1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY thơ dân tộc dao thời kì hiện đại

85 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ dân tộc Dao thời kỳ hiện đại
Tác giả Phạm Thị Vân Anh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Kiến Thọ
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngôn Ngữ, Văn Học Và Văn Hóa Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hay cuốn “Phja bjooc” của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng viết về nhà thơ Bàn Tài Đoàn, Luận văn thạc sĩ “Bản sắc Dao trong thơ Bài Tài Đoàn”2014 của tác giả Bàn Thị Quỳnh Dao đã b

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ VÂN ANH

THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ VÂN ANH

THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 822.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Kiến Thọ

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn

là TS Nguyễn Kiến Thọ - Người đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn, đặc biệt

là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khóa 25 chuyên ngành Văn học Việt Nam, các cán bộ khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã dạy dỗ, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập

Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè Đó chính

là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên ngày 28 tháng 6 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu 4

4 Nhiêm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc đề tài 6

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 7

1.1 Giới thiệu chung về thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại 7

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại 7

1.1.2 Một số thành tựu và hạn chế của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại 10

1.2 Một số tác giả tiêu biểu của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại 12

1.2.1 Nhà thơ Bàn Tài Đoàn - người khởi nguồn của thơ Dao 12

1.2.2 Nhà thơ Triệu Kim Văn - người nối dòng cho thơ Dao 17

Tiểu kết 20

Chương 2 NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG TRONG THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 21

2.1 Vấn đề cảm hứng trong thơ 21

2.2 Những mạch nguồn cảm hứng trong thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại 22

2.2.1 Mạch nguồn cảm hứng từ những đề tài truyền thống 22

2.2.2 Mạch nguồn cảm hứng từ những đề tài hiện đại 43

Trang 6

Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DÂN

TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 54

3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại 54

3.1.1 Vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ 54

3.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại 56

3.2 Giọng điệu nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại 63

3.2.1 Vấn đề giọng điệu nghệ thuật trong thơ 63

3.2.2 Giọng điệu nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại 66

Tiểu kết 73

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam khu vực miền núi phía Bắc thời

kì hiện đại, có phần đóng góp quan trọng của thơ dân tộc Dao Đây là một nền thơ có những giá trị độc đáo, với hai đại diện tiêu biểu cho hai giai đoạn phát triển từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, đó là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn Họ đã có những đóng góp đáng kể cho sự vận động, phát triển nền của thơ dân tộc Dao nói riêng cũng như thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại; họ đã đưa tiếng nói tâm hồn của người dân tộc miền núi (dân tộc Dao) đến với đồng bào các dân tộc khác trên khắp mọi miền của đất nước Việt Nam

Bàn Tài Đoàn là người có công lớn trong việc đặt nền móng cho thơ ca dân tộc Dao phát triển, đồng thời ông cũng là một nhà thơ dân tộc thiểu số rất tiêu biểu, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển ở giai đoạn đầu của thơ

ca các dân tộc thiểu số Việt Nam Bên cạnh đó, Triệu Kim Văn được coi là thế

hệ kế tục, phát triển sự nghiệp thơ ca dân tộc Dao trong thời hiện đại Do đó, nghiên cứu thơ Bàn Tài Đoàn và thơ Triệu Kim Văn trong tổng thể thơ ca Dao

là một việc làm cần thiết Bởi qua đó ta sẽ khám phá được những nét bản sắc đặc trưng nhất về sinh hoạt, văn hóa, tâm hồn người Dao, sự thay đổi trong cuộc sống cũng như văn hóa người Dao qua từng biến cố của lịch sử dân tộc Đồng thời, thấy được những đóng góp riêng của hai nhà thơ trong việc chuyển tải thông điệp nghệ thuật để lưu giữ và phát triển bản sắc văn hóa Dao Qua đó thấy được cá tính thơ, với cách cảm, cách nghĩ mang đậm dấu ấn dân tộc Dao

Đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ dân tộc Dao nói chung, thơ Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển, những đặc trưng của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại trên cơ sở đối chiếu, so sánh, lí giải, tìm ra những đặc điểm và quy luật vận động của thơ Dân tộc Dao qua hai gương

Trang 8

dân tộc Dao là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn với tư cách là hai đại diện tiêu biểu của hai thế hệ thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

Là một sinh viên ngành Ngữ Văn tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, là nơi đào tạo nguồn tri thức cho tất cả các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, chúng tôi có điều kiện để tiếp cận với vốn tri thức và văn hóa của các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc Dao Việc nghiên cứu thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn trong mối quan hệ tổng thể sẽ phần nào giúp chúng tôi hiểu một cách toàn diện nhất bản sắc dân tộc Dao được phản ánh trong thơ ca

Đồng thời, đề tài này cũng sẽ là nguồn tài liệu bổ ích để giúp chúng tôi trong công tác học tập và giảng dạy sau này Đây cũng là nguồn tư liệu tham khảo cần thiết cho những ai quan tâm đến văn học dân tộc Dao nói riêng và văn học dân tộc thiểu số nói chung

Vì những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Thơ dân tộc Dao

thời kì hiện đại” cho công trình nghiên cứu đầu tiên của mình

2 Lịch sử vấn đề

Qua khảo sát bước đầu tình hình nghiên cứu thơ ca dân tộc Dao cũng như các dân tộc ít người khác mới chỉ bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây Mặc dù đã có một số thành tựu nhưng nhìn chung vẫn còn hạn chế, quy mô nhỏ lẻ và tản mạn, chưa có tính chất chuyên biệt đi sâu vào nghiên cứu một dân tộc cụ thể nào (đặc biệt là thơ ca Dao rất hạn chế) Tình trạng trên có lẽ bởi ảnh hưởng văn học nghệ thuật các dân tộc ít người còn mờ nhạt, ít được quan tâm trong nhận thức và đánh giá của xã hội, dẫn đến nhiều tác giả, tác phẩm chưa được chú ý đúng mức như nó vốn có

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu mang tính chất tập hợp, tuyển chọn và giới thiệu thơ văn các dân tộc thiểu số, các gương mặt nhà văn tiêu biểu

người dân tộc thiểu số như: “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại”,

(Nxb Văn hóa Dân tộc, 1995) của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Lâm Tiến

Đây có thể coi là công trình nghiên cứu quy mô nhất về văn học các dân tộc thiểu

Trang 9

số Việt Nam hiện đại từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 tuy nhiên, công trình nghiên cứu này cũng chỉ mới đi sâu nghiên cứu về một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở mức độ khái quát nhất, chứ chưa phác thảo

về diện mạo, đặc điểm thơ của từng dân tộc Cuốn “Nhà văn các dân tộc thiểu

số (đời và văn)” ( Nxb Văn hóa Dân tộc,2001) của Hội văn học nghệ thuật các

dân tộc thiểu số, cũng mới chỉ đề cập đến chân dung các tác giả người dân tộc thiểu số trong đó có hai nhà thơ Dao Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu

như: “Bản sắc dân tộc trong thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số khu vực miền

núi phía Bắc” (Nxb Đại học Thái Nguyên, 2010) của nhiều tác giả

Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính chất tổng hợp trên, chúng tôi cũng đã khảo sát và tìm được một số công trình nghiên cứu, bài viết có tính chất cụ thể về thơ ca Dao và hai nhà thơ Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn như:

“Nhà thơ Bàn Tài Đoàn cuộc đời và thơ văn” trong hội thảo thơ Bàn Tài Đoàn

của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng Hội thảo đã thu hút gần 20 bài tham luận của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình có uy tín khi đánh giá về cuộc đời và

sự nghiệp thơ văn Bàn Tài Đoàn Hay cuốn “Phja bjooc” của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng viết về nhà thơ Bàn Tài Đoàn, Luận văn thạc sĩ “Bản sắc

Dao trong thơ Bài Tài Đoàn”(2014) của tác giả Bàn Thị Quỳnh Dao đã bước

đầu chỉ ra được những nét đặc sắc nhất của văn hóa Dao đề cập trong thơ Bàn Tài Đoàn trên các mặt: thiên nhiên, con người, văn hóa tinh thần, vật chất Bài

viết “Thơ ca dân tộc Dao- những mạch nguồn cảm hứng (Báo Văn Nghệ Thái

Nguyên, 2010) của tác giả Nguyễn Kiến Thọ chỉ ra những mạch nguồn và những

yếu tố làm nên nét độc đáo và đặc sắc của thơ Dao; “Triệu Kim Văn - đau đáu

nỗi niềm thơ Dao” (2011) cũng của Nguyễn Kiến Thọ, đã khái quát sơ lược về

nhà thơ Triệu Kim Văn cùng với những trăn trở của người trí thức trước sự mai một của văn hóa Dao, những trăn trở trước cuộc sống ngày càng đổi thay này

Vấn đề đặt ra ở đây là phải làm sao nhìn nhận thơ ca Dao trong một tổng thể vận động dưới góc độ đội ngũ tác giả trong quá trình tiếp biến và phát triển

