Nhóm công trình về dân tộc và bình đẳng dân tộc - Trịnh Quốc Tuấn chủ biên 1996, Bình đẳng dân tộc ở nước ta sách, trên cơ sở trình bày những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
Trang 1đại học quốc gia hà nội
trường đại học khoa học x hội và nhân văn
Trang 3
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn lịch sử nhân loại, nhất là trong thời đại ngày nay đã chứng minh: trong tất cả các yếu tố tạo nên sự thành công của các nước, giáo dục và đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng nhất Giáo dục và đào tạo chính là động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội và phát huy nguồn lực con người của mỗi quốc gia Giáo dục và đào tạo còn trực tiếp quyết định việc nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học - kỹ thuật, tổ chức quản lý, năng lực thực tiễn của những người lao động - lực lượng quyết định trực tiếp sự phát triển của lịch sử loài người
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo, chăm lo đến việc "trồng người'' vì lợi ích trăm năm của đất nước Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đã được Đảng xác định là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là nền tảng và nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhờ
đó, những năm qua ngành giáo dục và đào tạo đã có bước phát triển mới, góp phần quan trọng đưa Việt Nam vào đội ngũ các quốc gia đạt chuẩn xóa
mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển giáo dục và đào tạo, bên cạnh những thành tựu, có một số vấn đề đang đặt ra: Chất lượng giáo dục và đào tạo thấp so với yêu cầu; mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, sách giáo khoa, thi cử, cơ cấu đào tạo, trình độ quản lý có nhiều thiếu sót; trong giáo dục - đào tạo có những hiện tượng tiêu cực đáng lo ngại; chi phí học tập cao so
với thu nhập của người dân, nhất là của người nghèo Đặc biệt là giáo dục và đào tạo ở miền núi, vùng sâu, vùng xa đối với các dân tộc ít người còn gặp rất
Trang 4nhiều khó khăn, chưa có sự bình đẳng thực sự với dân tộc Kinh cũng như các
Chính vì vậy, văn kiện Hội nghị lần thứ bảy của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa IX đã nhận định: "Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập, mở rộng việc dạy chữ dân tộc Đa dạng hóa, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú, tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ là người dân tộc thiểu số" [22, tr.38] Trong một quốc gia đa tộc người, vấn đề "bình đẳng trong giáo dục và đào tạo" giữa các vùng, giữa đồng bào dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, giữa thành thị và nông thôn ngày càng gay gắt Ở nước ta đã có những biểu hiện không bình đẳng trong giáo dục và đào tạo về điều kiện, cơ hội học tập và nâng cao trình độ giữa người giàu và người nghèo, giữa đồng bào dân tộc đa số và dân tộc thiểu số
Trong bối cảnh nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, khoảng cách giữa các dân tộc, giữa các vùng lãnh thổ dân cư, giữa miền xuôi và miền núi, giữa vùng thấp và vùng cao ngày càng rộng ra Điều đó đã dẫn đến sự không đồng đều trong phát triển giáo dục và đào tạo giữa các vùng này Để thực hiện nhất quán chính sách dân tộc với những nguyên tắc cơ bản là "bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển", Đảng và nhà nước cần phải đặc biệt quan tâm đến sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi, nhất là sự nghiệp giáo dục - đào tạo với mục tiêu: đào tạo nguồn nhân lực
Trang 5và đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật cho vùng; khắc phục dần sự chênh lệch trong phát triển về giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc; thực hiện công bằng, bình đẳng trong giáo dục và đào tạo Để thực hiện được những mục tiêu đó, việc đưa ra những chính sách ưu tiên cho phát triển giáo dục - đào tạo miền núi của Đảng và Nhà nước ta là hết sức cần thiết và có ý nghĩa
Để góp phần nghiên cứu và giải quyết vấn đề trên, tôi chọn vấn đề:
"Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay" làm đề tài luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề bình đẳng dân tộc; vấn đề giáo dục và đào tạo với các góc độ và khía cạnh khác nhau Trong đó có nhiều công trình đã đề cập đến những khía cạnh
mà đề tài này cần quan tâm Có thể xem xét các công trình đó qua hai nhóm vấn đề sau:
Nhóm công trình về Giáo dục và Đào tạo, gồm:
- Trung tâm Thông tin - Bộ giáo dục và đào tạo (2000), Toàn cảnh
một cách tổng quan những số liệu cụ thể về thành tựu và hạn chế trong giáo dục - đào tạo của tất cả các tỉnh (thành) ở nước ta và những bài học kinh nghiệm phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đổi mới
- Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ
XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác giả đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, từ đó phân tích khái quát tình hình giáo dục Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc và những thành tựu, vai trò của giáo dục - Đào tạo trong công cuộc xây dựng đất nước từ khi Đảng
Trang 6ta ra đời, đồng thời cung cấp cho người đọc những số liệu về thực trạng nền giáo dục Việt Nam và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết trong thế kỷ XXI Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản để phát triển nền giáo dục Việt Nam hiện nay
- Đặng Bá Lãm (2003), Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI:
chung về xây dựng chiến lược phát triển giáo dục, hiện trạng giáo dục Việt Nam Tác giả đã chỉ ra những thời cơ, thách thức đối với giáo dục nước ta trong những thập kỷ tới và đưa ra những mục tiêu, giải pháp chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam
- Phạm Tất Dong (1993), "Giáo dục và đào tạo - nền tảng của chiến
trò của giáo dục - đào tạo đối với chiến lược phát triển con người phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhóm công trình về dân tộc và bình đẳng dân tộc
- Trịnh Quốc Tuấn (chủ biên) (1996), Bình đẳng dân tộc ở nước ta
sách, trên cơ sở trình bày những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, đã phân tích thực trạng bình đẳng giữa các dân tộc về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục - đào tạo và đưa ra các phương hướng, giải pháp để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta, trong đó có bình đẳng về giáo dục - đào tạo
- Nguyễn Quốc Phẩm - Trịnh Quốc Tuấn (1999), Mấy vấn đề lý luận
gia, Hà Nội Tác giả đưa ra một số khái niệm về vấn đề dân tộc, trên cơ sở
đó trình bày thực tiễn vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam
Trang 7hiện nay Tác giả cuốn sách cũng đã đề cập đến quan hệ tộc người và văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ và bình đẳng dân tộc
- Phạm Minh Thái (chủ biên) (2001), Nâng cao chất lượng đào tạo ở
sách tổng kết những thành tựu đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại ở các trường phổ thông dân tộc nội trú nước ta từ năm 1991 đến năm 2000, những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp cơ bản để phát triển giáo dục - đào tạo ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trong thời gian tới
- Cuốn "Kỷ yếu hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện chế độ cử tuyển
thành tựu cũng như những hạn chế trong quá trình thực hiện chế độ cử tuyển từ năm 1990 đến năm 2005, đưa ra những chủ trương giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cử tuyển trong giáo dục ở những năm tiếp theo
- Bùi Thị Ngọc Diệp (2002), Một số vấn đề phát triển giáo dục miền
chính trị, Hà Nội Tác giả nêu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta đối với vấn đề giáo dục Trên
cơ sở đó, tác giả đã phân tích thực trạng giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số ở nước ta và đề xuất một số phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp để phát triển giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số đến năm 2010
