1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN các mô HÌNH CÔNG NGHIỆP hóa TRÊN THẾ GIỚI và vận DỤNG vào QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM HIỆN NAY

18 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 417,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến lược công nghiệp là rút ngắn, đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển sản xuất trong nước thay thế hàng nhập khẩu, thông qua việc tận dụng lợi thế về khoa học - công nghệ của các nước đi tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-TIỂU LUẬN:

CÁC MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ

VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN

ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Nhóm thực hiện: Nhóm 8 Lớp: 2202RLCP1211 GVHD: Vũ Văn Hùng – Tống Thế Sơn

Hà Nội 4/2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CNH VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH CNH TRÊN THẾ GIỚI 4

1.1.Cách mạng công nghiệp 4

1.1.1 Khái niệm cách mạng công nghiệp 4

1.1.2 Vai trò của cách mạng công nghiệp đối với phát triển 4

1.2 Công nghiệp hóa và các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới 4

1.2.1 Khái niệm công nghiệp hóa 4

1.2.2.Các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới 4

1.3 Tính tất yếu của CNH, HDH ở Việt Nam 6

1.4 Lựa chọn mô hình và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình CNH, HDH hiện nay 7

1.4.1 Lựa chọn mô hình CNH cho Việt Nam trong quá trình CNH, HDH hiện nay 7

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình CNH, HDH hiện nay 7

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ MÔ HÌNH CNH TRÊN THẾ GIỚI VÀO QUÁ TRÌNH CNH, HDH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9

2.1 CNH, HDH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9

2.1.1 Thành tựu 9

2.1.2 Hạn chế 10

2.2 Giải pháp 12

KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nước ta đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất

kỹ thuật yếu kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa cao, quan hệ sản xuất còn mới

chưa hoàn thiện Vì vậy, công nghiệp hóa (CHD) – hiện đại hóa (HDH) là một xu hướng khách quan, phù hợp với xu thế thời đại và hoàn cảnh của đất nước tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội, hoàn thiện quan hệ sản xuất

Tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XII của Đảng, đường lối đẩy mạnh CNH, HDH gắn với sự phát triển kinh tế tri thức ngày càng được làm sáng tỏ Cương lĩnh xây

dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Đảng ta xác định rõ mục tiêu

trước mắt là “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu

xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” Có thể thấy, nội dung về đẩy mạnh CNH, HDH gắn với phát triển kinh tế tri thức thể hiện ở mục tiêu, việc xác định hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại, các bước tiến hành Điều này thể hiện tư duy đổi mới của Đảng về đường lối CNH trong thế

kỉ XXI Tuy nhiên, về lâu dài nước ta cần xây dựng một chiến lược CNH, HDH gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường, trong đó cần xác định rõ thuận lợi, khó khăn, phương hướng phát triển, mục tiêu cụ thể cần được định lượng rõ ràng phù hợp với

các giai đoạn phát triển của đất nước, các nguồn lực để đáp ng yêu cầu của chiến lược, Tất cả vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Việc nghiên cứu về CNH, HDH đất nước trong nền kinh tế là một vấn đề bức xúc, nóng bỏng trong nhiều năm nay và được đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm Nghiên

cứu nhằm nhận thức rõ từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy sử dụng tối đa mọi

nguồn lực trong nước và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế phục vụ sự CNH, HDH Và đây

cũng là lý do nhóm em chọn đề tài “Các mô hình CNH trên thế giới và vận dụng vào CNH, HDH ở Việt Nam hiện nay” Dù đã rất cố gắng hoàn thành bài tiểu luận nhưng không thể tránh khỏi sai sót, chúng em kính mong nhận được sự góp ý, chỉnh sửa của cô

để thêm phần hoàn thiện hơn Chúng em xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CNH VÀ MỘT SỐ MÔ

HÌNH CNH TRÊN THẾ GIỚI

1.1.Cách mạng công nghiệp

1.1.1 Khái niệm cách mạng công nghiệp

Cách mạng công nghiệp (CMCN) là sự phát triển nhảy vọt về chất trình độ tư liệu lao động, trên cơ sở những phát minh đột phá về kỹ thuật và công nghệ, làm thay đổi căn

bản phân công lao động xã hội qua đó tạo ra năng suất lao động cao

1.1.2 Vai trò của cách mạng công nghiệp đối với phát triển

Một là, thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất Cách mạng công nghiệp điều

chỉnh cấu trúc và vai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất xã hội: từ tư liệu lao động bằng thủ công đến lao động bằng máy móc, và với sự ra đời của máy tính điện tử,