Trang 10

thì nhìn chung chưa có Đề tài nghiên cứu của chúng tôi với tên: “Thơ dân tộc

Dao thời kì hiện đại” là một nỗ lực bước đầu để có thể lấp đầy khoảng trống

đó

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại” - luận văn nhằm

chỉ rõ những đặc điểm bản sắc văn hóa tộc người trong Dao mà chủ yếu là qua thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn, những dấu ấn truyền thống trong thơ và sự

kế thừa phát triển thơ Dao trong thời kì hiện đại, tức chỉ ra sự vận động thơ Dao trong xu thế chung của thơ ca dân tộc thiểu số

Đồng thời, qua việc nghiên cứu luận văn muốn chỉ ra những đóng góp to lớn của hai nhà thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn đối với sự phát triển của thơ Dao nói riêng và thơ ca dân tộc nói chung

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi tham khảo và nghiên cứu các tài liệu sau:

- Toàn bộ những tập thơ của Bàn Tài Đoàn,bao gồm:

1 Muối cụ Hồ, Nxb Văn học 1960

2 Xuân về trên núi, Nxb Việt Bắc 1963

3 Có mắt thấy đường đi, Nxb Việt Bắc 1964

4 Một giấc mơ, Nxb Việt Bắc 1965

5 Kể chuyện đời, Nxb Việt Bắc 1968

6 Tháng Tám đổi mới, Nxb Việt Bắc 1971

7 Rừng xanh, Nxb Việt Bắc 1973

8 Sáng cả hai miền, Nxb Văn học 1975

9 Gửi đồng bào Dao, Nxb Văn hóa 1979

10 Người Dao nghĩ gì, Nxb Văn hóa 1984

11 Tuyển tập Bàn Tài Đoàn, Nxb Văn học 1992

- Toàn bộ những sáng tác của Triệu Kim Văn gồm:

Trang 11

1 Con của núi, Nxb Văn hóa Dân tộc 2002

2 Hoa nắng, Nxb Văn hóa Dân tộc 2010

3 Lá tìm nhau, Nxb Văn hóa Dân tộc 1999

4 Lối cỏ, Nxb Văn hóa Dân tộc 2004

5 Lửa của mồ côi, Nxb Văn hóa Dân tộc 2002

6 Mùa sa nhân, Nxb Văn hóa Dân tộc.1994

7 Sùi nhuần viền viền (suối nguồn du du), Nxb Văn hóa Dân tộc 2010

8 Trời về, Nxb Văn hóa Dân tộc 2010

- Các tác phẩm thơ của một số nhà thơ dân tộc khác nhằm so sánh, đối chiếu làm nổi bật những nét riêng trong thơ Dao nói chung, thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn nói riêng

- Các công trình bài viết về hai nhà thơ và một số tài liệu lý thuyết có liên quan

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài sẽ cố gắng làm sáng tỏ và đi đến khẳng định những đặc điểm nổi bật trong thơ Dao (mà chủ yếu là hai tác giả Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn) ở hai phương diện nội dung và nghệ thuật:

- Về nội dung: Nét đặc sắc về đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc Dao (thiên nhiên, con người, những phong tục tập quán, sinh hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh…) thể hiện trong thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn, chỉ ra sự vận động thơ Dao, sự kế thừa những yếu tố truyền thống và phát triển trong thời

kỳ hiện đại, có sự so sánh đối chiếu với các nhà thơ khác

- Về nghệ thuật: Nghiên cứu một số hình thức nghệ thuật trong thơ Bàn Tài Đoàn - chủ yếu là dấu ấn truyền thống và Triệu Kim Văn - dấu ấn thơ hiện đại (ngôn ngữ, hình ảnh, hình thức kết cấu, thể thơ, lối tư duy, diễn đạt…) Qua

đó chỉ ra được cái độc đáo, sự đột phá của thơ dân tộc Dao

Trang 12

- Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu những nét đặc sắc Dao trong thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu kim Văn, đề tài đi đến khẳng định những đóng góp to lớn mà thơ

ca dân tộc Dao và hai nhà thơ Dao mang lại cho nền văn học nước nhà

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử văn học

- Phương pháp nghiên cứu tác gia văn học

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

- Phương pháp xã hội học văn học

- Phương pháp tiếp cận văn học từ văn hóa

- Phương pháp thi pháp học

6 Đóng góp của luận văn

Nếu luận văn được thực hiện thành công,chúng tôi hy vọng sẽ có được một số đóng góp sau:

- Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên biệt một cách tổng thể và toàn

diện về “Thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại”

- Chỉ rõ những đặc điểm bản sắc văn hóa tộc người trong Dao mà chủ yếu

là qua thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn, những dấu ấn truyền thống trong thơ và sự kế thừa phát triển thơ Dao trong thời kì hiện đại, tức chỉ ra sự vận động thơ Dao trong xu thế chung của thơ ca dân tộc thiểu số

- Là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu học tập về thơ ca các dân tộc thiểu số nói chung, thơ dân tộc Dao nói riêng

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

Chương 2: Những mạch nguồn cảm hứng trong thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật trong thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

1.1 Giới thiệu chung về thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

Mỗi dân tộc đều có cội nguồn với tên gọi và bản sắc riêng của mình Người Dao cũng có lịch sử riêng, với quá trình di cư khác với các dân tộc khác Nguồn gốc dân tộc Dao qua huyền thoại là những mảnh chuyện được tổ tiên của người Dao chắp vá bằng những tình tiết hư cấu, về những lực lượng siêu nhiên kì ảo với một thái độ kính trọng và suy tôn giống nòi Dân tộc Mường có mo "Đẻ đất

đẻ nước" kể về Ông Thu Tha, bà Thu Thiên là ông tổ làm ra đất ra trời và sinh

ra người Mường Người H’Mông có “ông Chày, Bà Chày” nắn trời đất tạo ra vũ trụ và đất trở dạ sinh ra người Mông Người Thái có thủy tổ là ông Tôn được kể trong thần thoại Ẩm ẹt luông,… Còn người Dao, trong kho tàng sách cổ của mình

có ghi lại câu chuyện Quá Sơn Bảng Văn (Bình hoàng khoán điệp) - một huyền thoại về gốc tích của người Dao, đó là Bàn Hồ

Trong bài ca Bàn Vương Xướng, người Dao quan niệm nguồn gốc vũ trụ và

dân tộc mình là do vị thần “Bàn Cổ” sáng tạo ra:

Thái cực tiên sinh, sinh Bàn Cổ Khai bảo nguyên niên vua ra đời Chưa có trời mà đã có đất

Trước có Ngọc Hoàng với Bàn Cổ Tôi ra cùng lứa với Ngọc Hoàng Ngọc Hoàng ba trăm sáu hóa thân Bàn Cổ ba trăm sáu hóa thân Mắt trái biến thành mặt trời đỏ Mắt phải biến thành mặt trăng tròn

Trang 14

Cỏ tranh trên đồi là tóc biển

Cá nước dưới biển là tim gan Răng biến thành vàng bạc

Móng chân tay biến thành ngôi sao Chín khúc minh chu với lục tạng Ruộng đồng cày cấy là chân ông

Cái nôi của người Dao, xuất phát điểm chính là vùng đất Trung Quốc: “Do nhiều biến cố lịch sử làm cho người Dao ở Trung Quốc phân tán thành nhiều nhóm nhỏ và rời khỏi cái nôi của mình là đất Châu Dương và Châu Kinh tản mát

đi các nơi để sinh sống, trong đó có một số nhóm đã vào Việt Nam” [38; 13]

Quá trình di cư của họ kéo dài từ thế kỉ XIII cho đến những năm 40 thế kỉ XX qua nhiều đợt khác nhau

Ngôn ngữ Dao được xếp vào hệ Mông - Dao Tiếng nói dân tộc Dao được chia thành hai phương ngữ với nhiều nhóm khác nhau: Phương ngữ kiềm miền (có nhóm Dao Đại Bản, nhóm Dao Lô Gang, nhóm Dao Quần Chẹt, nhóm Dao Tiền) và phương ngữ kìm mùn (gồm nhóm Dao Quần Trắng, nhóm Dao Làn Tẻn, nhóm Dao Áo Dài) Sự đa dạng về ngôn ngữ là một cơ sở để thể hiện sự đa dạng trong văn hóa của dân tộc Dao

Có thể khẳng định, dân tộc Dao là một trong những dân tộc thiểu số có mặt từ rất lâu đời ở Việt Nam Trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của mình, dân tộc Dao không chỉ góp phần vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước

mà còn sớm hình thành một nền văn hóa đặc sắc, làm phong phú thêm truyền thống của các dân tộc Việt Nam Trong những yếu tố góp phần cấu thành đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Dao, thơ ca là một yếu tố vô cùng quan trọng

Ngay từ rất sớm, đồng bào dân tộc Dao đã có một kho tàng văn học dân gian truyền miệng phong phú, đặc sắc, với các thể loại như truyện cổ, tục ngữ,

ca dao.v.v Sách cổ của người Dao được sưu tầm và kiểm kê cho thấy phần lớn

Trang 15

là các bộ kinh thư, các sách về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán Sách văn học tuy chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ nhưng có giá trị quan trọng Bên cạnh một

số dân ca (nhất là dân ca giao duyên) được những người biết chữ cổ chép lại còn khá nhiều tập truyện văn học Các nhà nghiên cứu lúc đầu chỉ sưu tầm được 2 truyện thơ, trong một dự án đã tìm thấy 23 truyện thơ lần đầu tiên được phát hiện

