Đảng ta đãđưa ra những quan điểm mới chi đạo quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóađất nước trong điều kiện mới.. Thực hiện đề tài này, chúng em muốn hiểu biết hơn về nhậnthức
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
− Phương pháp phân tích hệ thống
− Phương pháp phân tích thống kê
− Phương pháp thảo luận nhóm
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
− Tiểu luận góp phần cung cấp và làm rõ hơn những thay đổi trong quá trình nhận thức của Đảng về CNH, HĐH
Tiểu luận này đóng vai trò cung cấp và làm rõ những nội dung cơ bản về nhận thức của Đảng về CNH-HĐH (công nghiệp hóa - hiện đại hóa) trong thời kỳ đổi mới, nhằm hệ thống hóa các quan điểm và khẳng định bước đi chiến lược của đường lối phát triển đất nước Việc phân tích nhận thức của Đảng về CNH-HĐH giúp làm rõ mục tiêu, nguyên tắc và phương thức triển khai các yếu tố công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó làm sáng tỏ tác động của đổi mới đối với tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống và sự ổn định xã hội Bài viết nhấn mạnh ý nghĩa thực tiễn của quá trình CNH-HĐH đối với nâng cao năng lực cạnh tranh, huy động và sử dụng nguồn lực hiệu quả, đồng thời nhận diện thách thức, rào cản và bài học kinh nghiệm cần tháo gỡ trong từng giai đoạn Từ đó, tiểu luận cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng các chính sách, kế hoạch hành động và tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò then chốt của CNH-HĐH trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập.
- Tiểu luận trình bày sâu sắc, có hệ thống quá trình thay đổi nhận thức của Đảng về CNH, HĐH qua các thời kỳ.
Đánh giá và tổng kết quá trình thay đổi nhận thức của Đảng trong thời kỳ đổi mới là mục tiêu của bài viết nhằm rút ra bài học, nhận diện những điều chỉnh cần thiết để nhận thức phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình CNH-HĐH Các giải pháp được đề xuất tập trung vào tăng cường giáo dục và quán triệt đường lối, chính sách của Đảng về nhận thức và hành động; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới quản lý và thực thi để nối nhịp giữa lý luận và thực tiễn; tăng cường giám sát, đánh giá và điều chỉnh chiến lược kịp thời Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo quá trình CNH-HĐH diễn ra mạnh mẽ, đồng bộ và bền vững trong thời kỳ đổi mới.
− Ngoài ra, tiểu luận còn có thể là tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu về nhận thức của Đảng về CNH, HĐH trong thời kỳ đổi mới.
Lịch sử nghiên cứu
Tìm hiểu đường lối công nghiệp hóa của Việt Nam trong thời kì đổi mới
Chí Minh, do giáo viên Nguyễn Hoàng Minh hướng dẫn.
Việt Nam đang trên đường phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước trước và trong thời kỳ đổi mới, dựa trên chủ trương của Đảng và những kết quả, ý nghĩa cũng như nguyên nhân của tiến trình này Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, mục tiêu CNH-HĐH phải gắn liền với bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; phát huy và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là con đường chủ đạo để thoát khỏi nghèo đói, lệ thuộc và nguy cơ bị áp đặt hoặc trở thành thuộc địa Để phát triển kinh tế, Việt Nam cần khai thác mạnh mẽ các nguồn lực: nguồn lực tự nhiên, nguồn nhân lực, vốn đầu tư và khoa học – công nghệ tiên tiến, hiện đại, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và đổi mới sáng tạo.
Link bài viết: http://luanvan.net.vn/luan-van/tieu-luan-tim-hieu-duong-loi-cong-nghiep-hoa- cua-dang-ta-trong-thoi-ky-doi-moi-72714/
Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh của cuộc cách mạng 4.0
Tác giả: TS Trần Văn Thiện (Đại học Văn Lang) (2019).
Cách mạng công nghiệp 4.0 được định nghĩa là sự hình thành và phát triển của quá trình từ cách mạng khoa học kỹ thuật, kinh tế tri thức và xã hội thông tin đến sự xuất hiện của công nghiệp 4.0 nhằm xác định nhiệm vụ của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Với sự bùng nổ của thông tin và sự lan tỏa nhanh tri thức nhờ công nghệ thông tin, cuộc cách mạng này đã làm thay đổi căn bản cách sản xuất, tiêu thụ, cách sống và làm việc, đồng thời tác động tới cách tổ chức quản lý và giáo dục Để đáp ứng nhiệm vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nước ta cần nắm bắt thời cơ, chủ động hội nhập quốc tế kết hợp với nội lực của dân tộc, nhanh chóng xây dựng và phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, tiếp thu có chọn lọc và vận dụng phù hợp các thành tựu khoa học công nghệ mới trên thế giới Đồng thời cần tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, và tập trung các chương trình nghiên cứu khoa học vào các vấn đề cơ bản có tính đặc thù của Việt Nam.
Link bài viết: https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/qua-trinh-cong-nghiep-hoa-hien-dai- hoa- dat-nuoc-trong-boi-canh-cua-cuoc-cach-mang-40-63530.html
Quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa từ đổi mới đến nay -thành tựu và những vấn đề đặt ra
thành tựu và những vấn đề đặt ra
Tác giả: TS Nguyễn Giáo - Viện nghiên cứu văn hóa, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Bài viết được đăng vào 5:41, ngày 29/6/2020 trên tạp chí cộng sản.
Bài viết trình bày quan điểm của Đảng ta về văn hóa từ khi thực hiện công cuộc đổi mới cho đến nay, phản ánh quá trình chuyển đổi qua các Đại hội đại biểu toàn quốc từ lần thứ VI đến XII Mỗi đại hội đều điều chỉnh và bổ sung đường lối về văn hóa, thể hiện sự mở rộng vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế-xã hội và nhất quán với mục tiêu xây dựng con người Việt Nam có phẩm chất và năng lực hội nhập Từ đó đến nay, Đảng khẳng định văn hóa là động lực và nền tảng của phát triển, đồng thời chú trọng bảo tồn bản sắc dân tộc, nâng cao đời sống tinh thần và hệ giá trị xã hội Bài viết nêu lên kết quả thực tiễn đạt được như nâng cao nhận thức, giáo dục và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đồng thời chỉ ra những vấn đề còn tồn tại và thách thức phải đối mặt như đổi mới hệ giá trị và quản trị văn hóa Những bài học từ các kỳ đại hội giúp định hình định hướng văn hóa trong thời kỳ hội nhập và đề xuất các giải pháp cụ thể để thực thi hiệu quả đường lối của Đảng trên thực tế nước ta.
Link bài viết : https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/- /
2018/816918/quan-diem-cua-dang-ve-xay-dung-nen-van-hoa-tu-sau-doi-moi-den- nay -thanh-tuu-va-nhung-van-de-dat-ra.aspx
Nhận thức của Đảng về công nghiệp hóa và thực trạng CNH – HĐH ở nước ta hiện nay
Tác giả: Th.S Nguyễn Thị Hằng - Bộ môn LLCT trường Cao đẳng Sư phạm Gia
Bài viết được đăng vào 2:33:58 ngày 14/01/2015 trên trang trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai.
Bài viết phân tích quá trình nhận thức của Đảng về tính tất yếu khách quan của CNH và HĐH thông qua các Đại hội III đến XI, cho thấy sự chuyển biến từ nhận thức ban đầu sang nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của CNH/HĐH đối với tăng trưởng và ổn định kinh tế-xã hội Nó so sánh sự phát triển nhận thức của Đảng trước và sau đổi mới về tư duy lãnh đạo cũng như các nguồn lực chủ yếu, từ nguồn lực con người và khoa học công nghệ đến vốn và quản trị Bài viết chỉ ra thực trạng qua các đường lối chính sách, những thành tựu đã đạt được và những hạn chế trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đồng thời, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục các hạn chế và nâng cao hiệu quả thực hiện CNH, HĐH của Đảng Điểm hay của bài là cách kết nối giữa nhận thức lý luận và thực tiễn chính sách, giúp người đọc nắm được bức tranh tổng thể về quá trình đổi mới của đất nước.
