Nhớ về Tây Tiến, nhà thơ Quang Dũng nhớ về thiên nhiên miền Tây Bắc vớinhững vùng đất mình đã đi qua trên những con đường hành quân gian khổ, nhớ về sông nước miền Tây và những kỉ niệm đ
Trang 1BÀI 1: TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH
>25/8/1945) đa dành chính quyền trong cả nước
- Ngày 26/8/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Cách Mạng ở Việt Bắc
về tới Hà Nội Trong những ngày cuối tháng 8 tại căn nhà số 48 phố HàngNgang người soạn thảo bản “Tuyên ngôn độc lập”
- 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình ( Hà Nội), Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay
mặt Chính Phủ lâm thời nuớc Việt Nam dân chủ cộng hoà , đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước hàng vạn đồng bào, khai sinh ra nước VN mới
=> Như vậy:
- Tuyên ngôn Độc lập ra đời giáng một đòn tâm lý mạnh mẽ vào những thế lực
muốn xâm lược Việt Nam, đồng thời muốn tuyên bố với toàn thể thế giới quyềnđộc lập tự do bình đẳng của người dân Việt Nam, khẳng định ý chí sắt đá củatoàn thể dân tộc Việt Nam quyết bảo vệ nền độc lập tự do của mình, không chophép bất kì kẻ thù nào đặt chân lên lãnh địa của dân tộc Việt Nam
- Bản Tuyên ngôn Độc lập được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ ba của dân
tộc Việt Nam, có sự tiếp nối, nâng cao của dòng chảy lịch sử dân tộc trong thờiđại mới Bản tuyên ngôn không chỉ giải quyết được yêu cầu độc lập cho dân tộc
như hai bản tuyên ngôn trong thời kỳ phong kiến: Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và Bình Ngô đại Cáo của Nguyễn Trãi mà còn giải quyết thêm
một yêu cầu hết sức quan trọng là dân chủ cho nhân dân
3 Đối tượng
Trang 2- Hồ Chí Minh viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới.
- Bản Tuyên ngôn Độc lập còn hướng tới bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp, những kẻ
đang có âm mưu xâm lược Việt Nam
4 Giá trị của bản tuyên ngôn
4.1 Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử vô giá (giá trị lịch sử)
* Đối với trong nước
+ Tuyên ngôn Độc lập không chỉ báo hiệu sự chấm dứt ách thống trị hàng ngàn
năm phong kiến, ách thống trị ngót trăm năm của thực dân, sự sụp đổ của chế
độ phát xít tàn bạo mà còn khẳng định sự ra đời của một chế độ hoàn toàn mới:Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỉ nguyên độc lập cho toàn thể dântộc, tự do cho những người lao động bị áp bức
+ Nói cách khác, với Tuyên ngôn Độc lập: thiên trường hận của dân tộc Việt
Nam chấm dứt, thiên trường ca hạnh phúc của dân tộc Việt Nam bắt đầu
* Đối với quốc tế
+ Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định tư thế độc lập và tư cách bình đẳng của
nước Việt Nam mới - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, buộc công luận quốc
tế phải chấp nhận
+ Tuyên ngôn Độc lập còn là tiếng súng khởi đầu cổ vũ, báo hiệu sự thức tỉnh
của các dân tộc bị áp bức, sự sụp đổ tất yếu không gì cưỡng lại được của chủnghĩa thực dân ở Đông Dương nói riêng và thế giới nói chung
4.2 Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực (giá trị văn học)
* Giá trị nội dung
- Tuyên ngôn Độc lập chan chứa lòng yêu nước và tự hào dân tộc sâu sắc:
+ Bản tuyên ngôn khẳng định, đòi quyền độc lập tự do, dân chủ cho đất nước.+ Là bản cáo trạng đanh thép về tội ác man dợ vô nhân đạo của thực dân Phápngót một thế kỷ áp bức đồng bào ta, đất nước ta
+ Ca ngợi tinh thần nhân ái, đức hòa hiếu của con người Việt Nam
+ Nêu cao ngọn cờ quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc Dù phải hy sinh tất cả tinhthần, lực lượng, tính mạng và của cải cũng nhất định không chịu mất nước, nhấtđịnh không chịu làm nô lệ
- Bản Tuyên ngôn Độc lập của Bác còn là tác phẩm chứa đựng giá trị nhân văn
cao đẹp, không trực tiếp nói về vấn đề nhân quyền nhưng vấn đề nhân quyềnvẫn được đặt ra trong bản tuyên ngôn Ở một đất nước thuộc địa như Việt Nammuốn thực hiện quyền của con người thì trước hết phải giành quyền độc lập dântộc Với nhiệt tình đòi tự do độc lập cho dân tộc Việt Nam, đòi quyền bình đẳngcho các dân tộc trên thế giới, không kể da trắng, da đen hay da vàng là mongước lớn lao của Hồ Chí Minh Hướng tới một xã hội công bằng dân chủ, vănminh Đó là chiều sâu tư tưởng nhân văn cao đẹp của Người
* Giá trị nghệ thuật
- Là áng văn chính luận mẫu mực, cô đọng Mỗi câu, mỗi chữ đều hàm chứa
suy tư, cảm xúc của một con người suốt đời đấu tranh vì độc lập dân tộc và tự
do của con người, của nhân loại
Trang 3- Hệ thống luận cứ, luận chứng chân thực và chính xác, giàu sức thuyết phục,
đa dạng về giọng điệu: đanh thép khi đối thoại với quân thù, mềm mỏng khi đốithoại với thế giới tiến bộ và tha thiết khi nói với đồng bào, đồng chí
- Kết cấu chặt chẽ khoa học mà vẫn linh hoạt, nhịp nhàng, phù hợp với cảm xúc
đó là sự kết hợp tuyệt diệu giữa lý trí sáng suốt với tấm lòng yêu nước nồngnàn
=> Đánh giá:
+ Với những giá trị trên Tuyên ngôn Độc lập được xem là áng văn lập quốc,
áng thiên cổ hùng văn của thế kỷ XX
5 Bố cục
+ Đoạn 1 (từ đầu đến “không ai có thể chối cãi được”): Nêu nguyên lí chung
của bản Tuyên ngôn Độc lập.
+ Đoạn 2: (từ “thế mà” đến “lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà”): Tố cáo tội ác
của thực dân Pháp và khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giànhchính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
+ Đoạn 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độclập, tự do của dân tộc
6 Thể loại: Văn chính luận
- Hồ Chí Minh chọn thể loại này vì văn phong phù hợp với tính chất trangtrọng, trang nghiêm của bản tuyên ngôn
- Văn chính luận của Hồ Chí Minh luôn gắn lí luận với thực tiễn, lập luận chặtchẽ, logic; lí lẽ mạch lạc, bằng chứng xác đáng; giọng văn hùng hồn, giàu tínhluận chiến; chất trí tuệ uyên thâm và giàu cảm xúc, có sức thuyết phục cao
=> Tuyên ngôn Độc lập mang đầy đủ những đặc điểm này của văn chính luận
Hồ Chí Minh
7 Nội dung tác phẩm
7.1 Phần 1: Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn
- Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn từ hai bản tuyên
ngôn của người Pháp và người Mĩ
+ Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có
quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạmđược Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưucầu hạnh phúc”
+ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cách mạng Pháp 1791: “Người ta sinh
ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng
về quyền lợi”
=> Đó là những danh ngôn, là những chân lý lớn của nhân loại “không ai có thểchối cãi được” Đó lại là tư tưởng lớn của chính tổ tiên người Mĩ, người Pháp,không có lý gì người Mĩ người Pháp lại dám phản bội lại tổ tiên của mình
- Hồ Chí Minh đã từng nói “Đối với kẻ địch, chúng ta phải khôn khéo và kiênquyết” Việc trích dẫn danh ngôn của người Mĩ, người Pháp để mở đầu cho
Tuyên ngôn Độc lập của ta là một lập luận vừa kiên quyết vừa khôn khéo Có
Trang 4thể coi đó là sách lược “gậy ông đập lưng ông” rất đích đáng của Hồ Chí Minh
(dùng chính lý lẽ của đối phương để đập lại đối phương)
- Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn còn có ý nghĩa Bác đã đặt ba cuộc cáchmạng của nhân loại ngang bằng nhau, trong đó cách mạng Việt Nam cùng lúc
thực hiện hai nhiệm vụ của người Mĩ và người Pháp Điều này bản Tuyên ngôn Độc lập đã nêu rõ ở phần sau:
+ “Dân tộc ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựngnên nước Việt Nam độc lập” Đó là nhiệm vụ của cách mạng Mĩ
+ “Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủng mấy mươi thế kỷ để lập nên nước ViệtNam dân chủ cộng hòa” Đó là nhiệm vụ của cách mạng Pháp
=> Bác coi ba dân tộc ngang bằng nhau vì vậy bản tuyên ngôn cũng có ý nghĩanhư nhau Như thế niềm tự hào dân tộc được gửi gắm một cách kín đáo
- Từ vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân đặt ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập của người Mĩ, Bác đã suy rộng ra vấn đề quyền dân tộc: “Tất cả các
dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống,quyền sung sướng và quyền tự do”
=> Đây là một đóng góp lớn về tư tưởng của Người đối với phong trào giảiphóng dân tộc trên thế giới sẽ được phát triển mạnh mẽ ở nửa sau của thế kỷXX
7.2 Phần hai: Cơ sở thực tế của bản tuyên ngôn
a Bác đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với đất nước ta thực chất đây cũng là cuộc tranh luận gầm với những luận điệu của bọn thực dân Pháp
* Pháp kể công “khai hóa” thì bản Tuyên ngôn Độc lập đã kể tội chúng:
- Về chính trị:
+ Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào
+ Chúng thi hành những luật pháp dã man, chúng lập ba chế độ khác nhau ởTrung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, ngăn cản dântộc ta đoàn kết
+ Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng giết những người yêu nướcthương nòi của ta
- Về kinh tế:
+ Chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy
+ Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu
+ Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng, nhập cảng
+ Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí
+ Chúng không cho những nhà tư sản ta ngóc đầu lên
+ Chúng bóc lột nhân dân ta một cách vô cùng tàn nhẫn
=> Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp là gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945
đã giết hơn hai triệu đồng bào ta từ Quảng Trị đến Bắc Kì
* Pháp kể công bảo hộ thì bản tuyên ngôn đã lên án chúng “trong 5 năm chúng
đã bán nước ta hai lần cho Nhật”
Trang 5* Thực dân Pháp khẳng định Đông Dương là thuộc địa của chúng thì bản Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ rõ:
- “Sự thật là từ mùa thu 1940 nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không
phải là thuộc địa của Pháp nữa”
- “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tayPháp”
* Pháp nhân danh đồng minh tuyên bố đã thắng Nhật vậy chúng có quyền lấy
lại Đông Dương thì bản Tuyên ngôn Độc lập vạch rõ: chúng là kẻ phản bội đồng minh, đã hai lần dâng Đông Dương cho Nhật, bản Tuyên ngôn Độc lập đã
khẳng định chỉ có việt minh (Việt Nam độc lập đồng minh hội) mới thực sựthuộc phe đồng minh vì đã đứng lên đánh Nhật giải phóng Đông Dương
* Ngoài ra, bản Tuyên ngôn Độc lập còn lên án tội ác dã man và tư cách đê hèn
của bọn thực dân Pháp:
- Khi thua chạy chúng đã nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái vàCao Bằng
- Ngược lại Việt Minh đã tỏ rõ lòng nhân đạo giúp cho nhiều người Pháp chạy
ra biên thùy, cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam của Nhật bảo vệ tínhmạng và tài sản của họ
b Tuyên bố:
- Thoát ly hẳn mọi quan hệ với thực dân Pháp
- Xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam
- Xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam
Bày tỏ: Quyết tâm chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp Bày tỏ niềm tin
với Đồng minh
=> Tất cả những lý lẽ và bằng chứng trên đã dẫn đến kết luận: “Một dân tộc đãgan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan gócđứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay dân tộc đó phải được tựdo! Dân tộc đó phải được độc lập”
7.3 Phần ba: Thể hiện rõ quyết tâm bảo vệ độc lập tự do đã giành được
- Tiếp tục lời tuyên bố và khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do
và độc lập và tuyên bố một cách công khai sự thật là đã thành một nước tự do
và độc lập”
- Người bày tỏ quyết tâm như một lời kêu gọi: “Toàn thể dân tộc Việt Namquyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vữngquyền độc lập và tự do ấy”
8 Nghệ thuật bản tuyên ngôn
* Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực, ngắn gọn, giản dị
mà súc tích, trong sáng mà đanh thép, sắc sảo
- Ngắn gọn, giản dị mà súc tích: thể hiện một nội dung lớn diễn ra trong một
thời gian dài gần một thế kỷ, nhưng tác giả cô đọng lại trong vài ba trang giấy,
từ ngữ mà Bác sử dụng đọc lên là hiểu ngay Đối với những câu dài có cấu trúcphức tạp Bác đã tìm cách diễn đạt thật ngắn gọn, các câu ngắn thì lại giàu ý tứ
Trang 6- Trong sáng: trong sáng được thể hiện ở cách dùng từ, đặt câu tuân thủ các
nguyên tắc, chuẩn mực của tiếng Việt Trong sáng về tư tưởng tình cảm, thái độ
rõ ràng yêu gét phân minh trên lập trường chính nghĩa
- Đanh thép, sắc sảo: thể hiện tính chiến đấu không khoan nhượng, thái độ dứt
khoát, thể hiện bản lĩnh vững vàng, kiên cường Sắc sảo ở trí tuệ, ở lối lập luậnsắc bén
* Bố cục: chặt chẽ sáng rõ, ở mỗi phần đều có luận điểm chính được triển khai
bằng cách lập luận độc đáo, lý lẽ đanh thép, bằng chứng hùng hồn, cách đặt câuhết sức linh hoạt
* Bút pháp: có sự kết hợp hài hòa giữa lý trí và cảm xúc khi viết văn nghị luận.
