Giáo án dạy thêm Ngữ văn lớp 11, chất lượng (kì 1) Kế hoạch bài dạy thêm Ngữ văn lớp 11, chất lượng (kì 1)
Trang 1- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Lê Hữu Trác.
- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dân tộc
II CHUẨN BỊ
1 Giáo viên
- Giáo án dạy thêm
- Phương tiện, đồ dùng dạy học
2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Lê Hữu Trác trong tài liệu tham khảo hoặctrên các trang web
Trang 2III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP.
- Dòng tộc ông vốn có truyền thống khoa bảng: ông nội, bác, chú, anh và em họ đều
đỗ Tiến sĩ và làm quan to
- Thân sinh của ông từng đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm Thị lang Bộ Công triều Lê DụTông, gia phong chức Ngự sử, tước Bá, khi mất được truy tặng hàm Thượng thư(năm Kỷ Mùi 1739)
- Khi ấy, Lê Hữu Trác mới 20 tuổi, ông phải rời kinh thành về quê nhà, vừa trôngnom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, mong nối nghiệp gia đình, lấy đường khoa cử
- Đến năm 1746, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹgià, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự “bẻ tên cởi giáp” theo đuổichí hướng mới
- Ông là một danh y, không chỉ chữa bệnh mà còn soạn sách và mở trường dạy nghềthuốc để truyền bá y học
- Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển, là công trình nghiên cứu y học xuất
sắc nhất của ông trong thời trung đại Việt Nam
- Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn
học, lịch sử, triết học
- Qua tác phẩm, có thể thấy Lê Hữu Trác còn là một nhà văn, nhà thơ với nhữngđóng góp đáng ghi nhận cho văn học nước nhà
2 Tác phẩm Thượng kinh kí sự
Trang 3a Khái quát:
- Thượng kinh kí sự (Kí sự đến kinh đô) là tập ký sự bằng chứ Hán, hoàn thành năm
1783, được xếp ở cuối bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh như một quyển phụ lục.
- Ký sự: là một thể ký, ghi chép sự việc, câu chuyện có thật và tương đối hoàn chỉnh
- Thượng kinh ký sự tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh
và quyền uy, thế lực của nhà chúa – những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trongchuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúaTrịnh Sâm Qua đó, người đọc thấy được thái độ coi thường danh lợi của tác giả Tácphẩm kết thúc với việc Lê Hữu Trác được về lại quê nhà, trở về với cuộc sống tự dotrong tâm trạng hân hoan, tiếp tục cống hiến đời mình cho y thuật
b Tóm tắt đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
Vào sáng sớm tinh mơ ngày 1 tháng 2, tôi được lệnh triệu vào phủ chúa Tôi nhanhchóng được điệu đi trên một cái cáng chạy như ngựa lồng Tôi đi vào từ cửa sau, nhìnquanh tôi thấy cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đua thắm Qua mấy lầncửa, các hành lang dài quanh co tôi được đưa tới một ngôi nhà thật lớn gọi là phòngtrà Đồ đạc trong phòng đều được sơn son thếp vàng Lúc đó thánh thượng đang ngựphòng thuốc cùng các phi tần nên tôi không thể yết kiến Tôi được thiết đãi bữa sáng
mỹ vị với đồ dùng toàn bằng vàng, bạc Ăn xong tôi được đưa đến yết kiến ở ĐôngCung và khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán Thế tử vì “ăn quá no, mặc quá ấm” màsinh bệnh Nửa sợ bị cuốn vào vòng danh lợi, nửa vì chịu ơn của nước Cuối cùng, tôidốc lòng kê đơn cho thế tử, rồi từ giã lên cáng trở về kinh Trung Kiền chờ thánh chỉ.Bạn bè ai ai trong cung cũng đến thăm hỏi
- Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh ghi lại một lần được truyền tới phủ chúa chữa bệnh cho thế tử đã trở thành một đoạn trích tiêu biểu trong cuốn Thượng kinh kí sự của Lê
Hữu Trác
Trang 4b Thân bài
* Quang cảnh và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa
*.1 Quang cảnh nơi phủ chúa
+ Phải qua năm sáu lần trướng gấm
+ Trong phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bàynệm gấm, màn là che ngang sân, xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt
=> Lộng lẫy, tráng lệ, thể hiện sự thâm nghiêm và quyền uy tột đỉnh của nhà chúa
*.2 Cung cách sinh hoạt
- Quyền uy: Khi tác giả được cáng vào phủ: “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường
và cáng chạy như ngựa lồng”, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc qualại như mắc cửi”
- Nhắc đến chúa và thế tử một cách cung kính: “thánh thượng đang ngự ở đấy, chưathể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà”
- Khuôn phép, lễ nghi: Tác giả không được thấy mặt chúa, chỉ làm theo mệnh lệnh doquan chánh đường truyền tới, trước khi vào xem bệnh cho thế tử phải lạy bốn lạy,muốn xem thân hình của thế tử phải có viên quan nội thần đến xin phép
- Lắm kẻ hầu người hạ: Chúa Trịnh luôn có phi tần hầu chầu chực xung quanh, Thế
tử bị bệnh có đến 7, 8 thầy thuốc phục dịch và lúc nào cũng có “mấy người đứng hầuhai bên”
⇒ Cao sang, quyền uy tột đỉnh cùng với cuộc sống hưởng thụ xa hoa đến cực điểm
và sự lộng quyền của nhà chúa
Trang 5⇒ Tác giả không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu khí trời
và tự do
* Tài năng, y đức của Lê Hữu Trác
- Có sự mâu thuẫn, giằng co:
+ Hiểu căn bệnh, biết cách chữa trị nhưng sợ chữa có hiệu quả ngay sẽ được chúa tindùng, bị công danh trói buộc
+ Muốn chữa cầm chừng nhưng lại sợ trái với lương tâm, y đức, sợ phụ lòng chaông
- Cuối cùng phẩm chất, lương tâm của người thầy thuốc đã thắng Ông gạt sang mộtbên sở thích cá nhân để làm tròn trách nhiệm ⇒ Là một thầy thuốc có lương tâm vàđức độ
- Khinh thường lợi danh, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dịnơi quê nhà
- Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn sự chú ý của người đọc, không bỏ sót nhữngchi tiết nhỏ tạo nên cái thần của cảnh và sự việc
* Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác giả
- Quan sát tỉ mỉ (quang cảnh phủ chúa, nơi thế tử Cán ở)
- Khát quát, nhấn mạnh nội dung và nghệ thuật đoạn trích
- Mở rộng vấn đề: Đoạn trích ghi chép một cách chân thực cho chúng ta hiểu thêm vềcách sống, cách sinh hoạt của vua chúa trong quá khứ dân tộc
TIẾT 3:
ĐỀ SỐ 2: PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG ĐOẠN TRÍCH “ VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH” ( TRÍCH THƯỢNG KINH KÍ SỰ) CỦA TÁC GIẢ LÊ HỮU TRÁC.
DÀN BÀI
a
Mở bài
Trang 6- Giới thiệu những nét tiêu biểu nhất về tác giả Lê Hữu Trác và đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh: Một con người toàn tài với quan niệm: “ngoài việc luyện câu văn cho
hay, mài lưỡi gươm cho sắc, còn phải đem hết tâm lực chữa bệnh cho người”, đoạntrích Vào phủ chúa Trịnh là một trong những đoạn trích tiêu biểu trong tác
phẩm Thượng kinh kí sự của ông.
- Đoạn trích đã thể hiện rõ nét vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Lê Hữu Trác
b.
Thân bài
* Là con người coi thường danh lợi
- Ban đầu, khi đứng trước khung cảnh xa hoa, lộng lẫy của phủ chúa:
+ Cảm thán: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực kháchẳn với người thường!”
+ Vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng vương giả trong phủ với “gác vẽ, rèm châu,hiên ngọc, vườn ngọc” có hoa thơm, chim biết nói…
- Tuy nhiên, đằng sau đó, tác giả cũng gián tiếp phê phán cuộc sống sa hoa nhưngthiếu sinh khí trong phủ chúa thông qua:
+ Sự miêu tả tỉ mỉ sự sa hoa giàu sang
+ Khi được mời dùng cơm: “Mâm vàng chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôibấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia” ⇒ giọng điệu mỉa mai
+ Cảm nhận về con đường vào nội cung của thế tử: Ở trong tối om, không thấy cửangõ gì cả, “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nêntạng phủ yếu đi” ⇒ Không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếukhí trời và tự do
+ Ẩn chứa trong bài thơ là giọng điệu mỉa mai phê phán: “Cả trời Nam sáng nhất làđây!” (phơi bày hiện thực về sự sa hoa của chúa Trịnh)
⇒ Con người coi thường danh lợi
* Là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ
- Tâm trạng của Lê Hữu Trác khi kê đơn cho thế tử có sự mâu thuẫn, giằng co:
+ Hiểu căn bệnh, biết cách chữa trị nhưng sợ chữa có hiệu quả ngay sẽ được chúa tindùng, bị công danh trói buộc, không được về với núi rừng ẩn dật
+ Muốn chữa cầm chừng nhưng lại sợ trái với lương tâm, y đức, sợ phụ lòng chaông
- Cuối cùng phẩm chất, lương tâm của người thầy thuốc đã chiến thắng Ông chữabệnh tận tình bằng tài năng của mình, thẳng thắn đưa ra những cách chữa bệnh hợp lí
Trang 7⇒ Cách lí giải về bệnh tình thế tử Trịnh Cán cho thấy Lê Hữu Trác là một thầy thuốc
có lương tâm và đức độ
* Là con người có cốt cách thanh cao
- Luôn coi việc nối tiếp lòng trung thành của cha ông mình làm tôn chỉ để hành độngđúng đắn
- Xem thường danh lợi, yêu thích tự do, mong muốn được sống thanh đạm nơi quêmùa: suy nghĩ của Lê Hữu Trác khi ông chữa bệnh cho thế tử
⇒ Sự coi thường danh lợi của Lê Hữu Trác, mong muốn sống cuộc đời tự do, chữabệnh cứu người của ông cho thấy một cốt cách thanh cao của một danh y
IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )
- Ghi nhớ nội dung bài học
- Tìm hiểu một số đề bài liên quan
- Chuẩn bị bài: Chủ đề Thơ Hồ Xuân Hương
Trang 8- Biết cách phân tích được những tác phẩm thơ Nôm trong văn học trung đại ViệtNam.
- Luyện giải các đề
3 Về phẩm chất:
- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Hồ Xuân Hương
- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dân tộc
II CHUẨN BỊ
1 Giáo viên
- Giáo án dạy thêm
- Phương tiện, đồ dùng dạy học
2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về HXH trong tài liệu tham khảo hoặc trên cáctrang web
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
TIẾT 1:
PHẦN I: TÁC GIẢ VÀ CHÙM THƠ TỰ TÌNH.
1 Tác giả:
- Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài ba ở nước ta vào cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX.
Bà là người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Ngoài tập"Lưu Hương kí" bà còn để lại khoảng 50 bài thơ nôm, phần lớn là thơ đanghĩa, vừa có nghĩa thanh vừa có nghĩa tục Một số bài thơ trữ tình đằm thắm, thiếttha, buồn tủi thể hiện sâu sắc thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, với bao khao
Trang 9khát sống và hạnh phúc tình duyên Chùm thơ "Tự tình" phản ánh tâm tư tình cảmcủa Hồ Xuân Hương, của một người phụ nữ lỡ thì quá lứa, duyên phận hẩm hiu
Tự tình I
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om.
Trước nghe những tiếng thêm rầu rỉ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom!
Tự tình II
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn,
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!
Tự Tình III
Chiếc bánh buồn vì phận nổi nênh,
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,
Trang 10Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.
- Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của nền văn học trung đạiViệt Nam, được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm” Bà là một “thiên tài kì nữ” nhưngcuộc đời đầy éo le, bất hạnh Thơ Hồ Xuân Hương là thơ của phụ nữ viết về phụ nữ,trào phúng mà vẫn rất trữ tình Một trong những bài thơ tiêu biểu viết về tâm trạng,nỗi niềm của người phụ nữ trước duyên phận, cuộc đời mình là “Tự tình” (II)
TIẾT 2:
2 BÀI THƠ TỰ TÌNH( II)
a Khái quát về bài thơ“Tự tình” (II) là bài thơ thuộc chùm thơ “Tự tình” gồm ba
bài của bà Đây là chùm thơ nữ sĩ viết để tự kể nỗi lòng, tâm tình của mình Tácphẩm được viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bốcục bốn phần: đề, thực, luận, kết Bài thơ thể hiện thái độ, tâm trạng vừa đau đớn,vừa phẫn uất trước thực tại đau buồn, tuy vậy, bà vẫn gắng gượng vươn lên, nhưngrồi vẫn rơi vào bi kịch Dựa vào nội dung bài thơ, ta có thể đoán bài thơ được sángtác khi bà đã gặp phải những éo le, bất hạnh trong tình duyên
b Nội dung
– Hai câu đề giới thiệu cảnh đêm khuya với tiếng trống canh từ xa văng vẳng dồndập Trong thời điểm đó, nhà thơ – nhân vật trữ tình lại đang một mình trơ trọi giữađêm khuya Hai câu đề chỉ với 14 chữ ngắn gọn nhưng đã diễn tả sâu sắc tình cảnh
cô đơn của nữ sĩ trong dêm khuya thanh văng
– Từ nỗi cô đơn, thao thức không biết bày tỏ, tâm sự cùng ai, nhân vật trữ tình tỏ rachán chường và đã tìm dến rượu, mượn rượu để giải sầu Nhà thơ muốn chìm ngậptrong cơn say để quên đi thực tại xót xa, tủi nhục nhưng thật trớ trêu: Chén rượuhương đưa say lại tinh/ Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn Cơn say rồi cũng qua
di và khi tỉnh rượu, nhân vật trữ tình giật mình quay về với thực tại và càng nhận ranỗi trống vắng, bạc bẽo của tình đời khi chạm phải “Vầng trăng bóng xế khuyết chưatròn" Khi tình rượu, nhân vật trữ tình không chi nhận ra thân phận cô đơn mà cònnhận ra một sự thật đắng cay hơn: tình duyên vẫn chưa trọn vẹn nhưng tuổi xanh đãdần dần trôi di
– Từ nỗi phẫn uất duyên tình lỡ dở, hai câu luận là nỗi bực dọc, phản kháng của nhânvật trữ tình Hình ảnh từng đám rêu “xiên ngang mặt đốt" như trêu ngươi nhà thơ, bởirêu phong là bằng chứng cho sự vô tình của thời gian và nó là hiện thân của sự tàn
Trang 11phá Bực dọc vì tuổi xuân qua mau, đời người ngắn ngủi, nhỏ bé, nhà thơ muốn bứtphá, muốn thoát khỏi tình cảnh hiện tại Hình ảnh: Đâm toạc chân mảy đá mấy hòn"thể hiện thái độ ngang ngạnh, phàn kháng, ấm ức của nhà thơ.