Link bài viết: http://cdspgialai.edu.vn/Article/Detail/737
Tìm hiểu quan điểm “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” trong dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng
Tác giả: Nguyễn Hải Lý – GV khoa Lý luận cơ sở trường chính trị Lê Duẩn.
Bài viết được đăng vào 25/09/2020 – 16:08 PM được đăng trên trang trường chính trị Lê Duẩn tỉnh Quảng Trị.
Công nghiệp hóa, hiện đại hoá luôn là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt của Đảng trong thời kỳ quá độ lên CNXH; nền kinh tế đang chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa gắn với hiện đại hoá và đổi mới sáng tạo trên nhiều lĩnh vực Nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo tăng cả về số lượng và chất lượng, ở một số ngành đạt trình độ chuyên sâu trong khu vực và quốc tế như y tế, giáo dục, công nghệ thông tin Dù đối mặt với yêu cầu phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các thách thức biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh, sự cố ô nhiễm môi trường biển, Đảng đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện từ nguồn nhân lực đến cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo thực hiện thành công cuộc cách mạng công nghiệp này.
Mình không thể truy cập nội dung từ liên kết bạn đưa Vui lòng dán bài viết hoặc các đoạn chính để mình tóm ý và trả về một đoạn văn tiếng Việt tối ưu SEO, đủ ý và mạch lạc trong một paragraph duy nhất.
Quan điểm của đồng chí Lê Duẩn về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa với hiện thực hóa trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Quốc Thanh.
Bài viết được đăng ngày 07/04/2021 tại cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị.
Đó là một trong những tài sản lý luận quý giá mà đồng chí Lê Duẩn để lại cho cách mạng XHCN Việt Nam: đẩy mạnh CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức Với tư duy độc lập sáng tạo và từ nghiên cứu thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng chí đã làm sáng tỏ nội dung và tiến trình CNH-HĐH ở cả hai giai đoạn kháng chiến và kiến quốc, xây dựng đất nước theo định hướng XHCN Những lý luận ấy vẫn có giá trị thời sự sâu sắc, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế toàn cầu, khi các điều kiện về nguồn nhân lực và khoa học–công nghệ được hình thành để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng khai thác và phát huy hiệu quả các nguồn lực, nhờ đó tăng trưởng kinh tế, cải thiện điều kiện của người lao động, giải phóng lao động nặng nhọc, và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của con người, đồng thời thúc đẩy sự phát triển tự do và toàn diện.
Xin lỗi, mình không thể sao chép hay tái hiện nội dung từ bài viết được cung cấp bằng liên kết Quan điểm của đồng chí Lê Duẩn về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nhấn mạnh sự kết hợp giữa phát triển công nghiệp và nông nghiệp, dựa trên kế hoạch hóa tập trung, vai trò chủ đạo của nhà nước và nguồn lực xã hội để đạt tăng trưởng nhanh và bền vững Ông cho rằng mục tiêu công nghiệp hóa phải được thực hiện đồng thời với cải thiện đời sống nhân dân, gắn với đầu tư công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo nền tảng cho nền kinh tế tự chủ và có khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu Trong bối cảnh hiện nay, nguyên lý này được vận dụng bằng cách đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, và cải cách thể chế để hiện thực hóa mục tiêu công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa một cách linh hoạt, hiệu quả và có định hướng xã hội.
Đổi mới tư duy về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bài viết được đăng vào 21:44, Chủ Nhật, 04-10-2015 trên trang báo Nhân Dân điện tử.
Bài viết nhấn mạnh tính tất yếu của CNH-HĐH đất nước trong tiến trình đổi mới và tái khẳng định vị thế của CNH-HĐH qua các kỳ Đại hội từ Đại hội III đến Đại hội XII Tác giả phân tích quá trình phát triển và chỉ ra những quan điểm lệch lạc cùng các chính sách chưa hợp lý của Đảng và Nhà nước khi muốn đẩy nhanh CNH-HĐH, từ đó đề xuất các tiêu chí phản ánh đúng trình độ phát triển của nền kinh tế và cả sự tiến bộ của xã hội và môi trường Bài viết cũng nhấn mạnh mối liên hệ mật thiết và không thể tách rời giữa CNH và HĐH trong thời đại ngày nay.
Link bài viết: https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/doi-moi-tu-duy-ve-cong-nghiep-hoa-hien- dai- hoa-244282?fbclid=IwAR1Y0EozqlG_Kv-zSroQR-
Nhìn lại 30 năm đổi mới và về mục tiêu tổng quát, động lực phát triển đất nước 5 năm tới
Tác giả: GS.TS Lê Hữu Nghĩa, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.
Bài viết được đăng vào 05:56 ngày 08/10/2015 trên trang Công an nhân dân online.
Đoạn tổng kết này trình bày đánh giá tổng thể kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XI và nhìn lại 30 năm đổi mới (1986-2016) với ba nội dung chủ đạo: bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước tác động đến quá trình thực hiện; tổng kết những thành tựu, hạn chế cả ở yếu tố chủ quan và khách quan; và rút ra bài học kinh nghiệm từ 30 năm đổi mới Đồng thời, bài viết phân tích mục tiêu tổng quát và động lực phát triển đất nước cho giai đoạn 2016-2020 với ba yếu tố: dự báo tình hình thế giới và đất nước những năm tới, khơi dậy và phát huy các nhân tố tạo động lực phát triển, và xác định các phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong nhiệm kỳ Đại hội XII.
Link bài viết: https://bitly.com.vn/l95ims
Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Nghiên cứu sinh Đỗ Khánh Chi (2016).
Bài viết nhấn mạnh rằng nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn là những vấn đề được quan tâm ở mọi quốc gia, và sự quan tâm này càng rõ nét ở các nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa Việt Nam được nêu ví dụ điển hình cho mối quan hệ chặt chẽ giữa quá trình công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp cùng nông thôn Năng lực nguồn lực, chính sách và công nghệ nông nghiệp tác động trực tiếp đến đời sống của nông dân và sự chuyển đổi của khu vực nông thôn Việc phát triển nông nghiệp bền vững đi đôi với nâng cao thu nhập, cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ công ở nông thôn sẽ đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng kinh tế và quá trình hiện đại hóa.
Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân luôn chiếm vị trí quan trọng trong chương trình nghị sự của Đảng và Nhà nước ta Trải qua các kỳ đại hội, nhận thức về nông nghiệp, nông thôn và nông dân ngày càng sâu sắc hơn, từ đó Đảng ta đề ra những chủ trương và định hướng đúng đắn, phù hợp với tình hình và yêu cầu của từng giai đoạn phát triển đất nước.
Ngay từ ngày thành lập, Đảng ta xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn được xem là động lực quan trọng giúp nâng cao năng suất, cải thiện đời sống người dân và bảo đảm an ninh lương thực Quan điểm này thể hiện sự tập trung nguồn lực để chuyển đổi nông nghiệp từ mô hình truyền thống sang nền sản xuất hiện đại, áp dụng khoa học công nghệ và phát triển hạ tầng nông thôn Nhờ đó, nông nghiệp và nông thôn không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, đóng góp vào chiến lược phát triển đất nước.
Link bài viết: https://bom.to/HMk7gzU1xFSLtG
Công nghiệp háo hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần 4
Tác giả : TS Phạm Thuyên
Cuốn sách "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư" của TS Phạm Thuyên giúp người đọc hình dung rõ thực trạng CNH-HĐH ở Việt Nam trong thời gian qua và nhận diện các thách thức cơ bản, từ đó đề xuất các giải pháp căn cơ nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển đổi trong bối cảnh CMCN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu Tác phẩm nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ tiên tiến, cải thiện thể chế kinh tế và môi trường đầu tư, cũng như sự phối hợp hài hòa giữa khu vực công và khu vực tư để nâng cao năng lực cạnh tranh và tận dụng cơ hội hội nhập quốc tế.