- Phạm Văn Dũng (2004), Thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc
Luận văn thạc sĩ triết học Tác giả nêu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng việc thực hiện công bằng xã hội
Trang 8giữa các dân tộc về giáo dục và đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc và đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu để thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc trong giáo dục và đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước
ta hiện nay
Ngoài ra còn nhiều đề tài, công trình nghiên cứu và các bài báo khác viết về giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục và đào tạo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Các công trình đó đã phần nào gợi mở ra một số vấn đề cần được nghiên cứu và giải đáp
Tuy nhiên, vấn đề bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo vẫn chưa được đề cập đến như là một công trình nghiên cứu độc lập, có hệ thống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích: Luận văn phân tích thực trạng việc thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực này ở nước ta hiện nay
Nhiệm vụ của đề tài: Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ khái niệm dân tộc, bình đẳng, bình đẳng dân tộc
- Xác định nội dung và các yếu tố tác động đến bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta
- Phân tích thực trạng bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta những năm gần đây
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở Việt Nam trong những năm gần đây
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng dân tộc và giáo dục, đào tạo Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo, tiếp thu một số kết quả của các công trình nghiên cứu trước về vấn đề này trong những năm gần đây Đặc biệt, luận văn thực hiện trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta
trong thời kỳ đổi mới
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; chủ yếu
sử dụng phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, hệ thống hóa Ngoài ra, còn kết hợp với một số phương pháp cụ thể của xã hội học như thống kê, so sánh
6 Đóng góp mới của luận văn
- Khái quát những nội dung cơ bản của bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta và thực trạng việc thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực này ở nước ta hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả của việc thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên quan đến bình đẳng dân tộc cũng như các địa
Trang 10phương giải quyết những vấn đề thực tiễn trong giáo dục và đào tạo ở nước
ta hiện nay
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung chính của luận văn bao gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1
BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC TRÊN LĨNH VỰC
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA
1.1 Bình đẳng dân tộc và bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục
và đào tạo
1.1.1 Khái niệm dân tộc, bình đẳng dân tộc
Khái niệm dân tộc
Hiện nay, trong ngôn ngữ diễn đạt hay trong nhận thức, quan niệm của chúng ta, khái niệm “dân tộc” được hiểu rất đa nghĩa, đa cấp độ Điều đó một phần là do vấn đề dân tộc được xem xét từ những quan điểm, lập trường và góc độ khác nhau; phần khác, do hiện thực phong phú, phức tạp của các loại hình dân tộc đang tồn tại ở các quốc gia, khu vực trên thế giới Sự phong phú, phức tạp đó đưa đến nhiều định nghĩa không hoàn toàn giống nhau Cho đến nay, chưa có định nghĩa nào diễn đạt được đầy đủ, trọn vẹn thuộc tính của các loại hình dân tộc đã xuất hiện và đang tồn tại trên thế giới Việc tìm kiếm một định nghĩa “dân tộc” đang là đòi hỏi cấp bách của lý luận và thực tiễn
“Dân tộc” theo từ gốc Latinh là “natio” có nguồn gốc từ chữ “nasei” nghĩa là sinh ra Mặc dù không được sử dụng đầy đủ ý nghĩa như ngày nay nhưng từ cuối thời trung cổ khái niệm “dân tộc” đã được dùng rộng rãi ở châu Âu Nhiều nhà tư tưởng cách mạng tư sản châu Âu đã dùng khái niệm
“dân tộc” để chỉ cộng đồng nhân dân trong một quốc gia; không có vua và quý tộc trong cộng đồng này; những thị dân và đẳng cấp thứ ba được xem như thành phần chủ yếu của dân tộc Như vậy, trong giai đoạn đó, khái niệm
Trang 12“dân tộc” chủ yếu mang nội dung giai cấp, chưa trở thành một khái niệm có tính học thuật
Đến thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVII - XVIII), các nhà tư tưởng tư sản
là những người đầu tiên đưa ra các định nghĩa học thuật về dân tộc Theo Điđơrô (nhà tư tưởng người Pháp) thì dân tộc là một số lượng đáng kể dân chúng sống trên phạm vi đất nước nhất định và tuân theo sự cai trị của một chính phủ Nghĩa là, dân tộc gắn với quốc gia và bao hàm quan hệ chính trị (quan hệ với nhà nước) chứ chưa đề cập đến quan hệ cộng đồng về kinh tế Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà lý luận tư sản lại phủ nhận quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhấn mạnh yếu tố tinh thần và yếu tố chủng tộc khi đề cập đến vấn đề “dân tộc” So với các nhà tư tưởng
tư sản trước đây, các nhà tư tưởng tư sản thời kỳ này xem xét “dân tộc” ở mức độ khái quát hơn Tuy nhiên, trong những quan niệm của họ, “dân tộc” chưa được quan niệm là hình thức cộng đồng người có tính lịch sử, họ chưa thấy rõ cơ sở kinh tế - xã hội của sự hình thành và tồn tại của các dân tộc Mác và Ăngghen không đưa ra định nghĩa cụ thể nào về dân tộc, mặc
dù các ông nghiên cứu khá sâu và có những quan điểm rất khoa học về những nội dung cơ bản và có liên quan đến vấn đề dân tộc
Năm 1913, trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc”, Xtalin đưa ra định nghĩa: “Dân tộc là một hình thức cộng đồng người ổn định, bền vững, hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, có chung các mối quan hệ về kinh tế, có chung một ngôn ngữ, một nền văn hóa” [86, 357] Định nghĩa này được coi là tương đối hoàn chỉnh
về “dân tộc”, đã chỉ ra được có 4 yếu tố cấu thành dân tộc, đó là ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, văn hoá; chỉ cần thiếu một trong bốn yếu tố đó sẽ không hình thành dân tộc Nhưng Xtalin lại quá nhấn mạnh yếu tố kinh tế (cộng
Trang 13đồng kinh tế), chưa coi trọng nhân tố tộc người và yếu tố văn hóa, bản sắc văn hóa của dân tộc …
Ở nước ta, do nhu cầu bức xúc của vấn đề dân tộc và giải quyết các vấn đề dân tộc, căn cứ vào những thành tựu khoa học ngày nay, đứng trên quan điểm mácxít và dưới góc độ triết học chính trị, thì “dân tộc” được hiểu là một cộng đồng xã hội ổn định có những đặc trưng cơ bản sau:
+ Dân tộc là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, do đó là một cộng đồng ổn định
+ Dân tộc là một cộng đồng người co chung một phương thức sinh hoạt kinh tế
+ Dân tộc là một cộng đồng người có chung một ngôn ngữ
+ Dân tộc là một cộng đồng người có những nét tâm lý chung biểu hiện trong bản sắc văn hóa
Hiện nay có những quốc gia nhiều dân tộc, gọi là quốc gia đa dân tộc, nhưng cũng có quốc gia chỉ có một dân tộc, gọi là quốc gia dân tộc (Nhật Bản, Anh Quốc, Triều Tiên) Vì thế mà khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa (nghĩa hẹp và nghĩa rộng)
Khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp (tức là được hiểu theo nghĩa tộc người - ethnic) là một cộng đồng người có chung nguồn gốc được hình
thành trong lịch sử, mang ba đặc trưng chủ yếu sau: cộng đồng về ngôn ngữ,
những đặc trưng trên cũng mang tính đặc thù và thường xuất hiện những dân tộc có dân cư đông gọi là dân tộc đa số; còn dân tộc ít dân cư hơn gọi là dân tộc thiểu số Vì vậy, dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số đều được gọi là dân
Trang 14tộc Theo nghĩa này ở Việt Nam có dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Mường, dân tộc Thái…
Khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng (tương ứng với quốc gia,
đất nước - nation) khái niệm này dùng để chỉ một cộng đồng chính trị - xã
