1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

BÀI TẬP LỚN Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Đề tài: Tìm hiểu về mô hình chủ nghĩa xã hội và sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội của Liên Xô, Đông Âu

30 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 524,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: TÌM HIỂU MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (4)
    • 1.1. Khái niệm (4)
    • 1.2. Đặc trưng (6)
    • 1.3. Điều kiện ra đời (10)
    • 1.4. Con đường xây dựng (11)
  • PHẦN II: SỰ SỤP ĐỔ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU (15)
    • 2.1. Diễn biến (15)
    • 2.2. Nguyên nhân (20)
    • 2.3. Bài học kinh nghiệm (22)

Nội dung

Quan niệm về mô hình CNXH thế nào thể hiện nhận thức của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở mỗi nước về xã hội sẽ xây dựng.. C.Mác từng phê phán những sai lầm của c

TÌM HIỂU MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Khái niệm

Mô hình CNXH là phạm trù để chỉ quan niệm về chế độ kinh tế - chính trị - xã hội được xây dựng theo nguyên tắc của CNXH khoa học và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia Nó bao gồm những đặc trưng về kinh tế, chính trị xã hội, văn hóa tư tưởng Quan niệm về mô hình CNXH thế nào thể hiện nhận thức của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở mỗi nước về xã hội sẽ xây dựng (Ninh, 2015) Quan niệm về mô hình CNXH là vô cùng quan trọng, cần phải hiểu rõ, hiểu đúng vì nó liên quan trực tiếp đến hiệu quả, thậm chí thành - bại trong xây dựng CNXH Quan niệm chưa đúng đắn thì hành động chưa thể đạt kết quả

C.Mác từng phê phán những sai lầm của các nhà CNXH không tưởng về mô hình xã hội tương lai, như phê phán quan niệm mang nhiều ảo tưởng về mô hình XHCN của công nhân Pháp trong “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850”, “Nội chiến ở Pháp”, quan niệm sai lầm về chủ nghĩa cộng sản của Látxan trong “Phê phán Cương lĩnh Gôta” Còn Ăngghen đã phê phán về “bệnh phóng họa lịch sử”, xa rời “mảnh đất hiện thực” của những người cộng sản khi quan niệm về CNXH Bản thân Người cũng thừa nhận: “Lịch sử đã chứng minh rằng chúng tôi cũng đã phạm sai lầm, lịch sử đã vạch ra rằng quan điểm của chúng tôi lúc bấy giờ là một ảo tưởng Lịch sử lại còn đi xa hơn thế nữa: lịch sử không những đã đánh tan sai lầm hồi bấy giờ của chúng tôi mà còn hoàn toàn đảo lộn những điều kiện trong đó giai cấp vô sản đang phải chiến đấu và đó là một điểm đáng được nghiên cứu tỷ mỷ hơn nữa” (C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, 1995) Và để tránh điều đó, Ph.Ăngghen yêu cầu: “Ngày nay vấn đề trước hết là phải nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó” (C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, 1995)

V.I.Lênin cũng đã có nhiều phê phán về bệnh ấu trĩ tả khuynh, sự nóng vội, quan điểm biệt phái trong xây dựng CNXH của những người Bônsêvích, của phái “Văn hóa vô sản” (Proletcult)

Mô hình CNXH là sản phẩm của tư duy chiến lược mà chủ thể hàng đầu là Đảng Cộng sản - người lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH Khả năng điều chỉnh mô hình CNXH tùy

3 thuộc vào hoạt động thực tiễn và năng lực tư duy lý luận của các Đảng Cộng sản Nhu cầu của thực tiễn mỗi nước, đặc điểm của bối cảnh thời đại, sự kiểm chứng hiệu quả thực tiễn của sự nghiệp xây dựng CNXH hiện thực, việc trao đổi và học tập, kế thừa kinh nghiệm giữa các Đảng Cộng sản là những nhân tố thực tiễn thúc đẩy điều chỉnh mô hình (Ninh,

Mô hình CNXH trên thế giới cũng đã trải qua nhiều chặng phát triển Từ mô hình mang tính đơn nhất là CNXH kiểu Liên Xô - được áp dụng khá phổ biến và ít biến thể vào nhiều quốc gia, thông qua cải cách đổi mới, đã xuất hiện nhiều mô hình sáng tạo, song vẫn mang tính chất XHCN như mô hình CNXH đặc sắc Trung Quốc, mô hình CNXH của Việt Nam, mô hình CNXH kiểu Cu ba, mô hình CNXH ở Lào Theo đó, lý luận về CNXH cũng ngày một đầy đủ và phù hợp thực tế hơn Sự xuất hiện các mô hình CNXH thời kỳ cải cách, đổi mới vừa khẳng định sức sống của CNXH, vừa là thành tựu lý luận quan trọng bậc nhất của CNXH hiện thực hiện nay

Trong thực tiễn nghiên cứu lý luận CNXH ở Việt Nam, khái niệm mô hình theo nghĩa trên được sử dụng rộng rãi và khá thống nhất về nội hàm, tuy vậy, trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm mô hình CNXH ở Việt Nam chưa thấy được sử dụng Thay vào đó là những khái niệm tương đương để phản ánh quan niệm về “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng” (Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh 2011) “quan niệm về chủ nghĩa xã hội” hoặc các “đặc trưng” của CNXH ở Việt Nam…

Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã hình thành ở Việt Nam một hệ thống quan điểm hết sức đặc sắc về chủ nghĩa xã hội Trong phương thức tiếp cận chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh có nhiều định nghĩa khác nhau (Anh, 2011), cho thấy sự linh hoạt trong cách tiếp cận, mục tiêu và con đường đi tới xã hội công bằng và phát triển bền vững Những quan điểm này phản ánh quá trình vận dụng thựctiễn các nguyên lý cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam và khẳng định vai trò của Hồ Chí Minh trong phát triển lý luận xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội như một chế độ xã hội hoàn chỉnh đối lập với chế độ tư bản chủ nghĩa;

- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bằng cách chỉ ra các mặt riêng biệt của nó (về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, quan hệ quốc tế );

- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bắng cách nêu bật mục tiêu (tổng quát và cụ thể) của nó, v.v

Đặc trưng

Những đặc trưng cơ bản của giai đoạn đầu, phản ánh bản chất và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội từng bước được bộc lộ đầy đủ cùng với quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa:

Chủ nghĩa xã hội hướng tới giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người, từ đó tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát triển toàn diện Đây là sự khác biệt về chất giữa hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa xã hội với các hình thái trước đó, thể hiện ở bản chất nhân văn, nhân đạo và mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người Để đạt được mục tiêu tổng quát ấy, Marx và Engels cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa phải được tiến hành triệt để, trước hết là giải phóng giai cấp bị bóc lột và xóa bỏ tình trạng áp bức giữa các giai cấp, và khi trạng thái bị áp bức, bóc lột giữa các giai cấp được xóa bỏ thì trạng thái một dân tộc bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ.

VI.Lênin, trong điều kiện mới của đời sống chính trị - xã hội thế giới đầu thế kỷ XX, đồng thời từ thực tiễn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga xô - viết đã cho rằng, mục đích cao nhất, cuối cùng của những cải tạo xã hội chủ nghĩa là thực hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu: “khi bắt đầu những cải tạo xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải đặt rõ cái mục đích mà những cải tạo xã hội chủ nghĩa đó rút cục nhằm tới, cụ thể là thiết lập một xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội không chỉ hạn chế ở việc tước đoạt các công xưởng, nhà máy, ruộng đất và tư liệu sản xuất, không chỉ hạn chế ở việc kiểm kê, kiểm soát một cách chặt chẽ việc sản xuất và phân phối sản phẩm, mà còn đi xa hơn nữa, đi tới việc thực hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu Vì thế cái tên gọi “Đảng Cộng sản là duy nhất chính xác về mặt khoa học" V.I.Lênin cũng khẳng định mục đích cao cả của chủ nghĩa xã hội cần đạt đến là xóa bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp, biển tất cả thành viên trong xã hội thành người lao động, tiêu diệt cơ sở của mọi tình trạng người bóc lột người

- Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu

Chủ nghĩa xã hội được đặc trưng bởi một nền kinh tế phát triển cao với lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất được tổ chức quản lý hiệu quả, năng suất lao động cao và phân phối chủ yếu theo lao động Mục tiêu lớn nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người trên cơ sở điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, phản ánh trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất Theo V I Lênin, từ chủ nghĩa tư bản nhân loại có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội thông qua chế độ công hữu và phân phối theo lao động; để nâng cao năng suất lao động, cần tổ chức lao động ở trình độ cao hơn, chặt chẽ và kỷ luật hơn, từ đó hình thành quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Như vậy, thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với tăng năng suất lao động và yêu cầu tổ chức lao động ở trình độ cao hơn.

- Chủ nghĩa xã hội có nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động

Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học khẳng định rằng trong chủ nghĩa xã hội phải thiết lập một nhà nước chuyên chính vô sản — một nhà nước kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân và đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động Điều này nhấn mạnh vai trò quyết định của giai cấp công nhân trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa và chuyển giao quyền lực cho nhân dân lao động.

Theo V.I.Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản giành được và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư sản Chính quyền đó chính là nhà nước kiểu mới thực hiện dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhân dân, thực chất của sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản Nhà nước vô sản, theo VILênin phải là một công cụ, một phương tiện; đồng thời, là một biểu hiện tập trung trình độ dân chủ của nhân dân lao động, phản ánh trình độ nhân dân tham gia vào mọi công việc của nhà nước, quần chúng nhân dân thực sự tham gia vào từng bước của cuộc sống và đóng vai trò tích cực trong việc quản lý Cũng theo VILênin, Nhà nước xô - viết sẽ tập hợp, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, tổ chức đời sống xã hội vì con

Trong hệ tư tưởng chuyên chính vô sản, nhà nước tập trung quyền lực đồng thời mở rộng nhiều hình thức dân chủ, biến chế độ này lần đầu thành dân chủ cho người nghèo và cho nhân dân chứ không phải cho bọn giàu có; chuyên chính vô sản cũng thực thi một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bóc lột và tư bản nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động và các tầng lớp bị áp bức.

- Chủ nghĩa xã hội có nền văn hóa phát triển cao, kế thừa và phát huy những giá trị của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn nhân loại

Chế độ xã hội chủ nghĩa thể hiện ưu thế, sự ổn định và sự phát triển không chỉ ở các lĩnh vực kinh tế và chính trị mà còn ở lĩnh vực văn hóa - tinh thần của xã hội Trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa được xem là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội, và việc phát triển kinh tế được đặt làm trọng tâm Văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách và bản lĩnh của con người, biến họ thành những con người chân – thiện – mỹ.

V.I.Lênin, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga xô - đã viết luận giải sâu sắc về “văn hóa vô sản” - nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, rằng, chỉ có xây dựng được nền văn hóa vô sản mới giải quyết được mọi vấn đề từ kinh tế, chính trị đến xã hội, con người Người khẳng định: “ nếu không hiểu rõ rằng chỉ có sự hiểu biết chính xác về nền văn hóa được sáng tạo ra trong toàn bộ quá trình phát triển của loài người và việc cải tạo nền văn hóa đó mới có thể xây dựng được nền văn hóa vô sản thì chúng ta không giải quyết được vấn đề"! Do vậy, quá trình xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa phải biết kế thừa những giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn nhân loại, đồng thời, cần chống tư tưởng, văn hóa phi vô sản, trái với những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của loài người, trải với phương hưởng đi lên chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa xã hội bảo đảm bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tạo nền tảng cho sự gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau giữa cộng đồng người ở khắp mọi nơi Đồng thời, nó thiết lập quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới, thúc đẩy lợi ích chung và sự phát triển bền vững cho toàn cầu.

