không

để quyền sống của mỗi người dân Việt Nam lại bị tước đoạt, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã thề quyết tâm cùng đồng bào và chiến sĩ cả nước tiến hành trường kỳ chống thực dân Pháp với tinh thần và ý chí “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước; đã tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với khát vọng:

Trang 5

“Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, hòa bình thật sự, hòa bình trong độc lập tự do” và niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do"

Trong 30 năm trường chinh kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đầy gian khổ và

hy sinh, thắng lợi của trận Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Mùa xuân 1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Miền Nam đã được giải phóng, hai miền Nam Bắc đã “sum họp một nhà”, cả nước hòa bình, độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những nỗ lực của nhân dân Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc trải dài mấy thập niên cũng chính là để bảo đảm cho mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất quyền con người; trong đó, có quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và quyền tự quyết của dân tộc - được quyết định vận mệnh, con đường phát triển của mình

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì thực hiện những căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”, chính thể chế nhà nước cùng những quyền lợi và nghĩa vụ công dân được quy định trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 đã cho thấy, trong điều kiện cụ thể của đất nước, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nỗ lực thực thi quyền con người theo quy định của pháp luật Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, nước nhà hòa bình, độc lập và thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân cả nước lại tiếp tục đoàn kết, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng vượt qua khó khăn về mọi mặt sau những năm dài chiến tranh, tiến hành khôi phục và phát triển kinh tế, thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế Trong hòa bình, mỗi người dân trên đất nước Việt Nam đều cảm nhận được sâu sắc hơn giá trị của độc lập, tự do, của niềm vui được sống trong Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, để ngày mỗi ngày đều được đóng góp công sức, trách nhiệm vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hơn 90 năm sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, hơn 75 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và 35 năm kiên trì thực hiện đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng,v.v đã góp phần tạo dựng một diện mạo mới của Việt Nam, một vị thế mới

Trang 6

của Việt Nam trên trường quốc tế Kinh tế tăng trưởng khá, văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện đáng kể, bộ mặt của đất nước và cuộc sống của người dân có những thay đổi Trên hành trình đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để mỗi người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền cơ bản của con người, quyền công dân, quyền dân chủ của nhân dân; đồng thời coi trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết giữa các quốc gia, trong đó, có việc thực hiện tốt các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên

Độc lập, tự do, hạnh phúc là khát vọng cháy bỏng, đồng thời cũng là quyền của mỗi con người, của mỗi dân tộc Trong dòng chảy lịch sử nhân loại và xuyên suốt hàng ngàn năm dựng xây gắn liền với bảo vệ giang sơn gấm vóc Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc luôn là khát vọng, là nỗ lực phấn đấu, hy sinh của biết bao thế hệ Với Việt Nam, từ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945 đến nay, Độc lập - Tự

do - Hạnh phúc luôn xuất hiện cùng quốc hiệu Việt Nam, khẳng định giá trị lớn lao

và ý nghĩa trường tồn của 6 chữ quý báu này và tiêp tục được hiện thực hóa trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam

II Hiện thực hóa khát vọng độc lập - tự do - hạnh phúc cho nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền độc lập dân tộc phải gắn với tự do, hạnh phúc cho mọi người dân Đây chính là tiêu chí căn cốt, thước đo giá trị của độc lập dân tộc, tác động trở lại việc củng cố, bảo vệ độc lập dân tộc Chính vì vậy, ngay sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo kiến tạo chính thể dân chủ cộng hòa, xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam, để mưu cầu tự do và hạnh phúc cho nhân dân Người nêu rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”

Khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc không chỉ được thể hiện trong ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân

ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học

Trang 7

hành”, mà còn từng bước được thể hiện trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mới - Nhà nước của dân, do dân, vì dân:

“Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến Chính sách kinh tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là không ngừng phát triển sản xuất để nâng cao mãi đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”

Từ khát vọng đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người dân, mà không phải chỉ dành riêng cho một nhóm người nào trong xã hội, sau khi nước nhà giành lại nền độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phải đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Bởi theo quan điểm của Người, “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”; “Là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do” Xây dựng chủ nghĩa xã hội “là một sự nghiệp vĩ đại nhất trong lịch sử loài người”, nhưng đây cũng là “cuộc chiến đấu khổng lồ”, cho nên Người chỉ dẫn Đảng phải huy động sức mạnh của toàn dân, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải luôn quan tâm và có kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Để thực hiện khát vọng cao đẹp đó, theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân phải có quyết tâm, đồng tâm và tín tâm Trong đó, trước hết, Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị các cấp cần phát huy tốt vai trò lãnh đạo hoạch định, chỉ đạo và tổ chức thực thi đường lối, chính sách; phải thực hiện nghiêm túc và đầy đủ phương châm: việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân

dù nhỏ cũng phải hết sức tránh Đồng thời, phải huy động sức mạnh toàn dân trong

sự nghiệp xây dựng đất nước với phương châm đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân Đảng phải dựa vào lực lượng toàn dân để tổ chức, động viên, phát huy được sức mạnh vĩ đại của toàn dân

Khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập - tự do - hạnh phúc đã trở thành nguồn động lực, sức mạnh vô cùng to lớn thúc đẩy nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách Thực hiện di nguyện của Người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”, nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, đồng lòng làm