hội, bao gồm tất cả các thành phần dân tộc đa số hay thiểu số sinh sống
này, có dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, dân tộc Đức… V.I.Lênin trong nhiều tác phẩm của mình đã dùng thuật ngữ dân tộc theo nghĩa này để chỉ một cộng đồng xuất hiện cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, được hiểu là cộng đồng quốc gia dân tộc tương ứng với thuật ngữ dân tộc Tuy nhiên, khi xuất hiện các quốc gia dân tộc thì V.I.Lênin lại dùng thuật ngữ quốc gia đa dân tộc Do đó thường gây sự nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ này
Vì vậy, ở đây cần có sự thống nhất, dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: dân tộc với tư cách là một cộng đồng quốc gia và dân tộc với tư cách một cộng đồng tộc người
Mặc dù, khái niệm “dân tộc” được hiểu theo hai nghĩa như vậy, nhưng chúng luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Bởi lẽ, nhân tố chính trị - xã hội dường như cùng xuất hiện và cùng phát triển với nhân tố tộc người trong một tiến trình thống nhất dẫn tới sự hình thành dân tộc Sự phát triển và hòa quyện giữa hai nhân tố đó được ghi nhận sâu sắc trong ý thức của dân cư dân tộc về sự gắn bó quyền lợi và nghĩa vụ của mình với cộng đồng dân tộc, đồng thời với nhà nước, cộng đồng quốc gia
Nhận thức được điều đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa trong khi hoạch định và thực hiện mọi chính sách chung của quốc gia, cần chú ý đến tính đặc thù của các dân tộc, hơn nữa cần có chính sách riêng bổ sung vào các chính sách chung nhằm đáp ứng đòi hỏi chính đáng mang tính đặc thù của từng dân tộc Chính sách đó nhằm củng cố và phát triển nền kinh tế thống
Trang 15nhất nhưng đa dạng, trong đó tiềm năng của từng dân tộc được phát huy đầy đủ, có khả năng liên kết các thành viên, các bộ phận của dân tộc trong một quốc gia thành một khối thống nhất và trở thành hiện thân của sự đoàn kết giữa các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, xây dựng và phát triển nền văn hóa trong đó mọi giá trị văn hóa của từng tộc người được giữ gìn và phát huy trong xu thế giao lưu, hội nhập các giá trị văn hóa các dân tộc để hình thành nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, “dân tộc” được sử dụng theo nghĩa dân tộc - tộc người
Khái niệm bình đẳng dân tộc
phạm trù chính trị - xã hội, đều có nghĩa là sự bằng nhau, sự ngang nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội về một hay một số phương diện xã hội nhất định (chẳng hạn sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay các nhóm xã hội về những quyền và nghĩa vụ công dân, về địa vị xã hội, về cơ hội, về mức độ thỏa mãn những nhu cầu nhất định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội…)
Theo nghĩa này, bình đẳng (hay bình đẳng xã hội) là sự giống nhau nhưng lại là hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể (xuất phát điểm của từng người, từng đơn vị tham gia trong xã hội là khác nhau, khả năng của mọi người cũng khác nhau nên cùng một cơ hội có người sẽ tận dụng tốt để tạo
ra hiệu quả cao, nhưng sẽ có người không có năng lực để tận dụng cơ hội đó) và nó khác với chủ nghĩa bình quân là sự giống nhau một cách máy móc, thuần túy áp dụng một tiêu chuẩn như nhau cho những con người, cộng đồng người vốn dĩ khác nhau Đồng thời nó cũng khác với công bằng
xã hội - đó là sự ngang bằng nhau giữa người với người về một phương
Trang 16diện hoàn toàn xác định: quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ (cống hiến ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau) Như vậy, công bằng xã hội thực chất là biểu hiện cụ thể của bình đẳng xã hội, thực hiện công bằng xã hội là góp phần thực hiện bình đẳng xã hội Trong thời gian gần đây, các nhà xã hội học thường nói đến hai loại bình đẳng: bình đẳng về cơ hội và bình đẳng về hưởng thụ Bình đẳng về cơ hội thể hiện quyền của các cá nhân, nhóm xã hội được tiếp cận ngang nhau với những điều kiện do xã hội tạo ra (như bình đẳng về những điều kiện tham dự vào quá trình giáo dục, đào tạo để có được một trình độ văn hóa, nghề nghiệp nhất định, bình đẳng trong quan hệ với tư liệu sản xuất…) để mọi người có thể tham gia một cách tốt nhất vào lao động sản xuất, thực hiện nghĩa vụ xã hội và vào các
hoạt động phong phú khác của xã hội Bình đẳng về hưởng thụ là sự ngang bằng
nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội trong việc hưởng thụ những của cải vật
chất và tinh thần đã được xã hội tạo ra Bình đẳng về cơ hội là điều kiện để có
bình đẳng về hưởng thụ
Như vậy, việc tìm hiểu rõ khái niệm "bình đẳng" (bình đẳng xã hội) là có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta trong cách tiếp cận khái niệm "bình đẳng dân tộc"
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin cho rằng bình đẳng dân tộc là quyền ngang nhau giữa các dân tộc, không phân biệt đó là dân tộc lớn hay dân tộc nhỏ, không phân biệt trình độ phát triển, màu da, chủng tộc Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là một yếu tố khách quan và vô cùng cần thiết giống như quyền bình đẳng giữa các cá nhân Quyền bình đẳng dân tộc phải được thể hiện đầy đủ trên mọi lĩnh vực, phải được ghi nhận về pháp lý và thực hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Theo các ông, bình đẳng dân tộc về thực chất là xóa bỏ tình trạng người bóc lột người để từ đó xóa bỏ tình trạng dân tộc này có đặc quyền, đặc lợi so với dân tộc khác, dân tộc
Trang 17này đi áp bức dân tộc khác: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị bãi bỏ” và “khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch cũng đồng thời mất theo” [6, 624] Chính vì vậy các ông xem việc giải quyết vấn đề bình đẳng dân tộc như một bộ phận không thể thiếu được trong cương lĩnh cách mạng nhằm thực hiện bình đẳng xã hội nói chung Việc thực hiện bình đẳng xã hội nói chung là mục tiêu bao trùm, do đó có ý nghĩa quyết định với bình đẳng dân tộc, là một trong những nhân tố thúc đẩy bình đẳng xã hội Không xóa bỏ bất bình đẳng giữa người với người thì cũng không xóa bỏ được bất bình đẳng dân tộc và không xóa bỏ bất bình đẳng dân tộc thì cũng không có bình đẳng xã hội
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bình đẳng dân tộc trước hết là thủ tiêu tình trạng giai cấp này áp bức giai cấp khác để trên cơ sở
đó xóa bỏ tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc khác Tiếp theo đó phải từng bước khắc phục tình trạng chênh lệch trong sự phát triển của các dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc còn ở trình độ lạc hậu, bằng sự nỗ lực của chính mình và sự giúp đỡ của các dân tộc anh em phát triển nhanh trên con đường tiến bộ Theo các ông chỉ có bình đẳng của giai cấp vô sản mới làm được điều đó vì nội dung yêu sách bình đẳng vô sản (xóa bỏ bản thân giai cấp) cao hơn nội dung yêu sách bình đẳng tư sản (xóa bỏ đặc quyền giai cấp) Xóa bỏ giai cấp là xóa bỏ tận gốc sự bất bình đẳng và bất công lớn nhất đã từng tồn tại hàng ngàn năm lịch sử, tạo điều kiện để phát triển bình đẳng xã hội lên một bước mới
Trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gô-Ta, để đấu tranh chống lại
quan điểm trừu tượng về bình đẳng của Lát-xan, C.Mác và Ph Ăngghen cho rằng bình đẳng trong chủ nghĩa xã hội gắn liền với việc xóa bỏ giai cấp bóc lột không có nghĩa là xã hội có bình đẳng hoàn toàn vì trong xã hội không
Trang 18phải mọi người đều bình đẳng với nhau về cơ hội phát triển mà còn tồn tại rất nhiều sự khác biệt như về nguồn gốc xuất thân, về địa vị xã hội, về năng khiếu cá nhân, về năng lực lao động….Do vậy, trên thực tế, với một công việc ngang nhau vẫn còn tình trạng người này lĩnh hơn người kia và từ đó có nguời này giàu hơn người kia Vì vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng sự bình đẳng trong chủ nghĩa xã hội vẫn phải chấp nhận tình trạng bất công nhất định giữa các thành viên trong xã hội