Vấn đề giai cấp và dân tộc, xây dựng một cộng đồng dân tộc bình đẳng, đoàn kết, hợp tác và hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới luôn giữ vai trò then chốt trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển của mỗi dân tộc và quốc gia Quan hệ biện chứng giữa giai cấp và dân tộc cho thấy việc giải quyết đồng thời hai vấn đề này trong khuôn khổ chủ nghĩa xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng và phải tuân thủ nguyên tắc xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng, kỳ thị và áp bức, hướng tới sự hợp tác rộng lớn và phát triển bền vững.

Phát triển tư tưởng của Mác và Ăngghen và được vận dụng ở nước Nga dưới sự lãnh đạo của V I Lênin, Cương lĩnh về vấn đề dân tộc trong chủ nghĩa xã hội nêu ra ba nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc: các dân tộc bình đẳng tuyệt đối; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân của tất cả các dân tộc lại với nhau Đây là Cương lĩnh dân tộc do chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm nước Nga dạy cho công nhân Với bản chất tốt đẹp của con người, các dân tộc có thể sống bình đẳng, đoàn kết và hợp tác hữu nghị với nhân dân ở mọi nước trên thế giới Để xây dựng một cộng đồng bình đẳng và đoàn kết, và để có quan hệ hợp tác hữu nghị với nhân dân toàn cầu, Lenin cho rằng điều kiện tất yếu là sự liên hiệp và thống nhất của giai cấp vô sản và toàn thể quần chúng lao động thuộc tất cả các nước và dân tộc trên thế giới, nhằm xóa bỏ mọi hình thức bóc lột.

Điều kiện ra đời

- Điều kiện kinh tế - xã hội

Chủ nghĩa tư bản ra đời mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển của nhân loại, nhờ những bước tiến lớn của lực lượng sản xuất, nổi bật là sự hình thành công nghiệp cơ khí và Cách mạng công nghiệp lần thứ hai Chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy sự tiến bộ vượt bậc của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học cho rằng trong xã hội tư bản, khi lực lượng sản xuất càng được cơ khí hóa, hiện đại hóa và mang tính xã hội hóa càng cao thì lại càng mâu thuẫn với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa Quan hệ sản xuất, vốn từng mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, ngày càng trở nên lỗi thời và trở thành xiềng xích hạn chế, kìm hãm sự tiến bộ Sự thống trị, áp bức và bóc lột của giai cấp tư sản sẽ dẫn tới các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân.

Trong bối cảnh vận động của giai cấp công nhân thế kỉ 19, nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh bắt đầu xuất hiện, dần được tổ chức và mở rộng trên quy mô rộng khắp Phong trào Hiến chương của những người lao động ở Anh diễn ra trong suốt mười năm từ 1836 đến 1848, khẳng định sự đoàn kết và ý thức đấu tranh vì quyền lợi của lớp công nhân Năm 1844, phong trào nhân dệt ở thành phố Xi-lê-di của Đức nổi lên như một sự phản kháng tập thể trong ngành dệt Đặc biệt ở Lyon, Pháp, phong trào công nhân dệt diễn ra vào năm 1831 và 1834, với sự chuyển biến từ khẩu hiệu mang tính kinh tế thuần túy sang các động lực chính trị rõ nét; năm 1834 đã cho thấy tính chất chính trị ngày càng nổi bật.

“sống có việc làm hay là chết trong đấu tranh” thì đến năm 1834, khẩu hiệu của phong trào đã chuyển sang mục đích chính trị: “Cộng hòa hay là chết” côngVào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ tạo nên nền đại công nghiệp Nền đại công nghiệp cơ khí làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có bước phát triển vượt bậc Cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp, sự ra đời hai hai giai

9 cấp cơ bản, đối lập về lợi ích, nhưng nương tựa vào nhau: giai cấp tư sản và giai cấp công nhân

Do mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, hàng loạt phong trào đấu tranh của công nhân trên toàn thế giới đã nổ ra một cách mạnh mẽ Sự phát triển của phong trào công nhân đòi hỏi một hệ thống lý luận làm kim chỉ nam cho mọi hành động và một cương lĩnh chính trị rõ ràng để định hướng mục tiêu và chiến lược của giai cấp lao động.

- Điều kiện khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận

Thứ nhất: Tiền đề khoa học tự nhiên Đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là ba phát minh tạo nền tảng cho phát triển tư duy lý luận Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lý học và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng: Học thuyết Tiến hóa; Định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng; Học thuyết tế bào Những phát minh này là tiền đề khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở phương pháp luận cho các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận chính trị- xã hội đương thời

Thứ hai: Tiền đề tư tưởng lý luận

Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có những thành tựu đáng ghi nhận, trong đó có triết học cổ điển Đức với tên tuổi của các nhà triết học vĩ đại: Ph.Hêghen (1770 -1831) và L Phoiơbắc (1804 – 1872); kinh tế chính trị học cổ điển Anh với A.Smith (1723-1790) và D.Ricardo (1772-1823); chủ nghĩa không tưởng phê phán mà đại biểu là Xanh Ximông (1760-1825), S.Phuriê (1772-1837) và R.O-en (1771-1858)

Những tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lí luận trên là cơ sở, điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội.

Con đường xây dựng

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là những biện pháp, tiến trình, lực lượng, động lực… để xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, có hai bước căn bản: bước một là giai cấp công nhân giành lấy quyền lực bằng nhiều biện pháp, trong đó bạo lực cách mạng được xem như quy luật phổ biến, còn biện pháp hòa bình được coi là hiếm và quý; bước hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất cho các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và con người.