Gần 900 trang sách được chia làm 5 chương, tác giả tập trung phân tích bản chất và tác động của CMCN 4.0 và nhấn mạnh mối liên hệ giữa CMCN 4.0 với CNH và HĐH Đồng thời, sách phân tích thực trạng quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, đặc biệt từ thời kỳ Đổi mới đến nay, làm sáng tỏ những thách thức và cơ hội mà nước ta phải đối mặt trong tiến trình chuyển đổi số Những kết quả này gợi ý các định hướng và giải pháp để Việt Nam tận dụng CMCN 4.0 nhằm đẩy nhanh CNH-HĐH một cách bền vững.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam đứng trước cơ hội và thách thức lớn để công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế Chuyển đổi số và đổi mới công nghệ là động lực chính giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên trường toàn cầu Đầu tư vào công nghệ cao, tự động hóa và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu Đồng thời, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ tăng trưởng theo lượng sang tăng trưởng theo chất, gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Chính sách đổi mới thể chế, cải cách hành chính và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng với thu hút vốn FDI tập trung vào công nghiệp 4.0 là nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng ổn định Tuy nhiên, quốc gia cần chú trọng phát triển hạ tầng số, an ninh dữ liệu và kỹ năng số cho lực lượng lao động để tận dụng tối đa cơ hội.
7 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, tiểu luận được chia làm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học hình thành quan điểm.
Chương 2: Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chương 3: Các giai đoạn thay đổi nhận thức của Đảng về mục tiêu và nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kì đổi mới.
Chương 4: Đánh giá về quá trình nhận thức của Đảng thời kì đổi mới và rút ra bài học.
CƠ SỞ KHOA HỌC HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM
Quan điểm của Mác
Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp, gắn với cuộc cách mạng công nghiệp trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong các nghiên cứu của mình, Mác và Ăng-ghen đã nhấn mạnh rằng cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra trong đại công nghiệp, với điểm xuất phát là tư liệu lao động và trước hết là máy móc, máy công cụ Máy móc thúc đẩy phân công lao động xã hội, giảm lao động cơ bắp và làm cho việc nâng cao trình độ học vấn trở thành bắt buộc đối với người lao động Mác dự đoán rằng theo đà phát triển của đại công nghiệp, của cải thật sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phối, mà phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và tiến bộ kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất.
Cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất ở lĩnh vực công nghiệp kéo theo các cuộc cách mạng tương ứng ở các ngành khác, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động Theo quan điểm của Mác và Ăng-ghen, cách mạng công nghiệp bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ, sau đó lan rộng sang nông nghiệp và vận tải, và cuối cùng vươn tới công nghiệp nặng Sự biến đổi cơ cấu ngành diễn ra liên tục, kéo theo sự biến đổi của cơ cấu lao động xã hội và đòi hỏi chuyển đổi nguồn lực lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và các ngành dịch vụ Kết quả là lao động nông nghiệp giảm ở cả mức độ tương đối và tuyệt đối.
Công nghiệp hóa đã làm thay đổi mạnh mẽ lĩnh vực nông nghiệp, thay đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao hiệu quả lao động Theo Mác, quá trình công nghiệp hóa sẽ đẩy lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nên sự chuyển dịch lao động và định hình một cơ cấu kinh tế ngày càng đa dạng giữa công nghiệp và dịch vụ.
Quan điểm của Lênin
V.LLênin cũng phân tích sự tác động của công nghiệp tới lĩnh vực nông nghiệp,công nghiệp sẽ làm cho công cụ lao động ngày càng tiến bộ hơn, dẫn đến năng suất lao động trong nông nghiệp tăng khi đó đỏi hỏi phải phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo máy móc phục vụ nông nghiệp và kéo theo nó là những ngành công nghiệp khác cũng phát triển Theo Lênin: “Ngoài máy móc ra, sự cần thiết phải cày bừa ruộng đất tốt hơn nữa sẽ đưa đến chỗ thay thể những công cụ thổ sơ trrớc đây,bằng những công cụ cải tiến hơn, và thay thế gỗ bằng sắt, bằng thép”.
Theo Lênin, chủ nghĩa xã hội thắng lợi chỉ có thể khi xây dựng một nền sản xuất hiện đại trên cơ sở vật chất – kỹ thuật tiên tiến và năng suất lao động cao hơn hẳn tư bản Đối với nước có kinh tế lạc hậu và bị chiến tranh tàn phá như nước Nga thời đó, công nghiệp hóa là bước đi quyết định để xây dựng nền vật chất cho chủ nghĩa xã hội, trong đó điện khí hóa đóng vai trò quan trọng nhất Người luôn đánh giá cao ngành sản xuất có công nghệ hiện đại và coi trọng đào tạo cán bộ, công nhân có trình độ cao, nên ngay cả trong thời kỳ khó khăn sau chiến tranh vẫn dành ngân sách hàng triệu rúp để cử người đi nước ngoài học tập nhằm nâng cao trình độ nguồn nhân lực và củng cố nền công nghiệp của quốc gia.
Phát triển công nghiệp không chỉ tác động trực tiếp đến nông nghiệp mà còn thúc đẩy các quá trình kinh tế khác, gián tiếp mở rộng và phát triển nông nghiệp, giúp nông nghiệp hội nhập kinh tế thế giới Cách mạng công nghiệp mở rộng thị trường trong nước và tạo điều kiện cho luồng hàng hóa lưu thông vượt ra khỏi biên giới quốc gia, từ đó nông nghiệp tham gia vào chuỗi phân công lao động toàn cầu và tiếp cận thị trường thế giới.
Nhờ sản xuất bằng máy móc và cơ khí hoá quy trình khai thác tài nguyên, nguyên liệu và vận tải, hàng hoá được sản xuất với khối lượng lớn và lưu thông thuận lợi Điều này tạo ra thị trường rộng mở trên toàn cầu và thúc đẩy sự quốc tế hoá đời sống kinh tế Đây là một xu hướng toàn cầu hoá, phản ánh sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa các nền kinh tế và sự di chuyển của nguồn lực và sản phẩm trên thị trường thế giới.
Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề công nghiệp hóa nông nghiệp Người cho rằng một nước đi lên từ nông nghiệp chủ yếu phải trước hết phát triển nông nghiệp và đồng thời tiến hành công nghiệp hóa nông nghiệp Đời sống của nông dân sẽ thực sự giàu có khi chúng ta áp dụng máy móc vào sản xuất rộng rãi, và để đưa máy móc vào sản xuất nông nghiệp hiệu quả, cần tiến hành khoanh vùng sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý.
Vận dụng đúng đắn quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nước ta rút ra bài học từ sự sai lệch của việc rập khuôn mô hình ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và Đảng ta đã đổi mới, từng bước hoàn thiện quan điểm về công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Đó là kết quả của quá trình đổi mới tư duy lý luận và đổi mới cơ chế quản lý từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế.
Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình CNH – HĐH, nước ta có lợi thế của nước đi sau để học hỏi bài học thành công của các nước đi trước và rút ngắn thời gian thực hiện; ví dụ lịch sử cho thấy Anh mất 120 năm, Mỹ 90 năm, Nhật Bản 70 năm và các nước công nghiệp mới (NICs) có hơn 30 năm để vượt qua giai đoạn chuyển đổi Việt Nam đang thực hiện quá trình này trong bối cảnh thế giới chuyển sang phát triển kinh tế tri thức (KTTT) với sự bùng nổ của tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ nano và vật liệu mới Đây là cơ hội lịch sử để nước đi sau rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước đi trước Việc chuyển nền kinh tế sang phát triển dựa trên tri thức là mục tiêu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững cho đất nước.
Sự nghiệp xây dựng, đổi mới và bảo vệ đất nước luôn đi cùng với sự nghiệp thực hiện CNH – HĐH vẫn luôn tiếp diễn trong khi tình trạng thế giới diễn biến nhanh chóng và có sự biến triển không lường trước.
Thứ nhất, sự sụp đổ của Liên Xô các nước ở Đông Âu đã khiến cho hệ thống
XHCN tê liệt hoàn toàn nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất thời đại, loài người vẫn đang trên con đường quá độ lên CNXH Mâu thuẫn trên thế giới ngày càng sâu sắc hơn, công cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp vẫn luôn diễn ra với nhiều hình thức khác nhau.