Vận dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng dân tộc, với sự hiểu biết sâu sắc tình hình các dân tộc trên thế giới, các dân tộc phương Đông và nhất là các dân tộc anh em ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đề ra và thực hiện chính sách dân tộc, coi vấn đề dân tộc có tầm quan trọng chiến lược Khi nói về vấn đề dân tộc, Người luôn nhắc đến ba nguyên tắc cơ bản “đoàn kết, bình đẳng, tương trợ” Trong đó, đoàn kết dân tộc là điểm xuất phát và
là mục tiêu cần đạt Bình đẳng dân tộc là nguyên tắc và là cơ sở để đạt được đoàn kết lâu dài, bền vững Tương trợ là điều kiện để đoàn kết thiết thực đồng thời thúc đẩy bình đẳng dân tộc về mọi mặt
Theo tư tưởng của Người, đoàn kết là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi cách mạng, là chiến lược huy động, tập hợp lực lượng để giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng thành công xã hội mới Tư tưởng này
thể hiện trong khẩu hiệu có ý nghĩa như là một chân lý: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công Người luôn khẳng
định “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng, cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa” [44, 110]
Trang 19Để thực hiện quyền bình đẳng một cách đầy đủ, Người luôn giáo dục và khuyến khích các dân tộc thiểu số cần phải hết sức phấn đấu nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, phải giác ngộ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình, dần từng bước xóa bỏ sự chênh lệch giữa các dân tộc, giữa các vùng Cơ sở vững chắc cho sự bình đẳng trước hết là sự phát triển mạnh mẽ đồng đều về kinh
tế trên khắp các vùng dân tộc Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tôn trọng và tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của nhân dân các dân tộc Người khẳng định rằng, nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc, các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
Tương trợ, giúp nhau cùng phát triển là một tất yếu khách quan trong quan hệ giữa các dân tộc Tuyên bố quyền bình đẳng về mặt pháp lý, và việc thực hiện quyền bình đẳng trên thực tế còn có một khoảng cách, bởi điều kiện và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của các dân tộc không đồng đều Sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc bao hàm cả việc các dân tộc đa số có trình độ phát triển cao hơn giúp đỡ các dân tộc thiểu số chậm phát triển
Trong nhiều bài viết, bài nói chuyện, Người luôn khẳng định tinh thần tương trợ, giúp nhau cùng phát triển Trong bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng ngày 23 tháng 2 năm 1961, Người nhắc nhở: “Đồng bào tất cả các dân tộc không phân biệt lớn nhỏ phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng nhau xây dựng
tổ quốc chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc, ấm no” [48, 282]
Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu, ngày
19 tháng 4 năm 1946, Hồ Chí Minh viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số
Trang 20khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết
có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta” [44, 217]
Trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc được Đảng và Nhà nước ta xác định ngay từ khi mới thành lập Trải qua các giai đoạn lịch sử, nguyên tắc này tiếp tục được quán triệt và thực hiện nhằm từng bước khắc phục sự khác biệt về mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc làm cho
lý tưởng bình đẳng dân tộc ngày càng được hiện thực hóa một cách đầy đủ hơn
Quan điểm của Đảng ta về bình đẳng dân tộc được thể hiện cụ thể ở một số điểm cơ bản như sau:
ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam Đảng ta luôn xác định giải quyết vấn đề dân tộc, thực hiện bình đẳng dân tộc là nhiệm vụ chiến lược cách mạng Việt Nam Bình đẳng dân tộc được ghi nhận trong các văn bản quan trọng của Đảng, là nội dung cốt lõi nhất trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta luôn quan tâm đến chính sách đoàn kết, tương trợ trên nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, do đó đã giành được thắng lợi to lớn đem lại nền độc lập, tự do cho đất nước Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã thể hiện tinh thần đổi mới tư duy lý luận về vấn đề dân tộc, về giải quyết các quan hệ dân tộc nhằm thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, Đảng ta khẳng định: “Trong việc phát triển kinh tế - xã hội, ở những nơi có đồng bào dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau, cùng làm chủ tập thể, kết hợp
Trang 21phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ” [12, 97]
Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội” năm 1991, Đảng ta chỉ rõ nội dung của vấn đề dân tộc cần giải quyết là: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh tiến bộ, gắn
bó mật thiết với sự phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc” [14,16]
Các Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tầm quan trọng chiến lược của vấn
đề dân tộc và những nội dung bao trùm mang tính nguyên tắc cũng như những nội dung cụ thể của chính sách dân tộc, đại đoàn kết dân tộc nhằm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc Đặc biệt, tại Nghị quyết Trung ương 7 (lần 2) khóa IX trên cơ sở nhận thức sâu sắc tình hình thế giới và trong nước cũng như tầm quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc , Đảng ta chỉ rõ: “các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia
rẽ dân tộc” và “phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi, gắn tăng trưởng kinh
tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc, quan tâm phát triển, bồi dưỡng nhân lực, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu
số, giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc
Trang 22thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất” [23,77]
thực hiện bình đẳng xã hội Thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay thực chất là khắc phục tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống Do đó, giải quyết vấn đề bình đẳng dân tộc như là một bộ phận không thể thiếu trong chính sách dân tộc của Đảng nhằm thực hiện bình đẳng xã hội nói chung Việc thực hiện bình đẳng
xã hội nói chung là mục tiêu bao trùm, do đó có ý nghĩa quyết định việc thực hiện bình đẳng dân tộc; ngược lại, việc thực hiện bình đẳng dân tộc sẽ góp phần thực hiện bình đẳng xã hội, là một trong những nhân tố thúc đẩy bình đẳng xã hội Nói đến bình đẳng xã hội là nói đến sự ngang bằng nhau giữa người với người về một hoặc một số phương diện xã hội nào đó, chẳng hạn về kinh tế, chính trị, văn hóa… Do đó, không xóa bỏ bất bình đẳng giữa người với người về các phương diện xã hội thì bất bình đẳng về dân tộc không bao giờ được xóa bỏ Ngược lại, không xóa bỏ bất bình đẳng về dân tộc thì việc xóa bỏ bất bình đẳng về xã hội không bao giờ được thực hiện triệt để, đầy đủ Bình đẳng dân tộc chỉ có thể thực hiện từng bước trong tiến trình cách mạng
xã hội chủ nghĩa trong mỗi dân tộc, quốc gia dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân nhằm cải tạo xã hội một cách toàn diện, triệt để
tinh thần tự lực tự cường của mỗi dân tộc, đồng thời tăng cường sự đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc Chủ trương đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
Trang 23nước luôn là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo Nhận thức rõ vị trí, vai trò của các dân tộc thiểu số trong cách mạng Việt Nam là để khơi dậy tiềm năng của các dân tộc, vượt qua mọi khó khăn thử thách
để kiên trì tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa Đó cũng là con đường để thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những tiền đề cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số (dân tộc Kinh), đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đoàn kết, giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