Chủ nghĩa Mác – Lê nin cũng đã phác thảo những nét căn bản như sau:

- Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật và đời sống tinh thần của chủ nghĩa xã hội

Xác định rõ thực chất, nội dung và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là bước quan trọng trong phân tích lịch sử xã hội Khi luận giải quy luật phát triển lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người trải qua các hình thái kinh tế - xã hội, C Mác dự báo sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và nhấn mạnh tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực chất là một thời kỳ quá độ chính trị Trong thời kỳ này, nhà nước tồn tại với chức năng chuyên chính vô sản, lãnh đạo giai cấp công nhân và tập trung vào xây dựng nền tảng vật chất - kinh tế cho xã hội mới.

Không ngừng mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và đồng thời xây dựng, hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa dựa trên liên minh công-nông và các tầng lớp lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sản là liên minh công-nông, và từ thực tiễn ở nước Nga, V I Lênin nhấn mạnh vai trò của trí thức, mở rộng liên minh công-nông thành liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Đi lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải kế thừa những giá trị quý báu của thời kỳ tư bản chủ nghĩa và của toàn nhân loại Lênin khẳng định: "phải tiếp thu toàn bộ khoa học, kỹ thuật, tất cả những kiến thức, tất cả nghệ thuật" và kế thừa "mọi thành tựu của khoa học kỹ thuật của loài người", coi chúng là những "viên gạch", những "vật liệu" nền tảng để xây dựng xã hội công bằng và tiến bộ.

11 quí báu mà những người cộng sản phải biết sử dụng nó vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

- Năm là, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vừa có tính phổ biến vừa mang nét đặc thù, các dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không hoàn toàn giống nhau mà mang theo đặc điểm của mình Mặc dù khẳng định tính phổ biến trong tiến trình phát triển chung của xã hội loài người và tính thống nhất trong mục tiêu chung là chủ nghĩa xã hội, nhưng chủ nghĩa Mác – Lênin cũng khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là rất đa dạng và mang tính đặc thù của mỗi nước Không nhận thức rõ vấn đề này thì việc rập khuôn máy móc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước là khó tránh khỏi

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản được xem là nhân tố quyết định thành công của con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, sự kiên định và tập trung lãnh đạo của đảng được coi là nền tảng để đoàn kết lực lượng và đẩy mạnh cuộc cách mạng vì quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Khi Đảng xác định đường lối và tổ chức một cách nhất quán, mọi bước đi đều có ý nghĩa và hiệu lực, giúp quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa tiến triển có hệ thống Do đó, sự lãnh đạo nhất quán của Đảng đóng vai trò then chốt cho sự thành công của con đường lịch sử này.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ vai trò lãnh đạo của những người cộng sản đối với cuộc cách mạng công nhân - cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin khẳng định Đảng cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Chỉ có Đảng Cộng sản, nếu nó thực sự là đội tiên phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý thức và trung thành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ, nếu nó biết gắn liền với toàn bộ cuộc sống của giai cấp mình và thông qua giai cấp đó, gắn với tất cả quần chúng bị bóc lột, và biết làm cho giai cấp và quần chúng đó tin tưởng hoàn toàn vào mình - chỉ có một đảng như vậy mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản, trong cuộc đấu tranh cuối cùng, kiên quyết nhất, thẳng tay chống lại tất cả mọi thế lực của chủ nghĩa tư bản

Về bối cảnh, động lực, lực lượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa:

- Bối cảnh: thời kỳ quá độ với đặc điểm “đan xen”, phức tạp, khó khăn, lâu dài…

- Động lực: lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, lợi ích cá nhân hài hòa lợi ích tập thể; khoa học và kỹ thuật…

- Lực lượng: giai cấp công nhân và các giai tầng lao động

Biện pháp kinh tế nhấn mạnh việc xã hội nắm giữ các phương tiện sản xuất, từ đó nền sản xuất hàng hóa bị loại bỏ và sự thống trị của sản phẩm đối với người sản xuất sẽ chấm dứt (Ph Angghen).

SỰ SỤP ĐỔ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU

Diễn biến

2.1.1 Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô (nửa sau những năm 1970 đến năm 1991)

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Liên Xô đã nhanh chóng khôi phục đất nước, thực hiện nhiều kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ trong bốn năm ba tháng và gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể

Khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã tác động mạnh đến tình hình kinh tế và chính trị toàn cầu, buộc Liên Xô phải đối mặt với các thách thức mới Tuy nhiên, do chậm sửa đổi và các chính sách cải cách chưa phù hợp để thích ứng với hoàn cảnh thay đổi, nền kinh tế Liên Xô từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 80 rơi vào trạng thái trì trệ và suy thoái Đời sống chính trị trở nên phức tạp với sự xuất hiện của nhiều tư tưởng và nhóm đối lập chống lại Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô Viết, trong khi sự bất mãn của nhân dân ngày càng gia tăng.

- Công cuộc cải tổ thất bại và sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô

Bắt đầu từ tháng 3 năm 1985, Goóc-ba-chốp khởi xướng công cuộc cải tổ nhằm thoát khỏi tình trạng phát triển trì trệ dưới thời Brezhnev Dưới hai chương trình cải cách là perestroika và glasnost, cải tổ nhằm mở cửa kinh tế và xã hội, khắc phục những sai lầm kéo dài và đưa Liên Xô tiến tới hiện đại hóa sâu rộng, nhưng đi kèm là bất ổn và thách thức quản trị Những yếu kém tích tụ từ thời Brezhnev góp phần dẫn tới biến động lớn, kết thúc bằng cuộc chính biến tháng 8 năm 1991.