Thứ hai, dù mối đe dọa từ vũ khí hạt nhân và di sản của các cuộc chiến tranh thế giới đã lùi xa, nhiều nơi vẫn còn tồn tại các xung đột vũ trang và các tranh chấp sắc tộc, tôn giáo, cùng với các cuộc chiến tranh cục bộ và hoạt động can thiệp nhằm lật đổ chính quyền.
Thứ ba, thế giới đang đối mặt với các vấn đề mang tính toàn cầu ảnh hưởng đến đời sống và xã hội, như dịch bệnh và thiên tai Đây là những thách thức mà không một quốc gia hay cá nhân nào có thể tự mình giải quyết, đòi hỏi sự phối hợp và hành động chung của cộng đồng quốc tế.
Thứ tư, Công cuộc phát triển khoa học và công nghệ không ngừng được cải tiến và nâng cao góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Quan hệ quốc tế hiện nay nổi bật với xu thế hòa bình và ổn định, thúc đẩy hợp tác phát triển và các nỗ lực đấu tranh vì hòa bình, trong đó khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang nhận được sự quan tâm lớn từ cộng đồng quốc tế.
Trước biến động toàn cầu đang tác động tới Việt Nam theo cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, đất nước ta đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn trên con đường phát triển Đảng ta đã nhận diện rõ thời cơ và các thách thức ấy để định hướng phát triển, đề ra giải pháp ứng phó, nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội vững mạnh và nâng cao đời sống người dân đồng thời bảo đảm an ninh quốc gia.
Những thành tựu của quá trình đổi mới đã tạo động lực và nền tảng để nước ta bước sang giai đoạn phát triển cao hơn Trong bối cảnh hòa bình, ổn định và sự hợp tác của thế giới, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng của khu vực Thái Bình Dương, quan hệ và khả năng kết nối kinh tế của Việt Nam với quốc tế được mở rộng, mở ra cơ hội phát triển lâu dài Việc tăng cường liên kết với các đối tác và thị trường khu vực sẽ cung cấp nguồn lực, công nghệ và thị trường, từ đó củng cố vị thế và tăng cường sức cạnh tranh trên trường quốc tế.
− Nguy cơ chệch khỏi con đường XHCN
− Nạn tham nhũng, quan liêu bao che
− Nguy cơ về diễn biến hoà bình của thế lực thù địch
Các nguy cơ kể trên tác động lẫn nhau và không thể xem nhẹ bất kỳ nguy cơ nào, vì mỗi nguy cơ đều có thể làm ảnh hưởng tới quá trình phát triển lâu dài trên con đường CNH-HĐH Mối liên hệ giữa chúng làm tăng mức độ rủi ro và tác động tới chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong tương lai Do đó, việc nhận diện và quản trị đồng thời các nguy cơ là yếu tố quyết định để bảo đảm sự phát triển CNH-HĐH bền vững, tăng cường năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lâu dài.
1.2.3 Thực trạng thực hiện đường lối công nghiệp hóa trong thời kỳ trước đổi mới
Mô hình CNH và hệ thống HĐH hiện vẫn chưa được xác định rõ, thiếu tính định hướng và chưa phát triển hiệu quả các ngành công nghiệp ưu tiên cũng như chưa tận dụng được thế mạnh về công nghệ và nguồn vốn đầu tư nước ngoài để lan tỏa và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển tương xứng Đặc biệt, quá trình công nghiệp hóa chưa gắn kết chặt chẽ với hiện đại hóa; phát triển công nghiệp vẫn chủ yếu ở dạng gia công, lắp ráp và giá trị gia tăng còn ở mức thấp.
Việc triển khai CNH và HĐH nông nghiệp và nông thôn vẫn diễn ra chậm và chưa đạt hiệu quả như mong đợi Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp và kết cấu hạ tầng yếu đang trở thành điểm nghẽn, cản trở tiến trình CNH-HĐH đất nước Để tháo gỡ nút thắt này, cần đẩy mạnh cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, đồng bộ đầu tư hạ tầng và triển khai các cơ chế, chính sách thông suốt Các giải pháp chú trọng đào tạo nghề, nâng cao trình độ và gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất sẽ tăng sức cạnh tranh cho nông nghiệp và nông thôn Nhìn chung, tháo gỡ các điểm nghẽn này sẽ thúc đẩy CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn đạt kết quả bền vững, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Nguyên nhân dẫn đến hạn chế:
- Do nền kinh tế đất nước còn lạc hậu lại chịu tàn phá của chiến tranh
Việc xác định bước đi mang tính chủ quan dẫn đến các quyết định chiến lược không hợp lý và thiếu tính thực thi trong quá trình phát triển Sai lầm phổ biến nằm ở cách bố trí phát triển cơ sở vật chất và công nghệ kỹ thuật, khiến hạ tầng không phù hợp với nhu cầu và mục tiêu dài hạn Định hướng bước đi dài hạn bị lệch hướng khi thiếu phân tích dữ liệu, đánh giá rủi ro và sự linh hoạt trước biến động thị trường Để khắc phục, cần xây dựng quy trình ra quyết định dựa trên dữ liệu, cân bằng đầu tư vào cơ sở vật chất và nâng cấp công nghệ, đồng thời thiết lập lộ trình dài hạn rõ ràng với tiêu chí đo lường và cơ chế điều chỉnh thích ứng.
Những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa đã làm chậm quá trình tiến lên XHCN Vì vậy, cần có một quan điểm mới, tiến bộ và thích ứng hơn để đất nước nhanh chóng tiến lên CNH – HĐH và sánh vai cùng các nước phát triển Việc điều chỉnh nhận thức và định hình lại chiến lược công nghiệp hóa sẽ xây dựng nền tảng tăng trưởng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng hội nhập kinh tế ở mức cao.
TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Từ cuối thế kỷ XVIII đến nay, đã xuất hiện các loại công nghiệp hóa khác nhau, nổi bật nhất là công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa và công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Xét về lực lượng sản xuất và công nghệ, các loại công nghiệp hóa này có điểm tương đồng ở yếu tố khoa học và công nghệ Tuy nhiên, chúng khác nhau về mục đích, về phương thức tiến hành và về sự chi phối của quan hệ sản xuất thống trị Công nghiệp hóa diễn ra ở các nước và thời kỳ lịch sử khác nhau, với điều kiện kinh tế – xã hội đa dạng, nên nội dung khái niệm công nghiệp hóa có sự biến đổi và thích nghi theo từng hoàn cảnh.
Tuy nhiên, theo nghĩa chung, khái quát nhất, công nghiệp hoá là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp.
Kế thừa có chọn lọc và phát triển tri thức của văn minh nhân loại về công nghiệp hóa vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, Đảng ta nhận thức công nghiệp hóa và hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội Quá trình này chuyển từ phụ thuộc nhiều vào sức lao động thủ công sang việc sử dụng rộng rãi công nghệ, thiết bị và phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên nền tảng phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm tăng năng suất lao động xã hội.
Quan niệm trên cho thấy quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở nước ta đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa hai nội dung này trong quá trình phát triển kinh tế Quá trình ấy không chỉ tập trung vào phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu ở từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại Nó không chỉ tuần tự trải qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, mà còn sử dụng kết hợp kỹ thuật thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định.
Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên lạc hậu sang nền kinh tế thị trường hiện đại, tức là chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất quy mô lớn và ngày càng hiện đại Nền sản xuất ở quy mô lớn đòi hỏi một hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển cùng với công cụ lao động tiến bộ Để xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật đó, theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác, mọi quốc gia đều phải tiến hành quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Cơ sở kỹ thuật là hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật công nghiệp thích ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất Đối với các nước đang phát triển, việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một nhiệm vụ kinh tế to lớn và là một yêu cầu khách quan Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất lớn đòi hỏi phải dựa trên trình độ kỹ thuật công nghệ ngày càng hiện đại và không ngừng hoàn thiện.