cả các lĩnh vực của đời sống Trên lĩnh vực chính trị, các dân tộc không
phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số có quyền trở thành những thành viên của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như đa số đều có quyền làm chủ, có đầy đủ các quyền lợi và nghĩa
vụ công dân, bình đẳng trước pháp luật, có quyền lợi và trách nhiệm xây dựng thể chế chính trị mới, phát huy vai trò của hệ hống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số, không ngừng nâng cao ý thức chính trị và văn hóa
chính trị cho đồng bào các dân tộc Trên lĩnh vực kinh tế, các dân tộc
không phân biệt đa số hay thiểu số đều là các chủ thể để xây dựng nền kinh tế mới xã hội chủ nghĩa, được làm chủ trong việc sử dụng các tư liệu sản xuất chủ yếu, được phát huy những điều kiện, những nguồn lực phát triển kinh tế của mình; các dân tộc kém phát triển được giúp đỡ, được hợp tác liên kết với các dân tộc khác để phát triển kinh tế, khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc Thành viên trong các dân tộc có cơ hội giúp nhau trong việc tìm kiếm việc làm, trong nâng cao trình độ tay nghề, kỹ năng lao động Những người lao động của các dân
Trang 24tộc khác nhau được hưởng lợi ích kinh tế trên cơ sở đóng góp công sức lao động của mình Đặc biệt, các dân tộc kém phát triển về mặt kinh tế, có nguồn lực kinh tế ít ỏi được ưu tiên quan tâm giúp đỡ để phát triển kinh
tế Trên lĩnh vực xã hội, Đảng ta luôn coi bình đẳng về mặt xã hội giữa
các dân tộc là một vấn đề cấp bách quan trọng Đảng chủ trương các dân tộc đều được học tập, không hạn chế về mặt thời gian lẫn cấp học, các dân tộc có quyền lựa chọn học tập bằng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình hay dân tộc khác hoặc ngôn ngữ phổ thông; các thành viên của các dân tộc đều được chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh, tiếp cận với những điều kiện
để phát triển thân thể, cải thiện giống nòi; đều được khuyến khích giúp đỡ giữ gìn môi trường, có được khu dân cư văn minh; mặt khác, các dân tộc
có trình độ dân trí thấp, sức khỏe kém, môi trường sống bị phá hủy được các dân tộc khác giúp đỡ phát triển đồng đều hơn
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng ta, có thể quan niệm về bình đẳng dân tộc như sau: Bình đẳng dân
tộc là một mặt của bình đẳng xã hội, đó là sự ngang nhau về nghĩa vụ và quyền lợi, về cơ hội và điều kiện phát triển giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội không phân biệt đa số hay thiểu số, sắc tộc hay chủng tộc, lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp, chế độ kinh tế, chính trị khác nhau
Trong giới hạn của luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập tới vấn đề bình đẳng dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc và trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo Vì vậy, khi nói tới bình đẳng dân tộc ở Việt Nam là nói đến bình đẳng giữa các dân tộc - tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và những biểu hiện khác nhau của nội dung bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Trang 251.1.2 Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Giáo dục và đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội
Nó không chỉ là sản phẩm của xã hội mà đã trở thành nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển xã hội Giáo dục và đào tạo có vai trò quyết định đến việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài của quốc gia dân tộc C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin không trực tiếp nói đến vấn đề bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, song thông qua những quan điểm của các ông về xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, có thể thấy được những tư tưởng bình đẳng và công bằng xã hội trong giáo dục đối với tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử giữa các nhóm người, giữa các dân tộc trong một quốc gia dân tộc Ngay trong tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" - cương lĩnh chính trị đầu tiên của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định mục đích lớn nhất và duy nhất của những người cộng sản chính là: "xóa
bỏ chế độ tư hữu", giải phóng nhân loại, dân tộc và con người khỏi mọi
áp bức, bóc lột, bất công, tiến tới xây dựng xã hội thành một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người Muốn đạt được mục tiêu đó, phải tiến hành cách mạng vô sản, giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, lật đổ
sự thống trị của giai cấp tư sản, xây dựng được chế độ chuyên chính vô sản nhằm tạo ra một phương thức sản xuất mới Sau khi nắm được chính quyền, giai cấp công nhân phải tiến hành một hệ thống biện pháp để thiết lập một phương thức sản xuất mới, tức là xây dựng một xã hội mới - xã hội phải thực hiện giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả trẻ em; xóa bỏ việc dùng trẻ em làm trong các công xưởng như hiện nay; kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất; thực hiện phổ cập giáo dục cho tất cả mọi người dân Đó là một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, một nền giáo
Trang 26dục cho toàn thể nhân dân lao động, con người được đào tạo và phát triển toàn diện trên cơ sở đảm bảo bình đẳng trong đối xử và trong điều kiện tiếp cận các cơ hội để phát triển tất cả các năng lực cá nhân, để cho con người phát triển toàn diện, không có sự đối xử bất công, bất bình đẳng
Tư tưởng giáo dục và đào tạo xã hội chủ nghĩa được Mác - Ăngghen nêu ra trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học đã được Lênin
bổ sung, phát triển và thực hiện trong thực tế cùng với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô Viết Đó là nền giáo dục của toàn thể nhân dân lao động, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, giàu hay nghèo, dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số trên nguyên tắc tất cả mọi người đều được học tập và nâng cao trình độ Đó là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa
- nền giáo dục bình đẳng cho nhân dân
Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Một trong những sản phẩm đặc biệt quý giá mà cuộc cách mạng vĩ đại này đóng góp vào kho tàng văn hóa nhân loại là những tư tưởng, quan điểm về giáo dục và đào tạo Tại diễn đàn Đại hội Giáo dục toàn Nga lần thứ nhất, ngày 28-8-1918, V.I Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của công tác giáo dục, coi đó là một điều kiện đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ nghĩa Người tiến hành thực hiện một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa đầu tiên có trong lịch sử phát triển của loài người, đó là nền giáo dục của đại đa số nhân dân lao động, đó là nền giáo dục được thực hiện trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng, toàn diện cho tất cả mọi người dân lao động trên đất Nga
Ngay sau cách mạng tháng Mười thành công, việc xóa mù chữ được công bố là một trong các nhiệm vụ quốc gia quan trọng nhất Năm 1920, ủy
Trang 27ban xóa mù chữ được thành lập Trong 10 năm, 40 triệu người đã thoát nạn
mù chữ, biến nước Nga thành một nước có học vấn Trong cương lĩnh dân tộc, Lênin đã khẳng định quyền bình đẳng của tất cả các dân tộc trong chính trị, kinh tế và văn hóa - giáo dục Mọi dân tộc đều được đối xử như nhau trong phát triển giáo dục và đào tạo, không có sự phân biệt dân tộc lớn hay dân tộc nhỏ, dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số Đồng bào các dân tộc, nhân dân lao động đều có quyền như nhau trong việc tham gia học tập và nâng cao trình độ, nhà nước sẽ đảm bảo thực hiện các quyền đó một cách bình đẳng trong xã hội
Sau khi hoàn thành cơ bản nhiệm vụ xóa mù chữ, từ năm 1930, nước Nga bắt đầu đi vào công cuộc phổ cập giáo dục tiểu học, tất cả trẻ em từ 8 tuổi đều bắt buộc phải đi học Đến năm 1936, Liên Xô đã hoàn thành được phổ cập tiểu học (lớp 4), sau đó đi vào thực hiện phổ cập lớp 7, rồi phổ cập lớp 8