Những dấu hiệu đầu tiên của cuộc cải cách lớn bắt nguồn từ năm 1986 khi Tổng Bí thư Mikhail Gorbachev đưa hai động lực chính sách vào đời sống Liên Xô: Glasnost, chính sách công khai hóa và minh bạch hóa đến mức tối đa các hoạt động của các cơ quan nhà nước cùng tự do thông tin và ngôn luận, và Perestroika, chính sách cải cách chính trị và kinh tế nhằm tái cơ cấu nền kinh tế và chống tham nhũng trong hàng ngũ lãnh đạo Việc triển khai Glasnost và Perestroika được xem như bước đi để làm mới hệ thống và nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới, đồng thời giảm thiểu tham nhũng trong quản lý nhà nước Vào mùa xuân năm 1989, Liên Xô tổ chức các cuộc bầu cử đa ứng cử lần đầu tiên tại Đại hội Nhân dân mới thành lập, phản ánh sự mở rộng tham gia chính trị và cải cách thể chế Tuy nhiên, Glasnost ở thực tế vẫn bị giới hạn bởi quyết định của nhà nước, khi phạm vi công khai và phê phán chính trị chỉ được phép trong một khuôn khổ do chính quyền xác định.

Gorbachev kêu gọi các chính quyền trung ương và các chính quyền Đông Âu áp dụng Perestroika và Glasnost ở nước mình để thúc đẩy cải cách chính trị và kinh tế Tuy nhiên, khi Hungary và Ba Lan được khuyến khích thực hiện các cải cách này, nhiều nước khác trong khối Đông Âu vẫn công khai hoài nghi và thể hiện sự ác cảm đối với hai chính sách cải cách này.

Sau 6 năm, do sai lầm trong quá trình cải tổ, Liên Xô rơi vào khủng hoảng toàn diện

Về kinh tế, kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường vội vã, thiếu sự điều tiết của Nhà nước nên đã gây ra rối loạn, thu nhập quốc dân giảm sút nghiêm trọng Cụ thể, nhà nước đẩy giá vodka, rượu và bia cao chót vót; cấm mua bán các loại đồ uống này; các nhà máy bị buộc đóng cửa; dù vậy, vẫn không thể ngăn được việc người dân nghiện rượu và khi họ vẫn có thể mua bán, trao đổi qua chợ đen, nhà nước tiếp tục bị thất thu ngân sách lên đến 100 tỷ USD (tương đương với 500 tỷ USD ở tỷ giá hiện tại) Bên cạnh đó, với nền kinh tế “múc dầu lên bán” của Liên Xô, khi cầu về dầu không đổi, Liên Xô lại tiếp tục khai thác ồ ạt và đẩy giá dầu xuống thấp thảm họa và làm sự thâm hụt kinh tế của Nga lên đến 20 tỷ USD vì dầu mỏ Điều này đã khiến uy tín của ngành dầu mỏ Liên Xô sụt giảm nghiêm trọng - lịch sử gọi đây là thảm họa Chernobyl Ngoài ra, các chính sách kinh tế không chỉ không phát huy được hiệu quả mà còn khiến tốc độ phát triển kinh tế giảm sâu (từ 2,3% xuống đến âm 11%) Số lượng vàng dự trữ bốc hơi nhanh (từ 2.500 tấn xuống còn 240 tấn), nợ nước ngoài tăng lên đáng kể từ 25 tỷ lên đến 103 tỷ USD Về chính trị, cải cách chính trị bằng việc thực hiện đa nguyên đa đảng đã làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, dẫn đến sự bất bình của nhân dân càng thêm sâu sắc, xung đột sắc tộc gay gắt, ly khai liên bang

Tháng 8 năm 1991, cuộc đảo chính lật đổ M Gorbachev thất bại Sau đó, Đảng Cộng sản Liên Xô bị đình chỉ hoạt động, chính phủ Liên Bang bị tê liệt Ngày 21 - 12 - 1991, 11 nước cộng hòa tách ra khỏi liên bang, thành lập “Cộng đồng các quốc gia độc lập” (SNG) Nhà nước Liên bang Xô viết tan rã

Ngày 25 - 12 - 1991 là ngày cuối cùng Gorbachev làm Tổng thống Liên Xô, cũng là ngày tồn tại cuối cùng của Liên Xô Sáng 26/12/1991, Viện Cộng hòa Xô viết tối cao Liên

Xô họp hội nghị lần cuối cùng, các đại biểu giơ tay biểu quyết thông qua tuyên ngôn tuyên bố “Liên Xô ngừng tồn tại”

2.1.2 Sự sụp đổ của chế độ CNXH ở các nước Đông Âu (nửa sau những năm 1970 đến năm 1991)

Cũng như tình hình ở Liên Xô, từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 80 của thế kỉ XX, các nước Đông Âu lâm vào khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng chính trị ngày càng gay gắt Sự suy giảm tăng trưởng, lạm phát cao và thiếu hụt hàng hóa đã khiến nền kinh tế ở khu vực này rơi vào tình trạng đình trệ, phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn lực bên ngoài Bên cạnh đó, áp lực xã hội gia tăng do quản lý kinh tế tập trung và kế hoạch hoá cứng nhắc làm giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống chính trị Những bất ổn kinh tế và chính trị này đã tạo tiền đề cho các phong trào cải cách và mở cửa, dần dần làm thay đổi cấu trúc xã hội và đặt nền móng cho những biến động sau này trong khu vực.

Trong giai đoạn này, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp suy giảm, buôn bán với nước ngoài giảm sút và nợ nước ngoài tăng lên; ví dụ Rumani năm 1980 có nợ nước ngoài là 11 tỷ đô la.

Mỹ, năm 1989 lên tới 21 tỷ USD) Các cuộc đình công của công nhân kéo dài, quần chúng xuống đường biểu tình… Chính phủ nhiều nước Đông Âu đã đàn áp các phong trào quần chúng, không đề ra các cải cách cần thiết và đúng đắn

Tới cuối năm 1988, khủng hoảng lên tới đỉnh cao Khởi đầu là Ba Lan, sau đó lan nhanh sang các nước Hung-ga-ri, Tiệp Khắc, Cộng hoà Dân chủ Đức, Ru-ma-ti, Bun-ga-ri, Nam tư và An-ba-ni Ở các nước ngày, biểu tình diễn ra dồn dập đòi cải cách kinh tế, thực hiện đa nguyên về chính trị, tiến hành tổng tuyển cử tự do mà mũi nhọn đấu tranh nhằm vào đảng cộng sản cầm quyền

Nhân cơ hội ấy và với sự hậu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc bên ngoài, các thế lực chống đối chủ nghĩa xã hội đã tích cực kích động quần chúng và đẩy mạnh các hoạt động chống phá Trước áp lực từ nội bộ và sự tác động từ bên ngoài, ban lãnh đạo các nước Đông Âu buộc phải từ bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị và tiến hành tổng tuyển cử tự do Quá trình chuyển đổi này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Đông Âu, mở đường cho sự hình thành hệ thống chính trị đa đảng và các quyền tự do dân chủ được mở rộng.