Là áng văn chính luận mẫu mực, Tuyên ngôn Độc lập thể hiện rõ phong cách
nghệ thuật trong văn chính luận của Bác:
- Lập luận: chặt chẽ, thống nhất từ đầu đến cuối (dựa trên lập trường quyền lợitối cao của các dân tộc)
- Lí lẽ: xuất phát từ tình yêu công lí, thái độ tôn trọng sự thật, dựa vào lẽ phải vàchính nghĩa của dân tộc
- Dẫn chứng: xác thực, lấy ra từ sự thật lịch sử
- Ngôn ngữ: đanh thép, hùng hồn, chan chứa tình cảm, cách xưng hô bộc lộtình cảm gần gũi
- Tình cảm: Lòng yêu nước thương dân nồng nàn, sâu sắc
=> Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh vừa có giá trị lịch sử lớn lao, vừa xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn” trong thời đại ngày nay.
BÀI 2: TÂY TIẾN
Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
…Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
A Mở bài
* Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:
- Quang Dũng là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiệnđại Việt Nam thời chống Pháp (1946- 1954) - Ông là người nghệ sĩ đa tài: ông
vẽ tranh, sáng tác nhạc, viết văn làm thơ nhưng người đọc biết đên nhiều hơn vềQuang Dũng với tư cách một nhà thơ xứ Đoài lãng mạn tài hoa “Tây Tiến” làbài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Quang Dũng
1 Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1948 Quang Dũng đi dự đại hội toàn chiến sĩ thi
đua toàn quân tại Phù Lưu Chanh, nhớ về đồng đội ông đã viết bài thơ này Bài
Trang 7thơ lúc đầu có nhan đề là "Nhớ Tây Tiến" Sau đởi lại là "Tây Tiến" in trong tập
"Mây đầu ô".
- Nội dung chính: Bài thơ được cấu trúc theo diễn biến tự nhiên của nỗi nhớ.
Nhớ về Tây Tiến, nhà thơ Quang Dũng nhớ về thiên nhiên miền Tây Bắc vớinhững vùng đất mình đã đi qua trên những con đường hành quân gian khổ, nhớ
về sông nước miền Tây và những kỉ niệm đẹp đẽ của đời chiến binh, rồi từ đómới nhớ về người lính Tây Tiến - những đồng chí, đồng đội của một thời
2 Dẫn dắt:
- Vị trí và nội dung đoạn thơ này: Đoạn thơ mở đầu của bài thơ là nỗi nhớ
của tác giả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ, vừa mĩ lệ; hình ảnhngười lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ mang vẻ đẹp lãngmạn, bi tráng
3 Phân tích
a Hai câu thơ đầu: Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời
gian và không gian
- Nỗi nhớ bật lên thành tiếng gọi: Có thể nói cả bài thơ là nỗi nhớ trải dài, nỗinhớ có khi lắng xuống tầng sâu trong tâm hồn nhưng cũng có khi bật lên thànhtiếng gọi tha thiết:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
- Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi
+ Sông Mã: là con sông từ thượng Lào chảy vào đất Việt Dòng sông ấy
đã gắn bó với đoàn quân Tây Tiến, chứng kiến những vui, buồn trong cuộc đờingười lính chiến binh Vì thế, Quang Dũng nhớ về đoàn quân Tây Tiến nhà thơcòn nhớ về dòng sông Mã thân thuộc, hơn thế nữa có thể đây còn là dòng sôngtâm trạng, dòng sông chở nặng cảm xúc, nỗi niềm đầy vơi trong lòng thi nhân
+ Rừng núi: là hình ảnh khái quát về địa bàn hoạt động của người línhTây Tiến Đó là nơi rừng núi hoang vu, rậm rạp, địa hình hiểm trở,
+ Tây Tiến: là một đơn vị thành lập đầu năm 1947, Quang Dũng có mặttại đơn vị ngay từ những ngày đầu mới thành lập nên nhà thơ có sự gắn bó sâusắc với đồng đội của mình
- Nỗi nhớ của tác giả được thể hiện sâu sắc:
+ Câu thơ như một tiếng thở dài: Sông Mã xa rồi, lại cũng như một tiếng
gọi: Tây Tiến ơi! Nỗi nhớ có cái gì đó khắc khoải, thể hiện sự tiếc nuối, trạng
thái hụt hẫng cùng với khát vọng trở về quá khứ thân thương mà hào hùng thuởnào, đó là sông Mã, là Tây Tiến
+ Điệp từ nhớ: diễn tả nỗi nhớ cháy bỏng, không nguôi cứ tuôn chảy dào
dạt trong lòng thi nhân, nhớ đến thổn thức, bồi hồi Hai từ nhớ được đặt trongcùng một câu thơ nhưng lại tách ra làm hai vế khiến cho nỗi nhớ như được tôđậm thêm cảm xúc Nỗi nhớ dào dạt như những lớp sóng dâng trào mãnh liệt
trong lòng thi nhân: Nhớ về rừng núi/ nhớ chơi vơi.
Trang 8+ Nỗi nhớ của nhà thơ thật điển hình, đặc sắc: nhớ chơi vơi Hai từ chơi vơi là
hai từ giàu sức gợi, từng được dùng để diễn tả tâm trạng của con người Vănhọc viết về nỗi nhớ rất phong phú:
Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.
Nỗi nhớ của Quang Dũng thật khó định hình, định lượng, khó diễn tả,như gợi ra được cả sự xa xôi về thời gian, không gian, nỗi nhớ như có cả tầmcao, bồng bềnh lan tỏa, không sao đong đếm được
+ Nỗi nhớ da diết, cháy bỏng, vang vọng: Quang Dũng sử dụng hai chữ
chơi vơi kết hợp với sự láy lại ba lần của âm ơi (ơi, chơi vơi), đây là ba âm mở
có kết cấu thanh bằng mang âm hưởng vang vọng lan tỏa khiến cho nỗi nhớnhư được ngân lên, nhớ đến thiết tha, thường trực trong tâm hồn nhà thơ, cảkhông gian dường như cũng ngập tràn trong nỗi nhớ của tác giả
b Sáu câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, thơ mộng trên chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến
* Dẫn dắt:
Nỗi nhớ dắt nẻo nhà thơ trở về với những kỉ niệm khó quên gắn với thiênnhiên miền Tây, làm hiện lên một không gian, cảnh vật miền Tây dữ dội, hiểmtrở mà hùng vĩ song cũng thật nên thơ, thi vị
* Nỗi nhớ gắn với những địa danh khó quên:
- Trong nỗi nhớ của Quang Dũng có nhiều địa danh xuất hiện như: Sài Khao,Mường Lát, những địa danh này vừa mang ý nghĩa cụ thể, vừa mang ý nghĩatượng trưng khái quát
- Đây là những địa danh, tên những vùng đất mà người lính Tây Tiến đi qua,từng gắn bó Dường như chỉ cần nhắc lại những địa danh ấy thôi là biết bao kỉniệm của quá khứ lại ào ạt chảy về trong tâm trí nhà thơ
- Mặt khác, những địa danh này còn mang ý nghĩa khái quát, nó tượng trưngcho một không gian rất riêng của Tây Bắc xa xôi, lạ lẫm, hoang dã, bí ẩn
=> Những địa danh được nhà thơ nhắc đến không phải là những địa danh vônghĩa trên bản đồ mà đoàn quân Tây Tiến một thời đã đi qua mà nó đã tái hiệnlại một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc với biết bao khó khăn, gian khổ:
Những tên làng, tên núi, tên sông Những cái tên đọc lên nghe muốn khóc.
* Bức tranh thiên nhiên vừa hiện thực, vừa lãng mạn:
- Hiện thực: núi rừng Tây Bắc hiện ra trong mờ ảo khói sương, sương dày như
muốn che lấp cả đoàn quân mỏi Hai chữ sương lấp cùng chữ mỏi đưa người
đọc trở về với cuộc sống hiện thực khốc liệt của người lính Sương núi lạnh giácắt da, cắt thịt như muốn nhấn chìm đoàn quân
- Lãng mạn: tác giả viết hoa về chứ không phải là hoa nở, đêm hơi chứ không phải là đêm sương khiến cho câu thơ thêm phần lãng mạn Sương núi bồng bềnh trong đêm tạo nên sự huyền ảo, mơ hồ Đặc biệt hơn nữa là hình ảnh hoa
về đã đem đến cho người đọc nhiều suy ngẫm, có thể hiểu trong sự cảm nhận
Trang 9lãng mạn của người lính thì sương khói ở Mường Lát lúc tụ vào, lúc tan ratrông như những bông hoa khói vậy Cũng có thể, những người lính Tây Tiếntrên đường hành quân trở về Mường Lát họ mang theo những đóa hoa rừng ngáthương thơm, hoa đang cùng bung nở trên chặng đường hành quân của ngườilính Tây Tiến, là người bạn đồng hành của người lính Đây là những bông hoathực, hoa hiện ra mờ ảo trong sương khói bồng bềnh Một trong những ý nghĩa
mà ta không thể phủ nhận được là do hành quân trong đêm, đường lại nhiềuđèo, lắm dốc, khúc khuỷu, gập ghềnh đầy hiểm nguy nên những người lính TâyTiến đã phải đốt đuốc trong đêm Những ngọn đuốc soi sáng bước đường hànhquân gian khổ ấy, đẹp lung linh như bông hoa giữa khói sương mờ ảo?
=> Dù hiểu theo cách nào, người đọc vẫn cảm nhận được những khó khăn, giankhổ mà người lính Tây Tiến đã phải trải qua để ta hiểu về hiện thực khốc liệtcủa chiến tranh để thêm cảm phục, thêm yêu vẻ đẹp tâm hồn của những ngườilính trẻ mộng mơ Những hình ảnh ấy khiến cho đoạn thơ bớt đi sự dữ dằn củahiện thực, người đọc có cảm giác như được xoa dịu, vơi đi những nhọc nhằn,vất vả mà người lính Tây Tiến phải chịu đựng
=> Trong hai câu thơ trên, tác giả vừa sử dụng hình ảnh gân guốc, vừa sử dụnghình ảnh thơ mộng, đẹp đẽ kết hợp với nghệ thuật tiểu đối đã làm nổi bật hai vẻđẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa dữ dội, vừa nên thơ, đồng thời cũng làm nổibật hai khía cạnh trong cuộc đời chiến đấu của người lính Tây Tiến vừa giankhổ, vừa lãng mạn, yêu đời
* Chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
- Tác giả sử dụng từ láy có giá trị tạo hình cao:
Trong hai câu thơ đầu, Quang Dũng sử dụng những từ láy (khúc kkuỷu, thămthẳm, heo hút) đạt giá trị biểu cảm cao, chúng lại được đặt liên tiếp nhau để đặc
tả sự gian nan trùng điệp
+ Dốc khúc khuỷu vì đường đi là núi đèo hiểm trở, gập ghềnh, vừa lên cao
đã vội đổ dốc, cứ thế gấp khúc nối tiếp nhau -> độ cao ngất trời
+ Dốc thăm thẳm: không chỉ đo chiều cao mà còn là ấn tượng về độ sâu,
cảm giác như hút tầm mắt người, không biết đầu là giới hạn cuối cùng -> Độsâu hun hút
+ Điệp từ dốc được nhắc đến liên tiếp hai lần trong một câu thơ, tách ra ở
hai vế gợi ra một địa hình hiểm trở chỉ có dốc là dốc cao và sâu Người đọc cócảm giác người lính vừa vượt qua con dốc này lại thấy hiện ra những con dốckhác ngay trước mặt mình
+ Heo hút cồn mây: heo hút gợi ra sự vắng vẻ, hiu quạnh, nghệ thuật đảo
ngữ càng nhấn mạnh điều đó Cồn mây là mây tụ lại, xếp tầng, hình ảnh thơ gợi
ra vị trí của người lính Tây Tiến đứng trong mây, trên đỉnh núi cao vời vợi Như
Trang 10vậy, dẫu câu thơ không nhắc đến sự khó khăn nhưng người đọc vẫn hình dung
ra chặng đường hành quân leo dốc, vượt đèo mà người lính phải trải qua
=> Quang Dũng đã mở ra không gian ba chiều khiến hình ảnh thơ được chạmnổi thành một bức phù điêu hùng vĩ về núi rừng Tây Bắc khiến người đọc liêntưởng đến chặng đường hành quân của người chinh phu trong Chinh phụ ngâmcủa Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm:
Hình khe thế núi gần xa Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
- Nghệ thuật nhân hóa: Súng ngửi trời
+ Trước hết, đây là một hình ảnh xuất phát từ cảm xúc trước hiện thực,những người lính Tây Tiến hành quân trong mây mà tưởng như nòng súngchạm tới đỉnh trời
+ Đây là một hình ảnh đẹp, lạ và táo bạo làm rõ vẻ đẹp hào hùng, hào hoacủa người lính Tây Tiến
Hào hoa, lãng mạn: Tác giả không nói súng chạm trời mà là súng ngửitrời Hình ảnh thơ mang nhiều ý nghĩa biểu tượng giúp người đọc phát hiện ra
vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, lãng mạn của người lính Tây Tiến Tác giả sử dụngnghệ thuật nhân hóa khiến cho những vật vô tri, vô giác cũng trở nên có linhhồn sống động hơn Người lính đang tếu táo, đùa vui trêu ghẹo cả tạo hóa Câuthơ khiến người đọc liên tưởng đến hình ảnh thơ mộng trong bài thơ Đồng chícủa Chính Hữu: Đầu súng trăng treo, tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, lạc quan củangười lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
Hào hùng: Quang Dũng không nói đến người lính mà ta vẫn thấy ngườilính, không nói núi cao mà ta vẫn thấy núi rất cao Chữ ngửi vẽ ra hình ảnhngười lính đang ở tư thế chót vót trên đỉnh núi, đi giữa ngàn mây, nòng súngđang chạm vào vòm trời Điều đó cho thấy sự hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc
và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến Vẻ đẹp của con người trong tư thế sánhngang trời đất, làm chủ hoàn cảnh Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến được tỏasáng giữa đất trời Tây Bắc mang vẻ đẹp sử thi của văn học giai đoạn 1945 -
1975 Đó là vẻ đẹp tiêu biểu của người lính trong văn học chống Pháp:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo.(Lên Tây Bắc - Tố Hữu)
- Nghệ thuật đối lập: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.