và sau 20 năm (1936-1956) thực hiện được phổ cập cấp II và 14 năm tiếp theo
đã phổ cập được phổ thông trung học (lớp 10) trên toàn lãnh thổ nước Nga Xô Viết
Như vậy, tư tưởng về một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin được thực hiện từng bước trong thực tế ở nước Nga Xô Viết với nhiều thành tựu, đã minh chứng cho quan điểm của ông là đúng đắn và công bằng
Trên quan điểm về giáo dục và đào tạo của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển thành tư tưởng về một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đảm bảo cho tất cả mọi người dân lao động đều được học tập và nâng cao trình độ Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thiên tài về chính trị, một vị anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hóa lớn Sinh thời, Người rất quan tâm tới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, sự nghiệp trồng người của dân tộc Việt Nam Theo Người, giáo dục và đào tạo có vai trò rất
Trang 28quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy, tư tưởng giáo dục của Người không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa "hồng", vừa "chuyên", có tri thức, lý tưởng, đạo đức, sức khỏe, thẩm mỹ
Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh vừa là thành quả của sự chắt lọc tinh tế tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, vừa mang đậm hơi thở của cuộc sống thực tiễn Do vậy, ở Hồ Chí Minh, lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục luôn có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau Trong đó, tư tưởng của Người về xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục toàn dân dựa trên cơ sở đảm bảo bình đẳng cho tất cả mọi người dân Việt Nam đều được học hành và nâng cao trình độ là một nội dung rất quan trọng đối với đất nước ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trong nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết, Người đã chỉ rõ: Hết sức mở mang giáo dục như lập trường, tổ chức nhà xem sách cho nhân dân Khi xây dựng
"Chánh cương vắn tắt" cho Đảng Cộng sản Việt Nam, Người cũng nhấn mạnh phải "phổ thông giáo dục theo công nông hóa” [43,1] và ngay trong lời kêu gọi nhân ngày thành lập Đảng, Người đã đề ra "thực hành giáo dục toàn dân" [43,10] Tư tưởng của Hồ Chí Minh về một nền giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi người được thể hiện rất rõ qua mong muốn của Người khi trả lời các nhà báo (tháng 1/1946), Người đã nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc,
là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" [44, 267] Đó là
tư tưởng về một nền giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi người, không phân biệt
Trang 29giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc là một biểu hiện cao cả của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh mà xuất phát điểm đầu tiên của nó là từ lòng thương yêu người nghèo khổ, bị áp bức bóc lột
Như vậy, tư tưởng về nền giáo dục toàn dân thực hiện bình đẳng cho tất cả mọi người dân Việt Nam đều có cơ hội học tập và nâng cao trình độ không có
sự phân biệt đối xử trong giáo dục giữa các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo và dân tộc của Hồ Chí Minh tiêu biểu cho tư tưởng giáo dục tiến bộ của thời đại, của đất nước ta, phản ánh tính quy luật khách quan của quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục của các nước đang phát triển, đồng thời phản ánh giá trị truyền thống quý báu của ông cha ta, nói lên ước nguyện chân chính và sâu sắc của quảng đại quần chúng nhân dân lao động về quyền được học tập và hạnh phúc trong học tập
Từ đó, vấn đề xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trong suốt hơn nửa thế
kỷ qua Mục tiêu của nền giáo dục đó là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [40, 8] Chính vì vậy, đầu tư phát triển giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đã có hai nghị quyết của Trung ương Đảng bàn riêng về công tác giáo dục và đào tạo, thể hiện sự quan tâm to lớn của Đảng
ta đối với sự nghiệp vô cùng quan trọng này của dân tộc Đó là Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII và Nghị quyết Trung ương sáu khóa IX, trong đó Nghị quyết Trung ương sáu khóa IX là sự cụ thể hóa các quan điểm của Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII
Trang 30Một nền giáo dục và đào tạo được xây dựng dựa trên nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng cho tất cả mọi người dân Việt Nam đều có cơ hội học tập và nâng cao trình độ đã được Đảng ta khẳng định tại Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII): "Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo Tạo điều kiện để ai cũng được học hành Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng" [36, 30] Tới Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa quan điểm trên đó là:
“Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, Nhà nước có chính sách điều tiết, tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn ở mọi cấp học và trình độ đào tạo cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tạo cơ hội học tập ở đại học, cao đẳng cho con em nông dân, các gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng còn nhiều khó khăn Giảm sự cách biệt về cơ hội học tập giữa các tầng lớp dân cư, về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục giữa các vùng, miền
Ưu tiên phát triển các cơ sở giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội trú, bán trú cho học sinh dân tộc thiểu số, cải tiến chính sách học bổng cho các em học các trường này, thực hiện chế độ miễn phí học tập và cung cấp sách giáo khoa cho học sinh vùng cao, vùng sâu, vùng xa, học sinh người dân tộc thiểu số Học sinh dân tộc thiểu số được tạo điều kiện để học tập, nắm vững tiếng phổ thông, đồng thời học tốt tiếng dân tộc” [22, 50]
Nền giáo dục toàn dân đảm bảo bình đẳng cho tất cả mọi người trong quá trình tham gia học tập và nâng cao trình độ của Đảng đã được Nhà nước ta quy định một cách cụ thể trong khoản 1, Điều 3, Luật giáo dục: "nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện
Trang 31đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng" [40, 56]
Tính chất nổi bật của nền giáo dục mới của chúng ta là tính nhân dân Đó
là một nền giáo dục cho toàn thể quần chúng nhân dân lao động, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp và tầng lớp, dân tộc, tôn giáo đều có quyền được học tập và nâng cao trình độ, quyền đó được Nhà nước đảm bảo thực hiện trên cơ
sở công bằng, bình đẳng cho tất cả mọi người Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945 cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển nền giáo dục của dân, do dân, vì dân được biểu hiện cụ thể như sau:
(cụm xã) để thực hiện mục tiêu từng bước phổ cập giáo dục, thực hiện dân chủ hóa giáo dục Trước hết là xóa nạn mù chữ, rồi phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục trung học phổ thông Tích cực thực hiện chủ trương "giáo dục cho mọi người" ai cũng được học hành
thống trường phổ thông, có hệ thống trường bình dân học vụ và trường phổ thông lao động, bổ túc công nông, trường bổ túc văn hóa, hình thức giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa, nhằm giúp cán bộ, chiến sĩ và nhân dân
có thể vừa làm vừa học hoặc tập trung học những phần chủ yếu của chương trình giáo dục phổ thông trong thời gian rút ngắn
hơn đối với các vùng khó khăn như miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa để tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc thiểu số có cơ hội học tập và xóa mù chữ
Trang 32Bốn là, đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa giáo dục, công việc phát triển giáo dục không phải là công việc riêng của Nhà nước, mà Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo của đất nước
Văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa tiếp tục khẳng định: "Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất - kỹ thuật các cấp học, mở thêm các trường nội trú, bán trú và có chính sách bảo đảm đủ giáo viên cho các vùng này" [24, 209]
Như vậy, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, bình đẳng trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo cho tất cả mọi người dân Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới ở nước ta là một nền giáo dục phải đảm bảo được những tiêu chí sau:
- Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo là đảm bảo bình đẳng trong cơ hội tiếp cận các hình thức giáo dục và đào tạo để học tập và nâng cao trình độ Mọi người dân trong xã hội, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, trình độ phát triển cao hay thấp, lạc hậu hay văn minh đều được Nhà nước tạo cơ hội ngày càng tốt
để học tập và nâng cao trình độ ở mọi cấp học và trình độ đào tạo Trên cơ
sở đó người dân có điều kiện phát huy cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Đó là nền giáo dục và đào tạo do Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý
và thực hiện Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng là nhà nước của dân, do dân, vì dân, có mục đích cao nhất là đem lại cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc cho tất cả người dân lao động không phân biệt giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, để đảm bảo cho người dân được phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần Cho nên, chỉ có Nhà
Trang 33nước xã hội chủ nghĩa mới là cơ sở vững chắc duy nhất có thể thực hiện được một nền giáo dục - đào tạo công bằng, bình đẳng thật sự cho tất cả mọi người dân trong xã hội
- Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo không phải là sự bình quân chủ nghĩa, bằng nhau cho tất cả mọi người trong xã hội đều được đầu tư và
có cơ hội, điều kiện như nhau trong tiếp cận các hình thức giáo dục và đào tạo của Nhà nước mà phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử, tự nhiên, xã hội và điều kiện học tập của từng vùng, từng dân tộc để có chính sách phát triển giáo dục và đào tạo cho phù hợp
Trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, căn cứ vào quan điểm của Đảng ta về xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, đảm bảo bình đẳng trong giáo dục và đào tạo cho toàn thể nhân dân trong nước, có thể quan niệm về bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo như sau:
Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo là sự bảo đảm quyền được học tập như nhau cho tất cả mọi người trong xã hội; là sự bảo
đảm cơ hội và các điều kiện tiếp cận, tham gia vào quá trình giáo dục, đồng thời được đối xử như nhau trong các hoạt động giáo dục và đào tạo
của đất nước trên cơ sở những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
Bảo đảm bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo có nghĩa
là tất cả các dân tộc phải được xã hội bảo đảm cơ hội học tập ở mức độ tối thiểu (phổ cập giáo dục) phù hợp với trình độ phát triển và khả năng đáp ứng chung của xã hội; đồng thời tạo cơ hội cho dân tộc khác có thể được hưởng một số ưu đãi hơn do đã thực hiện nghĩa vụ, có cống hiến nhiều hơn hoặc cần được tạo điều kiện hơn để phát triển tài năng Nhà nước đóng vai
Trang 34trò quyết định trong việc bảo đảm bình đẳng trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo
1.2 Nội dung và các yếu tố tác động đến bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta
Thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo là nhu cầu bức thiết trong tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam Vì vậy, việc tìm hiểu nội dung và các yếu tố tác động đến bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo phải xuất phát từ đặc điểm, tình hình và quan hệ dân tộc trên đất nước ta Điều đó bắt nguồn từ chỗ Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mà những nét nổi bật nhất trong đặc điểm, tình hình của các dân tộc là:
hiện có 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc không đều nhau, các
Theo các tài liệu chính thức, nước ta có 54 dân tộc Dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm 86,2%, các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 13,8% số dân của cả nước Trong các dân tộc thiểu số, quy mô dân số cũng có sự chênh lệch đáng kể, có những dân tộc có số dân trên một triệu người như dân tộc Tày, Thái, Mường, Khơme nhưng cũng có những dân tộc có số dân rất ít, đặc biệt có 5 dân tộc có số dân dưới một nghìn người như dân tộc Sila, Pupéo, Rơmăn, Brâu, Ơđu… Những năm gần đây, nhờ có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc nên dân số ở các dân tộc này đã tăng lên Tuy số dân có sự chênh lệch đáng kể nhưng các dân tộc luôn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau
Trang 35Hình thái cư trú phổ biến của các dân tộc ở nước ta là sống xen kẽ nhau, tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường quan hệ mọi mặt, hiểu biết lẫn nhau, cùng tiến bộ trong cuộc sống và phát triển sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các dân tộc, cùng nhau thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Mặt khác, cần đề phòng trường hợp có thể do chưa thật hiểu nhau, khác nhau về phong tục, tập quán… làm xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích, nhất
là lợi ích kinh tế, gây nên tình trạng bất bình đẳng giữa các dân tộc Các thế lực thù địch luôn chú ý lợi dụng, khoét sâu những va chạm, mâu thuẫn trong quan hệ dân tộc để chia rẽ, làm suy yếu sự đoàn kết các dân tộc
đời trong một cộng đồng quốc gia thống nhất
Do đặc điểm lịch sử của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt và chống giặc ngoại xâm, các dân tộc ở Việt Nam thiểu số cũng như
đa số tuy trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, lối sống…khác nhau luôn có ý thức mạnh mẽ về nền độc lập của quốc gia, có chung truyền thống tương than, tương ái, đồng cam cộng khổ trong công cuộc dựng nước và giữ nước Từ lâu đời các dân tộc ở nước ta gắn bó chặt chẽ với nhau trong một xu thế chung, con đường phát triển chung Sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các dân tộc tạo thành một động lực
to lớn mà thiếu nó thì các dân tộc - nhất là các dân tộc thiểu số còn ở trình
độ lạc hậu không thể tiến nhanh lên phía trước Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước nhằm xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đòi hỏi thực hiện sự liên kết, hòa hợp, tự nguyện trên cơ sở bình đẳng giữa các dân tộc ở trình độ cao hơn
nên sự phong phú, đa dạng trong thống nhất của nền văn hóa Việt Nam
Trang 36Bản sắc văn hóa của các dân tộc được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc Các dân tộc Việt Nam có bản sắc văn hóa riêng đồng thời góp phần tạo nên diện mạo văn hóa Việt Nam nói chung Đặc biệt, những yếu tố bền vững đã hình thành và lưu giữ cho đến nay tạo thành cái chung của nền văn hóa Việt Nam Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã,
tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh
tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống Những đặc điểm đó mang ý nghĩa giá trị lớn, làm cho văn hóa Việt Nam vừa mang tính thống nhất, vừa mang tính đa dạng
về trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Ở nước ta hiện nay, kết cấu dân cư rất phức tạp, quá trình phát triển lịch
sử không đồng nhất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, đa dạng về ngôn ngữ, về tâm lý xã hội, về phong tục tập quán, về tôn giáo, tín ngưỡng, về văn hóa nghệ thuật Đối với đồng bào các vùng dân tộc, bên cạnh
sự đa dạng về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, còn có sự chênh lệch về nhiều mặt kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội do hậu quả của quy luật phát triển không đồng đều của lịch sử giữa các vùng và các dân tộc Chẳng hạn, có những dân tộc đã tiến tới trình độ nhất định của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, vận động theo cơ chế thị trường, nhưng còn có những dân tộc mới chỉ vượt qua trình độ của nền kinh tế hái lượm, bước đầu chuyển sang nền kinh tế sản xuất tự cấp, tự túc với công cụ thô sơ, kỹ thuật lạc hậu Hoặc có những dân tộc