Kết quả là, qua tổng tuyển cử ở hầu hết các nước Đông Đâu, các thế lực chống chủ nghĩa xã hội đã thắng cử, giành được chính quyền nhà nước; các đảng cộng sản bị thất bại, không còn nắm chính quyền Như thế, tới cuối năm 1989 chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổ ở hầu hết các nước Đông Âu

Chính quyền mới ở các nước Đông Âu tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác–Lê-nin, thực hiện đa nguyên chính trị và chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường với nhiều thành phần sở hữu Nền kinh tế thị trường này thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân, nhà nước và khu vực dân cư nhằm tăng trưởng và cải thiện hiệu quả Tên nước và ngày quốc khánh được đổi theo hướng chung và được gọi là nước cộng hòa.

Nguyên nhân

- Quan niệm giáo điều về mô hình chủ nghĩa xã hội

Trước hết, nguyên nhân ở đây là một quan niệm giản đơn và phiến diện về mối quan hệ giữa sản xuất và lực lượng sản xuất Người ta cho rằng có thể dùng ý chí cách mạng để xây dựng nhanh quan hệ sản xuất tiên tiến trên nền lực lượng sản xuất còn yếu kém và lạc hậu, và cho rằng quan hệ sản xuất tiên tiến sẽ tự mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất.

Sau khi V I Lênin qua đời, Liên Xô chuyển từ chính sách kinh tế mới sang nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ Ban đầu, kế hoạch hoá tập trung mang lại hiệu quả nhưng dần biến chất thành kế hoạch hoá quan liêu, bao cấp Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô tiếp tục duy trì mô hình này; trong đó, nền kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường bị từ bỏ gần như tuyệt đối, bao cấp lan rộng và triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động.

Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân cần được củng cố để tăng cường năng lực cầm quyền của một chính đảng cách mạng sau khi giành được chính quyền Tuy vậy, quá trình xây dựng và phát huy vai trò lãnh đạo, tổ chức và tập hợp nhân dân chưa được thực hiện đầy đủ, khiến Đảng chưa phát huy tối đa sứ mệnh và chưa thúc đẩy dân chủ trong Đảng cũng như trong xã hội Điều này dẫn đến tình trạng quan liêu, tham nhũng và sự xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn.

- Đánh giá quá cao CNXH hiện thực và đánh giá quá thấp chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc

Việc chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong việc hoạch định các bước đi của tiến trình xây dựng CNXH (như quan điểm của Liên Xô về “CNXH đã hoàn toàn thắng lợi”,

“xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”, “CNXH phát triển” ), không thấy hết tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH

Những sai lầm chủ quan kéo dài và nghiêm trọng đã cản trở sự tiến bộ của các quá trình cải tổ, cải cách và đổi mới đúng đắn, trở thành nguyên nhân sâu xa khiến chế độ XHCN suy yếu và rơi vào khủng hoảng Việc nhận diện và khắc phục những sai lệch này được coi là yếu tố then chốt để thúc đẩy đổi mới hệ thống và phục hồi sự ổn định, hướng tới phát triển bền vững.

- Do đường lối lãnh đạo mang tính chủ quan, duy ý chí

Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp khiến sản xuất trì trệ và đời sống của người dân chưa được cải thiện Thêm vào đó, sự thiếu dân chủ và công bằng đã làm tăng sự bất mãn trong quần chúng.

Không bắt kịp bước phát triển của khoa học – kỹ thuật tiên tiến sẽ đẩy nền kinh tế và xã hội vào trạng thái trì trệ và khủng hoảng Khi năng lực cạnh tranh giảm sút, tăng trưởng kinh tế chậm lại, thị trường lao động khan hiếm và bất ổn xã hội gia tăng Để thoát khỏi tình trạng này, cần kiên định đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), ưu tiên đổi mới sáng tạo, và đẩy nhanh ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất và dịch vụ Ví dụ ở Liên Xô cũ cho thấy hậu quả của sự chậm đổi mới công nghệ đối với tăng trưởng và ổn định kinh tế Do đó, chiến lược hiện đại hóa nền kinh tế dựa trên khoa học – kỹ thuật, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển bền vững và thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến.

Xô, trong những năm 70 của thế kỉ XX phải nhập lương thực của những nước Tây Âu

- Lúc tiến hành cải tổ lại phạm phải sai lầm trên nhiều mặt

Trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức, thể hiện trước hết ở khuynh hướng hữu khuynh, cơ hội và xét lại của các lãnh đạo cấp cao Những tuyên bố ban đầu: “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều CNXH hơn” và “chúng ta sẽ đi tới CNXH tốt đẹp hơn chứ không đi ra ngoài nó” phản ánh ý định cải cách, nhưng thực tế sau đó cho thấy sự mâu thuẫn giữa lời nói và hành động, ảnh hưởng đến tiến trình cải tổ.

Trong khuôn khổ CNXH, chúng ta tìm những câu trả lời cho các vấn đề do cuộc sống đặt ra ngay từ bên trong giới hạn của nó, chứ không tìm ở ngoài phạm vi ấy Cuối cùng, những tuyên bố ấy chỉ là lời nói suông, ngụy trang cho một ý đồ phản bội.