Thiên nhiên Tây Bắc dường như luôn luôn có ý định thử thách lòng người.Tác giả sử dụng nghệ thuật đối lập cùng cách ngắt nhịp 4/3, kết hợp với điệp từngàn thước với hai động từ chỉ hướng lên, xuống khiến cho câu thơ như bị bẻgãy làm đôi để miêu tả hai chiều không gian Tây Bắc vừa có độ cao chót vót,vừa có độ sâu thăm thẳm Dốc đột ngột vút lên thẳng đứng rồi lại đột ngột gãygập đổ xuống một cách bất ngờ, nguy hiểm
Trang 11- Tác giả sử dụng tài hoa thanh trắc kết hợp với thanh bằng:
+ Thanh trắc được sử dụng với mật độ dày đặc (liên tiếp ở ba câu thơ:Dốc lên khúc khuỷu ngàn thước xuống) đã vẽ nên những đường nét gân guốc,rắn rỏi về địa hình vùng cao Tây Bắc hiểm trở, đó cũng là chặng đường hànhquân vô cùng gian nan mà người lính Tây Tiến phải trải qua
+ Thanh bằng được sử dụng nguyên văn trong một câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi đã tạo cho câu thơ những nét vẽ dịu mát Không gian được
cảm nhận qua điểm nhìn của người lính Tây Tiến khi người lính hành quân lênđến đỉnh núi phóng tầm mắt ra xa, dưới kia là những ngôi nhà bồng bềnh trongbiển mưa Người đọc không còn thấy dấu vết của sự mệt mỏi bởi phải vượtrừng, leo núi nữa, bây giờ là tâm trạng bâng khuâng, thư thái của con người khivượt lên đến đỉnh dốc, vượt qua biết bao gian lao, vất vả, thử thách để có được
cảm giác Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non (Hồ Chí Minh)
=> Nhận xét: Bốn câu thơ có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh điệu, quả đúngQuang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông có tài không chỉ về thơ ca mà còn cả âmnhạc và hội họa nữa Những câu thơ này thật xứng đáng là lời thơ Thi trung hữuhọa, thi trung hữu nhạc Phải chăng vì thế mà Xuân Diệu cho rằng: Đọc thơ củaQuang Dũng như ngậm nhạc ở trong miệng Trong những câu thơ này, QuangDũng còn sử dụng nghệ thuật của thơ Đường vẽ mây nảy trăng khi nhà thơ tảcảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội để làm nổi bật lên hình ảnhngười lính Tây Tiến trên bước đường hành quân và chiến đấu đầy gian khổ, vất
vả, hi sinh nhưng vẫn lạc quan hồn nhiên yêu đời, lãng mạn
c Sáu câu thơ cuối: Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ mang vẻ đẹp bi tráng (vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn)
- Hiện thực trên bước đường hành quân của người lính Tây Tiến:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục trên súng mũ bỏ quên đời!
+ Hai chữ anh bạn chứa đựng những tình cảm gắn bó giữa những người
bạn thân thiết, giữa những đồng chí, đây là cách nói thân thuộc, gần gũi
+ Hiện thực bi tráng được diễn tả qua những từ ngữ: Dãi dầu, gục Đó là
những vất vả, gian lao mà người lính Tây Tiến phải trải qua trên chặng đường
hành quân gian khổ và quá trình chiến đấu với quân thù Đặc biệt là chữ gục có
nhiều cách hiểu: Có thể đó là sự mệt mỏi khiến người lính ngủ gục trên súng
mũ như muốn quên đi tất cả, có thể đây là cách nói giảm, nói tránh diễn tả sự hisinh của người lính vì Tổ quốc
- Vẻ đẹp bi tráng của người lính: Quang Dũng vẫn tiếp tục sử dụng cách nóigiảm, nói tránh khi viết về vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến qua các cụm
từ: không bước nữa, bỏ quên đời Chiến đấu và hi sinh đó là hiện thực khốc liệt
của chiến tranh Nhà thơ Quang Dũng đã không ngần ngại nói đến cái chết mặc
dù câu thơ không có từ nào nói đến cái chết Hiệu quả của nghệ thuật nói giảmnói tránh vừa gợi được tình thương, vừa gợi đựơc sự bình thản chứ không bi
lụy Tác giả không viết là ngủ quên đời mà là bỏ quên đời thì mới thật ngang
Trang 12tàng, bất cần.Với cách nói này câu thơ có bi mà không có lụy, ngược lại hết sứchùng tráng gợi ra chất phong trần, ngang tàng của người lính mang vẻ đẹp củanhững tráng sĩ thuở xưa Người tráng sĩ xưa mang lí tưởng anh hùng, quyết ra
đi lập nên sự nghiệp lớn Chí lớn chưa thành thì không bao giờ nói trở lại Họsẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, quê hương, coi cái chết thật nhẹ nhàng
- Thiên nhiên Tây Bắc bí hiểm, hoang dại luôn rình rập người lính:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
+ Thiên nhiên hoang dã, dữ dội được miêu tả trong tiếng gầm thét củathác, bóng dáng của cọp trêu người
+ Địa danh Mường Hịch: Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng địa danhMường Hịch đọc có cảm giác như tiếng chân cọp đi trong đêm khuya Hai chữHịch, cọp với hai dấu nặng trĩu xuống nghe rờn rợn Câu thơ nói đủ sự khốc liệtcủa chiến trường người lính Hai dấu chấm nặng như xoáy vào lòng đất gợi cảmgiác ghê sợ, hãi hùng
+ Sử dụng từ láy và điệp từ: Chiều chiều, đêm đêm gợi cho người đọc ấntượng mạnh mẽ về thời gian diễn ra triền miên nơi rừng thiêng thác sâu, cọp dữ,nơi ấy luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với người lính Tây Tiến Sự nguyhiểm ấy thường diễn ra vào lúc chiều tối, đêm sâu và thường xuyên, liên tụckhông phải là một chiều, một đêm mà chiều nào cũng thế, đêm nào cũng thế.Như vậy, người lính Tây Tiến không chỉ bị ngã xuống trước họng súng của kẻthù mà còn có thể bị ngã xuống bởi rừng thiêng, thác hiểm
- Tình quân dân thắm thiết:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
+ Một lần nữa nỗi nhớ lại bật lên thành lời, tác giả đã thốt lên Nhớ ôi Hai
từ này mang giọng điệu cảm thán bộc lộ nỗi nhớ nhung trào dâng mãnh liệt.Câu thơ có ba thanh trắc ngắt quãng đều đặn tạo nên âm điệu câu thơ vút lênđẩy nỗi nhớ nhung lên cung bậc cao nhất
+ Tác giả nhớ về: Mai Châu, bữa xôi sốt dẻo ấm áp tình quân dân Câuthơ có hai cách hiểu
Cách thứ nhất là cách định danh thời gian của tác giả: Có thể hiểu ngườilính Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín đón nhận bát xôi hươngnếp đầu mùa Đặc biệt có bàn tay thơm thảo của em làm nên hương vị nồng ấm
ấy làm vấn vương lòng người chiến sĩ Tây Tiến Hương nếp thơm hay đó chính
là sự thơm thảo của lòng người, của tình em nồng ấm? Điều này trong bài thơTiếng hát con tàu của Chế Lan Viên đã từng viết:
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương.
Cách hiểu thứ hai đầy lãng mạn: Hai chữ mùa em là một sáng tạo ngônngữ tài hoa của tác giả gợi đầy tình thương và nỗi nhớ, trìu mến và thân thương.Chữ mùa gợi sự đầy đủ, ăm ắp sự sống, mang hương vị của đồng nội, còn chữ
Trang 13em gợi vẻ đẹp xuân sắc của người thiếu nữ Hai từ mùa em đã gợi tả tinh tế cảmgiác xao xuyến, say mê của các chàng trai Hà Thành hào hoa, lãng mạn trướcsản vật và con người Tây Bắc.
=> Có lẽ khi viết những câu thơ này, Quang Dũng còn giữ nguyên ấn tượng hồihộp, xúc động khi được đón nhận tình cảm quân dân nồng ấm Trong nhữngnăm tháng chiến đấu gian khổ ấy, tình quân dân đã làm vơi đi những khó khăn
mà người lính phải trải qua Đây sẽ mãi mãi là những kỉ niệm đẹp đẽ làm ấmlòng người lính trên chặng đường hành quân gian lao, đầy thử thách
- Nghệ thuật: Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng lãng mạn, tàihoa ở cách xây dựng hình ảnh, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, nghệthuật tương phản, nhân hóa, cách sử dụng từ ngữ, thể thơ thất ngôn trườngthiên
IV Đánh giá chung
- Đoạn thơ chỉ là khúc nhạc dạo đầu của nỗi nhớ chảy dọc mạch thơ Tây Tiếnsong cũng đã ghi lại những vẻ đẹp riêng của thiên nhiên, cuộc sống, nhất là vẻđẹp của người lính Tây Tiến
- Nỗi nhớ mà Quang Dũng gửi trong đoạn thơ, bài thơ cũng là nỗi nhớ chungcủa những ai từng đi qua vùng đất miền Tây, từng trải qua những năm thángchiến đấu đầy gian lao của cuộc kháng chiến chống Pháp Sự gắn bó của nhàthơ với thiên nhiên, con người nơi ấy là biểu hiện của tấm lòng gắn bó với quêhương, đất nước Đó chính là tình cảm yêu nước cao đẹp trong thơ ca cáchmạng Việt Nam
C Kết bài
Đoạn thơ đã khắc họa một cách sống động về thiên nhiên núi rừng TâyBắc vừa hùng vĩ, vừa mĩ lệ; hình ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đườnghành quân gian khổ mang vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng
=> Đoạn thơ xứng đáng là một trong những đoạn thơ hay nhất viết về hình ảnhngười lính trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Đề 3: Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau:
Doang trại bừng lên hội đuốc hoa
… Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
I Mở bài
- Quang Dũng là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiệnđại Việt Nam thời chống Pháp (1946- 1954) - Quang Dũng là một nghệ sĩ đatài, ông vẽ tranh, sáng tác nhạc, viết văn , làm thơ nhưng người đọc nhớ nhiều
về Quang Dũng với tư cách một nhà thơ xứ Đoài lãng mạn Trong thế giới nghệthuật thơ Quang Dũng có một cái tôi hào hoa lãng mạn có khả năng diễn tả mộtcách tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên con người quê hương đất nước
- "Tây tiến" là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Quang Dũng Qua thi phẩm, QuangDũng đã khắc họa được cảnh thiên nhiên và con người Tây Bắc đặc biệt là đoạnthơ sau:
Trang 14Doang trại bừng lên hội đuốc hoa
… Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
I Thân bài
1 Khái quát đoạn thơ: Hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính (như đề 2)
2 Dẫn dắt
- Vị trí: Là khổ thơ thứ hai của bài thơ
- Nội dung đoạn thơ trước: Trước đó với 14 câu thơ đầu Quang Dũng đã khắc
họa bức tranh thiên nhiên tây Bắc với vẻ đẹp hung vĩ dữ dội thoáng đôi nétmộng mơ huyền ảo và hình nảh người lính Tây Tiến với vẻ đẹp lãng mạn trêncon đường hành quân
- Nội dung đoạn thơ này: Dường như hai câu thơ cuối của khổ thơ mở đầu
"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói- Mai Châu mùa em thơm nếp xôi": đã hé mởmạch cảm xúc tràn đầy thương nhớ tới tình quân dân thắm thiết để bước sangkhổ thơ thứ hai đã mở ra một dáng vẻ khác của núi rừng Tây Bắc mang vẻ đẹptài hoa mỹ lệ thể hiện qua đêm liên hoan đốt lửa trại và khung cảnh miền Tâythơ mộng
3 Phân tích
a Bốn câu thơ đầu: Đêm liên hoan lửa trại thắm thiết tình quân dân
- Trên chặng đường hành quân gian khổ người lính nghỉ chân ở bản làng củanhững đồng bào dân tộc đời sống tinh thần của họ được gửi gắm vào nhữngđêm lien hoan văn nghệ có đồng bào địa phương đến góp vui Đó là thế giới
tràn ngập ánh sáng, vũ điệu, âm thanh: Doạnh trại bừng lên hội đuốc hoa
+Hai chữ "doanh trại" chỉ là sự hoành tráng hóa cái nhìn của Quang Dũngnâng hiện thực giản dị thành cái lớn lao vững mạnh gợi một không khí uynghiêm hào hùng trong những ngày tháng gian khổ Bởi lẽ những người línhtrong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp sinh hoạt rất thiếu thốnlàm sao có thể có những doanh trại được Nhà thơ Nguyên Hồng cũng đã từngviết:
Chúng tôi đi Sờn mép ba lô Tháng năm bạn cùng thôn xóm
… Chúng tôi đi mang đời lưu động Nghỉ lại rất nhiều nơi không nhớ hết tên nhà
+ Đi cùng với hình ảnh doanh trại là "hội đuốc hoa" Nghĩa gốc của chữ
"đuốc hoa" là ngọn đèn thắp trong đêm tân hôn Quang Dũng đã sáng tạo thànhhội đuốc hoa H/ả này thật lãng mạn tạo nên một màu sắc vừa cổ kính vừa hiệnđại vừa thiêng liêng Nhà thơ đã lấy sự đằm thắm trong tình yêu lứa đôi để ngợi
ca sự đằm thắm trong tình nghĩa quân dân cá nước Đây là cảm xúc thường gặptrong thơ ca cách mạng Ở bài Việt Bắc khi nhớ về quê hương cách mạng TốHữu cũng đã từng viết:
Trang 15Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lung nương
Chữ "bừng" trong câu thơ đầu tiên diễn tả ánh sáng của những ngọn đuốc đẩylùi bóng tối của núi rừng Mặt khác còn diễn tả niềm vui đó là âm thanh củatiếng cười tiếng hát vang lên tưng bừng rộn rã