đã chuyển nền sản xuất sang tự động hoá; về đối tượng lao động, cách mạng công nghiệp làm giảm đi sự phụ thuộc của sản xuất vào các năng lượng truyền thống; cách mạng công nghiệp vừa đặt ra các yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao, đồng thời tạo

điều kiện để phát triển Cách mạng công nghiệp tạo điều kiện phát triển khoa học công

nghệ và ứng dụng vào sản xuất, đời sống Đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế và hiệu quả cao

Hai là, thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất Cách mạng công nghiệp thúc đẩy quá

trình xã hội hoá lực lượng sản xuất theo hướng xã hội hoá, tạo điều kiện cho sự phân phối

và tiêu dùng sản phẩm dễ dàng và nhanh chóng, thúc đẩy trao đổi kinh nghiệm tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội giữa các nước Đồng thời cách mạng công nghiệp đưa ra những yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường , tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế

Ba là, thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển Trong điều kiện cách mạng

công nghiệp 4.0, phương thức quản trị, điều hành của chính phủ có sự thay đổi, theo đó,

hệ thống tin học hoá trong quản lý được hình thành và sự ra đời của “chính phủ điện tử”

Trong thời đại này thì phương thức quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp cũng có những sự thay đổi với việc sử dụng công nghệ cao để cải tiến quản lý sản xuất, thay đổi cách thức tổ chức doanh nghiệp

1.2 Công nghiệp hóa và các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới

1.2.1 Khái niệm công nghiệp hóa

Công nghiệp hoá : là quá trình chuyển đổi nền sản xuất xã hội từ dựa trên lao động thủ công là chính sang nền sản xuất xã hội dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc

nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao

1.2.2.Các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới

1.2.2.1 Mô hình công nghiệp hóa cổ điển

Trang 5

Mô hình công nghiệp hóa đầu tiên trong lịch sử được gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp 1.0 tiêu biểu ở nước Anh (giữa thế kỷ XVIII) bắt đầu từ phát triển ngành công nghiệp nhẹ (ngành dệt), nông nghiệp và cuối cùng là ngành công nghiệp nặng (cơ khí chế tạo máy) Quá trình công nghiệp hóa diễn ra tuần tự trong thời gian trung bình từ 60-80 năm, sau khi khởi nguồn ở Anh rồi lan rộng sang Pháp và các nước Đức, Mỹ

Quá trình công nghiệp hóa cổ điển dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa tư bản và lao động, làm bùng lên cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại nhà tư bản ở các

nước tư bản lúc bấy giờ, tạo tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác Nó còn dẫn đến

mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau, giữa các nước tư bản với các nước thuộc địa,

quá trình xâm chiếm và cướp bóc thuộc địa đã dẫn đến phong trào đấu tranh giành độc

lập của các nước thuộc địa, thoát khỏi sự thống trị và áp bức của các nước tư bản

1.2.2.2 Mô hình công nghiệp hóa kiểu Liên Xô

Mô hình này bắt đầu từ đầu những năm 1930 ở Liên Xô sau đó được áp dụng cho các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sau năm 1945 và một số nước đang phát triển đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam vào những năm 1960 Con

đường công nghiệp hóa theo mô hình của Liên Xô (cũ) thường là ưu tiên phát triển công

nghiệp nặng Để thực hiện được mục tiêu này, nhà nước phải huy động những nguồn lực

to lớn trong xã hội, từ đó phân bổ, đầu tư cho ngành công nghiệp nặng, trực tiếp là ngành

cơ khí, chế tạo máy Trong một thời gian ngắn các nước theo mô hình Liên Xô đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật to lớn Tuy nhiên, khi tiến bộ khoa học, kỹ

thuật ngày càng phát triển, hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật đã không thích ứng được,

làm kìm hãm việc ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới đồng thời cơ chế kế hoạch hoá tập trung mệnh lệnh được duy trì quá lâu đã dẫn đến sự trì trệ Đây là một trong những

nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông

Âu

1.2.2.3 Mô hình công nghiệp hóa của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới (NICs)

Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá mới (NICs) như Hàn Quốc, Singapore đã tiến hành công nghiệp hoá theo con đường mới Chiến lược công nghiệp là rút ngắn, đẩy

mạnh xuất khẩu, phát triển sản xuất trong nước thay thế hàng nhập khẩu, thông qua việc

tận dụng lợi thế về khoa học - công nghệ của các nước đi trước, cùng với việc phát huy

nguồn lực và lợi thế trong nước, thu hút nguồn lực từ bên ngoài để tiến hành công nghiệp

hoá gắn với hiện đại hoá Kết quả là trong một khoảng thời gian ngắn, trung bình khoảng