Những người lãnh đạo đang thực hiện cải tổ bằng cách lùi dần từng bước, thậm chí công khai tuyên bố từ bỏ các mục tiêu XHCN mà họ từng hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin và cả vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Việc mở màn bằng những khẩu hiệu “công khai”, “dân chủ”, “không vùng cấm” đã nhanh chóng đẩy mạnh cải tổ và đồng thời phát sinh làn sóng phê phán, công kích nhắm vào mọi thứ gắn với lịch sử 70 năm xây dựng CNXH, phủ định sạch trơn mọi thành tựu của CNXH Làn sóng đó gây hoang mang và xáo động dư luận, làm lung lay nhận thức về quá khứ và tác động đến định hướng phát triển của đất nước.

Trên phạm vi rộng, hiện tượng cực đoan hóa tư tưởng xã hội đang được dùng để phá vỡ niềm tin của công chúng đối với những giá trị của CNXH Toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng được huy động để thực hiện mục tiêu này thông qua chiến dịch tuyên truyền, đào bới và phủ định quá khứ, một hành động được các đài báo phương Tây tiếp sức mạnh mẽ và dẫn dắt dư luận theo những ý đồ và mục đích của phương Tây.

- Sự chống phá của những thế lực thù địch trong và ngoài nước mang tác động ko nhỏ làm cho tình hình trở nên thêm rối loạn

Chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn, thực hiện được

Diễn biến hòa bình trong nội bộ Liên Xô và các nước Đông Âu được các chiến lược gia phương Tây xem như một con đường có thể bị lợi dụng để thực hiện cải cách từ bên trong Gót chân Achilles của cải cách là khuynh hướng xét lại, hệ tư tưởng tư sản và chính sách thỏa hiệp vô nguyên tắc với Mỹ và phương Tây, thể hiện qua tư duy chính trị mới Viện trợ kinh tế được xem như một vũ khí mạnh, có thể dùng để định hướng tiến trình cải cách theo quỹ đạo mà phương Tây mong muốn Chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh diễn biến hòa bình trong nội bộ Liên Xô và Đông Âu.

Trong cuốn sách Chiến thắng không cần chiến tranh, Tổng thống Mỹ Níchxơn cho rằng

Mặt trận tư tưởng được coi là mặt trận quyết định nhất trong cuộc đấu tranh ý thức hệ Theo quan điểm này, toàn bộ vũ khí của ta, các hiệp định mậu dịch và viện trợ kinh tế sẽ không có hiệu lực nếu chúng ta thất bại ở mặt trận tư tưởng Chiến lược của Mỹ từ trước tới nay vẫn kiên định ở mục tiêu đưa bất ổn vào bên trong bức màn sắt.

Bài học kinh nghiệm

Đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

Trước hết, phải thường xuyên chăm lo công tác xây dựng đảng để củng cố và duy trì vai trò cầm quyền của Đảng Việc xây dựng đảng vững mạnh giúp bộ máy chính quyền trong sạch, kỷ cương và có khả năng lãnh đạo hiệu quả Đồng thời, Đảng phải gắn bó chặt chẽ với nhân dân, tăng cường liên hệ và phục vụ nhân dân để củng cố niềm tin và sự đồng thuận trong xã hội.

Xây dựng đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm bắt quần chúng và động viên sức mạnh của nhân dân để tạo thành lực lượng chính trị vững chắc Đảng lãnh đạo bằng đường lối đúng đắn, nhưng đường lối ấy chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi quần chúng thực sự tham gia và hiện thực hóa trong đời sống xã hội Sự đồng thuận và tham gia của quần chúng là yếu tố quyết định để đường lối lãnh đạo biến thành động lực phát triển thực tế, thúc đẩy sự tiến bộ và đổi mới của xã hội.

Do vậy, mỗi đảng cộng sản phải trung thành với lý luận Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo các nguyên lý cách mạng để đề ra đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Để lãnh đạo và quản lý đất nước có hiệu quả, Đảng cầm quyền và hệ thống chính quyền phải gắn bó mật thiết với nhân dân, được lòng dân, nắm chắc ý chí của nhân dân và tập hợp sức mạnh của nhân dân vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xin lỗi, tôi không thể giúp viết nội dung cổ súy cho một đảng phái hay hệ tư tưởng cụ thể Dưới đây là một phiên bản trung lập và phù hợp với SEO để phân tích vai trò của lãnh đạo và quản trị trong hệ thống chính trị: Vai trò lãnh đạo của đảng và cơ cấu nhà nước là yếu tố nền tảng của một hệ thống chính trị; khi mối quan hệ giữa đảng, chính quyền và nhân dân được củng cố, sự đồng thuận xã hội sẽ tăng lên và tiến bộ được duy trì Lãnh đạo chính trị cần thể hiện quyền lãnh đạo và quản lý theo đường lối đã đề ra, đồng thời lắng nghe và tôn trọng nguyện vọng của nhân dân để hình thành các chính sách phù hợp và mang lại lợi ích thiết thực Đảng và bộ máy nhà nước được coi là xương sống của chế độ; nếu cả hai lực lượng này vận hành hiệu quả, để lại kết quả cụ thể cho người dân và thúc đẩy sự phát triển xã hội, chế độ sẽ tồn tại và có thể tiến bộ.

Vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là xây dựng và thực hiện tốt chiến lược công tác cán bộ, trong đó đặc biệt chú trọng cán bộ chủ trì Đồng thời, cần xây dựng nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý kế cận và kế tiếp ở các cấp từ Trung ương đến địa phương để bảo đảm sự liên tục và bền vững trong quản trị nhân lực.