ở vùng người Dao như: "Hàn Bằng", "Đàm Thanh", "Bát Nương", "Lâu Cảnh",

"Trạng Nghèo", "Đô Nương truyện", "Đặng Nguyên Huyện truyện", "Bá Giai truyện", "Thần sắt ca" Trong số đó, truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vả của người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả Một số truyện tuy có chủ đề khác nhưng trước khi đề cập đến nội dung chính cũng kể về cuộc hành trình của người Dao

Để đáp ứng những yêu cầu trong giao tiếp, sinh hoạt, lao động , người Dao đã dựa vào chữ Hán để sáng tạo ra loại chữ Nôm Dao riêng cho dân tộc mình Chữ viết Nôm ban đầu chủ yếu được người Dao dùng để ghi chép gia phả, sách cúng, về sau còn được sử dụng trong sáng tác văn học như thơ, truyện thơ.v.v Qua quá trình đó, nền văn học viết dân tộc tộc Dao từng bước được hình thành

Đồng bào dân tộc Dao vốn là những người có đời sống tinh thần phong phú, yêu văn chương và đặc biệt là thơ ca Tuy vậy, vì những lí do và điều kiện

cả chủ quan lẫn khách quan, cho nên họ chủ yếu truyền miệng các sáng tác mang tính dân gian (tập thể), số người Dao chuyên sâu sáng tác thơ ca để trở thành một tác giả là không nhiều Có thể nói, phải đến giữa thế kỉ XX, khi nhà thơ xuất sắc Bàn Tài Đoàn xuất bản những tập thơ liên tiếp như “Muối cụ Hồ” (1960), “Xuân

về trên núi” (1963), “Đường cụ Hồ” (1963), “Có mắt thấy đường đi” (1964),

“Một giắc mơ” (1965), thì thơ ca Dao thời kì hiện đại mới thực sự được hình thành

Tiếp sau Bàn Tài Đoàn - người xây đắp nền móng, nhiều tác giả người Dao đã đóng góp những sáng tác của mình để cùng dựng nên ngôi nhà thơ dân

Trang 16

tộc Dao Có thể kể đến một số tác giả thơ như: Đặng Phúc Lường, Triệu Đức Thanh, Bàn Thị Cúc, gần đây là các tác giả trẻ như Phùng Hải Yến, Tằng A Tài,

Lý Hữu Lương, Lý A Kiều.v.v

Đặc biệt, trong tiến trình hiện đại hóa thơ dân tộc Dao, phải nói đến sự ghi dấu và đóng góp hết sức to lớn và quan trọng của nhà thơ Triệu Kim Văn Với hàng loạt tập thơ độc đáo, giàu giá trị thơ ca và giá trị văn hóa như “Hoa núi”

(1984), “Mùa sa nhân” (1994), “Lá tìm nhau” (1999), “Con của núi” (thơ song ngữ Dao - Việt, 2002), “Lửa của mồ côi” (2002), “Lối cỏ” (2004)…, Triệu Kim Văn trở thành nhà thơ kế thừa, phát huy, làm giàu có và nâng tầm cao cho thơ ca Dao Nó như một dấu mốc chuyển mình, tiếp tục hoàn thiện của thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.1.2 Một số thành tựu và hạn chế của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

Một nền thơ ca của một dân tộc luôn gắn liền với đặc điểm đời sống văn hóa, tinh thần, lịch sử, kinh tế xã hội của dân tộc đó Cũng vì vậy, nó mang trong mình những đặc điểm tự thân riêng biệt, với tất cả những thế mạnh và hạn chế

Thơ ca dân tộc Dao cũng nằm trong quy luật ấy, với những thành tựu nổi bật đồng thời vẫn mang những hạn chế đặc thù

Về thành tựu: Nếu nhìn tổng thế, có thể nói rằng thơ dân tộc Dao thời kì

hiện đại đạt được những thành tựu rất có nghĩa Nó thể hiện ở hai vấn đề cơ bản:

bám sát và thể hiện được vùng tâm thức sáng tạo riêng mang tính tộc người; có tác giả tiêu biểu mang tính đại diện và kế thừa thế hệ Đây là hai yếu tố hết sức quan trọng, thậm chí mang tính quyết định đối với sự hình thành và phát triển của một nền thơ, giúp nó có thể đứng vững và phân biệt với các nền thơ của dân tộc khác

Nghiên cứu lịch sử, văn hóa của dân tộc Dao, có thể thấy người Dao từ trong chiều sâu tâm thức luôn có ám ảnh về những cuộc thiên di, đồng thời họ luôn ý thức rất cao về vị thế tộc người của mình Những điều này chính là nền tảng tạo thành vùng tâm thức sáng tạo riêng cho các nhà thơ dân tộc Dao Nó

Trang 17

không chỉ thể hiện trong các tác phẩm của những nhà thơ đã có bề dày sự nghiệp,

mà thể hiện rất rõ ngay cả trong sáng tác của những tác giả trẻ Dễ nhận thấy điều này, ví dụ như trường hợp thơ Lý Hữu Lương:

Cuộc thiên di truyền thuyết Những con thuyền mỏng như mắt lá Những con đỏ trên tay kiếm sắc Không có màu mây lãng du

(Bình nguyên đỏ) Các nhà thơ Dao cũng luôn luôn ý thức rất sâu sắc về vị thế tộc người của mình, dù bất kì hoàn cảnh nào, ví dụ như trường hợp thơ Triệu Kim Văn:

Nghìn năm sau đi theo cổ tích Những bông kê còn sót lại áo thầy tào Đeo lủng lẳng với hội đèn điệu múa Găm vào tâm thức con cháu Bàn Dao

(Quả kê còn lại) Cũng nhờ bám dễ sâu sắc vào vùng tâm thức sáng tạo của mình, thơ dân tộc Dao đã sản sinh được những nhà thơ tiêu biểu, đại diện cho các thế hệ, kế thừa và phát triển nền thơ dân tộc mình ngày càng thành tựu Có thể kể đến, đại diện cho thế hệ mở đầu là nhà thơ Bàn Tài Đoàn, đại diện thế hệ làm giàu có và hiện đại hóa nền thơ dân tộc là nhà thơ Triệu Kim Văn, và thế hệ trẻ tiếp nối hiện nay có Tằng A Tài, Lý Hữu Lương.v.v Điều đó cho thấy thơ ca dân tộc Dao mang trong mình một chiều sâu mạch ngầm để có những điều kiện phát triển một cách mạnh mẽ và bền vững, vừa tạo nên vị trí riêng cho mình, vừa đóng góp vào

sự phong phú và sự phát triển chung của thơ ca đất nước

Về hạn chế: Nền thơ Dao tuy đạt được những thành tựu nhất định, đóng

góp vào thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam những giá trị độc đáo, nhưng đồng thời cũng vẫn còn những hạn chế đặc thù khó tránh Nổi bật nhất trong đó là ở hai vấn đề: phát triển đội ngũ tác giả, tính trình hiện đại hóa

Trang 18

Trước hết có thể nói thơ ca Dao đã có những tác giả tiêu biểu xuất sắc (Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn) Tuy nhiên, đáng tiếc là đội ngũ tác giả thơ của dân tộc Dao khá ít ỏi, chưa đủ để tạo ra một lực lượng sáng tác tương xứng với những tiềm năng văn hóa - văn học nghệ thuật của dân tộc mình Đã hơn nửa thế

kỉ trôi qua (từ khoảng giữa thế kỉ XX đến nay), thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại chỉ đóng góp được thêm một vài tên tuổi người viết mới như Đặng Phúc Lường, Triệu Đức Thanh, Tằng A Tài, Lý Hữu Lương Đây là sự bổ sung rất khiêm tốn so với chiều dài phát triển của một nền thơ ca

Đi sâu vào các sáng tác thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại, có thể thấy nền thơ này kế thừa một nền tảng văn hóa - văn học nghệ thuật đậm tính truyền thống Qua suốt chiều dài phát triển, đặt trong sự vận động nói chung của thơ ca Việt Nam, thơ ca dân tộc Dao còn ít đổi mới, cách tân Lối viết bám chặt vào thi pháp và mĩ học truyền thống một mặt đem lại cho thơ Dao một bản sắc riêng độc đáo, nhưng mặt khác lại khiến nó hạn chế trong sáng tạo, cách tân, hội nhập với

xu thế hiện đại hóa, mất đi tính phong phú cần có

Có thể nói, vì những lí do và điều kiện đặc thù, đây không chỉ là vấn đề của thơ ca dân tộc Dao nói riêng, mà còn là vấn đề của thơ ca các dân tộc thiểu

số nói chung

1.2 Một số tác giả tiêu biểu của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.2.1 Nhà thơ Bàn Tài Đoàn - người khởi nguồn của thơ Dao

1.2.1.1 Tiểu sử và con người

Nhà thơ Bàn Tài Đoàn (1913 - 2007) là người con của dân tộc Dao tiền,

là đại diện xuất sắc của văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam

Sinh ra tại Nguyên Bình - Cao Bằng, Bàn Tài Đoàn phải lớn lên trong sự nghèo khó, vất vả Dù vậy, ông lại sớm được giác ngộ và đến với con đường lí tưởng cách mạng khi ẩn trong những cánh rừng Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo luôn sục sôi khí thế đánh giặc Nhờ vậy, ông sớm được hun đúc và tôi luyện trong mình một khí phách ngang tàng, bản lĩnh vững vàng Lớn lên trong những

Trang 19

câu chuyện kể của bản làng, những điệu hát Páo Dung say mê ngọt ngào, Bàn Tài Đoàn dần kết tụ trong tâm hồn mình sự chân thành, hồn hậu, hào sảng Nó là

“mảnh đất ươm trồng” cho nhà thơ một hồn thơ xanh tươi và đầy thăng hoa

Quê hương ông vốn là một vùng quê nghèo đói, lạc hậu, phải chứng kiến cảnh nghèo túng đó ông đã có một quyết tâm lớn là phải làm việc gì đó để giúp quê hương mình thoát nghèo Ông đã tự học và đọc thông viết thạo được chữ nôm Dao, ông đến với cách mạng và truyền bá những tư tưởng tiến bộ, cách mạng mà mình tiếp thu được cho người dân quê mình

Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1942 Sau năm 1945, ông làm công tác tuyên huấn trong Quân đội nhân dân Việt Nam Từ năm 1951 đến khi nghỉ hưu, ông đã từng giữ các chức vụ như: Phó Giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Cao Bằng; Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Bắc; Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam; Ủy viên Hội đồng Văn học các dân tộc thiểu số

Bàn Tài Đoàn là nhà thơ hiến hoi luôn sáng tác song ngữ (bằng cả tiếng Kinh và tiếng Dao) Các tác phẩm của ông đã trở thành di sản quý giá trong kho tàng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Ông đã vinh dự được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, năm 2001

1.2.1.2 Hành trình sáng tác

Với nhiệt tình tuổi trẻ, với niềm tin tuyệt đối vào cách mạng cộng với vốn hiểu biết về thơ ca dân gian và khả năng sẵn có của mình, ông đã làm những bài ca cách mạng đầu tiên nhằm tuyên truyền giác ngộ quần chúng nhân dân dưới ánh sáng của Đảng Điểm lại những sáng tác của Bàn Tài Đoàn từ những ngày đầu gặp cách mạng đến nay, ta thấy đời thơ của ông gắn liền với cuộc đời cách mạng Cách mạng đã chăm sóc, nuôi dưỡng cho tâm hồn thơ ông

Tâm sự trao đổi với đồng nghiệp về đời, về nghề viết, nhà thơ Bàn Tài Đoàn chia sẻ một cách rất bình dị nhưng sâu sắc, rằng: "Tôi sinh ra và lớn lên

Trang 20

trong một gia đình nông dân vùng cao, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, sách không được học một chữ Tôi may mắn được gặp Cách mạng và đi theo Cách mạng, được Đảng quan tâm dìu dắt cho tôi làm thơ ca dân tộc để phục vụ dân tộc Tôi như người đang trong bóng tối, vừa mới ra ánh sáng còn bỡ ngỡ, làm Cách mạng đã khó, làm thơ còn khó hơn"

Về thơ Bàn Tài Đoàn, có thể chia làm hai mảng chính Mảng thứ nhất là những bài thơ gắn với cuộc đời hoạt động, những miền đất và những con người

mà nhà thơ từng đi qua, từng gắn bó Đó là những cảm xúc trước những cuộc đời mới, trước những đổi thay tốt đẹp mà cách mạng đem lại cho ông cũng như đồng

bào Dao Những bài thơ tiêu biểu cho mảng thứ nhất này như: Muối cụ Hồ, Khuổi

sao, Từ rừng Trần Hưng Đạo, Gặp đồng chí Văn Đường số 9

Đó là những địa danh gắn với xứ Lạng:

Tràng Định, Thất Khê quê xứ Lạng Núi đồi đã lắm suối cũng nhiều Khuổi Sao đây là con suối nhỏ Suối nhỏ ngàn năm nước không nghèo

(Khuổi Sao) Hay là cảm xúc của một người con miền núi lần đầu tiên ra gặp biển, ông

đã thốt lên lời:

Biển rộng mênh mông nhìn không tận Gió biển hây hây mát đêm ngày Sóng biển dâng trào mặt trời ló Đêm lặng như tờ hứng bóng trăng

(Đến Sầm Sơn)

Từ những cảm xúc về cảnh hùng vĩ và thơ mộng của biển, nhà thơ mộng của biển, nhà thơ vui sướng với thực tại của đất nước và khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam cũng chung một Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cùng chung một bọc trứng:

Trang 21

Ta cưỡi từng con sóng bạc đầu Khắp nơi cùng về vui chung biển Miền xuôi miền ngược gặp được nhau

(Đến Sầm Sơn) Mảng thứ hai trong thơ ông là những bài thơ theo thể trường ca Có thể nói mảng thứ hai này là sở trường của ông Nhà thơ đã bám vào thể thơ truyền thống 7 chữ kiểu cổ phong và phương thức lưu truyền thơ gắn với chuyện thơ hay thơ ca các dân tộc thiểu số để phổ cập nhẹ nhàng những vấn đề thời sự hoặc thực tại của của đời sống, của các vị lãnh tụ như Lênin, Hồ Chí Minh trong

tập "Đường sáng", "Bước đường tôi đi"

Được xem là thế hệ nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên từ sau Cách mạng tháng Tám, ông đã đưa tất cả những gì thuộc về dân tộc mình vào trong thơ với những cảm xúc, tấm lòng chân thành nhất của người con yêu quê hương đến cháy bỏng Do vậy, đọc thơ Bàn Tài Đoàn ta luôn cảm nhận được cái mộc mạc, giản

dị, gần gũi, lời thơ đôi khi giống như kể mà chân thành khiến người đọc không khỏi xúc động:

Một thân ngô cõng hai ba con Ngô con, ngô cái treo đầy gác Đánh giặc không lo bụng đói cồn

(Năm mới đến) Hay là những vần thơ viết về cha mẹ rất giản dị nhưng đầy tình cảm trước khi nhà thơ lên đường theo Cách mạng:

Chào mẹ, con đi xa đánh giặc

Ở nhà mẹ nhé, hãy yên lòng!

Con sẽ gửi thư tin mẹ biết Tin con giết giặc, tin chiến công

Mẹ nghe bố đọc thư con gửi

Mẹ gật đầu: xứng dân tộc Dao

Trang 22

Bố viết thư: ở xa bản núi Nghe thư con, già trẻ tự hào

(Con đã lớn) Thơ Bàn Tài Đoàn mang đậm tính phô diễn, tự sự và trực diện Chẳng hạn khi viết về tội ác của giặc Mỹ, ông cũng viết rất trực diện, cụ thể như lời kể:

Trên đất Việt Nam còn có giặc Giặc Mỹ ngày càng độc ác hơn Miền Nam đã chịu nhiều năm khổ Miền Bắc nay lại cũng không yên

Gặc Mỹ leo thang thả bom xuống Phá hoại xóm làng và ruộng nương Nhân dân mới về làng chưa ổn Lại phải sơ tán chạy vào rừng

(Đêm nằm không ngủ) Nhìn lại hành trình sáng tác của Bàn Tài Đoàn, có thể thấy, trọn cuộc đời sống và viết thơ của mình, với tình yêu bản làng quê hương đất nước, ông đã khẳng định được tên tuổi của mình trong làng thơ Việt Nam Ông đã để lại một

di sản quý giá cho thơ ca dân tộc Dao nói riêng, thơ ca các dân tộc thiểu số Việt

Nam nói chung, với một sự nghiệp sáng tác đồ sộ hơn chục tập thơ: “Muối cụ

Hồ” (1960), “Xuân về trên núi” (1963), “Đường cụ Hồ” (1963), “Có mắt thấy đường đi” (1964), “Một giắc mơ” (1965), “Kể chuyện đời” (1968), “Tháng tám đổi mới” (1971), “Rừng xanh” (1973), “Sáng cả hai miền” (1975), “Gửi đồng bào Dao” (1979), “Nơi ta ở” (1979), “Bước đường tôi đi” (1985), “Muốn tìm bạn” (1977), “Người Dao nghĩ gì” (1984), “Tuyển tập Bàn Tài Đoàn” (1992)

Nếu nhắc đến văn học Tày ta có Nông Quốc Chấn, thì văn học Dao ta có Bàn Tài Đoàn Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho văn học Dao nói riêng

và văn học dân tộc thiểu số nói chung Với những cống hiến của mình cho thơ

Trang 23

ca dân tộc Dao và thơ ca cách mạng ông xứng đáng đáng là một cây cao bóng cả trong làng thơ văn dân tộc thiểu số Việt Nam