Trang 8

nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất đất nước (1975) Từ đây, nhân dân trên mọi miền Tổ quốc bắt tay xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện ước vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng đất nước phú cường

III Liên hệ thực tiễn với Việt Nam hiện nay

Thực hiện theo tư tưởng và khát vọng của chủ tịch Hồ Chí Minh về một cuộc sống hạnh phúc, tự do cho nhân dân Việt Nam Sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần không ngừng được cải thiện

và nâng cao, tình hình chính trị và xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được đảm bảo, quan hệ đối ngoại được mở rộng và vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Chưa bao giờ đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và

uy tín quốc tế như ngày nay Đây chính là niềm tự hào, là động lực quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vững bước đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh tình hình thế giới có những biến đổi nhanh chóng, rất phức tạp và khó lường

Về An Ninh – Quốc Phòng :

Đất nước độc lập thì nhân dân phải được tự do, hạnh phúc và ngược lại cũng thế

Để nhân dân ta được sống yên bình, tự do hạnh phúc thì trước tiên đất nước Việt Nam phải giữ được nền độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Với đường lối đúng đắn, tư duy đổi mới, linh hoạt, sáng tạo, Đảng ta đã phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước, tăng cường cả về thế và lực, nhất là tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh Đặc biệt trong những năm vừa qua nền quốc phòng Việt Nam

đã có một cuộc nâng cấp và đổi mới toàn diện ở mọi lĩnh vực, hải quân Việt Nam

sở hữu một hạm đội tàu ngầm tối tân Kilo ( được mệnh danh là "hố đen" trong lòng đại dương), ở trên bầu trởi lực lương không quân Việt Nam đã sở hữu những loại tiêm kích tối tân Su-30MK2 và tiếp tục tăng cường trong tương lai sắp tới, còn ở dưới mặt đất, lục quân Việt Nam đã sở hữu những chiếc xe tăng T-90S, đây được coi là một trong những loại xe tăng tốt nhất trên thế giới tại thời điểm hiện tại Nhờ

đó, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta có bước phát

Trang 9

triển toàn diện, mang tính đột phá Chúng ta đã nỗ lực xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại; với bản chất hòa bình, tự vệ Đó là nền quốc phòng của dân, do toàn dân tham gia xây dựng, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, đất nước ta đã có những thử thách nhất định liên quan đến chủ quyền hải đảo, đặc biệt phải kể đến việc Trung Quốc đang lăm le muốn chiếm lấy vùng biển đảo của tổ quốc, nổi bật nhất chính là sự kiện Trung Quốc đặt dàn khoan

HD-981 vào vùng biển thuộc lãnh thổ Việt Nam vào ngày 1/5/2014 , không dừng lại ở

đó, những năm tiếp theo, Trung Quốc liên tục xây dựng những hòn đảo nhân tạo tại quần đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam với mục đích khẳng định chủ quyền phi pháp Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống nhân dân Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa.Chính vì vậy, mà Đảng và Nhà Nước cần phải có những hành động quyết liệt hơn phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, phát huy nội lực kết hợp với ngoại lực, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc nhằm giúp cho những nhân dân Việt Nam tại các vùng biển hải đảo có thể giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước

Về kinh tế :

Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991 - 1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016 - 2019 đạt mức bình quân 6,8% Mặc dù năm 2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 nhưng tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới

Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu như năm 1989 mới đạt 6,3 tỷ USD/năm thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD/năm Đời sống nhân dân

cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, năm 1985 bình quân thu nhập đầu người mới đạt 159 USD/năm thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.750 USD/năm

Trang 10

Những nỗ lực đổi mới trong 35 năm qua đã giúp cho môi trường đầu tư liên tục được cải thiện, nhờ đó đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển Tính riêng năm 2019, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành đạt 2.046,8 nghìn tỷ đồng; tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 38,02 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 năm lại đây Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn là một điểm đến tin cậy cho các nhà đầu tư với tổng vốn FDI đạt 28,5 tỷ USD Ngoài ra, tại Việt Nam đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm để làm động lực cho phát triển kinh tế vùng, miền và cả nước; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hóa cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến công nghiệp Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển mạnh mẽ

Qua 35 năm, từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản, như cà phê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ và sản phẩm từ gỗ luôn duy trì ở mức cao Các mặt hàng xuất khẩu khác cũng có bước tiến lớn Đặc biệt, trong bối cảnh bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 khiến hoạt động thương mại và đầu

tư thế giới suy giảm, thì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2020 vẫn đạt 543,9 tỷ USD, tăng 5,1% so với năm 2019; xuất siêu 19,1 tỷ USD - cao nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016 Với kim ngạch xuất nhập khẩu ấn tượng đã đưa Việt Nam xếp thứ 22 thế giới về quy mô kim ngạch và năng lực xuất khẩu, đứng thứ 26 về quy mô thương mại quốc tế

35 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế; tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO Đến nay, đã có 71 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam

Từ khi gia nhập WTO đến nay, Việt Nam đã ký kết 15 FTA khu vực và song phương và đang đàm phán 2 FTA với các đối tác khác Các FTA mà Việt Nam tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới, trong đó có 15 nước thành viên G20 và 9/10 đối tác kinh tế - thương mại lớn nhất của Việt Nam thuộc 3 trung tâm kinh tế lớn nhất thế

Ngày đăng: 02/01/2023, 00:43

w