– Nhưng phản kháng cũng không được, năm tháng cứ thế trôi đi, tuổi xuân qua mau
mà duyên tình vẫn chưa được vuông tròn, chung tình không đến, người chung tìnhthì cứ chờ đợi mỏi mòn, tuổi xuân tàn phai theo năm tháng Mành tình quanh đi quẩnlại vần chỉ là “san sẻ tí con con” Bởi vậy nhân vật trử tình quay sang than thở chothản phận của mình: Ngán nỗi xuân di xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con Haicâu kết cực tả tâm trạng chua chát, buồn tủi cua nhân vật trữ tình Tóm lại, Tự tìnhthể hiện tâm trạng, thái độ của nữ sĩ Hồ Xuán Hương: vừa đau buồn, cô đơn, vừaphần uất trước duyên phận; càng gắng gượng vươn lên lại càng rơi vào bi kịch Đằngsau nỗi xót xa, buồn tủi đó là khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của nữ sĩ nóiriêng và người phụ nữ trong xã hội phong kiến nói chung
TIẾT 3:
c Nghệ thuật
– Cách dùng từ ngừ của Hồ Xuân Hương hết sức giản dị, giàu sức biểu cảm, táo bạonhưng lại rất tinh tế Với tài nghệ sứ dụng từ ngữ, Hồ Xuân Hương đã tạo cho bài thơnhiều giọng điệu với đầy đủ các sắc thái tình cảm: tủi hổ, phiền muộn, bực dọc, phảnkháng và cuối cùng là chua chát, chán chường
- Nhà thơ còn dùng phép tiểu đối: lấy “cái hồng nhan" đem dối với “nước non” thậtđắt và táo bạo nhưng lại rất phù hợp nên đã làm nổi bật dược tâm trạng cô đơn, chánchường của mình
– Đặc biệt, nghệ thuật tăng tiến ờ câu cuối: Mảnh tình – san sẻ – tí – con – con, đãlàm nổi bật tâm trạng chua chát, buồn tủi của chủ thế trữ tình trước tình duyên lậndận Với nghệ thuật đặc sắc đó, Hồ Xuân Hương đã góp vào kho tàng thơ Nôm ViệtNam một tiếng thơ táo bạo mà chân thành, mới lạ nhưng lại hết sức gần gũi
c Giá trị
Bài thơ mang giá trị nhân đạo sâu sắc Với việc giãi bày nỗi cô dơn, buồn tủi củamình, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nói lên được tình cảnh chua chát cùa muôn vàn phụ
nữ trong xã hội phong kiến Đó là xã hội bất công đã làm cho bao nhiêu thản phận
“hồng nhan” bị lỡ làng và đau khổ Buồn tủi với tình cảnh hiện tại, nữ sĩ luôn khaokhát một cuộc sống hạnh phúc, một tinh yêu lứa đôi trọn vẹn Khát vọng của HồXuán Hương về hạnh phúc lứa đôi cũng chính là khát vọng của người phụ nữ trong
xã hội lúc bấy giờ Đó là một khát vọng chính dáng và đầy tính nhân văn
IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )
Trang 12- Ghi nhớ nội dung bài học.
- Tìm hiểu một số đề bài liên quan
- Chuẩn bị bài: Chủ Thơ Hồ Xuân Hương
- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Hồ Xuân Hương
- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dân tộc
II CHUẨN BỊ
1 Giáo viên
- Giáo án dạy thêm
- Phương tiện, đồ dùng dạy học
Trang 13+ Thảo luận nhóm
+ Giảng bình
+ Phân tích
2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về HXH trong tài liệu tham khảo hoặc trên cáctrang web
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
- Trình bày những nét tiêu biểu về nữ sĩ Hồ Xuân Hương: Nữ sĩ được mệnh danh:
“Bà chúa thơ Nôm” với rất nhiều những bài thơ thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp vàniềm cảm thông, thương xót cho số phận những người phụ nữ
- Giới thiệu bài thơ Tự tình II: Đây là một trong số 3 bài thơ trong chùm thơ Tự tìnhthể hiện nỗi niềm buồn tủi trước cảnh ngộ lỡ làng
b Thân bài
* Hai câu đề: Nỗi niềm buồn tủi, chán chường
•*.1.Câu 1: Thể hiện qua việc tái hiện bối cảnh:
- Thời gian: + Đêm khuya, trống canh dồn – nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếng trốngthể hiện bước đi thời gian gấp gáp, vội vã ⇒ Con người chất chứa nỗi niềm, bất an