20 - 30 năm đã thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nhật Bản và các nước công nghiệp hóa mới (NICs) đã xây dựng chiến lược phát triển khoa học - công nghệ nhiều tầng, kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ

hiện đại; kết hợp vừa nghiên cứu chế tạo vừa tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các

nước phát triển hơn, con đường vừa cơ bản, lâu dài và vững chắc vừa đảm bảo đi tắt và

bám đuổi theo các nước phát triển hơn Từ đó đã thực hiện thành công quá trình CNH,

Trang 6

HDH trong một khoảng thời gian ngắn đã gia nhập vào nhóm các nước công nghiệp phát

triển

1.3 Tính tất yếu của CNH, HDH ở Việt Nam

CNH, HDH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang

sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên

tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao

CNH, HDH ở Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

- CNH, HDH theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"

- CNH, HDH với phát triển kinh tế tri thức

- CNH, HDH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- CNH, HDH trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và Việt Nam đang tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Lý do khách quan Việt Nam phải thực hiện CNH, HDH :

Một là, CNH là quy luật phổ biến của sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội mà mọi quốc gia đều trải qua

CNH tạo động lực mạnh mẽ cho nền kinh tế, là đòn bẩy quan trọng tạo sự phát triển đột biến trong các lĩnh vực hoạt động của con người Thông qua CNH các ngành,

các lĩnh vực của nền kinh tế được trang bị những tư liệu sản xuất, kỹ thuật - công nghệ ngày càng hiện đại, từ đó nâng cao năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất…

Mỗi phương thức sản xuất có một cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng Cơ sở vật chất - kỹ thuật được xem là tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hiện đại của một nền kinh tế

Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải là nền kinh tế hiện đại: có cơ cấu kinh

tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện

Hai là, CNH, HDH là để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội

Thực hiện CNH, HDH là nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh tế dựa trên những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại Mỗi bước tiến của quá

trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là một bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật của

chủ nghĩa xã hội, đồng thời củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

CNH, HDH để phát triển lực lượng sản xuất, nhằm khai thác, phát huy và sử dụng

có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước Đồng thời, thúc đẩy sự liên kết, hợp tác

giữa các ngành, các vùng trong nước và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế ; làm cho khối

Trang 7

liên minh công nhân, nông dân và trí thức ngày càng được tăng cường và củng cố, đồng

thời nâng cao vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân

CNH, HDH được thực góp phần nâng cao sức mạnh của an ninh, quốc phòng, đồng thời tạo điều kiện vật chất và tinh thần để xây dựng nền văn hoá mới và con người mới

xã hội chủ nghĩa

1.4 Lựa chọn mô hình và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình

CNH, HDH hiện nay

1.4.1 Lựa chọn mô hình CNH cho Việt Nam trong quá trình CNH, HDH hiện nay

Với tính cách thị trường thương mại, thế giới ngày nay đã bị các hiệp định thương mại tự do, nhất là các hiệp định thế hệ mới biến thành một thị trường liên hoàn, thố ng

nhất Ở đó, đã và sẽ nhanh chóng mất đi sự phân biệt giữa thị trường quốc nội và thị

trường quốc tế Trong bối cảnh mới như vậy, các mô hình công nghiệp hóa nêu trên hiển

nhiên là không còn chỗ đứng Việt Nam cũng như các quốc gia khác, rất cần xác định

mới mô hình công nghiệp hóa, vừa thích ứng với chuỗi giá trị toàn cầu, cách mạng công

nghiệp lần thứ tư…, vừa phù hợp với điều kiện, mục tiêu, yêu cầu của nước nhà Chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 được thông qua tại Đại hội XIII nêu rõ

mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới: “Tiếp tục đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và

những thành tựu công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư Đẩy mạnh phát triển

một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm

động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực

so với khu vực, thế giới”

Một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao được xác định

là những ưu tiên phát triển bao gồm: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp điện tử - viễn thông, công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa, công nghiệp sản xuất phần mềm, sản phẩm số, công nghiệp an toàn thông tin, công nghiệp dược phẩm, sản xuất chế phẩm sinh học, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, công nghiệp

chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp và vật liệu mới… Vậy nên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá mới (NICs) là gợi ý tốt cho Việt Nam trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình CNH, HDH hiện nay

Học hỏi kinh nghiệm từ các nước đi trước, Việt Nam đã học hỏi được những bài học quý báu trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay

Chú trọng khai thác lợi thế so sánh, kết hợp tốt hướng ngoại và hướng nội, lấy thị trường nước ngoài làm trọng tâm

Trang 8

Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và từng bước mở cửa nền kinh tế Định hướng thị trường đã trở thành

mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong mở cửa, mức độ tự do hóa và tốc độ

tăng trưởng kinh tế có liên quan tỷ lệ thuận với nhau Tuy nhiên, mở cửa và tự do hóa

một mặt tạo ra những cơ hội thuận lợi mới cho phát triển kinh tế, mặt khác cũng nảy sinh

nhiều thách thức khi khả năng công nghiệp trong nước còn yếu kém

Đi thẳng, đi tắt vào công nghệ hiện đại

Để tăng khả năng cạnh tranh trong hội nhập kinh tế, trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là nước đi sau nên ta có lợi thế với bước đi tắt về công nghệ Để thúc đẩy đổi mới

công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nhà nước tác động tích cực vào quá trình ấy

bằng cơ chế, chính sách:

-Tạo quyền chủ động cho chủ thể kinh doanh lựa chọn, mua bán công nghệ, kể cả việc trực tiếp quan hệ với bạn hàng nước ngoài, giúp các quyết định trong lĩnh vực này

được thực hiện nhanh chóng, chính xác hơn, thiết thực hơn đối với các cơ sở sản xuất

- Tạo nhu cầu bức thiết đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ Khi kinh doanh trong cơ chế thị trường, cạnh tranh khiến cho các doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm Nhà nước cần ưu tiên các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận, áp dụng công nghệ mới

Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH bền vững và hội nhập quốc tế với việc hình thành những ngành trọng điểm và mũi nhọn

Ở nước ta hiện nay, vẫn trong giai đoạn đầu của CNH, HĐH, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế diễn ra còn chậm vì nó diễn ra trong bối cảnh bước vào chuyển đổi cơ chế quản lý Trong giai đoạn này, một số yếu tố của cơ chế mới từng bước được hình thành song cần có thời gian để củng cố, nhiều yếu tố

ở tầm quản lý chiến lược còn chưa được định hình rõ nét, cần những giải pháp và bước đi quá độ để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo đúng hướng theo lộ trình CNH, HĐH Khó khăn trong chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay đó là khi ta cần thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sớm hình thành cơ cấu mới tích cực để hội nhập lại thiếu nguồn lực cơ bản cho sự phát triển: vốn, trình độ công nghệ

kỹ thuật thấp kém, lao động trình độ thấp…

Nâng cao vai trò Nhà nước trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Với Việt Nam, tiến hành CNH, HĐH trong điều kiện nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường với xu thế mở cửa và hội nhập là vấn đề mới Ở Việt Nam từ kinh nghiệm

của các nước, tập trung vào hai khía cạnh: Nhà nước là người lựa chọn chiến lược CNH,

HĐH và bằng chính sách của mình tác động có hiệu quả vào tiến trình này Xây dựng

chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đã tạo ra nhiều hy vọng cho các quốc gia

đang phát triển về khả năng thực hiện rút ngắn con đường công nghiệp hóa để nhanh

chóng thoát khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu.Sau hơn 25 năm chuyển đổi sang cơ chế mới,

8

Trang 9

vai trò kinh tế của Nhà nước đã chuyển dần từ trực tiếp sang gián tiếp, vai trò định hướng

và trọng tài trong thị trường là chủ yếu

=> Học tập kinh nghiệm là cần thiết để tránh việc phải mò mẫm, đi đường vòng mất nhiều thời gian Nhưng nếu học hỏi mà thiếu sáng tạo, áp dụng kinh nghiệm các nước

một cách máy móc, nguyên xi, không “thích ứng chuyển đổi” được các yếu tố ngoại lực thành nội lực thì thời gian còn kéo dài hơn, thậm chí thất bại.Vấn đề là, chúng ta sẽ có rất

nhiều cơ hội do các nước đi trước tạo ra, nhưng nắm bắt cơ hội thế nào để đẩy nhanh quá

trình CNH lại đòi hỏi phải có một Nhà nước đủ năng lực và bản lĩnh

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ MÔ HÌNH CNH

TRÊN THẾ GIỚI VÀO QUÁ TRÌNH CNH, HDH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 CNH, HDH ở Việt Nam hiện nay

Trong nhiều thập niên qua, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xu hướng phát triển chung của nhiều nước trên thế giới Đối với Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới, việc

thực hiện các chủ trương, đường lối về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần quan

trọng trong quá trình phát triển, đưa đất nước thoát nghèo và lạc hậu, nâng cao mức

sống của người dân Đánh giá chung về thích ứng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt

Nam có thể khái quát trên một số nét như sau:

2.1.1 Thành tựu

Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta từ một trong những quốc gia

nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp và ngày càng hội nhập

sâu rộng với khu vực và thế giới; đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, vị

thế và uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao

Duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá

Về cơ bản, từ năm 1991 đến nay, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá Trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 đạt bình quân 6,32%/năm, giai đoạn 2011 –

2015 đạt bình quân khoảng 5,82%/năm, giai đoạn 2015-2019 đạt bình quân 6,64%/năm

Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực theo hướng công nghiệp hóa,

hiện đại hóa

Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với đóng góp xấp xỉ 30% GDP và trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước,

góp phần đưa Việt Nam lên vị trí thứ 22 quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới vào năm

2018 Một số ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo định hướng chiến

lược của ta đã trở thành các ngành công nghiệp lớn nhất đất nước, qua đó đưa nước ta cơ

bản đã hội nhập thành công vào chuỗi giá trị toàn cầu với sự dẫn dắt của một số doanh

nghiệp công nghiệp lớn như điện tử, dệt may, da giày…Bên cạnh đó, quá trình tái cơ cấu

Trang 10

ngành công nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động đã

đi vào thực chất hơn, ngày càng hướng vào lõi công nghiệp hóa Theo đó, công nghiệp

tiếp tục duy trì là ngành có năng suất lao động cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân

với tỷ trọng trong GDP tăng từ 26,63% năm 2011 lên 27,81% năm 2015 và 37,83% năm

2021

Hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh

Việt Nam đã tham gia hội nhập trên tất cả các cấp độ, từng bước tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị cung ứng, đưa hoạt động của doanh nghiệp và nền kinh tế vào

môi trường cạnh tranh toàn cầu Xuất khẩu tăng nhanh và là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Đầu tư cho phát triển công nghiệp ngày càng được mở rộng, trong đó, đầu

tư FDI trở thành động lực chính của phát triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu phát

triển các ngành công nghiệp nước ta theo hướng hiện đại (chiếm tỷ trọng xấp xỉ 70% tổng vốn đầu tư FDI vào các ngành kinh tế, trong đó, đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo

chiếm tỷ trọng lớn nhất với xấp xỉ 60%) Đầu tư FDI có vai trò to lớn trong việc hình

thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông; khai thác, chế

biến dầu khí; điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng, dệt may, da giày tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn, cũng như thúc đẩy quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước Trong vài năm trở lại đây, dòng vốn FDI đang dịch chuyển sang các

ngành, nghề có giá trị gia tăng cao hơn trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên là công nghệ

cao, công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), chế tạo, chế biến, công nghiệp hỗ trợ và

nông nghiệp và giảm dần trong một số ngành thâm dụng lao động

Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Cùng với thúc đẩy tăng trưởng, Việt Nam cũng đã giải quyết có hiệu quả mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo vượt mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ GDP bình quân đầu người tăng mạnh, từ 113 USD năm 1991 lên 1.273 USD năm 2010

và đến năm 2019 đạt khoảng 2.786 USD Người dân cũng đã có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ công cơ bản, trong đó đáng kể là dịch vụ y tế, giáo

dục Tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt qua các năm, kể cả khu vực nông thôn và thành thị Tỷ lệ

hộ nghèo tính theo chuẩn nghèo năm 2021 chỉ còn 2,23%

2.1.2 Hạn chế

Kinh tế phát triển chưa bền vững

Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp so với tiềm năng và thấp hơn nhiều nước trong khu vực thời kỳ đầu công nghiệp hóa Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào các ngành công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động Vai trò của khoa học – công nghệ, của tính sáng tạo trong tăng trưởng kinh tế còn thấp Yêu cầu về thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng rút ngắn đứng trước nhiều thách thức Kể từ khi bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa, tốc độ tăng trưởng bình

Ngày đăng: 05/10/2022, 04:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

CÁC MƠ HÌNH CƠNG NGHIỆP HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VẬN DỤNG VÀO Q TRÌNH CƠNG NGHIỆP HĨA, HIỆN - TIỂU LUẬN các mô HÌNH CÔNG NGHIỆP hóa TRÊN THẾ GIỚI và vận DỤNG vào QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CÁC MƠ HÌNH CƠNG NGHIỆP HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VẬN DỤNG VÀO Q TRÌNH CƠNG NGHIỆP HĨA, HIỆN (Trang 1)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w