- Câu thơ thứ hai khắc họa vẻ đẹp của con người: Kìa em xiêm áo tự bao giờ
+ Hai chữ “ kìa em” diễn tả sự vui sướng ngạc nhiên đó là tiếng reo vuikhi bắt gặp nét đẹp thi vị của cuộc sống
Câu thơ có hai cách hiểu:
./ Theo nhà thơ Trần Lê Văn: Cô em mà QD nhắc tới ở đây không phải là
ai khác mà đó chính là những người lính Tây Tiến họ hóa trang làm những côgái để diến kịch Đây là nét dí dỏm tinh nghịch của những người lính Tây Tiến
./ Theo ngôn từ diễn đạt trong câu thơ thì em có thể hiểu là những cô gáimiền sơn cước
./ Dẫu hiểu theo cách nào thì cũng thấy nét thi vị của cuộc sống đờithường giữa bối cảnh chiến tranh khôc liệt Dường như những hình ảnh tười tắntrẻ trung của con người đã xua tan cái khắc nghiệt trên chặng đượng hành quâncủa người lính
- Câu thơ thứ 3 gợi vẻ đẹp âm thanh và vũ điệu: Khèn lên man điệu nàng e ấp
Người lính Tây Tiến trong đêm liên hoan đắm mình mơ màng trong tiếng khènvới những mạn điệu khèn lá loại nhạc cụ độc đáo của vùng núi cao Tây Bắc.Nhà thơ diễn tả tiếng khèn bằng hai từ "man điệu" vừa gợi tả âm thanh vừa gợi
tả vũ điệu mang đậm màu sắc của núi rừng Tây Bắc
- Câu thơ thú tư có sự lưu giữ kỉ niệm: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Câu thơ có 7 chữ thì có tơi 6 thanh bằng tiếng nhạc thơ vang lên nhẹnhàng diễn tả tâm hồn người lính bay bổng phiêu du tới những vùng đất xa xôiđến tận Viên Chăn – thủ đô của nước bạn Lào hướng về một ngày mai thanhbình vang trong khúc hát khải hoàn
Tóm lại, chỉ với 4 câu thơ QD dã thể hiện tâm hồn lãng mạn của ngườilính Tây Tiến khi được sống trong tình quân dân thắm thiết Có thể nói đây làmột xúc cảm thường gặp trong thơ ca cách mạng Hoàng Trung Thông có viết:
Các anh về Xôn xao làng bé nhỏ Nhà lá đơn sơ
Tấm lòng rộng mở
Có điều QD đã lây cái lãng mạn hào hoa, lấy sự mặn nồng của tình yêulứa đôi nhiệt huyết của tuổi trẻ để tô đậm tình quân dân Vì thế thơ QD mang vẻđẹp riêng đầy xúc cảm
- Chỉ với 4 câu thơ nhưng QD đã vẽ được bức tranh vừa phong phú về màu sắcvừa đa dạng về âm thanh Điều này cho thấy sự nhay cảm của QD với vẻ đẹpthi vị khác thường của con người văn hóa vùng cao Tây Bắc Đồng thời chothấy sự lạc quan yêu đời của người lính Tây Tiến
Trang 16b Bốn câu thơ sau: Bức tranh Châu Mộc mĩ lệ huyền ảo
- Với người lính Tây Tiến mỗi vùng đất đi qua thấm đẫm bao kỉ niệm Nỗi nhơ
đã gợi về miền đất Châu Mộc Châu Mộc là một địa danh ở Sơn La nơi có cánhđồng cỏ bát ngát mênh mông, có dãy núi Pha Luông cao ngất trời Quang Dungcũng như người lính Tây Tiến đã từng gắn bó với miền đất Châu Mộc Nămtháng trôi qua cảnh và người nơi miền đất ấy trở thành nỗi nhớ da diết
- Vẻ đẹp của bức tranh thơ được QD vẽ bằng những nét điển hình:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
+Từ "người" được QD sử dụng rất tài tình ở đây nó mang nghĩa vừa cụthể vừa phiếm chỉ, vừa là tác giả vừa là đồng đội những người đồng đội đã từngsống chết có nhau ở binh đoàn Tây tiến
+ Từ "ấy" không xác định được thời gian nhưng lại gợi về thời khắc khóquên một đi không trở lại trong nỗi nhớ đầy vơi của Quang Dũng
+ Thời gian của bức tranh thơ là một buổi chiều sương giăng mắc, khôngkhí huyền thoại khiến cho con người và cảnh vật mờ đi hư ảo như một bứctranh thủy mặc cổ điển khiến cho người đọc nhớ đến tứ thơ cũng rất thi vị củaChế Lan Viên trong "Tiếng hát con tàu":
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương.
Không gian của bức tranh thơ là cảnh song nước mênh mông với bến bờhoang dại nguyên thủy đượm màu cổ tích
+Trên nền không gian và thời gian ấy là hình ảnh "hồn lau nẻo bến bờ"
hình ảnh hoa lau gợi nét đặc trưng của thiên nhiên vùng cao hoa lau mọc khắpđồi rung vách đá
- Bằng nghệ thuật nhân hóa "hồn lau" QD đã diễn tả được thần thái của cảnhvật thiên nhiên Tây Bắc như có linh hồn phảng phất trong gió trong mây trởthành kí ức không thể phai nhòa của người lính Tây Tiến
- Trong dòng hoài niệm da diết thi nhân nhớ về dáng người mờ xa trên thuyềnđộc mộc
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
+ Độc mộc là loại thuyền dài và hẹp làm bằng than của một cây gỗ tokhoét thủng thích hợp với vùng núi cao Hình ảnh dáng người trên độc mộc cóthể hiểu là người lính Tây Tiến nhưng cũng có thể hiểu là hình ảnh những conngười Tây Bắc, những người thiếu nữ Tây Bắc dân tộc Thái, Mường…với vẻđẹp mềm mại duyên dáng mà cũng rất đỗi khỏe khoắn
+ Câu thơ “ trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” là một câu thơ đa nghĩa
./ Nghĩa thực: Những bông hoa rừng như muốn làm duyên bên dòng nướclũ
./ Nghĩa ẩn dụ: Hình ảnh thơ có sự hô ứng với câu thơ trước dáng ngườitrên độc mộc như những bông hoa đong đưa trên dòng nước lũ
Trang 17+ Nhà thơ dung hai chữ “ đong đưa” chứ không phải dung đưa” vì nếu
"đung đưa" chỉ lả đơn thuần chuyển động đưa đi đưa lại mang tính chất vật lí
còn "đung đưa" vừa tả cảnh vừa tả tình bông hoa trở thành một sinh thể duyêndáng và rất đa tình Chữ “ trôi” gợi sự nhẹ nhành thanh thoát Thiên nhiên vàcon người gần gũi, hài hòa và sống động
Câu thơ trên xuất hiện hai câu hỏi tu từ người đi "có thấy", "có nhớ" hỏi
mà không đợi câu trả lời bởi đó là dòng độc thoại nội tâm của tác giả đang chìmđắm trong nỗi nhớ thương da diết
- Đoạn thơ không chỉ có sự kết hợp giữa chất chất thơ và chất họa mà còn có cảchất nhạc- nhạc điệu được cất lên từ một tâm hồn say đắm với cảnh và ngườimiền Tây dung như nhận xét của Xuân Diệu "Đọc bài thơ Tây Tiến ta có cảmgiác như ngậm nhạc trong miệng"
thơ này Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào thế
giới của cái đẹp, của cõi mơ, của cõi nhạc.
III Kết luận
Đoạn thơ như một bức tranh thủy mặc với những nét vẽ chấm phá tinh tế mềmmại tài hoa đã truyền tải được cái hồn của cảnh vật và con người Tây Bắc Bằngmột cảm hứng lãng mạn QD đã khắc họa được vẻ đẹp duyên dáng thơ mộngcủa \ đất và người Tây Bắc, từ đó thể hiện được phong cách lãng mạn tài hoacủa hồn thơ QD
Đề 4: Phân tích (cảm nhận) đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
… Sông Mã gầm lên khúc độc hành
I.Mở bài: (Xem lại đề 2)
II Thân bài
1 Khái quát chung: Hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính (như đề 2)
2 Dẫn dắt
- Vị trí: - Khổ thơ được phân tích là khổ thơ thứ 3 của bài thơ "Tây Tiến"
Trang 18- Nội dung đoạn thơ trước: Trước đó hai khổ đầu của đoạn thơ đã tái hiện
bức tranh Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội thơ mộng huyền ảo cùng hình ảnh con người
Tây Bắc duyên dáng tài hoa "Người đi…đong đưa"
- Nội dung đoạn thơ này: Đến 8 câu thơ này có kết cấu thật lạ 4 câu thơ đầu
nói về cõi sống còn 4 câu sau nói về cõi chết của người lính Cảm hứng lãngmạn và chất bi tráng làm cho cả chuyện sống và chết cũng trở nên độc đáo khácthường từ đó QD khắc họa thành công bức tượng đài người lính Tây tiến
3 Phân tích đoạn thơ
a Ngoại hình bi hùng của người lính Tây tiến
- Bút pháp bi tráng của QD không né tránh cái bi thương mà nhìn thẳng vàonhững gian khổ hi sinh của người lính bằng nét bút rất lạ
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
- Ở phần đầu bài thơ QD đã dung hai từ "đoàn quân": "Sài Khao sương lấp đoànquân mỏi" đến đây QD chuyển thành "đoàn binh" Hai chữ "đoàn binh" kết hợpvới nghệ thuật đảo cấu trúc cú pháp đưa hai chữ "Tây tiến" lên đầu dòng thơtạo nên một giọng điệu khỏe khoắn gợi khí thế xung trận mạnh mẽ
- Hình ảnh những cơn sốt rét rừng được nói đến khá nhiều trong thơ ca khángchiến chống Pháp với những giọng điệu đa dạng
+ TH nói về anh vệ quốc quân – giọng thơ thương mến
Giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ Anh vệ quốc quân ơi Sao mà yêu đến thế(cá nước)
+ Chính hữu cũng nói về sốt rét bằng giọng thơ mộc mạc :
Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi”
+ QD nói về sốt rét nhưng với giọng thơ khác dữ dội hơn với hai chi tiết
"Không mọc tóc, xanh màu lá" chỉ cái khốc liệt Người lính bị những cơn sốt rét
rừng làm cho xanh mặt, trọc đầu hình ảnh đoàn quân hiện lên kì dị
- Nếu cái bi là một sự thật thì cái "tráng" cái "hùng" cũng là một sự thật mạnh
mẽ Cụm từ "không mọc tóc" là một cách nói đặc biệt QD đã chuyển thế bịđộng thành chủ động cứ làm như người lính không cần mọc tóc bằng một cáchnói đầy vẻ bất cần gợi khẩu khí kiêu hung ngang tang rất lính Da "xanh màulá" chứ không phải xanh xao đó là màu xanh của áo lính hay màu xanh của lárừng ngụy trang Hình ảnh thơ gợi sức mạnh của đoàn quân Tây tiến hòa trongnhững cánh rừng thiêng bạt ngàn
- QD có tài tạo hình ảnh thơ thật gân guốc "dữ oai hùm" khí phách cuả người
lính đã đè bẹp bệnh tật các chàng trai da xanh xao vì sốt rét nhưng vẫn mang cáioai linh của các trang hổ tướng một thời Ngoại hình của người lính trong thơ
QD khác với ngoại hình của người lính trong thơ Chính Hữu: Áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá
Trang 19b Câu 3,4: Tâm hồn hào hoa lãng mạn của người lính
- Giữa cái gân guốc của hiện thực chiến tranh khốc liệt ý thơ của QD bay lênmột giấc mơ lãng mạn
Mắt trùng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ HN dáng Kiều thơm
- Nói về giấc mơ, nỗi nhớ cảu người lính đó là cảm xúc quen thuộc trong thơ cakháng chiến Người lính trong Đồng chí của Chính Hữu ra đi từ đồng ruộng họnhớ về giếng nước, gốc đa, ruộng nương còn người lính trong Tây Tiến phầnđông là thanh niên Hà Nội nỗi mộng mơ của họ cũng thật khác lạ thanh lịch hàohoa
- Câu thơ "Mắt trùng gửi mộng qua biên giới" thể hiện nỗi mộng mơ không xácthực về đối tượng và địa điểm gửi mộng
+ Hai chữ “mắt trừng” miêu tả hình ảnh đôi mắt mở to dữ dội ngùn ngụt ýchí và lòng căm thù Đôi mắt ấy bộc lộ toàn bộ nội lực của người lính diến tảtận cùng cái oai phong lẫm liệt và cả cái đằm thắm trong trái tim của người lính
+ Vì thế có thể hiểu người lính Tây Tiến gửi mộng qua biên giới tớinhững người đồng chí nước bạn Lào Đó là giắc mộng hòa bình cho quê hươngđất nước
- Câu thơ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" thể hiện nỗi nhớ có hình hài củangười lính
+ Người lính Tây Tiến mơ về thành đô hoa lệ nơi họ từ biệt ra đi "Dángkiều thơm" ở câu thơ trước hết gợi bóng dáng của kinh thành Hà Nội vàng son,thanh lịch:
Từ thủa mang gươm đi mở cõi Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long
(Huỳnh Văn Nghệ)
+ Mặt khác từ dáng kiều là cách nói mĩ lệ hóa của văn học cổ QD sử dụng
để nói về người thiếu nữ Hà Thành xinh đẹp QD bổ sung thêm chứ "thơm"khiến cái đẹp tỏa hương ngào ngạt gợi sự e ấp nâng niu
+ Như vậy người lính có đôi mắt trừng như lửa cháy hờn căm và phẫn nộ
để thiêu ddoots kẻ thù nhưng lại biết mơ về những cô gái Hà Thành thanh lịchkiều diễm Điều này cho thấy những vẻ đẹp tâm hồn của người lính
c Bốn câu thơ cuối
- Đi liền với cái mộng mơ là cái chết nhưng chỉ có điều sự hi sinh của người
lính lại được nói bằng cảm hứng lãng mạn mang màu sắc bi tráng Rải rác biên cương mồ viễn xứ
+ Từ "rải rác" kết hợp với "mồ viến xứ" cho thấy đây không phải là mộtcái chết mà nhiều cái chết Người lính Tây Tiến ngã xuống nơi biên ải xa xôinhững nấm mồ nằm hoang lạnh gợi ta nhớ đên cái hoang vu bi thương trongChinh phụ ngâm:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo
Trang 20+ Nỗi bi thương được vơi đi bớt phần nào khi QD sử dụng nhiều từ Hánviệt điều này tạo nên màu sắc trang nghiêm thành kính Những nấm mồ hoangtrở thành bất tử vĩnh hằng bởi sự hi sinh của người lính là cao cả thiêng liêng họngã xuống vì quê hương đất nước.