1.2.2 Nhà thơ Triệu Kim Văn - người nối dòng cho thơ Dao

1.2.2.1 Tiểu sử và con người

“Tôi tự hào là đứa con của đại ngàn, với những cánh rừng nguyên sinh âm

u, mây buông sương ủ, nơi núi đá tai mèo dựng đứng như bờm ngựa chiến Tôi sinh ra trên tay người mẹ nghèo hiền lành, buổi chập chững theo các anh chị lên

nương ngơ ngác nghe kể đầy gùi cổ tích ” (Trích “Đối khúc đại ngàn”) Đó là

những lời của nhà thơ dân tộc Dao đỏ Triệu Kim Văn - nhà thơ người Dao đầu tiên của Bắc Kạn đang tự viết về mình Có thể nói, sau Bàn Tài Đoàn, tên tuổi Triệu Kim Văn đã góp phần làm phong phú thêm cho đời sống thơ ca dân tộc Dao nói riêng và thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói chung

Triệu Kim Văn sinh ngày 14/7/1945 ở vùng quê nghèo khó Cao Sơn, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Vùng đất ấy với núi cao sừng sững như đỡ lấy bầu trời, nơi bản làng ẩn trong mây núi bao phủ, nơi có những bài láu ton (hát ru) độc đáo vừa là môi trường sống, vừa là không gian văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn con người, vừa là nguồn cảm hứng trong các sáng tác của Triệu Kim Văn

Mười ba tuổi Triệu Kim Văn biết nói tiếng Kinh, lúc này ông đi học tại trường thiếu nhi vùng cao Việt Bắc Ông tâm sự: Thuở ấy mọi người đặt cho ông biệt danh “con mọt sách” vì khi ông biết tiếng Kinh ông đã đọc rất nhiều, cả kho sách văn học của thư viện nhà trường đều được ông đọc bằng hết Học hết lớp 7, ông tiếp tục sang trường Bổ túc Công - Nông học lớp 8, sau đó ông học sư phạm

và giảng dạy tại trường trung cấp Công nghiệp nhẹ của Bộ công nghiệp Năm

1973 ông thi vào đại học tổng hợp Hà Nội, ra trường ông về công tác tại Ban dân tộc tỉnh ủy Bắc Thái, rồi công tác tại huyện ủy Bạch Thông Đến năm 1997, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Từ đó, ông hoạt động chuyên bên văn học nghệ thuật và giữ chức chủ tịch hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn cho đến lúc nghỉ hưu

Trang 24

Cuộc đời Triệu Kim Văn là một minh chứng sống động cho sự nỗ lực tự vượt lên chính mình, bằng nền tảng là cội nguồn cốt cách văn hóa của dân tộc Dao để hòa mình vào dòng chảy chung của đời sống văn hóa - văn học Việt Nam

Trong suốt cuộc đời sáng tạo nghệ thuật không ngừng nghỉ của mình, dù ở đâu,

dù lúc nào, dù làm gì, nhà thơ Triệu Kim Văn vẫn luôn như một con chim của núi rừng, uống nước khe ngậm lúa nương mà hót lên những bài ca của quê hương

xứ sở

1.2.2.2 Hành trình sáng tác

Tuy âm thầm lặng lẽ và giản dị trong lao động sáng tạo, nhưng Triệu Kim Văn đã có cho mình một gia sản thơ ca rất đáng trân trọng Đây là kết quả của sự

nỗ lực bền bỉ, của tài năng và tâm hồn, và một ý thức sáng tạo đầy tâm huyết

Chặng đường sáng tác văn học của Triệu Kim Văn bắt đầu từ khi ông theo học

“cái chữ” Là người yêu thích văn chương và ham mê sáng tác nên người con của núi này đã đến với thơ ca thật tự nhiên Những đứa con tinh thần - sản phẩm đầu tay đã chào đời khi chàng trai người Dao này đang ở độ tuổi hai mươi Năm năm sau, khi thấy những tác phẩm của mình đã đủ độ chín nhà thơ mới ra mắt người đọc bài thơ đầu tiên: “Nhớ Bác ta trồng nhiều cây” (Báo Việt Nam độc lập) Từ đó, ông viết nhiều, viết đều, viết khỏe, nhưng chủ yếu là đăng trên báo

và tạp chí Mãi đến năm 1989 ông mới ra mắt tập thơ đầu tiên: “Hoa núi”

Với lòng yêu văn chương và sự hăng say, miệt mài trong lao động nghệ

thuật, đến nay Triệu Kim Văn đã xuất bản 11 tập thơ: Hoa núi(1989), Mùa sa

nhân (1994), Lá tìm nhau (1999), Con của núi (Thơ song ngữ Dao - Việt 2002), Lửa của mồ côi (2002), Lối cỏ (2004), Hoa nắng (Thơ thiếu nhi 2010), Suối nguồn du du (Thơ song ngữ Dao - Việt 2010), Trời về (2010), Sợi mưa hiền

(2011), Tuyển tập Triệu Kim Văn (2017)

Quá trình phấn đấu không miệt mài của Triệu Kim Văn đã tạo nên những tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc và phong cách sáng tác của riêng mình Ông

đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng như: Giải thưởng chính thức của Ban

văn học dân tộc Hội nhà văn Việt Nam cho tập thơ “Mùa sa nhân” (1997), giải

Trang 25

thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập thơ

“Con của núi” (2002), giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu

số Việt Nam cho tập thơ “Trời về” (2010) Huy chương vì sự nghiệp văn học

nghệ thuật Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Đây là những ghi nhận xứng đáng cho một tài năng, một hồn thơ đẫm cốt cách của dân tộc Dao

Dù đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng và ghi nhận trong sáng tác thơ ca, nhưng khi chia sẻ về quan điểm sáng tác thì nhà thơ Triệu Kim Văn chỉ khiêm tốn, giản dị cho rằng: “Sáng tác là một phần của cuộc sống Và thơ là tình yêu, là nhịp đập của trái tim” [62.tr64] Đến với thơ, Triệu Kim Văn chỉ nghĩ đơn giản và chân thành: Thơ là tiếng nói của tâm hồn, nghĩ sao thì nói vậy, chỉ

đơn giản thế thôi Là người “Con của núi”, ông nghĩ về sứ mạng cao cả của thơ

ca thật mộc mạc Suy nghĩ ấy được thể hiện khá rõ qua bài “Thơ củi” Trong bài, ông ví mình như cây củi và luận bàn về các thứ củi: Củi gộc, củi mòn, củi cành

và cả củi mục để rồi đi đến khẳng định về một thứ thơ gần gũi với cuộc sống,

phục vụ cuộc sống:

Củi tôi hái từ con tim Cánh rừng con tim rộng dài không đo được Lửa cháy hết rồi tôi ngồi khóc

Nhớ chàng mồ côi kiếm củi đổi hạt kê…

Câu thơ tôi cùng lầm lụi chốn quê

Thật đúng với những ý nhận xét của Mai Liễu trong Chân dung bút tích

nhà văn Việt Nam hiện đại, Triệu Kim Văn là thế, không vồ vập, kiểu cách, cứ

lặng lẽ trong đời mà lại làm được ít nhiều sự xáo trộn trong thơ Những lời bộc bạch tâm tình trong bài thơ trên là một âm bản đáng tin cậy nhất để người đọc hiểu về quan niệm sáng tác của nhà thơ, một quan niệm giản dị, chân thành và sâu sắc Suy cho cùng, giản dị chính là tận cùng của mọi mĩ học Quan niệm thẩm

Trang 26

mĩ ấy sẽ là ngọn đuốc bền bỉ trên con đường sáng tạo đầy chông gai thử thách nhưng cũng đầy hạnh phúc của nhà thơ Triệu Kim Văn

Tiểu kết

Có thể nói, thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại là một nền thơ độc đáo, có những đóng góp quan trọng và tích cực cho đời sống văn hóa dân tộc Dao nói riêng, thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung Với những điều kiện đặc thù, thơ ca Dao đạt những thành tựu đáng ghi nhận, đồng thời cũng mang trong

nó những hạn chế nhất định Soi chiếu qua thơ của hai tác giả đại diện xuất sắc nhất là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn, ta không chỉ thấy được những đặc điểm đặc sắc nổi bật mà còn thấy cả mạch vận động từ truyền thống đến hiện đại của nền thơ dân tộc Dao

Trang 27

Chương 2 NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG TRONG THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

2.1 Vấn đề cảm hứng trong thơ

Lao động sáng tạo nghệ thuật nói chung, đặc biệt là sáng tạo văn chương nói riêng, không thể không dựa trên cảm hứng Nếu không có cảm hứng, nhà văn nhà thơ sẽ không được khơi gợi ý tưởng cũng như không thể thăng hoa khi triển khai tác phẩm của mình Nó là tiên đề mang tính quyết định đến sự ra đời của một tác phẩm

Các nhà lí luận nghiên cứu phê bình đã định nghĩa cảm hứng là “trạng thái

tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [65, tr.44] Như vậy, có thể thấy, cảm hứng là yếu tố rất quan trọng, vừa chi phối quá trình sáng tạo của tác giả, vừa chi phối quá trình cảm thụ đón nhận của bạn đọc