đã đạt tới mức độ phân hóa xã hội - giai cấp sâu sắc, nhưng cũng có những dân tộc mới chỉ đạt tới trình độ của một xã hội manh nha có giai cấp Hay trên lĩnh vực văn hóa, chỉ có một số dân tộc đạt tới trình độ của một nền văn hóa bác học, còn nhiều dân tộc mới ở nền văn hóa dân gian Các vấn đề xã hội
Trang 37như ổn định đời sống, việc làm, chống tệ nạn… cũng biểu hiện rõ nét sự không đồng đều, thậm chí chênh lệch rất lớn trong các tộc người thiểu số với
đa số, cũng như giữa các tộc người thiểu số với nhau
Sự phát triển không đồng đều đó là một đặc điểm lớn, tác động không nhỏ đến quá trình thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay, đặc biệt
là việc thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Như vậy, những đặc điểm trên của dân tộc Việt Nam cho thấy sự phức tạp trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc Quá trình thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo cần phải chú ý đến những đặc điểm đó để triển khai thực hiện nội dung đạt hiệu quả cao
1.2.1 Nội dung bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta
Thứ nhất, bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo trước hết là bảo đảm cơ hội học tập và nâng cao trình độ cho đồng bào các dân tộc
Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo được thực hiện sẽ tạo cơ hội cho tất cả con em đồng bào dân tộc có điều kiện đi học, xóa mù chữ, nâng cao trình độ dân trí, tiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội cho quê hương, dân tộc mình Thực hiện bình đẳng trong giáo dục và đào tạo cho đồng bào các dân tộc là cơ sở để đào tạo đội ngũ cán bộ có tri thức, hiểu biết về văn hóa dân tộc, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Đây chính là nguồn nội lực quan trọng để thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục - đào tạo là quốc sách
Trang 38hàng đầu Nhưng trên thực tế, ở nước ta chưa có sự bình đẳng thực sự về cơ hội học tập đối với mọi người, còn có sự chênh lệch khá rõ về điều kiện học tập, cơ sở trường lớp và chất lượng giáo dục giữa các vùng, giữa miền xuôi
và miền núi, giữa vùng thấp và vùng cao Để khắc phục được tình trạng này, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có những chính sách điều tiết, tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn ở mọi cấp học và trình độ đào tạo cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tạo cơ hội học tập đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp cho con em nông dân, các gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và những vùng còn nhiều khó khăn nhằm nâng cao trình độ cho họ Vì vậy, muốn khắc phục tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc nhằm tạo ra sự bình đẳng thực sự cho mọi người, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số thì trước hết phải đảm bảo cơ hội học tập
và nâng cao trình độ cho họ
đẳng trong sự tiếp cận và tham gia vào quá trình giáo dục, bình đẳng trong đối xử đối với đồng bào các dân tộc tại các cơ sở giáo dục và đào tạo
Điều quan trọng nhất của bình đẳng trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số là tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho
họ được xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, từng bước tiến tới phổ cập giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông để họ có cơ hội tiếp cận các kiến thức khoa học và công nghệ hiện đại, nâng cao trình độ dân trí và trình độ văn hóa nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc mình
Quá trình giáo dục không chỉ chú ý đến người học mà tiêu chí quan trọng phải là người dạy và đội ngũ cán bộ quản lý Do vậy, trong quá trình đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ giáo dục cũng phải lưu ý đến đội ngũ giáo
Trang 39viên và cán bộ quản lý ở các vùng dân tộc thiểu số để có biện pháp hợp lý nhằm thực hiện tốt vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc
Đội ngũ cán bộ giáo dục thuộc các dân tộc thiểu số hơn ai hết là người hấp thụ, lưu giữ và truyền bá kiến thức giáo dục tộc người Chính đội ngũ này được đào luyện từ môi trường giáo dục của dân tộc, thường là đại biểu chân chính của dân tộc mình, họ là cầu nối giữa đồng bào dân tộc mình với đồng bào dân tộc khác Vì vậy, thực hiện bình đẳng trong đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ giáo dục thuộc các dân tộc thiểu số là điều kiện quan trọng
để thực hiện mục tiêu bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo Thực hiện bình đẳng trong đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ giáo dục thuộc các dân tộc thiểu số là tạo cơ hội và điều kiện cả về vật chất và tinh thần để xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giáo dục là người dân tộc thiểu số đông đảo
về số lượng, vững mạnh về chất lượng đủ năng lực đảm đương chức phận của mình
Thứ ba, bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo là có chính sách ưu tiên trong giáo dục và đào tạo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng gặp nhiều khó khăn có trình độ phát triển thấp, con em các gia đình nghèo trong học tập và nâng cao trình độ
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc sinh sống, đồng bào các dân tộc chủ yếu cư trú ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa… là nơi
có vị trí chiến lược cả về kinh tế, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái…, cũng là nơi kẻ thù hay tìm cách lợi dụng để phá hoại sự nghiệp cách mạng Nơi đây đồng bào các dân tộc lại có trình độ dân trí thấp so với trình độ chung của cả nước Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản và chủ yếu nhất gây cản trở cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã
Trang 40hội, tạo ra khoảng cách chênh lệch lớn về trình độ phát triển giữa các dân tộc, đặc biệt là giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số
Đồng thời, tình trạng chậm chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang sản xuất hàng hóa, kết cấu hạ tầng yếu kém, đói nghèo, dân trí thấp, thiên tai dịch bệnh, phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan luôn là khó khăn thách thức đối với miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Giáo dục
- đào tạo là yêu cầu bức thiết, là động lực rất quan trọng và cơ bản để chiến thắng đói nghèo, lạc hậu để mọi người dân ở đây từng bước đi lên, hội nhập với sự phát triển, tăng trưởng chung của cả nước Do vậy, những chính sách ưu tiên cho giáo dục và đào tạo ở những vùng này tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào nơi đây được đến trường, được tham gia vào quá trình giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức nhằm thực hiện bình đẳng thực
sự đối với mọi người dân trong một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam.Thực hiện tốt những nội dung trên đây của bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo sẽ mang lại ý nghĩa hết sức quan trọng Thể hiện:
Thứ nhất, bình đẳng giữa các dân tộc trong giáo dục và đào tạo là một nội dung quan trọng trong chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay
Đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo cho đồng bào các dân tộc thiểu
số chính là thực hiện nội dung văn hóa - giáo dục trong chính sách dân tộc Giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay Đảm bảo bình đẳng trong giáo dục và đào tạo đối với đồng bào các dân tộc là cơ sở quan trọng để tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc nâng cao dân trí, là cơ hội để đồng bào các dân tộc tiếp thu các thành tựu tri thức khoa học và công nghệ của nhân loại để ứng dụng vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển với đồng bào miền xuôi