- Câu thơ thứ 6 khắc họa tư thế lên đường của người lính với lí tưởng quyết tử
cho TQ quyết sinh: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
+ hai chữ "đời xanh" chỉ tuổi thanh xuân mơn mởn tràn đầy sức sống Không cócái gì quí và dẹp bằng tuổi trẻ vậy mà hai chữ "chẳng tiếc" lại ném xuống dòngthơ thật dứt khoát Ở đây người lính đã coi tính mệnh của Tổ quốc lớn hơn sinhmệnh của chính mình Đây là lí tưởng cao đẹp cảu con người VN mỗi khi TQ bịxâm lăng
-Với triết lí và lẽ sống cao đẹp đó người lính Tây Tiến cho đên giây phút cuốicùng trở về với đất mẹ vẫn sáng lên vẻ đẹp tâm hồn cao cả:
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành
+ Câu thơ mang ý nghĩa hiện thực sâu sắc: "tử sĩ nằm xuóng không đủmanh chiếu để liệm…họ được chon cất trong chiếc áo của mình" (lời QuangDũng) cái hay của câu thơ ở chỗ hiện thực bi thương dược Quang Dũng tái hiệnbằng đôi mắt lãng mạn vừa yêu thương vừa trân trọng thành kính Nhà thơ phủlên thi thể của đông đội hình ảnh áo bào, đây là một hình ảnh ước lệ gợi âmhưởng "xa trường gửi thây" gợi cái chết của tráng sĩ thuở xưa Bởi thế giây phúttiễn đưa đồng đội về cõi bất tử được thiêng liêng hóa bằng hính ảnh áo bào đầysang trọng cổ kính
+ Cụm từ "anh về đất" giảm nhẹ sự mất mát đau thương Đất là quê mẹ là
tổ quốc thiêng liêng dién tả thái độ đón nhận cái chết của những người lính họ
về với dất mẹ để hóa thân vào sông núi sống mãi với đất trời
Ôi đất nước sau 4 nghìn năm đi đâu ta chẳng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
+ Câu thơ cuối xoay chuyển cả một vùng trời đất vang dội như một khúcnhạc kì vĩ của thiên nhiên sông Mã đã từng mở đầu bài thơ "Sông Mã…ơi" đếnđây lại xuất hiện Chữ “ gầm’ có âm điệu thật ấn tượng gợi liên tưởng bi hùngnhư khúc nhạc chiêu hồn tử sĩ đưa họ về với cõi trường cửu Điều đáng nói nữa
là khúc nhạc sông Mã còn "gầm lên" từ chính đáy lòng của Quang Dũng Khổthơ khép lại, người lính Tây Tiến ra đi nhưng dư âm của tiếng sông Mã gầmthét sẽ còn ngân vang mãi trong tâm hồn người đọc như nhà thơ Lê Đại Hành
đã từng viết:
Sông Mã gầm lên sông Mã ơi!
Người yêu sông Mã đã qua đời
Để đời nhớ mãi quân Tây Tiến Khúc độc hành ca của một thời
4 Đánh giá chung:
- Nghệ thuật:
Trang 21III.Kết luận
- Bằng bút pháp lãng mạn và tinh thần bi tráng Quang Dũng đã khắc họa thànhcông bức chân dung người lính Tây Tiến tiêu biểu cho vẻ đẹp và sức mạnh củaanh bộ đội cụ Hồ trong cuộc kháng chiến chống Pháp Đó là bức tượng đàiđược khắc tả bằng cả tình yêu của Quang Dũng với đồng đội, đất nước, quêhương
- Đặt trong bối cảnh buổi đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều gian lao đâychính là cách QD ngợi ca tinh thần lạc quan ngợi ca chủ nghĩa anh hùng củangười lính Tây Tiến nói riêng và của con người Việt nam nói chung
- “Việt Bắc” là một trong những bài thơ hay nhất của đời thơ Tố Hữu, đồng thờicũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp, được xem là bản tổng kếtbằng thơ cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, anh hùng của dân tộc và lời tri
ân sâu nặng về nghĩa tình cách mạng
- Bài thơ được sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt
II.Thân bài
1 Bài thơ VB được viết ở khúc giao thời của lịch sử
- Tháng 7/1954 sau gần một thế kỉ dân tộc ta đứng lên kháng chiến chống Pháp
đã đi đến thắng lợi với chiến thắng ĐBP lừng lẫy
- Sau chiến thắng ĐBP thực dân Pháp buộc phải ngồi đàm phán kí hiệp địnhGiơ-ne-vơ với chúng ta tại Thụy Sĩ đã mở ra một thời kì mới cho đất nước ta.Miền bắc hoàn toàn giải phóng và xây dựng CNXH Miền nam tiếp tục đấutranh thống nhất nước nhà
2 VB còn được viết ra trong khúc giao thời của lòng người
- Sau chiến thắng Điên Biên vào tháng 10/1954 TƯ Đảng, chính phủ, cán bộcách mạng rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản Hà Nội
Trang 22- Trong không khí của cuộc chia tay Tố Hữu đã xúc động viết bài thơ này.
3 Ra đời trong hoàn cảnh như vậy VB trở thành khúc tình ca và cũng là bản
anh hùng ca về cách mạng về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến đồngthời là lời nhắn nhủ hãy nhớ mãi và phát huy những truyền thống anh hùng bấtkhuất nghĩa tình cách mạng của con người Việt Nam
4 Bài thơ VB được chọn để đặt tên chung cho tập thơ VB được Tố Hữu sáng
tác trong suốt quá trình kháng chiến chống Pháp (1946-1954)
III Kết bài
VB là thành tựu nghệ thuật của thơ ca kháng chiến chống Pháp là một trong những bài thơ hay nhất
về cách mạng về quê hương đất nước trong thơ ca hiện đại Việt Nam.
Đề 2: Cảm nhận đoạn thơ sau :
Mình về mình có nhớ ta
… Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
I Mở bài
- Tố Hữu là nhà thơ lớn, con chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam;các chặng đường thơ luôn gắn bó với các chặng đường cách mạng dân tộc;phong cách thơ mang khuynh hướng trữ tình chính trị và đậm đà tính dân tộc
- “Việt Bắc” là một trong những bài thơ hay nhất của đời thơ Tố Hữu, đồng thờicũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp, được xem là bản tổng kếtbằng thơ cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, anh hùng của dân tộc và lời tri
ân sâu nặng về nghĩa tình cách mạng
- Trong bài thơ đoạn thơ sau được xem là đoạn thơ tiêu biểu cho phong cáchthơ Tố Hữu
+ Trong không khí của cuộc chia tay Tố Hữu đã xúc động viết bài thơ này
-Nội dung chính:Cả bài thơ dâng đầy nỗi nhớ, nỗi nhớ khởi đầu từ cuộc chia
taycủa anh cán bộ miền xuôi với người dân VB
2 Dẫn dắt
- Vị trí: - Đoạn thơ có vị trí khai mở cảm xúc cho cả bài thơ
- Nội dung đoạn thơ này: Đoạn thơ mở đầu đã khắc họa khung cảnh chia li
thấm đẫm màu sắc núi rừng, chan chứa tình cảm quyến luyến bịn rịn giữa người
đi kẻ ở
3.Phân tích
a 4 câu đầu: Lời của người ở lại
Mình về mình có nhớ ta
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn
Trang 23- Điều thú vị ở 4 câu thơ này là lời của người ở lại nhắn gửi người về xuôi Đó
là sự khéo léo và hợp lí trong cách sắp xếp cấu tứ thơ của Tố Hữu Người ở lại
dự cảm người về xuôi đổi thay nên có lời nhắn người về hãy nhớ tình cảm thủychung
- Tố Hữu đã vận dụng hai đại từ mình- ta trong hình thức đối đáp giao duyên đểthể hiện tình cảm gắn bó thủy chung của nhân dân với cách mạng trong khángchiến
- Người ở lại mong người về xuôi hãy nhớ những năm tháng gắn bó mặn nồng
“mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”
+ “Mười lăm năm” tính từ thời kháng Nhật, từ khi BH về nước năm 1941
sau bao năm ở nước ngoài Người đã chọn VB làm căn cứ địa cách mạng, 15năm là khoảng thời gian đủ dài để người ta khắc ghi cuộc sống ân tình chia ngọt
sẻ bùi từ những ngày tháng gian khổ đến khi thắng lợi Những từ “thiết tha, mặn nồng” diễn tả thật hàm súc tình cảm quân dân bền chặt.
Câu thơ khiến ta nhớ đên khoảng thời gian Kim – Kiều xa cách:
Những là dày ước mai ao Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
- Người ở lại còn khơi gợi những kỉ niệm trong không gian VB: nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn
+ Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến bao hàm lời dặn dò kín đáo:Đừng quên VB vì VB là quê hương là cội nguồn cách mạng
+ Qua hình ảnh sông nguồn, núi rừng Tố Hữu đã nhắc nhở về dạo lí củadân tộc “ uống nước nhớ nguồn”
- Bốn câu thơ điệp lại 4 lần từ nhớ gợi nốt nhấn của tâm trạng tạo thành mộtđiệp khúc của tình cảm khiến con người nhớ thương như những con sóng lan
tỏa thật mạnh mẽ Mặt khác 4 câu thơ còn sử dụng hai câu hỏi tu từ “có nhớ ta?
Có nhớ không?”
b 4 câu sau: Tâm trạng của người về xuôi
- Người ra đi ngập tràn nỗi nhớ nhung tâm trạng quyến luyến không nỡ rời xa.Đại từ “ai” là một đại từ thường gặp trong ca dao dân ca vừa phiếm chỉ vừa cụthể làm cho lời thơ trở nên bâng khuâng tha thiết như khúc hát giao duyên quanhọ
- Chỉ bằng hai câu thơ lục bát Tố Hữu diễn tả được 3 trạng thái tình cảm sâu sắccuả người về xuôi
+ Tha thiết như tiếng nói cất lên từ tấm lòng đầy yêu thương, hai chữ này hôứng với hai chữ “thiết tha” ở hai câu thơ trước tạo nên sự cộng hưởng về cảmxúc một mạch ngầm tri kỉ thật đẹp đẽ hài hòa giữa người đi và người ở
+ Từ “bâng khuâng” diễn tả tâm trạng có sự nuối tiếc, hụt hẫng
+ “ bồn chồn” diễn tả trạng thái nôn nao chờ đợi thấp thỏm không yên
Có thể nói 3 từ này "tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn" thật gợi hình và gợi
cảm kết hợp với phép đảo ngữ, nghệ thuật tiểu đối vừa tạo được chất nhạc thơngọt ngào vừa diễn tả nhớ thương quyến luyến bịn rịn
Trang 24- Đọng lại ấn tượng sâu đạm của người về xuôi là hình ảnh “áo chàm” tác giả sửdụng biện pháp nghệ thuật hoán dụ “ áo chàm” là trang phục đặc trưng hiện lênbóng dáng thân yêu giản dị của người dân VB trong buổi chia tay Sâu xa hơn ýthơ còn khẳng định tình cảm thủy chung son sắt bởi áo chàm cũng có thể hiểu
là màu của lòng người khó phai mờ,
- Hành động “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.