Chúng ta không chỉ cơ khí hóa tư liệu sản xuất mà còn đẩy mạnh hiện đại hóa với trình độ công nghệ tiên tiến và đổi mới liên tục, bởi đây là nhiệm vụ khó khăn và mang tính quyết định đối với sự sống còn của mỗi quốc gia Chỉ có xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất hiện đại mới có thể làm thay đổi căn bản đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, đẩy nhanh năng suất lao động và ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân Công nghiệp hóa hiện đại hóa là con đường tất yếu và bước đi để hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật ấy.
Công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động kết hợp với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiêu biểu hiện đại Quá trình này dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động cao Nhờ đó, công nghiệp hóa hiện đại hóa nâng cao hiệu quả sản xuất và quản lý, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội bền vững thông qua đổi mới công nghệ và quản trị.
Trong bối cảnh thế giới đang chuyển từ văn minh công nghiệp sang hậu công nghiệp, nhiều nước châu Á chọn con đường công nghiệp hóa để nhanh chóng hội nhập vào nền văn minh hiện đại, biến những vùng nghèo khó thành xã hội phát triển và các kinh nghiệm ấy trở thành bài học quý cho các nước đang phát triển, trong đó có nước ta Ở các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, công nghiệp hóa được xem là yếu tố sống còn và là chìa khóa tăng trưởng, bởi nó nâng cao năng suất lao động, mở rộng cơ cấu sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm Công nghiệp hóa hình thành nền kinh tế hiện đại với ưu thế cao về năng suất và việc làm phong phú hơn, và để đạt hiệu quả cao cần gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, đồng thời thực hiện các bước tiến tuần tự về công nghệ, mở rộng phạm vi ứng dụng và tạo nhiều công ăn việc làm cho lực lượng lao động hiện có Bên cạnh đó, các nước đã tận dụng các bước đi nhanh và đón đầu khoa học công nghệ để phát triển chiều sâu, hình thành những mũi nhọn công nghiệp theo trình độ khoa học và công nghệ trên thế giới.
Khoa học và công nghệ hiện đại đóng vai trò là nhân tố then chốt của quá trình hiện đại hóa Tuy nhiên, hiện đại hóa có nội dung sâu sắc và rộng lớn hơn nhiều, bao gồm các mặt kinh tế, chính trị và văn hóa Để hiểu đầy đủ quá trình này, cần nhận thức sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, cải cách thể chế và sự chuyển biến trong đời sống văn hóa cũng như nhận thức xã hội.
Hiện đại hóa là quá trình các nước đang phát triển tìm cách đạt tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách chính trị và củng cố xã hội của họ nhằm tiến tới một hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa văn minh và tiên tiến Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đặt ra những vấn đề nan giải trong quan hệ giữa con người với con người và con người với thiên nhiên, đòi hỏi thay đổi sâu sắc cách nhìn, cách nghĩ và hành động để giải quyết Đảng ta xác định thực chất của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là quá trình thực hiện cách mạng kỹ thuật và sự phân công lao động xã hội mới, là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng tái sản xuất mở rộng Đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa được xác định là ưu tiên cho phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, không còn coi công nghiệp nặng là công nghiệp hàng đầu tuyệt đối như trước.
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá có những nét riêng đối với từng nước nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quá trình chuyển đổi có tính chất phổ biến, được điều chỉnh phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia Đây là một quá trình rộng lớn và phức tạp, bản chất của nó bao gồm nhiều mặt trọng yếu như tăng năng suất và hiệu quả sản xuất, đổi mới công nghệ và quản lý, cải cách thể chế kinh tế và phát triển hạ tầng, cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và trình độ công nghiệp, từ đó hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại và bền vững.
- Trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại cho nền kinh tế
- Xây dựng một cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý
Thực hiện đồng bộ công nghiệp hoá và hiện đại hoá có ý nghĩa vô cùng to lớn: nó làm thay đổi lực lượng sản xuất, chuyển đổi căn bản công nghệ kỹ thuật và tăng năng suất lao động, tạo đà cho tốc độ tăng trưởng cao và đẩy mạnh xã hội hoá khoa học kỹ thuật Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mối quan hệ giữa các ngành ngày càng phức tạp và đa dạng đòi hỏi phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà nước, bảo đảm khả năng tích luỹ vốn Toàn bộ quá trình này chỉ có thể thực hiện nhờ công nghiệp hoá và hiện đại hoá, vì chúng có khả năng quan tâm đến phát triển tự do toàn diện của con người, mở rộng hợp tác quốc tế và củng cố quốc phòng.
Hiểu tầm quan trọng của vấn đề và sự cấp bách phải công nghiệp hóa hiện đại hóa để xử lý nguy cơ tụt hậu kinh tế, Đảng ta đã nêu rõ từ Đại hội VIII (1996) và xem đây là nhiệm vụ xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong thời kỳ chiến tranh, Đảng và Nhà nước kiên trì đường lối công nghiệp hóa hiện đại hóa để tạo sức mạnh cho đất nước; ngày nay trong xây dựng đất nước và XHCN, các nghị quyết từ Đại hội VI đến Đại hội VIII tiếp tục kiên định đường đổi mới và đề ra những nội dung cụ thể cho từng thời kỳ Đại hội VIII đã nhấn mạnh giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; CNH-HĐH được xem là nội dung tất yếu và con đường đúng đắn nhằm phát triển nhanh, bền vững và có hiệu quả dựa trên kinh tế xã hội nước ta, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
CÁC GIAI ĐOẠN THAY ĐỔI NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Giai đoạn 1986 – 1996
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm, quyết định sự phát triển và chuyển đổi của nền kinh tế đất nước Việc thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, từ đó tạo điều kiện để chủ nghĩa xã hội thắng lợi và đảm bảo sự phát triển bền vững cho nhân dân.
3.1.1 Đại hội VI của Đảng
Đại hội VI khởi động quá trình đổi mới kinh tế bằng cách đúc kết kinh nghiệm từ các nền kinh tế trên thế giới và tổng kết thực tiễn để điều chỉnh chính sách dựa trên tư duy kinh tế mới Giai đoạn 1986–1990 được xem là thời kỳ khởi động cho một sự phát triển kinh tế mạnh mẽ sau này Đại hội đã thông qua đường lối đổi mới toàn diện, trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế Theo Đại hội VI (1986), mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt kinh tế – xã hội và tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở chặng đường tiếp theo Đồng thời, Đại hội VI xác định tập trung thực hiện ba Chương trình.
1) Chương trình về lương thực - thực phẩm với mục tiêu đảm bảo đủ lương thực cho toàn xã hội và có lương thực dự trữ, đáp ứng ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm
2) Chương trình hàng tiêu dùng với mục tiêu đáp ứng được nhu cầu bình thường của nhân dân về những sản phẩm công nghiệp thiết yếu.
3) Chương trình xuất khẩu với mục tiêu tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, kim ngạch xuất khẩu đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu Cùng với những nhiệm vụ trọng tâm này, Đại hội cũng xác định nhiệm vụ chú trọng phát triển giao thông vận tải, thông tin liên lạc và các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
3.1.2 Đại hội VII của Đảng
Tiếp tục những thành công trong những năm trước, Đại hội VII đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội nước ta đến năm 2000 Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7/1994) đã ban hành nghị quyết về phát triển công nghiệp và công nghệ, nhằm nâng cao năng lực sản xuất, hiện đại hóa nền kinh tế và đẩy mạnh tiến bộ khoa học - công nghệ để đáp ứng yêu cầu hội nhập và tăng trưởng bền vững.
Đại hội VII đề ra định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp và đẩy mạnh khoa học công nghệ phục vụ sản xuất Lần đầu tiên phạm trù “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” được xác định chính thức trong Văn kiện của Đảng; trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, nước ta phải gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa để không tụt hậu xa hơn so với trình độ phát triển chung của thế giới Đại hội VII xác định phát triển nông nghiệp và nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, khẳng định từ nay đến cuối thập kỷ phải rất quan tâm đến CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.