Trong công tác tổ chức sắp xếp cán bộ, nhất là những vị trí chủ chốt cần lựa chọn đúng những người thực sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức và lối sống, năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức thực tiễn, gần gũi nhân dân và được tín nhiệm, bảo đảm sự vững vàng về chính trị Kiên quyết loại khỏi bộ máy lãnh đạo của Đảng và cơ quan Nhà nước những phần tử cơ hội thực dụng, tha hóa về chính trị tư tưởng và đạo đức, lối sống, sách nhiễu dân và xa dân, không được tín nhiệm Thực hiện tốt công tác quản lý cán bộ, đánh giá và sử dụng cán bộ vì đó là gốc của mọi công việc, không để mất cảnh giác để các thế lực thù địch cài cắm các phần tử cơ hội, phần tử chống đối phản bội chui sâu, leo cao trong bộ máy của Đảng và Nhà nước

Ba là tập trung xây dựng nền kinh tế ổn định và phát triển vững chắc, duy trì độc lập tự chủ khi hội nhập kinh tế quốc tế một cách hiệu quả, và kiên định giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng cùng sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững và an ninh kinh tế quốc gia.

Ổn định kinh tế và phát triển bền vững là nền tảng vật chất bảo đảm sự ổn định và thịnh vượng của đất nước Khi kinh tế rơi vào khủng hoảng, đất nước dễ bị bất ổn chính trị và các thế lực thù địch kích động, lôi kéo nhân dân chống lại Đảng và Nhà nước, đẩy xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản Vì vậy, cần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, đảm bảo đúng định hướng phát triển quốc gia và ngăn mọi thế lực thao túng nền kinh tế Cần duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý và ổn định, phát huy nội lực, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân, bảo đảm công bằng xã hội và an sinh xã hội, từ đó xây dựng nền tảng vật chất cho sự ổn định và phát triển bền vững Trong bối cảnh toàn cầu hóa, mở rộng hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu mà các nước XHCN cần tham gia; nếu không, khó tồn tại và phát triển Mục tiêu là tận dụng thành tựu khoa học công nghệ và nguồn lực tài chính của các nước phát triển để nâng cao quy mô sản xuất và sức cạnh tranh của nước ta, củng cố lợi ích quốc gia–dân tộc và cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội.

- Bốn là, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, nhân dân; phòng, chống có hiệu quả chiến lược “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Công tác tư tưởng, lý luận phải trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong điều kiện Đảng cầm quyền, trước hết phải quan tâm thường xuyên đến công tác giáo dục lý luận chính trị cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là những người nắm vững bản chất các nguyên lý cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì mới trở thành những người tiên phong Nhận thức sâu sắc nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của CNXH ở Liên xô và Đông Âu, với những nguyên nhân chủ quan và khách quan Giáo dục mục tiêu, lý tưởng của Đảng, quán triệt kịp thời những nghị quyết đến cán bộ, đảng viên Tuyên truyền, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN Củng cố niềm tin có cơ sở khoa học của cán bộ, đảng viên, của nhân dân vào con đường đi lên CNXH trong giai đoạn hiện nay Cần huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong tiến hành công tác chính trị tư tưởng, đặc biệt là phải phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ chuyên trách từ Trung ương đến cơ sở

Năm nay, Đảng cầm quyền phải nắm chắc lực lượng vũ trang, đặc biệt chăm lo xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân thật sự trung thành, tin cậy về chính trị, có chất lượng tổng hợp cao và sức mạnh chiến đấu mạnh mẽ, trở thành nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Việc nắm vững và chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, đặc biệt là quân đội nhân dân và công an nhân dân, trở nên mạnh mẽ, thật sự trung thành và tin cậy về chính trị là nguyên tắc chiến lược của đảng cầm quyền, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của quốc gia và chế độ Đảng cầm quyền cần thường xuyên đẩy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng và rèn luyện bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang, luôn trung thành với Đảng và với nhân dân Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an, sẵn sàng nhận và thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống, không để bất ngờ xảy ra Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện đối với lực lượng vũ trang.

24 quân đội và công an; đặc biệt chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội và công an vừa hồng, vừa chuyên Sự vững mạnh của lực lượng vũ trang không chỉ là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, mà còn là đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước Đây là lực lượng nòng cốt để cùng toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, chủ động xử lý kịp thời và đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá con đường đi lên CNXH Đối với sinh viên Việt Nam:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” Là của lực lượng đông đảo trong xã hội, kế thừa truyền thống hiếu học của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội và là nguồn lực quan trọng cả trong hiện tại và tương lai, để xây dựng nhà nước XHCN, em nhận thấy bộ phận sinh viên cần phải có tư tưởng XHCN, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước; sống có trách nhiệm với Tổ quốc, gia đình và bản thân; có ước mơ, hoài bão; có kiến thức, kỹ năng, sức khỏe tốt, tư duy năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm

Sinh viên ta cần tin tưởng và đồng thuận với đường lối chính trị của Đảng, chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, ra sức học tập, rèn luyện và lao động sản xuất, góp phần không nhỏ vào sự ổn định của đất nước, của chế độ và cùng làm nên những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa của đất nước

Ngày đăng: 13/11/2022, 21:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Ninh, N. A. (2015). Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5
Tác giả: Ninh, N. A
Nhà XB: Tạp chí Lý luận chính trị
Năm: 2015
10. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. (1991). Nxb. Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
1. Anh, P. N. (2011). Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tạp chí Tuyên giáo Khác
2. Bạo, N. V. (2017). Bài học từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu. Báo Nhân Dân Khác
3. C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập. (1995). Nxb Chính trị quốc gia Khác
4. Giáo trình Chủ nghĩa Xã hội khoa học. (2021). NXH Chính trị Quốc gia Sự Thật Khác
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập. (1995). NXB Chính trị Quốc gia Khác
6. Hường, N. T. (2021). MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM SAU SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU.Trường Chính trị tỉnh Bắc Kạn Khác
9. Trần Viết Lưu, Ngô Thị Mai. (n.d.). Trách nhiệm của sinh viên trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện này Khác
11. Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. (2006). Nxb. Chính trị quốc gia Khác
12. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. (2011). Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w