+ Ở đây không phải là không có một cái gì đó để nói mà là muốn nói rất nhiềunhưng cổ họng nghẹn ngào không thể nói được cái “cầm tay khong nói lênlời” chứa đựng bề sâu của cảm xúc Chính Hữu cũng đã từng viết “thươngnhau tay nắm lấy bàn tay”
+ Cái nắm tay của Chính Hữu xiết tình đồng đội, đồng chí giữa buổi chungchiến hào Cái nắm tay trong thơ Tố Hữu xiết chặt tình nghĩa đồng bào, tìnhquân dân cá nước trong buổi chia tay "cầm tay" là sự giao thoa cảu cảm xúc,tâm trạng ngưng đọng trong hành động mọi lời nói trở nên thơ thẩnđể phá vỡkhông gian cảu thương yêu
Nghệ thuật: nhịp thơ lục bát đều đặn ở 4 câu đầu đến đay vì chút bối rối củalòng người mà thay đổi trở nên nghẹn ngào phá vỡ nhip thông thường của thơlục bát tạo nên một nhịp thơ thật độc đáo
4 Đánh giá
Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu, mặt khác cũng thể hiện một hồn thơ đậm đà tính dân tộc với nhịp điệu lục bát duyên dáng, tứ thơ đối đáp mình – ta truyền thống mà hiện đại, giọng thơ tâm tình ngọt ngào thương mến Đoạn thơ nói riêng bài VB nói chung xứng đáng là bài ca không thể nào quên
Đề 3:Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau:
Mình đi có nhớ những ngày
… Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa
I.Mở bài: như đề trên
II Thân bài
1 Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác: như đề trên
- Nội dung chính: Cả bài thơ dâng đầy nỗi nhớ, nỗi nhớ khởi đầu từ cuộc chiatay của anh cán bộ miền xuôi với người dân VB
2 Dẫn dắt
- Vị trí: - Đoạn thơ được phân tích nằm sau 8 câu thơ mở đầu của bài thơ VB.
- Nội dung đoạn thơ trước: Trước đó bài thơ miêu tả khung cảnh chia tay
thấm đẫm sắc màu núi rừng VB và tâm trạng bịn rịn, quyến luyến của người đi
và người ở
- Nội dung đoạn thơ này: -Đến 12 câu thơ này là lời nhắn gửi của người ở lại
với người về xuôi hãy nhớ về buổi đầu kháng chiến gian khó nhớ về VB nghèo
mà thấm đượm nghĩa tình và mong ước người về xuôi hãy coi núi rừng VB nhưchính quê hương cuộc đời và tam hồn của mình
Trang 253 Cảm nhận đoạn thơ
a Bốn câu thơ đầu: Buổi đầu kháng chiến gian khó nhưng nghĩa tình
- Người ở lại dự cảm về sự đổi thay trong xa cách nên đã cất tiếng lòng nhắcnhở tha thiết với một niềm mong mỏi người về xuôi hãy thủy chung bền chặt
nghĩa tình NV trữ tình xuất hiện với lối xưng hô “ mình-ta”.
- Người ở lại đã cất lời hỏi người về xuôi có nhớ cuộc sống gian khó trongnhững năm tháng sống gắn bó với núi rừng VB:
- Hình ảnh VB còn nghèo cách mạng còn nghèo được phản chiếu qua hai câuthơ tiếp theo:
“ Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”
+ Hình ảnh miếng cơm chấm muối là hình ảnh chân thực được lấy ra từcuộc sống kháng chiến đầy gian nan, thiếu thốn khi mà quân dân ta phải sống
trong cảnh “ thương nhau chia củ sắn lùi…đắp cùng”
+ Hình ảnh “ mối thù nặng vai” đã cụ thể hóa, vật chất hóa mối thù củanhân dân ta với quân địch
+ BP tiểu đối giữa hai vế trong câu thơ “ Miếng cơm…nặng vai” làm nổi
bật giữa một bên là cuộc sống thiếu thốn gian khổ với 1 bên là lòng căm thùgiặc đè nặng trên vai Cách nói của TH thật giàu hình ảnh mối thù là một tìnhcảm trừu tượng mà có thể vảm nhận được bằng một hình ảnh cụ thể Câu thơmang mọt ý nghĩa mới mẻ sâu xa khắc đậm tính đoàn kết một lòng chiến đấucùng vượt qua gian khổ cùng mang mối thù thực dân đó là cội nguồn sức mạnhlàm nên chiến thắng vang dội của quân và dân ta đó là một phẩm chất cao đẹpcủa con người VN mỗi khi TQ bị xâm lăng
b Bốn câu tiếp: Lời nhắn gửi người đi hãy nhớ về núi rừng VB nghèo khó
mà nghĩa tình
- Trước hết là nỗi nhớ về núi rừng:
“ Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già”
+ Tố Hữu đã sử dụng BPNT hoán dụ và nhân hóa “ rừng núi” để chỉ đồng bài VB, “ rừng núi nhớ ai” là nói đồng bào VB nhớ cán bộ cách mạng về
xuôi, nỗi nhớ ở tràn ngập cả trong không gian núi rừng VB
+ Hình ảnh “ trám bùi để rụng “ và “măng mai để già” là hình ảnh ẩn dụ
gợi 2 lớp nghĩ:
Trang 26./ Đồng bào VB muốn dành tặng những món ăn này cho chiến sĩ và mongước ngày gặp lại nhưng người cán bộ cách mạng đã về xuôi nên trám bùi vàmăng mai không biết để cho ai?
./ Mặt khác nó cũng cho thấy sự cô dơn trống vắng trong lòng người ở lại
- Ngoài ra còn khắc họa một VB đầy ắp nghĩa tính thủy chung:
“ Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”
+ Hai câu thơ cho thấy sự giản dị, chân thực của những ngôi nhà ở VB đó
là những mái nhà tranh vách đất -> VB nghèo nhưng nghĩa tình thì đậm đà sonsắt thủy chung
+ NT tiểu đối, đảo ngữ cùng nhhững từ láy gợi hình, gợi cảm trong 2 câuthơ đã làm sáng tỏ tấm lòng cao quí , đùm bọc chở che của nhân dân với cán bộ
CM Đó chính là chủ nghĩa yêu nước chủ nghĩa anh hùng của nhân dân ViệtBắc
-“Núi non” là hình ảnh hoán dụ chỉ đồng bào VB đó là vẻ đẹp của thiên nhiên
của con người biết bao ân tình người đi làm sao có thể quên
-Người ở lại mong người đi hãy tự hào về những trang sử hào hùng, những địadanh tên đất, tên làng đã trở thành dấu son chói lọi cùng những thời khắc khôngthể nào quên của cách mạng
+ VB là nơi thành lập MTVM đã lãnh đạo toàn dân tộc kháng chiến chống Pháp+ Cây đa Tân Trào, mái đình Hồng Thái là nơi họp quốc dân đại hội 1945 là nơilàm lễ xuất quân của VN tuyên truyền giải phóng quân
- Câu thơ “mình đi mình có nhớ mình" từ mình xuất hiện 3 lần có tính đa nghĩa
vừa chỉ người dân VB vừa chỉ cán bộ kháng chiến về xuôi Đồng bào VB muốnnhắc nhở cán bộ kháng chiến phải nhớ đến những phẩm chất tốt đẹp của chínhmình , đừng tự đánh mất mình trong hoàn cảnh mới
- Câu thơ cuối có sự đổi chỗ thú vị từ “mái đình…Tân Trào” đổi thành “Tân Trào…cây da” đã tạo nên tính nhạc độc đáo của câu thơ lục bát Trong câu thơ
này người ở lại muốn khẳng định những điạn danh trên đã trở thành kỉ niệmkhông thể nào quên của cán bộ cách mạng
Đây là một qui luật tình cảm trong đời sống
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”
3 Đánh giá
Trang 2712 câu thơ trên không nhắc lại những tháng ngày hạnh phúc, vui vẻ chỉ nhắcđến những tháng ngày thiếu thốn, gian khổ bởi hạnh phúc dễ quên còn giankhổ luôn nhắc nhở con người không được quên quá khứ
- 12 câu thơ có 6 lần hỏi mình đi có nhớ, mình về có nhớ trở thành một điệp
khúc tâm trạng một nỗi niềm nhớ nhung da diết khắc khoải nhắc nhở con ngườihãy nhớ về cội nguồn ân nghĩa cách mạng
I Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả: (tham khảo đề trước)
- Việt Bắc là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu, cũng là một trongnhững bài thơ đặc sắc nhất của thơ ca hiện đại Việt Nam Bài thơ là cuộc tròchuyện ân tình của mình và ta tựa như một khúc hát giao duyên ngọt ngào tình
tứ để từ đó đặt ra những vấn đề có ý nghĩa lớn của dân tộc Trong bài thơ cómột đoạn thơ mà ai đọc xong cũng phải nhớ mãi Bởi nó không chỉ thể hiệnđược tình cảm của những người chiến sĩ Cách mạng với Việt Bắc mà còn táihiện rất cô đọng vẻ đẹp độc đáo vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắctrong bốn mùa cụ thể (trích dẫn đoạn thơ)
II.Thân bài
1 Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính: như đề trên
2 Dẫn dắt
- Vị trí: - Đoạn thơ được phân tích thuộc phần I (90 câu thơ) của bài thơ VB.
- Nội dung đoạn thơ trước: - Đoạn thơ được đánh giá là tuyệt bút đạt tới trình
độ toàn bích, trước đó đoạn thơ đã miêu tả khung cảnh chia tay thấm dẫm sắcmàu VB, tâm trạng quyến luyến giữa người đi và người ở Người Việt Bắcmong muốn nhắn gửi cán bộ về xuôi hãy thủy chung với quê hương cách mạnganh cán bộ HCM đã bày lời thề thủy chung cùng nỗi nhớ về nhịp sống ở VB
Trang 28- Nội dung đoạn thơ này: Đến đoạn thơ này Tố Hữu tập trung thể hiện nỗi nhớ
của người về xuôi đọng lại ở hình ảnh hoa và người Việt Bắc
3 Phân tích
a Hai câu thơ đầu
“ Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người”
- NV trữ tình xưng hô tình tứ mình-ta” (đề trước)
- Câu thơ thứ nhất không đơn thuần là một câu hỏi mà còn ngầm chứa đựngmột thông điệp Không biết mình có nhớ ta không còn ta thì luôn nhớ mình Nỗinhớ được biểu đạt thật mãnh liệt và cũng thật tế nhị sâu sắc
- Câu thơ thứ hai cụ thể hóa đối tượng gửi thương gửi nhớ người về xuổi hãyhãy nhớ về hoa và người Việt Bắc Hoa là vẻ đẹp tươi tắn mộng mơ của thiênnhiên, con người là đối tượng đẹp nhất của cuộc sống Hòa với vẻ đẹp của thiênnhiên là con người VB thuận hậu ân tình
- Chữ nhớ được điệp lại hai lần trong hai câu thơ khiến tâm trnạg con ngườinhư trĩu xuống có tác dụng khai mở cảm hứng chủ đạo xuyên suốt đoạn thơ là
sự nhớ nhung thật sâu sắc và thấm thía
b 8 câu tiếp Bức tranh tứ bình về cảnh sắc ở Việt Bắc
* Khái quát
- 8 câu thơ có kết cấu đặc biệt với 4 cặp câu lục bát cứ một câu lục nói về thiênnhiên xen kẽ là một câu bát nói về con người tạo nên bộ tứ bình đặc sắc về 4mùa Việt Bắc
- Trong cái nhìn của mĩ học cổ điển nghệ thuật tứ bình là 1 cấu trúc đạt tới độhài hòa cân xứng Chẳng hạn khi miêu tả về thiên nhiên người xưa rất thích môtíp tứ bình 4 mùa xuân hạ thu đông, tùng cúc trúc mai Sáng tạo của Tố Hữu làbiết vận dụng vẻ đẹp hài hòa của cấu trúc thiên nhiên để tạo nên vẻ đẹp hài hòacủa cấu trúc nội tâm Từ đó khắc họa được bức tranh 4 mùa Việt Bắc chan chứaniềm thương nỗi nhớ
* Bức tranh mùa đông: Thiên nhiên được cảm nhận trên 2 bình diện thiên
nhiên và con người
- Thiên nhiên được cảm nhận ở màu xanh thấm của những cánh rừng bạt ngàn ,màu đỏ tươi cảu hoa chuối nở bung rực rỡ
+ Mùa đông thường gắn với cái lạnh thấu xương tuy nhiên trong bài thơ
Tố Hữu đã tạo được một tương phản rất nổi Trên nền xanh mênh mông của núirừng đột ngột bừng lên màu hoa chuối đỏ tươi như những ngọn đuốc giữa đạingàn Màu đỏ là gam màu nóng gợi sự ấm áp hình ảnh này rất hợp với ánh nắngchan hòa ở câu thơ thứ hai đã khắc hoạ được một mùa đông VB ấm áp nơi cóĐảng và Bác Hồ nơi thể hiện niềm tin và sức mạnh của cả dân tộc:
“Ở đâu u ám quân thù
Trông về VB mà nuôi chí bền”
Trang 29+ Bức tranh mùa đông thể hiện ở thế giới quan của nhà thơ CM luônhướng về sự sống và ánh sáng
- Con người:
+ Không phải ngẫu nhiên tác giả nhớ tới hình ảnh con người mà conngười gắn với vị trí đèo cao, con người đứng trên đỉnh đèo ánh nắng chiếu vàolưỡi dao gài ở thắt lung làm lóe sáng tạo nên hai mặt trời song đôi thú vị: Mặttrời của thiên nhiên ở trên cao còn mặt trời của con người ở dưới đấthai hìh ảnhnày hô ứng với nhau thật hài hòa khắc họa được hình ảnh con người trên nươngrẫy với tư thế vững trãi , tự tin làm chủ núi rừng
*Bức tranh mùa xuân
- Thiên nhiên
+ Nếu trong bức tranh mùa đông gam màu chủ đạo là màu xanh và đỏ thì bứctranh mùa xuân có sự thay đổi về màu sắc màu trắng tinh khiết của hoa mơ trànngập núi rừng Việt Bắc
+ Đây là vẻ đẹp đặc trưng của núi rừng Việt Bắc khi mùa xuân về
+ Hai chữ “trắng rừng” là một sự sáng tạo ngôn ngữ thơ ca của Tố Hữu Chữ “ trắng” về bản chất là tính từ nhưng ở đây đã được động từ hóa gợi sự chuyển
biến về màu sắc và bước đi của thời gian Người đọc có cảm giác cả núi rừngViệt Bắc bỗng chốc bừng sáng vè sắc trắng của hoa mơ
+ Như vậy với màu trắng cảu hoa mơ Tố Hữu đã gợi được vẻ đẹp trong sángthuần khiết tràn đầy sức sống một không gian thoáng rộng bao la của Việt Bắckhi xuân về Bút pháp miêu tả của TH khác nhau với đại thi hào Nguyễn Du khiviết về mùa xuân:
“ Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
- Con người:
+ Hình ảnh “người đan nón chuốt từng sợi giang” gợi sự tài hao khéo léo cảu
con người VB trong lao động Họ là những người tạo nên những chiếc nón giản
dị , duyên dáng thấm đẫm màu sắc văn hóa Việt
+ Mặt khác ý thơ còn thấm đẫm ân tình cách mạng Người Việt Bắc đan nênnhững chiếc nón gửi tặng bộ đội, dân công
*Bức tranh mùa hè
- Thiên nhiên
+ Nếu bức tranh mùa đông và mùa xuân chỉ được đặc tả bang màu sắc thì đếnbức tranh mùa hè còn có cả âm thanh Đây là câu thơ hay nhất trong đoạn thơ
+ Hai chữ “ đổ vàng” diễn tả 3 cuộc chuyển đổi:
/ Chuyển đổi trong không gian: Âm thanh đánh thức sắc màu chỉ trong chốclát cả khu rừng nhuộm màu vàng kì ảo
./ Chuyển đổi thời gian: Màu vàng của rừng phách cho thấy thiên nhiên đãchuyển sang hè
./ Chuyển đổi cảm giác: Từ thính giác để nghe âm thanh chuyển sang thị giác đểcảm nhận màu sắc
Trang 30+ Chữ “đổ” là một sáng tạo của Tố Hữu người đọc ngỡ như tiếng ve như một
lọ mầu lớn nhuọm màu cho cả rừng phách
- Con người:
+ Hình ảnh “ cô …mình” khắc họa vẻ đẹp cảu con người VB chịu thương chịu
khó đọng lại trong nỗi nhớ của người về xuôi
+ Hai chữ “ một mình” thể hiện chiều sâu trong nhớ thương xa cách Mới ngày
nào người dân Vb và các bộ cách mạng còn gắn bó vậy mà nay đã rời xa haiphương trời miền ngược – miền xuôi
*Bức tranh mùa thu
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”
+ Mặt khác khung cảnh thiên nhiên rừng thu trong đêm trăng còn gờikhông gian tâm tình trong cuộc sống phù hợp với các khúc hát giao duyên cảulứa đôi, của kẻ ở người đi
- Con người:
+ “Nhớ ai” là một lời h ỏi mang tính phiếm chỉ tạo cảm giác bang khuâng lưu
luyến trong nỗi nhớ
+ Tố Hữu đã tạo được kiểu kết cấu hô ứng thú vị mở đầu đoạn t hơ là câu hỏi “
Ta về mình có nhớ ta” kết thúc cũng là một câu hỏi “ nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
+ Bốn chữ “ân tình thủy chun” đã nói được đạo lí của dân tộc đây là vẻ đẹp
trong tâm hồn con người Việt Nam
4 Đánh giá
- Đoạn thơ đã khắc họa thành công bộ tứ bình về bức tranh 4 mùa Việt Bắc mỗicảnh có một nét đẹp riêng nhưng tổng thể có sự hài hòa tuyện đối từ màu sắcxanh-đỏ-vàng-trắng đến âm thanh Sự hòa quyện giữa âm thanh và màu sắc là
sự hòa quyện giữa cái vô hình và cái hữu hình tạo nên một cảm nhận thật thú vị
- Đoạn thơ như một bức họa cổ điển mà hiện đại ghi lại vẻ đẹp gợi cảm nên thơcủa hình tượng thiên nhiên Việt Bắc trong sự hòa hợp kì diệu với vẻ đẹp cần cù,chịu khó, tài hoa trong lao động cùng vẻ đẹp tâm hồn thủy chung tình nghĩa củahình tượng con người Việt Bắc
- Mượn hình thức trữ tình giàu tính dân tộc, Tố Hữu đã thể hiện thật thấm thíanhững tâm tình chung của con người Việt Nam trong thời đại Cách Mạng Đó
là lẽ sống lớn, niềm vui lớn, tình cảm lớn- nội dung trữ tình bao trùm các sángtác của thơ Tố Hữu
Trang 31III Kết bài
- Vậy là người ra đi thông qua nỗi nhớ sâu sắc, đã khẳng định tấm lòng sắt sonkhông gì có thể đổi thay của mình với Việt Bắc Bằng cách đó, người ra đikhông chỉ giải tỏa được nỗi niềm băn khoăn day dứt của người ở lại, mà còn tạođược lòng tin với con người nơi ấy
- Tiếng lòng của Tố Hữu gửi trọn trong đoạn thơ, bài thơ đâu chỉ là tiếng lòngcủa riêng nhà thơ, của riêng những con người Việt Nam đi kháng chiến mà thực
sự đã trở thành tiếng lòng của các thế hệ con người Việt Nam sau này mỗi khihướng về Việt Bắc
Đề 5: Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc:
Những đường Việt Bắc của ta Đêm đểmầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sang như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng.
I Mở bài:( Tham khảo đề trước)
II Thân bài:
1 Khái quát chung:
- Nội dung đoạn thơ trước:
Nếu như những đoạn thơ trước tác giả diễn tả một Việt Bắc nghĩa tình thủychung son sắt với giọng thơ ngọt ngào đằm thắm
- Nội dung đoạn thơ này: thì ở đoạn thơ này tác giả tái hiện lại một Việt Bắc
tưng bừng khí thế chiến đấu và chiến thắng qua giọng thơ sôi nổi hào hùng.Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ của anh bộ đội kháng chiến về những năm thángkháng chiến gian khổ và anh dung từ đó khắc họa bức tượng đài tổ quốc đi từđau thương đến chiến thắng với một bút pháp sử thi và cảm hứng lãng mạnmang niềm tin và niềm lạc quan mạnh mẽ
3 Phân tích đoạn thơ
* Câu 1,2: Những nẻo đường Việt Bắc
Trang 32“Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rrạp như là đất rung”
- Hai câu thơ tái hiện lại không khí của thời đại chiến đấu Từ mọi miền TQnhững đoàn quân cùng dân công hướng về mặt trận với sự sôi động của nhữngngày tổng tiến công
- Cụm từ “những đường Việt Bắc ” vừa gợi ra một không gian rộng lớn khắc
họa hình ảnh những con đường cụ thể trải khắp núi rừng đồng thời còn mang ý
nghĩa biểu tượng cho con đường cách mạng như Tố Hữu từng ca ngợi: "Đường cách mạng dài theo kháng chiến”
- Hình ảnh những con đường Việt Bắc đi liền với hai chữ “của ta” khắc họa tư
thế làm chủ tự tin vững mạnh của quân và dân ta Đồng thời khẳng định ViệtBắc là mảnh đất của niềm tự hào sâu sắc Ý thơ này có sự gặp gỡ với cảm xúc
của NKĐ trong bài thơ “Đất Nước”:
“Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta”
- Hình ảnh con đường ra trận được tác giả đặc tả trong không gian : đêm đêm”thể hiện một thời gian liên tục gợi hình ảnh một đoàn quân nối tiếp bền bỉ bấttận từ đêm này sang đêm khác Hai chữ “ rầm rập” vừa gợi âm thanh vừa gợihình ảnh Nó diễn tả được sự đông vui náo nức cùng sức mạnh của quân và dânta
- Câu thơ sử dụng nghệ thuật so sánh
“ Đêm đêm …rung” kết hợp với nhịp thơ nhanh mạnh Âm hưởng thơ tưng
bừng rộn rã khiến ta có cảm giác như cả núi rừng đang rung chuyển bởi sứcmạnh của con người được đo bằng thước đo sông núi
*Câu 3,4: Hình ảnh đoàn quân
“Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan”
- Hai câu thơ xuất hiện những từ láy mang giá trị tạo hình cao “điệp điệp trùngtrùng” Đã miêu tả hình ảnh đoàn quân ra trận dài vô tận tựa như núi rừngtrùng điệp đông đảo, mạnh mẽ
- Bên cạnh đó hình ảnh thơ vừa mang chất hiện thực vừa mang cảm hứng lãng
+ Mặt khác hình ảnh thơ ngợi ca sức mạnh, tư thế vóc dáng của người lính sángtựa sao rời Đó là sức mạnh mang tính sử thi Đây là cảm hứng ngợi ca
Trang 33* Câu 5,6: Hình ảnh dân công
“Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
- Hai câu thơ khắc họa hình ảnh dân công san đường, xẻ núi tải lương thực …
ra chiến trường Đây là cảnh tượng rất hoành tráng của cuộc chiến tranh nhândân
- Hình ảnh “đỏ đuốc từng đoàn” là hình ảnh thơ giàu ý nghĩa vừa gợi sự đông
vui vừa là biểu tượng cho ngọn lửa nhiệt huyết của lí tưởng sẵn sàng chiến đấu
vì tổ quốc vừa là ngọn lửa ấm áp nghĩa tình mà hậu phương dành cho tiềntuyến
-Cách đặc tả “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” đã phản ánh sức mạnh kì
diệu của nhân dân ta Đó là sức mạnh lấn át cả thiên nhiên đất trời Chính sứcmạnh ấy đã làm nên chiến thắng Điện Biên lừng lẫy chấn động địa cầu
*Câu 7,8: Ý thơ hướng về tương lai thể hiện một niềm tin chiến thắng.
“ Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
- Hình ảnh thơ bắt nguồn từ cảm xúc hiện thực đó là hình ảnh những đoàn xe ô
tô nối đuôi nhau ra chiến trường ánh đèn pha bật sáng xé tan màn đêm dày đặccủa núi rừng Từ cảm xúc hiện thực này Tố Hữu muốn ca ngợi sức mạnh củalực lượng cơ giới của quân ta
- Hai câu thơ này còn mang ý nghĩa biểu tựong ẩn dụ:
+ “Nghìn đên thăm thẳm sương dày” ý thơ muốn nói đến những năm
tháng đau thương nô lệ của nhân dân ta dưới ách thống trị của thực dân Pháp vàphong kiến tay sai
+“ Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” là biểu tượng cho tương lai tươi
sáng cho độc lập tự do của dân tộc
->Hai câu thơ mang niềm lạc qua tin tưởng mãnh liệt với âm hưởng lãng mạncách mạng khỏe khoắn đã dựng lên bức tượng đài đất nước Việt Nam đi từ đauthương đến quật khởi anh hùng
*4 câu cuối: Niềm vui chiến thắng
Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc Điện Biên vui về.
Vui từ Đồng Tháp An Khê, Vui lên Việt Bắc đèo De núi Hồn.
- Tố Hữu có cách viết rất hay để diễn tả niềm vui chiến thắng “tin vui, vui từ, vui về, vui lên” không phải là một hai nơi rời rạc mà là “trăm miền” Cách diễn
đạt ấy thể hiện niềm vui thắng trận như reo lên trong lòng hàng triệu con người.Bao trùm khắp chiều rộng và chiều dài của đất nước từ Bắc vào Nam
- Trong 4 câu thơ xuất hiện nhiều địa danh “Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê” mỗi địa danh đều ghi tên các chiến công và đều là những
mảnh đất thân yêu nghĩa tình
3 Đánh giá kết luận
Trang 34- Đoạn thơ làm sống lại không khí hào hùng của một thời lịch sử không thể nàoquên.
- Viết về Việt Bắc chiến đấu và chiến thắng, Tố Hữu không viết riêng về mộtvùng đất mà trở thành biểu tượng chung cho sức mạnh kháng chiến, cho linhhồn cách mạng, cho ý chí của toàn dân trong cuộc trường chinh vĩ đại
- Đoạn thơ giàu chất “sử thi” thể hiện rõ khả năng tạo được một bức tranh
hoành tráng về lịch sử dân tộc, gợi niềm tự hào về truyền thống yêu nước, anhhùng của dân tộc ta
III Kết luận.