3.1.3 Đại hội VIII của Đảng Đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đến năm 2020: “Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Đại hội VIII cho rằng “Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt nhất định còn chưa vững chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Từ đó,Đại hội đã xác định mục tiêu đến năm 2000 và năm 2020 Đại hội VIII đã bổ sung,phát triển thành 6 quan điểm lớn chỉ đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Những quan điểm tổng quát này cho thấy rõ hơn: mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta là sự kết hợp giữa chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hướng mạnh về xuất khẩu, coi thị trường bên ngoài là một yếu tố giữ vị trí đặc biệt quan trọng cho sự phát triển. Đại hội VIII xác định nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm còn lại của thập kỷ 1990 là:
Trong định hướng phát triển, đặc biệt chú trọng công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp cũng như nông thôn Đồng thời, tập trung phát triển nông nghiệp một cách toàn diện và gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản nhằm nâng cao giá trị gia tăng, thúc đẩy liên kết giữa sản xuất và chế biến, và mở rộng cơ hội thị trường.
− Phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Chủ đạo là nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, ưu tiên giải quyết các khâu ách tắc và yếu kém đang cản trở sự phát triển Việc tập trung cải thiện hạ tầng ở những điểm nghẽn sẽ mở rộng sức bật cho kinh tế, thu hút vốn đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện đời sống người dân Theo đó, chiến lược này giữ vai trò then chốt trong phát triển bền vững, kết nối vùng miền và thúc đẩy các ngành công nghiệp trọng yếu thông qua sự đồng bộ và hiệu quả của các dự án hạ tầng.
− Mở rộng thương nghiệp, du lịch và dịch vụ.
− Phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghiệp.
3.1.4 Đại hội IX của Đảng
Kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991–2000 cho thấy những thành tựu nổi bật và bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới, từ đó hình thành Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001–2010 với mục tiêu tổng quát là đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; Đại hội IX đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001–2010 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001–2005, với chủ đề “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
Trong giai đoạn 2001–2010, chiến lược được xác định nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Chủ đề của Đại hội và chủ đề của Chiến lược được quyết định tại Đại hội, thể hiện nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển mới là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội IX xác định nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua các phương hướng và nhiệm vụ phát triển các ngành kinh tế, lĩnh vực xã hội và định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Giai đoạn 1996 đến nay
Đề bài tập trung vào nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, đồng thời rà soát kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001–2005 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Bài viết phân tích những kết quả đạt được, những tồn tại và bài học kinh nghiệm từ quá trình triển khai, nhằm đề xuất giải pháp cải thiện hiệu quả thực hiện và bám sát mục tiêu phát triển Kết quả đánh giá sẽ làm cơ sở cho định hướng, chương trình hành động và các biện pháp thực hiện trong các giai đoạn tiếp theo.
Trong giai đoạn 2001–2010, nhìn lại 20 năm đổi mới để xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn 2006–2010 Đồng thời kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, đề ra phương hướng và nhiệm vụ xây dựng Đảng, và tiến hành bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng cũng như bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X.
Đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, đồng thời giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân bằng cách chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất; tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển rừng, phát triển rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến lâm sản; phát triển đồng bộ và có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng về phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001–2005, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế 5 năm.
Trong giai đoạn 2006–2010, mục tiêu tổng quát là đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và đạt được bước chuyển biến căn bản về hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, nhằm sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển Đồng thời, cần cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng cho đẩy mạnh CNH-HĐH và phát triển kinh tế tri thức Mục tiêu dài hạn là cơ bản đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” Đại hội đã phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế, chỉ rõ những cơ hội và thách thức, đánh giá giai đoạn 2006 – 2010 có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thànhChiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 và xác định mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế 5 năm (2006 – 2010) Đó là: “Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới,huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH, HĐH đất nước, phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị – xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
3.2.2 Đại hội XI của Đảng
Nhiệm vụ: kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2011 – 2015; tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010, xác định Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020; tổng kết, bổ sung và phát triển Cương lĩnh năm 1991; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X; bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI (nhiệm kỳ 2011 – 2015).
Thực hiện CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo làm nền tảng và đồng thời phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ở trình độ công nghệ cao, chất lượng cao, gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới Bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các vùng, miền, thúc đẩy nhanh sự phát triển của các vùng kinh tế trọng điểm và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các vùng còn nhiều khó khăn để thu hẹp khoảng cách phát triển.
Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và quan trọng, giúp đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển Những kết quả này đã nâng vị thế của Việt Nam lên một tầm cao mới trên trường quốc tế, mở ra những tiền đề thiết yếu cho việc đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH của nước ta Nhờ đó nền kinh tế - xã hội được tăng cường và quá trình hiện đại hóa được đẩy nhanh, góp phần củng cố sự ổn định và tăng trưởng bền vững.
Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nội dung chính nhấn mạnh tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đẩy mạnh đổi mới toàn diện nhằm tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
2011 – 2020, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X…
3.2.3 Đại hội XII của Đảng Đại hội XII sẽ đi sâu kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, nhìn lại 30 năm đổi mới, rút ra những bài học; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong 5 năm tới Đại hội XII cũng sẽ kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; đánh giá việc thi hành Điều lệ Đảng khóa XI; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII gồm các đồng chí tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực lãnh đạo, bản lĩnh và trí tuệ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Để CNH, HĐH đất nước được tiến hành có hiệu quả, cần xác định ba bước căn bản: xây dựng tiền đề và điều kiện để CNH, HĐH, đẩy mạnh CNH, HĐH và nâng cao chất lượng; trong năm tới tập trung vào CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển nhanh bền vững; phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Xác định hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chú trọng các tiêu chí phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế, các tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về xã hội như chỉ số phát triển con người, tuổi thọ bình quân, chỉ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, số bác sĩ trên 10.000 dân, tỷ lệ lao động qua đào tạo, và các tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về môi trường như tỷ lệ dân số dùng nước sạch, độ che phủ rừng, tỷ lệ giảm phát thải khí nhà kính; các tiêu chí này làm cơ sở cho đánh giá tiến bộ và định hướng CNH, HĐH theo hướng hiện đại, bền vững, đồng thời nâng cao chất lượng đời sống người dân và môi trường sống.
3.2.4 Đại hội XIII của Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng có trách nhiệm lịch sử to lớn đối với Tổ quốc, đồng bào và dân tộc ta, không chỉ trong giai đoạn 5 năm 2021 – 2025 mà cho cả những thập niên tới, cho những thế hệ tương lai của đất nước Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đổi mới, hội nhập và phát triển, phát huy truyền thống đoàn kết, chung sức, đồng lòng, kiên định niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn, Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng gắn với việc đánh giá 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới; 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991; 10 năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 – 2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm
2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045.
ĐÁNH GIÁ VỀ QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ RÚT RA BÀI HỌC
Thành tựu
4.1.1 Về đặc trưng mô hình XHCN
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), nước ta ra đời như một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, thực hiện nhiệm vụ quản lý đất nước và tổ chức nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Chiến thắng Điện Biên Phủ đã dẫn đến ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, nền hòa bình được thiết lập ở miền Bắc, và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu quá trình xây dựng đất nước và phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đồng thời, hai nhiệm vụ trọng tâm được thực thi song song: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Dựa trên nhận thức lý luận về thời kỳ quá độ và học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình xã hội chủ nghĩa thực tiễn trên thế giới, mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trước Đổi mới được xác định bởi các đặc trưng chính như: chế độ xã hội do nhân dân làm chủ tập thể; nền kinh tế kế hoạch hóa với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu và tập thể về tư liệu sản xuất; tiến hành cách mạng văn hóa để xây dựng và phát triển văn hóa, con người mới xã hội chủ nghĩa; nhà nước chuyên chính vô sản với hai chức năng là chuyên chính đối với kẻ thù giai cấp và xây dựng chế độ mới; các dân tộc đoàn kết, bình đẳng được đảm bảo điều kiện phát triển thông qua việc thành lập các khu tự trị; xây dựng quan hệ hợp tác quốc tế với các nước XHCN, các Đảng cộng sản, công nhân và nhân dân lao động trên thế giới theo tinh thần quốc tế vô sản; đồng thời chống thực dân đế quốc và mọi hình thức áp bức dân tộc.
Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975 thắng lợi, đất nước thống nhất, mở ra giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vô vàn khó khăn: thành phố, làng mạc cùng cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nền kinh tế kiệt quệ sau hơn 30 năm chiến tranh; biên giới phía Nam và phía Bắc bị xâm phạm, các nước thù địch bao vây, cấm vận; hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới rạn nứt và sụp đổ năm 1991 đặt Việt Nam vào hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt Nhưng trong khó khăn ấy, Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối Đổi mới, mở ra một giai đoạn phát triển mạnh mẽ cho đất nước; Đổi mới bắt đầu từ đổi mới tư duy, tức là đổi mới phương pháp tiếp cận nhận thức lý luận: nhìn thẳng sự thật, dựa vào dân, coi trọng sáng kiến của nhân dân, tổng kết thực tiễn, vượt qua định kiến và sự bảo thủ, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trên cơ sở kiên định con đường xã hội chủ nghĩa Dựa trên sự đổi mới về phương pháp ấy, Đảng ta đánh giá lại toàn diện những bài học kinh nghiệm của các mô hình chủ nghĩa xã hội thực tế trên thế giới cũng như của nước ta trước Đổi mới, làm cơ sở để Đảng trở lại với những quan điểm căn bản của Mác, Ăng-ghen và Lênin về quá độ lên chủ nghĩa xã hội và nhận thức ngày càng rõ hơn về tính chất, đặc điểm của thời kỳ quá độ.
Thành tựu lý luận của Đảng ta về nhận thức mô hình chủ nghĩa xã hội gắn kết chặt chẽ hệ mục tiêu với các giá trị căn bản Việt Nam hướng tới: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Để thực hiện hệ mục tiêu đó, Đảng đã chỉ ra yêu cầu nắm vững và giải quyết đúng đắn các quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và công bằng xã hội; đồng thời kiên trì xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách phù hợp với bản chất chủ nghĩa xã hội Việt Nam.
Có 7 mối quan hệ lớn được xem là điều kiện cần thiết để đảm bảo thành công, gồm: mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới về chính trị; mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; và mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
4.1.2 Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là phương thức quan trọng nhất để hiện thực hóa mục tiêu phát triển và xây dựng chủ nghĩa xã hội Dựa trên thực tiễn của đất nước, kinh nghiệm quốc tế và các thành tựu lý luận, Đảng ta đã hình thành hệ thống lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đề ra mục tiêu, nội dung và phương pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam, bối cảnh thời đại và các quy luật chung của thế giới Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức và yêu cầu phát triển bền vững; xây dựng cơ cấu hợp lý nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các vùng miền, khu vực; xây dựng nền kinh tế tự chủ, hội nhập quốc tế và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; sử dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực phát triển đất nước.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành từ thời kỳ Đổi mới, bắt đầu từ Đại hội VI, và ngày càng được Đảng ta nhận thức đầy đủ hơn Đó là nền kinh tế vận hành đầy đủ và đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong mô hình kinh tế Việt Nam, hệ thống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ nhằm phát triển nền kinh tế ở mức cao Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho phép nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, cạnh tranh bình đẳng và hợp tác phát triển theo pháp luật, với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế tư nhân là động lực quan trọng Nhà nước khuyến khích mọi người dân làm giàu hợp pháp, và phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác Đồng thời, hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được phát triển để bảo đảm công bằng và đời sống bền vững cho nhân dân.
Vượt qua hạn chế và sai lầm của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu và bao cấp thời kỳ trước Đổi mới, nhận thức lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã phát triển một cách sáng tạo và trở thành một thành tựu lý luận có ý nghĩa to lớn đối với Đảng ta; đây là cơ sở và điều kiện đặc biệt quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển liên tục và mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta trong nhiều thập niên vừa qua.
4.1.3 Về văn hóa, xã hội và con người
Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là đặc trưng của mô hình xã hội chủ nghĩa được Đảng xác định từ Cương lĩnh 1991 nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Lý luận của Đảng về văn hóa được xem là sự phát triển nhất quán từ những đặc trưng dân tộc, khoa học và đại chúng được nêu trong Đề cương văn hóa từ năm 1943 Trong quá trình cách mạng, đặc biệt từ Đổi mới, Đảng ngày càng nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của văn hóa trong đời sống xã hội và trong quá trình xây dựng đất nước Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển Mục tiêu phát triển văn hóa là xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì hạnh phúc và lợi ích chân chính của nhân dân, vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người Để thực hiện mục đích ấy, Đảng chủ trương kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới; phát triển và nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; phát triển nền báo chí, truyền thông tự do, hiện đại, phục vụ hiệu quả cho nhu cầu ngày càng phong phú của nhân dân và cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh.
Trong quá trình Đổi mới, nhận thức lý luận về con người được bổ sung và hoàn thiện sâu sắc: con người là trung tâm của chiến lược phát triển, là chủ thể và động lực của sự phát triển, đồng thời là mục tiêu cuối cùng và động lực quan trọng nhất của quá trình này Con người có mối quan hệ hữu cơ với văn hóa, và sự phát triển văn hóa nhằm hoàn thiện nhân cách, nâng cao phẩm giá, thúc đẩy sự phát triển toàn diện về chân - thiện - mỹ và bảo đảm hạnh phúc cho mỗi người Đảng nhấn mạnh cần kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư để xây dựng một môi trường xã hội văn hóa, văn minh, đồng bộ và toàn diện, nhằm giáo dục, dẫn dắt và bồi đắp những tình cảm, lối sống tốt đẹp đồng thời ngăn chặn các tác động tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi công dân Xuất phát từ mục tiêu của cách mạng và bản chất tốt đẹp của xã hội chủ nghĩa, Đảng đề xuất thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách, triển khai trên mọi lĩnh vực từ giáo dục, y tế, gia đình, môi trường, xóa đói giảm nghèo đến an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, thể dục thể thao, văn hóa giải trí, trật tự an toàn xã hội và bảo đảm quyền con người Nhà nước giữ vai trò trung tâm, đồng thời huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, để mọi người dân được thụ hưởng xứng đáng các thành tựu của phát triển và Đổi mới, xây dựng một xã hội văn minh, hài hòa và hạnh phúc ngày càng nhiều hơn cho nhân dân.
4.1.4 Về quốc phòng, an ninh và đối ngoại
Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc, hệ thống lý luận của Đảng về quân sự, an ninh được phát triển phong phú làm nền tảng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng với ba thứ quân và tiến hành chiến tranh nhân dân toàn diện, tạo nên những chiến công chấn động địa cầu; khi thế giới xã hội chủ nghĩa không còn và bối cảnh thế giới có sự thay đổi sâu sắc, Đảng đổi mới nhận thức về tính chất, đặc điểm của hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia, trong đó quan điểm về đối tác, đối tượng được định nghĩa mới là những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền và thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam; trên cơ sở đó, Đảng xác định củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, với mục tiêu kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, Đảng tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân và tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng an ninh, phát triển sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; đồng thời phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh và kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh Về xây dựng lực lượng, Đảng chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; kết hợp giữa lực lượng quân đội, công an chính quy, có sức chiến đấu cao với lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, lực lượng an ninh bán chuyên trách, các cơ quan bảo vệ pháp luật và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Về đối ngoại, đường lối nhất quán của Đảng là độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và xây dựng một Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, sự đổi mới nổi bật là chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ và chủ động tích cực hội nhập quốc tế nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; đất nước sẽ trở thành bạn tin cậy, đối tác có trách nhiệm và thành viên tích cực trong cộng đồng quốc tế, đóng góp vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Đường lối này dựa trên những đổi mới về nhận thức lý luận của Đảng, mở ra điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế sâu rộng, mở rộng quan hệ ngoại giao, thúc đẩy phát triển kinh tế và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
4.1.5 Về phát huy dân chủ XHCN, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
Trên cơ sở những nguyên lý xây dựng Đảng vô sản kiểu mới của chủ nghĩa Mác–Lênin, dựa trên bối cảnh toàn cầu và những đặc điểm cụ thể của Việt Nam, Đảng ta đã có những phát triển sáng tạo về lý luận xây dựng Đảng với ý nghĩa quan trọng; trong đó vấn đề cốt lõi là nhận thức về tính chất của Đảng Cương lĩnh 2011 xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Đảng lấy chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
Nhận thức mới về bản chất của Đảng cho thấy sự trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện lý tưởng cách mạng nhất quán theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam; tính chất đại diện rộng rãi cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc phù hợp với bối cảnh thời kỳ quá độ và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đồng thời thể hiện tính dân chủ, nhân văn của một chính đảng cách mạng gắn bó máu thịt với nhân dân và với dân tộc Nhận thức ấy trở thành cơ sở để Đảng đề ra và tổ chức thực hiện các chủ trương, giải pháp nhằm không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đạo đức đảng viên, đáp ứng yêu cầu của Đảng lãnh đạo, cầm quyền trong điều kiện mới.