Thơ được coi như một thể loại văn học phản ánh cuộc sống theo một hình thức thẩm mĩ đặc thù Nó thể hiện những tâm trạng, xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn

từ hàm súc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu và âm hưởng Định nghĩa của Sóng Hồng khẳng định: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và

lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường” [65, tr.310] Có thể nói, nếu nhà thơ không

có cảm hứng thì sẽ không có bài thơ, và ngược lại, một bản thảo không chứa đựng những xúc cảm mãnh liệt thì nó chưa phải bài thơ

Để có được những mạch nguồn cảm hứng sáng tạo, nhà thơ phải biết ý thức về bản thân và con người, có tình yêu và sự gắn bó với cộng đồng và đời

Trang 28

đất nước Chỉ khi nào sống thật lòng mình, sống hết lòng mình, khi đó nhà thơ mới tìm thấy chính mình, tức là biết mình đang là ai, đang thuộc về đâu, đang hướng sự quan tâm và nỗi niềm suy tưởng của mình về điều gì Từ những điều nhỏ bé và gần gũi thân quen nhất như một bông hoa, cuốn sách, ngôi nhà, góc vườn, người hàng xóm, bản tin thời sự, đến những điều lớn lao hơn như thân phận con người, lịch sử quê hương, câu chuyện văn hóa,… tất cả những mối quan tâm trăn trở ấy của nhà thơ sẽ chính là mạch nguồn khơi gợi cảm hứng cho

sự sáng tạo thơ ca

Tìm hiểu về mạch nguồn cảm hứng chính là một yếu tố quan trọng và căn bản để ta chỉ ra được nhà thơ/nền thơ đó thuộc về cội nguồn lịch sử nào, không gian văn hóa nào, cộng đồng tộc người nào, và nó đặt trong một tiến trình vận động ra sao

2.2 Những mạch nguồn cảm hứng trong thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

2.2.1 Mạch nguồn cảm hứng từ những đề tài truyền thống

Có thể nhận thấy một điều rất rõ, thơ ca Dao chủ yếu bắt nguồn cảm hứng

từ những mảng đề tài đậm tính truyền thống Nổi bật lên trong đó là những đề tài như: tình yêu với thiên nhiên, cuộc sống; ý thức về tộc người; tình yêu với quê hương, đất nước Đáng chú ý, đặc điểm này thể hiện rõ ràng và nổi bật, đậm nét nhất là ở giai đoạn mở đầu của thơ ca Dao thời kì hiện đại, tức là những thập niên giữa thế kỉ XX, với thơ của những tác giả như Bàn Tài Đoàn, Triệu Đức Thanh.v.v

2.2.1.1 Tình yêu với thiên nhiên, cuộc sống

Mỗi người đều được sinh thành, nuôi dưỡng và sống trong môi trường của cộng đồng mình, gắn bó với nó như những điều không thể tách rời Sự gắn bó ấy

có thể thường bắt nguồn từ những gì gần gũi, thân thuộc, bình dị nhất - đó là cảnh sắc thiên nhiên, và đằng sau đó là những điều mang ý nghĩa lớn lao sâu sắc

- đó là cuộc sống Vì vậy, một trong những tình cảm thường trực, sâu sắc của con người chính là tình yêu với thiên nhiên, cuộc sống

Trang 29

Với bất kì một người bình thường nào, tình cảm đó đã trở thành một thứ hết sức tự nhiên Còn với một nhà thơ, những người vốn tinh tế, nhạy cảm, giàu suy tư, thì tình yêu thiên nhiên và cuộc sống lại càng trở nên sâu đậm, tạo nguồn cảm hứng lớn cho sáng tác của họ Thơ ca của các nhà thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại cũng thể hiện rõ điều này

Đọc thơ của các nhà thơ người Dao, chúng ta có thể hình dung và cảm nhận bức tranh thiên nhiên, đời sống sinh hoạt và lao động của đồng bào Dao

Trước hết, đó là một bức tranh thiên nhiên vừa khắc nghiệt, vừa tươi đẹp, kì vĩ

(Bản Chang - Bàn Tài Đoàn) Vùng đất Nguyên Bình (Cao Bằng) với đá núi cây rừng nhiều hơn đồng ruộng được Bàn Tài Đoàn - người con dân tộc Dao của mảnh đất này, miêu tả đầy ấn tượng trong thơ:

Đất châu Nguyên Bình bao la rộng Ruộng đồng thì ít, núi nhiều thay Phía Nam núi đất, rừng xanh biếc Phía Bắc đá nhọn chọc trời mây

(Phai Khắt, Nà Ngần - Bàn Tài Đoàn) Điều đáng nói là, có thể thấy rằng thiên nhiên ở đây tuy đầy khắc nghiệt

và thử thách, nhưng mang trong mình những vẻ tươi đẹp chỉ nó mới có được Vẻ đẹp và sức sống ấy có lẽ chỉ các nhà thơ Dao - những người luôn mạnh mẽ, lạc quan, nghị lực, mới phát hiện và cảm nhận được:

Trang 30

Con suối Khuổi Sao có nhiều thứ

Cá lội tìm rêu, tôm múa theo

Đá to đá nhỏ ngồi bên suối Sớm chiều nghe suối chảy reo vui

(Khuổi Sao - Bàn Tài Đoàn)

Rõ rằng, họ đã vượt lên những trở ngại, khó khăn mà điều kiện tự nhiên vốn đặt ra như vậy, để luôn luôn có cái nhìn tươi tắn, tin yêu với cuộc sống bản làng, núi rừng Thiên nhiên tạo hóa dù thế nào cũng vẫn chỉ là vô tri vô giác, nó

có tươi đẹp hay không, có đáng yêu hay không, có sức sống hay không, tất cả là

do đôi mắt và tâm hồn của người nhìn ngắm Như vậy, càng thấy rằng người Dao

mà ở đây là các nhà thơ Dao có tâm hồn khoáng đạt, có tình yêu quê hương bản làng mạnh mẽ đến thế nào

Không chỉ phác họa và tái hiện bức tranh thiên nhiên núi rừng, các nhà thơ Dao còn hướng ngòi bút đi sâu vào cuộc sống lao động nghèo khó lam lũ nhưng gắn bó, gần gũi

Điều đầu tiên dễ nhận thấy, đó là sự nghèo khó, thiếu thốn vất vả và sự lam lũ nhọc nhằn trong đời sống hằng ngày của người Dao nơi núi cao:

Ngẩng đầu thấy núi cao chót vót Cúi đầu thấy đá chồng chất nhau Bắc gùi xuống đất trên khe đá

Nó mọc lên không chịu ra hoa Con khóc đòi ăn cơm chấm muối

Mẹ tìm đâu hạt muối cho con?

(Muối Cụ Hồ - Bàn Tài Đoàn) Người Dao xưa đã trải qua những năm tháng tăm tối, quẩn quanh giữa núi rừng, bị bủa vây bởi cái đó nghèo không lối thoát Đó là những kí ức thấm đẫm nước mắt:

Trang 31

Nhớ mẹ kể từ thời còn nhỏ Chuyện đời tổ tiên họ Bàn ta Trên lưng cái địu đeo nghèo khổ Quanh quẩn núi rừng chẳng lối ra

(Nhớ lời mẹ kể về họ Bàn - Bàn Tài Đoàn) Vượt lên trên tất cả những thử thách đầy khắc nghiệt của điều kiện khó khăn ấy, người Dao cần mẫn trong lao động, để hôm nay mỗi một thành quả đều thấm đẫm những giọt mồ hôi:

Từng giọt mồ hôi thấm vào đá núi Cổng trời hiên ngang mang dáng mẹ Cao nguyên

Mã Pì Lèng xưa núi đá xưa Nay đã thành những con đường lớn

(Cung đường mùa xuân - Triệu Đức Thanh)

Dù hôm nay, mọi thứ đã đổi thay, đời sống đã yên ấm hơn xưa, nhưng kí

ức về những tháng năm du canh du cư đầy gian khổ vẫn không thể nào phai mờ trong tâm trí, người Dao Nó cũng như lời nhắc nhở người Dao dù bất kì hoàn cảnh nào cũng phải nhớ cội nguồn, phải gắn bó với quê hương, dù thế nào vẫn phải nhớ trên núi vẫn là nơi người Dao ở:

Đã trải qua bao đời ta cực khổ Chặt gốc, ăn ngọn, sống du cư Mưa hoà gió thuận còn tạm đủ Gặp năm hạn hán đói bơ vơ

(Trên núi vẫn là nơi ta ở - Bàn Tài Đoàn) Dường như, cũng chính cuộc sống nơi núi cao nhiều khó khăn và thách thức đã tôi luyện trui rèn cho con người nơi đây những tính cách, phẩm chất đầy bản lĩnh Thơ là người, đọc thơ các nhà thơ Dao chúng ta cũng hình dung cảm nhận được tính cách và đời sống tinh thần của người Dao

Trang 32

Chỉ với những câu thơ ngắn gọn và giản dị, nhà thơ Bàn Tài Đoàn đã khái quát một cách tinh tế và sâu sắc về cá tính và cốt cách người Dao Đó là những con người mạnh mẽ ngang tàng, chân thành thủy chung tình nghĩa:

Người Dao nghèo khổ mà hiên ngang…

Dũng cảm, yêu thương, lòng chân thật Thuỷ chung với bạn, với nước non

(Cái gì đẹp nhất - Bàn Tài Đoàn) Trong khi đó, nhà thơ Triệu Kim Văn còn phát hiện và chỉ ra sự lãng mạn, tinh tế, giàu khát vọng ước mơ của những người Dao luôn tràn trề sức trẻ:

Trai gái nhanh tay Tiếng gọi vọng khắp đồi

Mà em cứ cúi tìm những ước mơ nho nhỏ Những nẹp chỉ màu sợi mềm thật đỏ

(Mùa sa nhân - Triệu Kim Văn) Hình tượng những sợi chỉ màu như là biểu tượng đẹp đẽ cho tình yêu, cho ước vọng trong tâm hồn người Dao, một lần nữa được hiện lên trong bức tranh thơ - bức thổ cẩm ngôn từ ấm áp yêu thương của Bàn Tài Đoàn:

Em còn đang say sưa thêu áo Tìm kiếm lấy chỉ xanh chỉ hồng Thêu đẹp hình hoa, hình sóng bão

Áo che người xuân hạ thu đông

(Xuân đến sớm - Bàn Tài Đoàn) Con người là tâm điểm trong bức tranh đời sống dân tộc Dao, từ đó lan tỏa

và tụ thành những vẻ đẹp của đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào nơi đây

Con người xây nhà cửa, tạo làng bản, dựng quê hương, và quá trình ấy đã kết tinh lại thành những đặc sắc về phong tục tập quán bản làng Các nhà thơ Dao đã miêu tả, tái hiện, ghi khắc rất sống đọng và ấn tượng những những nét độc đáo trong phong tục tập quán ấy của người Dao

Trang 33

Nhà thơ Bàn Tài Đoàn đã tái hiện lại những lệ lục lễ tiết trong các sinh hoạt cộng đồng đồng của người Dao:

Lệ làng bạc trắng mấy chục lạng Rượu thịt mấy gánh đè lên đầu

(Đêm không ngủ - Bàn Tài Đoàn)

Vẻ đẹp văn hóa kết đọng và lan tỏa qua những câu chuyện cổ, những điệu hát dân gian mà các bà, các mẹ vẫn kể vẫn hát cho cháu con qua bao đời:

Truyện cổ tích con nghe mẹ kể Đoạn vui mẹ “lượn”, mẹ say sưa

(Con của mẹ - Bàn Tài Đoàn)

Ý thức về dân tộc, các nhà thơ Dao càng thêm yêu quý trân trọng những

di sản văn hóa tinh thần mà cha ông nhiều đời truyền nối để lại, kết tinh trong lời

ăn tiếng nói, trong những tập tục đặc sắc của tộc người mình:

Tiếng cha ông chút héo gầy Vẫn tường gan ruột đông tây một dòng Muốn thành người lớn đàn ông

Quá tăng sắc cấp hàm phong chữ thầy

Xe duyên trời đất cao đày Đón đưa cũng thế một ngày hội hoa

( Lối cỏ - Triệu Kim Văn) Trải qua một chiều dài lịch sử nhiều gian khó của những năm tháng cứ đâu

có thể dựng nhà làm nương là đi, hôm nay người Dao đã bỏ được lệ tục du canh

du cư lạc hậu Hạnh phúc và yên lòng biết bao khi đồng bào Dao hôm nay đã làm giàu đẹp quê hương ngay ở nơi mình sinh sống:

Nơi nào rừng xanh nhiều gỗ quý

Ta coi rừng xanh là ruộng nương

Ta coi rừng cây là thóc gạo Nuôi sống người Dao, đẹp quê hương

(Trên núi vẫn là nơi ta ở - Bàn Tài Đoàn)

Trang 34

Người Dao có một phong tục rất đặc biệt, đó là cứ vào ngày mùng một tết mọi người dạy rất sớm để đi lấy nước ở khe núi lấy lộc đầu năm:

Dạy mùng một mọi người dậy sớm Hứng nước khe lấy lộc nghĩa lộc ân

(Con sẽ về - Triệu Kim Văn) Tết của người Dao rất nhộn nhịp, tết là một dịp để họ có thể đi chơi, đi chợ, thịt lợn, không khí rất đầm ấm Đây cũng là ngày mà mọi người quây quần bên nhau, cạnh bàn thờ tổ tiên, cùng nhau cạn ly rượu tết:

Đào năm nay nở muộn Tết đã đến nơi rồi

Đi xa mà chẳng muốn Một đôi ngày thảnh thơi Một đôi ngày quê chơi Bánh chưng tay tự gói Khẩu thết và khẩu sli Của hương rừng cỏ nội Chợ xa nhiều việc vội Thịt lợn vật trong chuồng Bát tiết canh nóng hổi Với đủ tim-gan-lòng Đêm ba mươi ấm nồng

Cả nhà vui họp mặt Khói hương thờ nghi ngút Gần lại cùng tổ tiên Năm mới chạm mái nhà Chén rượu ngon uống cạn Mấy khi về với bản

Đầu xuân ai tính ngày

(Ngày xuân ở quê - Triệu Kim Văn)

Trang 35

Người Dao cũng có phong tục gói bánh chưng truyền thống, nhưng bánh chưng của họ không phải là bánh chưng tép tròn hay bánh chưng vuông, mà là loại bánh chưng dẹt hai đầu và lồi ở giữa:

Cái bánh chưng hai đầu vẫn dẹt Biết cất lời gì để đón khách xa

(Con sẽ về - Triệu Kim Văn) Người Dao cũng có tết thanh minh, họ đi tảo mộ, đây là dịp để người còn sống bày tỏ lòng biết ơn đối với người đã khuất Đây thực sự là một phong tục rất đẹp không những chỉ của người Dao mà còn của rất nhiều dân tộc khác ở nước ta:

Ngày thanh minh Những linh hồn dưới mộ cũng không ngủ được

Vì người trần gian lũ lượt đi trẩy hôi

Cả đi đắp mộ cho người nhà Khói hương nghi ngút trời xa

……

Ngày thanh minh Trở thành ngày vui vẻ Ngày mang ơn

Và cả biết ơn Mỗi người ta cũng thánh thiện hơn

(Ngày thánh thiện - Triệu Kim Văn) Phải là người am hiểu và quan sát rất kỹ những phong tục lễ tết của dân tộc mình thì ông mới có thể khắc họa nó một cách sinh động và giàu màu sắc như vậy trong thơ Qua đây ta có thể hiểu thêm hơn về đời sống văn hóa của đồng bào miền núi nói chung và dân tộc Dao nói riêng

Bên cạnh phong tục những ngày tết dân tộc Dao còn có lễ cấp sắc Đây là một lễ rất quan trong đối với người Dao Người con trai dân tộc Dao từ mười

Trang 36

lăm đến hai mươi tuổi đều phải trải qua nghi lễ này Bởi chỉ có trải qua nghi lễ này họ mới được công nhận là người lớn, mới được tham gia các hoạt động xã hội, được làm thầy cúng… Còn nếu không làm lễ này thì họ sẽ không được coi

là người lớn, không được ngồi mâm trên, không dược làm thầy cúng, không được công nhận là con cháu Bàn Vương Chính vì vậy mà khi sống nếu chưa làm lễ này thì khi chết con cháu phải làm hộ, vì chỉ có thế họ mới được siêu thoát, mới được trở về với tổ tiên Lễ cấp sắc được xem như là một tờ giấy thông hành, hiểu được ý nghĩa sâu sắc của tục lệ này, nhà thơ Triệu Kim Văn đã phản ánh nó trong thơ của mình Nhà thơ Triệu Kim Văn tìm lại những trầm tích văn hóa ẩn sâu trong từng nét hoa văn trên vạt áo thầy tào, qua bao đời vẫn in đậm trong tâm trí con cháu người Dao:

Tôi về đêm quá tăng cấp sắc Những bản kê còn sót lại áo thầy tào Đeo lủng lẳng với hội đèn điệu múa Găm vào tâm thức con cháu Bàn Dao Tôi về đêm quá tăng cấp sắc

Bạc đầu làm đứa trẻ con Chợt rưng rưng trước chùm kê lúc lắc Biết hạt gieo cỏ nảy mầm

(Quả kê còn lại - Triệu Kim Văn) Qua đây ta thấy được vai trò của lễ cấp sắc đối với người Dao là vô cùng quan trọng Đây là một phong tục đẹp cần được quan tâm đúng mức hơn Vì như

đã biết ở Nhật Bản cũng có một nghi lễ người ta giành cho những đứa trẻ nhỏ

gọi là “lễ trưởng thành” Lễ này được tổ chức rất vui, có ý nghĩa nhân văn và

giáo dục rất lớn Chính vì vậy, nó trở thành nét đẹp văn hóa nếu như gạt bỏ những thủ tục rườm rà, lạc hậu Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, người Dao đã có cuộc sống đầy đủ hơn và có sự tiến bộ hơn trong việc thể hiện các tập tục, nghi

lễ trong đời sống hàng ngày

Trang 37

Ở miền núi cũng như các vùng quê khác trên đất nước ta đều có văn hóa chợ Chợ ở miền núi chủ yếu là chợ phiên, chợ phiên có thể năm ngày một phiên, một tháng hai phiên hay một tháng một phiên Do đặc điểm là chợ phiên nên chợ họp thường rất đông vui:

Chợ đông như hội Chợ của người dân nghèo lặn lội Chợ của gái trai

Chợ họp bên đồi Mỗi năm chỉ một Hỏi tìm tình Chẳng ai bán ai mua Chỉ thấy má hồng môi thắm Trai tài gái sắc chen đua Chỉ nghe câu sli, câu lượn Trong sương trong nắng ban trưa

(Chợ tình Xuân Dương - Triệu Kim Văn) Tất cả những điều từ nhỏ bé giản dị đến lớn lao ý nghĩa đó, từ bức tranh thiên nhiên hiểm trở hùng vĩ mà tươi đẹp cho đến đời sống sinh hoạt, tính cách

Trang 38

con người, phong tục tập quán bản làng,… đã khẳng định sâu sắc tình yêu và sự gắn bó của người Dao với cuộc sống vùng quê núi rừng miền cao

2.2.1.2 Ý thức về tộc người

Mỗi một cộng đồng đều có một diễn trình lịch sử của mình, từ hình thành, lớn mạnh, phát triển, hoàn thiện.v.v Trong diễn trình lịch sử ấy, người ta cùng nhau từng bước hình thành nên ý thức về tộc người của mình Nó chính là một điều vừa tự nhiên vừa sâu sắc, một trong những yếu tố cốt lõi làm nên bản sắc, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác

Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình cộng đồng người Tộc người theo nghĩa hẹp là tổng hợp những con người được hình thành về mặt lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), có những đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổi trội là ngôn ngữ);

có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhau giữa họ với các tộc người khác (nói ngắn gọn là ý thức tộc người)

Ý thức tộc người bao hàm sự tự khẳng định của cộng đồng qua trường kì lịch sử gồm cộng đồng kí ức, cộng đồng hiện tại và cả cộng đồng tương lai với những giá trị chính trị, đạo đức cùng khát vọng về sự phát triển Ý thức tộc người vừa hòa nhập tự nhiên vào đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân vừa có khả năng tạo ra khoảng cách để xác lập đời sống riêng của tộc người Ý thức tộc người, do vậy, là sản phẩm văn hoá đồng thời là điểm xuất phát của sáng tạo và gìn giữ văn hoá tộc người Ý thức tộc người là nhân tố trực tiếp làm nên tinh thần, cốt cách của dân tộc

Theo các truyền thuyết, tư liệu lịch sử văn hóa về người Dao, thủy tổ của người Dao là Bàn Hồ (Bàn Vương) ở phương Bắc xa xôi, vốn từ trên trời giáng xuống trần gian Do lập nhiều công trạng đánh đông dẹp bắc, nên Bàn Hồ được Bình Hoàng gả cung nữ Ông sinh được 6 người con trai và 6 người con gái 12 con lấy 12 họ khác nhau, lập ấp sinh sống ở các vùng khác Do đất chật, người đông, chiến tranh liên miên, nên các dòng họ Dao phân tán đi khắp ngả

Trang 39

Thái cực tiên sinh, sinh Bàn Cổ Khai bảo nguyên niên vua ra đời Chưa có trời mà đã có đất

Trước có Ngọc Hoàng với Bàn Cổ Tôi ra cùng lứa với Ngọc Hoàng Ngọc Hoàng ba trăm sáu hóa thân Bàn Cổ ba trăm sáu hóa thân Mắt trái biến thành mặt trời đỏ Mắt phải biến thành mặt trăng tròn

Cỏ tranh trên đồi là tóc biển

Cá nước dưới biển là tim gan Răng biến thành vàng bạc

Móng chân tay biến thành ngôi sao Chín khúc minh chu với lục tạng Ruộng đồng cày cấy là chân ông

(Bàn Vương xướng) Những cuộc thiên di của họ vô cùng vất vả, gian khổ, phải vượt qua không biết bao nhiêu sông, núi, rừng hoang cách trở Họ bị chết hàng loạt vì đói khát,

vì bị kẻ thù truy sát, tộc người bản địa sát hại.v.v Mỗi cuộc thiên di là cả họ người Dao cùng kéo đi, đông đến hàng ngàn, hàng vạn người Thứ mà mỗi cuộc thiên di họ đều phải mang theo và bảo vệ nghiêm cẩn như báu vật là những vật thờ tổ tiên Trong cuộc thiên di, khi qua con sông, qua ngọn núi, người Dao đều bày lễ cúng rất linh đình tưởng nhớ tổ tiên, cầu mong tổ tiên phù hộ cho chuyến vượt sông, leo núi Những đồ cổ của tổ tiên truyền lại được bày ra trong lễ cúng

Cuộc thiên di vô cùng vất vả, khốc liệt và sự tồn tại của người Dao cho đến ngày hôm nay, theo suy nghĩ của họ, là nhờ sự phù hộ của tổ tiên Chính vì lẽ đó, người Dao rất coi trọng việc thờ cúng thần linh và tổ tiên Những vật dụng của tổ tiên

Trang 40

được họ giữ gìn cẩn trọng như báu vật và trong những buổi lễ truyền thống, họ mang “kho báu” đó ra để dâng tổ tiên bằng lòng thành kính với những nghi lễ tối

cổ

Lịch sử của người Dao có thể nói là lịch sử của những cuộc thiên di Nó

là một ám ảnh in hằn trong tâm thức của đồng bào Dao Thơ ca của các nhà thơ Dao đã dành một sự trăn trở, suy tư thường trực về những cuộc thiên di này

Sau bước chân miệt mài của cuộc đời, nhà thơ Bàn Tài Đoàn không khỏi

có những suy tư nặng trĩu khi nghĩ về những cuộc du canh du cư trải dài lịch sử của đồng bào Dao:

Gác tay lên trán, lòng tôi nghĩ Đêm nằm khó ngủ nhớ đồng bào Bao nhiêu đời, bước chân chưa nghỉ Cuộc sống du canh dân tộc Dao

(Người Dao suy nghĩ gì - Bàn Tài Đoàn)

Là một người con dân tộc Dao đã cùng đồng bào trải qua bao nhiêu cực khổ và long đong, thấu hiểu những bước chân mưu sinh đầy bất trắc, ông không khỏi xót xa thương cảm khi nghĩ về đồng bào của mình:

Làng xóm không nơi nào ổn định Bốn phương trời: nay ở, mai đi…

Đã trải qua bao đời ta cực khổ Chặt gốc, ăn ngọn, sống du cư Mưa hòa gió thuận còn tạm đủ Gặp năm hạn hán đói bơ vơ

(Trên núi vẫn là nơi ta ở - Bàn Tài Đoàn) Không chỉ các nhà thơ thuộc thế hệ đầu của thời kì hiện đại, mà đến thơ của các nhà thơ trẻ người Dao đương đại cũng vẫn thể hiện rất sâu sắc nỗi ám ảnh trong tiềm thức về những cuộc thiên di của tổ tiên mình:

Ngày đăng: 20/12/2022, 19:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Hoài Anh (2002), Văn học nhìn từ văn hóa, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nhìn từ văn hóa
Tác giả: Trần Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2002
2. Lại Nguyên Ân (biên soạn, 1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
3. Nông Quốc Chấn (1998), Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
4. Nông Quốc Chấn (1995), Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 1995
5. Gia Dũng (2002), Tuyển tập thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Gia Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
6. Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hóa học Việt Nam. Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
7. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971), Người Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1971
8. Bàn Tài Đoàn (1960), Muối cụ Hồ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muối cụ Hồ
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1960
9. Bàn Tài Đoàn (1963), Xuân về trên núi, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân về trên núi
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1963
10. Bàn Tài Đoàn (1964), Có mắt thấy đường đi, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có mắt thấy đường đi
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1964
11. Bàn Tài Đoàn (1965), Một giấc mơ, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một giấc mơ
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1965
12. Bàn Tài Đoàn (1968), Kể chuyện đời, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện đời
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1968
13. Bàn Tài Đoàn (1971), Tháng Tám đổi mới, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháng Tám đổi mới
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1971
14. Bàn Tài Đoàn (1973), Rừng xanh, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng xanh
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1973
15. Bàn Tài Đoàn (1975), Sáng cả hai miền, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng cả hai miền
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1975
16. Bàn Tài Đoàn (1979), Gửi đồng bào Dao, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gửi đồng bào Dao
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1979
17. Bàn Tài Đoàn (1984), Người Dao nghĩ gì, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao nghĩ gì
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1984
18. Bàn Tài Đoàn (1985), Bước đường tôi đi, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đường tôi đi
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1985
19. Bàn Tài Đoàn (1992), Tuyển tập Bàn Tài Đoàn, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Bàn Tài Đoàn
Tác giả: Bàn Tài Đoàn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1992
20. Nịnh Văn Độ (chủ biên), Nguyễn Phi Khanh, Hoành Thế Tùng, Văn hóa Truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang
Tác giả: Nịnh Văn Độ (chủ biên), Nguyễn Phi Khanh, Hoành Thế Tùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w