- Bằng nguồn cảm hứng mạnh mẽ, chân thực của một hồn thơ tài năng và sángtạo Chỉ với 12 câu thơ mà Tố Hữu đã tái hiện lại được một bức tranh hoànhtráng về sức mạnh to lớn của Đất Nước và con người Việt Nam trong một thời
kì lịch sử hào hùng Cho đến nay đã hơn nửa thế kỉ trôi qua nhưng mỗi khi đọcnhững vần thơ này ta lại cảm nhận được một ngọn lửa nhiệt tình Cách Mạng,ngọn lửa ấy đang thôi thúc chúng ta hành động vì một nước Việt Nam ngàycàng tươi sáng hơn
- Qua đoạn thơ này ta dễ dàng nhận thấy được tính trữ tình chính trị, tính dântộc đậm đà, cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi trong phong cách thơ
- Xuất thân trong gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng
- 1964, tốt nghiệp Khoa Văn, trường Đại học sư phạm Hà Nội trở về miềnNam tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ đến 1975
- Hiện nay: nghỉ hưu ở Huế, tiếp tục làm thơ
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻnhững năm chống Mĩ
- Phong cách thơ: Giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, mang màu sắc chính luận
- Phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng”
- Giá trị: Được xem là đoạn thơ hay về đề tài quê hương đất nước của thơ caViệt Nam hiện đại
Trang 35- Thể loại: trường ca (có sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình)
c Bố cục: 2 phần
- Phần 1: Từ đầu đến Làm nên đất nước muôn đời: Những nét riêng trong cảm
nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
- Phần 2: Còn lại: Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”
II Đọc - hiểu văn bản
1 Phần 1: Những nét riêng trong cảm nhận của tác giả về đất nước
- Chọn những hình ảnh tự nhiên và bình dị để cảm nhận về đất nước:
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
… Đất Nước có từ ngày đó”
+ Nguyễn Khoa Điềm giúp ta cảm nhận đất nước một cách thật gần gũi: Đất
Nước có trong câu chuyện cổ tích “ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”,
miếng trầu bà ăn, ngôi nhà mình ở, chuyện đánh giặc ngoại xâm, chuyện phongtục tập quán, chuyện tình nghĩa sâu đậm
+ Lịch sử lâu đời của đất nước: được nhắc đến bằng câu chuyện cổ tích “Trầu
cau”, truyền thuyết Thánh Gióng, phong tục tập quán (Tóc mẹ thì bới sau đầu), nền văn minh lúa nước (Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng)
Đất nước được cảm nhận từ chiều sâu văn hoá và lịch sử
- Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận được đất nước là sự thống nhất hài hoà giữacác phương diện không gian - địa lí, thời gian - lịch sử:
+ Tác giả chia tách khái niệm Đất Nước thành hai yếu tố đất và nước để cảmnhận và suy tư về đất nước một cách sâu sắc:
./ Đất nước là nơi tình yêu đôi lứa nảy nở:
“Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn Nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
./ Đất Nước bao gồm cả núi sông, rừng bể:
“Đất là nơi xon chim phượng hoàng bay về hòn núi Bạc
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”.
Hình ảnh gợi không gian mênh mông: Niềm tự hào về đất nước trù phú,giàu đẹp, tài nguyên vô tận
+ Đất Nước cũng chính là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao
thế hệ: Từ quá khứ (Những ai đã khuất), hiện tại (Những ai bây giờ), đến các thế hệ tương lai (Dặn dò con cháu chuyện mai sau)
+ Tất cả đều không quên nguồn cội:
“Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
Trang 36- Mạch thơ thể hiện những suy ngẫm về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với ĐấtNước
+ Đất Nước không ở đâu xa mà có mặt trong mỗi con người:
“Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước”
Mỗi người Việt Nam đều được thừa hưởng một phần vật chất và tinh thầncủa đất nước
+ Đất nước là sự hài hoà hợp trong nhiều mối quan hệ: cá nhân với cá nhân
(“Khi hai đứa cầm tay nhau - Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm), cá nhân với cộng đồng (Khi chúng ta cầm tay mọi người - Đất Nước vẹn tròn to lớn”)
Đất nước được xây dựng trên cơ sở của tình yêu thương và tình đoàn kết dântộc
- Vì vậy, mỗi con người cần có trách nhiệm đối với đất nước:
"Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời”
Điệp ngữ “phải biết”, những từ ngữ “máu xương”, “gắn bó”, “san sẻ”, “hoáthân”, cách xưng hô thân mật “Em ơi em”, giọng thơ ngọt ngào tha thiết như lờitâm sự, nhắn gửi chân thành dành cho thế hệ trẻ cũng như bản thân mình
3 Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân
a Những phát hiện mới mẻ về không gian- lãnh thổ - địa lí của đất nước
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước mình những núi Vọng Phu
… Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”
Dưới cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, thiên nhiên địa lí của đất nước khôngchỉ là sản phẩm của tạo hoá mà còn được hình thành từ cuộc đời và số phận củanhân dân, từ: người vợ nhớ chồng, cặp vợ chồng yêu nhau, người học trònghèo, đến những người dân vô danh được gọi bằng những cái tên mộc mạcnhư Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
- Từ đó, tác giả đi đến một kết luận mang tính khái quát:
“ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước một lối sống cha ông
Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.”
Theo tác giả: Những thắng cảnh đẹp, những địa danh nổi tiếng khắp mọimiền của đất nước đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh của bao công sức vàkhát vọng của nhân dân, của những con người bình thường, vô danh
- Trên phương diện thời gian - lịch sử cũng chính nhân dân, những con người
bình dị, vô danh đã “Làm nên đất nước muôn đời”:
Trang 37+ Chính vì vậy, khi cảm nhận Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, nhà thơ khôngnói đến các triều đại, các anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vôdanh, bình dị:
Có biết bao người con gái con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ làm ra đất nước
Chọn nhân dân không tên tuổi kế tục nhau làm nên Đất Nước là nét mới mẻđộc đáo của NKĐiềm
- Trên phương diện văn hoá, cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồnbản sắc văn hoá dân tộc:
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái.”
+ Đại từ “Họ” đặt đầu câu + nhiều động từ “giữ, truyền, gánh”
Vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn và lưu truyền văn hoá qua các thế hệ.+ Chính những con người “giản dị và bình tâm” “không ai nhớ mặt đặt tên” đãgìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau mọi giá trị tinh thần và vật chất của Đấtnước từ “hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói đến cả tên xã, tên làng trong mỗi chuyến didân
- Họ có công trong việc chống ngoại xâm, dẹp nội thù:
“Có ngoại xâm thì dẹp ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại”
Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình
- Điểm hội tụ và cũng là cao điểm của cảm xúc trữ tình trong đoạn thơ là ở câu:
“Để cho Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”.
+ Khi nói đến “Đất Nước của nhân dân”, tác giả mượn văn học dân gian để nhấn mạnh thêm vẻ đẹp của đất nước: “Đất Nước của ca dao thần thoại”.
+ Từ nền văn học dân gian, nhà thơ đã khám phá ra những vẻ đẹp tâm hồn vàtính cách của dân tộc
./ Họ là những con người yêu say đắm và thuỷ chung: “Dạy anh yêu em từ thuở trong nôi”.
./ Quý trọng nghĩa tình (Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội)
/ Quyết liệt trong chiến đấu với kẻ thù (Biết trồng tre đợi ngày thành gậy - Đi trả thù mà không sợ dài lâu)
- Kết thúc đoạn thơ là hình ảnh dòng sông với những điệu hò:
“Ơi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình bắt lên câu hát
Trang 38Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”
như muốn kéo dài thêm giai điệu ngân nga với nhìêu cung bậc của bảntrường ca về Đất Nước
III Tổng kết
IV Luyện tập
Các chất liệu văn hóa dân gian sử dụng trong bài thơ:
- Sử dụng chất liệu văn học dân gian: ca dao, thần thoại, cổ tích, truyền thuyết,thành ngữ, tục ngữ
- Ví dụ: Thánh Gióng,…
BÀI 6: SÓNG (XUÂN QUỲNH)
Đề 1: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.
I Mở bài:
- Xuân Quỳnh là nhà thơ tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ, cũng làgương mặt đáng chú ý của nền thơ ca Việt Nam hiện đại Thơ XQ là tiếng lòngcủa một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn vừa hồn nhiên tươi tắn vừa chân thànhđằm thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường XQviết về nhiều đề tài nhưng thành công nhất là ở đề tài tình yêu, nữ sĩ đượcphong tặng là “nữ hoàng thơ tình” trong thơ ca hiện đại Việt Nam
- Một trong những bài thơ tình hay nhất của Xuân Quỳnh là bài thơ Sóng
II Thân bài:
*Khái quát chung:
- XQ viết bài thơ Sóng vào cuối năm 1967 khi nữ sĩ đi thực tế ở vùng biển
Diêm Điền chính những con sóng bạc đầu vỗ trong lòng biển đã khơi nguồncảm hứng cho nữ sĩ viết bài thơ này
- Bài thơ ra đời ở một thời điểm có nhiều biến động:
+ Cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta diễn ra ác liệt tuổi trẻ mangtrong mình khát vọng lên đường giải phóng quê hương, ở những sân ga bến xediễn ra các cuộc chia tay đầy lưu luyến
+ Đặc biệt XQ viết bài thơ này khi mới 25 tuổi cuộc sống riêng tư cònnhiều chuyện buồn dang dở
- Như vậy Sóng ra đời trong bối cảnh chiến tranh chống mĩ ác liệt khi đó tình
yêu lứa đôi chưa phải là một đề tài phổ biến trong thơ ca, nhất lại là tiếng nóicủa cái tôi cá nhân đích thực khao khát kiếm tìm tình yêu, Vì vậy bài mang giátrị nhân văn sâu sắc
- Sóng được in trong tập Hoa dọc chiến hào (năm 1968) Lúc mới ra đời bài
thơ còn xa lạ với độc giả nhưng càng về sau thì càng chiếm được cảm tình củađộc giả
Trang 39- Sóng là một hình tượng động, bất biến cũng như tình yêu muôn thuở / Có bao giờ đứng yên Vì vậy, sóng được các nhà thơ chọn làm thi liệu để biểu tượng
cho tình yêu Xuân Diệu mượn sóng làm hình ảnh biểu tượng cho tình yêu:
Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ thật êm Hôn êm đềm mãi mãi
Đã hôn rồi hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt.
Còn Xuân Quỳnh lại mượn sóng là biểu tượng cho những cung bậc tìnhcảm của người phụ nữ trong tình yêu nhiều khao khát và biến động Hai hìnhtượng sóng và em luôn đi đôi sánh cặp với nhau Sóng là em mà em cũng làsóng Sóng và em hòa quyện vào nhau, có lúc khiến ta không nhận ra đâu là emđâu là sóng nhưng có lúc lại tách ra, soi chiếu vào nhau, tôn lên những vẻ đẹpvừa đa dạng lại vừa phong phú Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âmhưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ Thể thơ năm chữ có tác dụng tạo ranhững nhịp điệu của sóng Cả bài thơ là một đại dương, mỗi khổ thơ là một consóng lớn, mỗi câu thơ là một con sóng nhỏ Tất cả đã tạo nên một âm hưởngmênh mang, dào dạt của những con sóng lòng nhiều cung bậc
*Phân tích:
1 Hai khổ thơ đầu: Mượn sóng để diễn tả tâm hồn và khát vọng tình yêu
a Khổ thơ đầu: nhà thơ mượn tính chất của sóng để nói về tâm hồn người phụ nữ đang yêu:
- Mở đầu bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh đã sử dụng nghệ thuật đối song hành để
nói về tính chất của sóng, đem đến cho người đọc những khám phá thi vị:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ + Sóng luôn tồn tại những trạng thái tưởng chừng như đối lập: Dữ dội – dịu êm;
Ồn ào – lặng lẽ Khi diễn tả tính chất của sóng, nhà thơ đã dùng từ và chứ không dùng từ mà Và chỉ sự tồn tại bổ sung cho nhau Nghệ thuật đối đã làm
hiện lên vẻ đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực Những lúc biểnđộng, bão tố phong ba thì biển dữ dội ồn ào còn những giây phút sóng gió điqua biển lại hiền hòa trở về dịu êm, lặng lẽ
+ Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trongmột tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, không chịu yên định
mà đầy biến động, khao khát Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên.
Đúng như vậy, tình yêu của người con gái nào bao giờ yên định bởi có lúc họ
yêu mãnh liệt hết mình với những nhớ nhung cả trong mơ còn thức, đôi khi
ghen tuông giận hờn vô cớ:
Nếu phải cách xa nhau
Trang 40Biển chỉ còn sóng gió Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố (Thuyền và Biển)
Nhưng cũng có lúc người con gái lại thu mình trở về với chất nữ tính đáng yêu,
họ lặng lẽ, dịu êm
ngắm soi mình và lặng im chiêm nghiệm:
Có những tình yêu không thể nói bằng lời Chỉ hiểu nhau qua từng ánh mắt
Nhưng đó là tình yêu bền vững nhất Bởi thứ ồn ào là thứ dễ lãng quên
(Đinh Thu Hiền)
- Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn thiếu nữ trẻ trung, tiếngnói của một trái tim chân thành và đam mê, luôn rực cháy chất trẻ trung mãnhliệt, khao khát được sống hết mình và yêu hết mình Vì thế, ở hai câu thơ saunhà thơ nói về khát vọng tự nhận thức của sóng:
Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể
+ Ba hình ảnh sông, sóng, bể như là những chi tiết bổ sung cho nhau: sông và
bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi
mênh mang thăm thẳm Mạch sóng mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp
để khát khao một không gian lớn lao Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sứcsống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình Sóngkhông cam chịu một cuộc sống, đời sống chật hẹp, tù túng nên nó làm cuộchành trình ra biển khơi bao la để thỏa sức vẫy vùng Tình yêu của Xuân Quỳnhcũng vậy, tình yêu của người phụ nữ cũng không thể đứng yên trong một tìnhyêu nhỏ hẹp mà phải vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hẹp tầm thường để đượcsống với những tình yêu cao cả, rộng lớn, bao dung Đây là một quan niệm tìnhyêu tiến bộ và mạnh mẽ của người phụ nữ thời đại Ngày xưa, vì quan niệm tình
yêu cổ hủ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó mà bao cô gái đã phải cất lên lời than