Hạn chế
Chính phủ, các bộ, ngành ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương còn nhiều bất cập trong công tác chỉ đạo điều hành, thiếu tính ráo riết, thiếu kiểm tra, đôn đốc và phối hợp giữa các cấp chưa thường xuyên, chặt chẽ, khiến hiệu lực và hiệu quả chưa cao Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và thiên tai nghiêm trọng ở nhiều miền, nền kinh tế nước ta chịu nhiều khó khăn, làm chậm tốc độ phát triển và cản trở thực hiện các mục tiêu đã đề ra Nửa mặt khác, công tác đầu tư và quản lý còn nhiều bất cập: vốn đầu tư xã hội tăng lên nhưng quyết định đầu tư, lựa chọn dự án và cách đầu tư vẫn theo xu hướng phong trào; thi công xây dựng chất lượng thấp, thời gian kéo dài, chi phí cao gây lãng phí và thất thoát phổ biến nhưng vẫn chưa được khắc phục.
Phát triển kết cấu hạ tầng hiện còn lạc hậu và chưa phù hợp với cơ chế thị trường, khiến nguồn vốn đầu tư vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước Để cải thiện tính bền vững và hiệu quả, cần tăng cường huy động nguồn lực từ khu vực ngoài nhà nước và đẩy mạnh đầu tư công-tư (PPP), đồng thời khuyến khích tham gia và chia sẻ trách nhiệm của cộng đồng Tuy vậy, sự ủng hộ mạnh mẽ của toàn dân chưa được hình thành ở mức cần thiết, đòi hỏi nâng cao tính minh bạch, niềm tin và cơ chế phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, tư duy về giáo dục đang chậm đổi mới và không theo kịp sự phát triển của đất nước Chính sách giáo dục, đào tạo chưa có động lực đủ mạnh và chưa kích thích sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội Công tác quy hoạch nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp chưa được quan tâm đúng mức; chất lượng đào tạo của hệ thống trường trong nước chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, khiến nhiều doanh nghiệp phải đào tạo lại nguồn nhân lực với chi phí cao để đáp ứng công việc.
Chính sách phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong những năm gần đây bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới tăng trưởng và sự bền vững của nền kinh tế Dẫu giá trị kim ngạch xuất khẩu ở mức cao, hiệu quả sử dụng nguồn lực vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và quy mô nền kinh tế Xuất khẩu Việt Nam chủ yếu vẫn dựa vào nông sản và nguyên liệu thô, ít được chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh và hạn chế lợi ích từ chuỗi cung ứng toàn cầu Cần có chiến lược chuyển đổi sang sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao, tăng cường công nghệ, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu bền vững.
Bài học rút ra
Làm tốt công tác lãnh đạo của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, cùng với quản lý, điều hành của Nhà nước trong xử lý các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và tri thức; sự phát triển của khoa học, công nghệ là điều kiện cần để hình thành và phát triển kinh tế tri thức, vì vậy cần tăng cường đầu tư cho khoa học và công nghệ và xây dựng chính sách phát triển khoa học công nghệ phù hợp với tiến bộ của thời đại; cần đầu tư mạnh vào các ngành mũi nhọn của quốc gia như công nghệ thông tin, nhất là công nghệ phần mềm; công nghệ số hóa, công nghệ năng lượng mới, vật liệu mới và công nghệ sinh học; đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ CNH-HĐH; công nghệ thông tin là chìa khóa để đi vào kinh tế tri thức, và muốn rút ngắn quá trình CNH-HĐH, rút ngắn khoảng cách với các nước, phải khắc phục khoảng cách về công nghệ thông tin.
Chúng ta nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và chú trọng phát triển chương trình giáo dục nhằm đào tạo thêm các cử nhân kinh tế và kỹ thuật công trình, từ đó đóng góp cho nền kinh tế nước nhà và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng Đồng thời đào tạo công nhân có trình độ sản xuất và tay nghề cao để đáp ứng nhu cầu công việc, biết cách xử lý nguyên liệu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và thúc đẩy xuất khẩu.
Việc hội nhập kinh tế diễn ra nhanh chóng mà các doanh nghiệp trong nước chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng có thể dẫn tới phụ thuộc quá nhiều vào các doanh nghiệp FDI Điều này khiến ngành công nghiệp nước ta khó phát triển bền vững nếu không xây dựng được một hệ sinh thái doanh nghiệp nội địa mạnh và cạnh tranh Doanh nghiệp trong nước cần được nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường để giảm sự lệ thuộc Đồng thời, chính sách hỗ trợ và chiến lược phát triển doanh nghiệp nội địa nên song hành với lộ trình hội nhập nhằm cân bằng giữa vốn nước ngoài và nguồn lực trong nước.
Đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa các vùng, đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm, để tối ưu nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng bền vững Khi xây dựng chương trình, cần bảo đảm tính phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia và với quy hoạch của từng ngành Nội dung liên kết vùng cần được đề xuất trong tất cả các lĩnh vực, bao gồm kinh tế, xã hội, doanh nghiệp, nông dân và xử lý môi trường, nhằm tăng cường sự đồng bộ và hiệu quả phát triển vùng.
Để bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu quả trong quản lý tài sản nhà nước, cần có chế tài xử lý nghiêm đối với hành vi tham nhũng gây thất thoát tài sản nhà nước; khen thưởng xứng đáng đối với những sáng kiến, phát minh có giá trị thực tiễn được áp dụng vào sản xuất nhằm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế; và nghiêm túc thực hiện việc kiểm tra, đôn đốc của các cơ quan nhà nước trong quá trình chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, bảo đảm sự tuân thủ, tiến độ và kết quả đạt được.
Ngay từ đầu, Đảng xác định CNH-HĐH đất nước là nhiệm vụ trung tâm trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được khẳng định nhiều lần tại các Đại hội và xem như mục tiêu lâu dài, cơ bản, phải thực hiện qua nhiều giai đoạn Quá trình CNH-HĐH đã làm thay đổi căn bản diện mạo đất nước và tạo nền tảng cho sự phát triển đất nước giàu mạnh, song còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục do cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan Sang thời kỳ đổi mới, với tư duy mới, Đảng đã đề ra các quan điểm, chủ trương đúng đắn về CNH-HĐH và huy động được nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH ở giai đoạn phát triển mới Trong thời kỳ đổi mới, thế giới được kết nối bởi xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra thách thức lớn, khi tình hình thế giới diễn biến mạnh, còn cạnh tranh bảo hộ, chiến tranh kinh tế và các diễn biến phức tạp gia tăng thách thức với quá trình CNH-HĐH của đất nước.
Để CNH và HĐH được triển khai hiệu quả, Việt Nam cần một đường lối đúng đắn và sáng suốt nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển gắn với kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và điều hòa quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, từ đó tăng tốc quá trình hiện đại hóa và nâng cao thu nhập cùng mức sống cho người dân Những thành công to lớn trong công cuộc CNH‑HĐH của nước ta trong thời kỳ đổi mới cho thấy đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn Lãnh đạo sự nghiệp CNH‑HĐH là một quá trình khó khăn và lâu dài, đòi hỏi Đảng luôn tổng kết thực tiễn, học hỏi kinh nghiệm từ các nước để bổ sung lý luận và vận dụng vào thực tiễn, nhằm sớm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.