- Không gian: “văng vẳng”: lấy động tả tĩnh ⇒ không gian rộng lớn nhưng tĩnhvắng
⇒ Con người trở nên nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn
*.2 Câu 2: Diễn tả trực tiếp nỗi buồn tủi bằng cách sử dụng từ ngữ gây ấn tượngmạnh:
Trang 14- Từ “trơ” được nhấn mạnh: nỗi đau, hoàn cảnh “trơ trọi”, tủi hờn, đồng thời thểhiện bản lĩnh thách thức, đối đầu với những bất công ngang trái
- Cái hồng nhan: Kết hợp từ lạ thể hiện sự rẻ rúng
⇒ Hai vế đối lập: “cái hồng nhan” >< “với nước non”
⇒ Bi kịch người phụ nữ trong xã hội
* Hai câu thực: Diễn tả rõ nét hơn tình cảnh lẻ loi và nỗi niềm buồn tủi
*.1 Câu 3: gợi lên hình ảnh người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặng vớibao xót xa
- Chén rượu hương đưa: Tình cảnh lẻ loi, mượn rượu để giải sầu
- Say lại tỉnh: vòng luẩn quẩn không lối thoát, cuộc rượu say rồi tỉnh cũng như cuộctình vướng vít cũng nhanh tan, để lại sự rã rời
⇒ Vòng luẩn quẩn ấy gợi cảm nhận duyên tình đã trở thành trò đùa của số phận
*.2 Câu 4: Nỗi chán chường, đau đớn e chề
- Hình tượng thơ chứa hai lần bi kịch:
+ Vầng trăng bóng xế: Trăng đã sắp tàn ⇒ tuổi xuân đã trôi qua
- Khuyết chưa tròn: Nhân duyên chưa trọn vẹn, chưa tìm được hạnh phúc viên mãn,tròn đầy ⇒ sự muộn màng dở dang của con người
- Nghệ thuật đối → tô đậm thêm nỗi sầu đơn lẻ của người muộn màng lỡ dở
⇒ Niềm mong mỏi thoát khỏi hoàn cảnh thực tại nhưng không tìm được lối thoát
* Hai câu luận: Nỗi niềm phẫn uất, sự phản kháng của Xuân Hương
- Cảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang niềm phẫn uất và bộc lộ cá tính: + Rêu: sự vật yếu ớt, hèn mọn mà cũng không chịu mềm yếu
+ Đá: im lìm nhưng nay phải rắn chắc hơn, phải nhọn hoắt lên để “đâm toạc chânmây”
+ Động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với bổ ngữ ngang, toạc: thể hiện sự bướngbỉnh, ngang ngạnh
Trang 15+ Nghệ thuật đối, đảo ngữ ⇒ Sự phản kháng mạnh mẽ dữ dội, quyết liệt
⇒ sức sống đang bị nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng
⇒ Sự phản kháng của thiên nhiên hay cũng chính là sự phản kháng của con người
* Hai câu kết: Quay trở lại với tâm trạng chán trường, buồn tủi
*.1 Câu 7: - Ngán: chán ngán, ngán ngẩm
- Xuân đi xuân lại lại: Từ “xuân” mang hai ý nghĩa, vừa là mùa xuân, đồng thờicũng là tuổi xuân
⇒ Mùa xuân đi rồi trở lại theo nhịp tuần hoàn còn tuổi xuân của con người cứ qua
đi mà không bao giờ trở lại ⇒ chua chát, chán ngán
*.2 Câu 8:- Mảnh tình: Tình yêu không trọn vẹn
- Mảnh tình san sẻ: Càng làm tăng thêm nỗi chua xót ngậm ngùi, mảnh tình vốn đãkhông được trọn vẹn nhưng ở đây còn phải san sẻ
- Tí con con: tí và con con đều là hai tính từ chỉ sự nhỏ bé, đặt hai tính từ này cạnhnhau càng làm tăng sự nhỏ bé, hèn mọn
⇒ Mảnh tình vốn đã không được trọn vẹn nay lại phải san sẻ ra để cuối cùng trởthành tí con con
⇒ Số phận éo le, ngang trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phải chịuthân phận làm lẽ
* Nghệ thuật
- Ngôn ngữ thơ điêu luyện, bộc lộ được tài năng và phong cách của tác giả:
+ Sử dụng từ ngữ, hình ảnh giàu sức tạo hình, giàu giá trị biểu cảm, đa nghĩa
- Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ: câu hỏi 2, câu 5 và câu 6
- Sử dụng động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc
c Kết bài
- Khẳng định lại những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Trang 16- Thông qua bài thơ thể hiện giá trị hiện thực và bộc lộ tấm lòng nhân đạo sâu sắccủa một nhà thơ “phụ nữ viết về phụ nữ”
- Bên cạnh giọng thơ khinh bạc ấy, ta lại bắt gặp một trong những bài thơ tả cảnhngụ tình khá sâu sắc và ý tứ chân thành nhằm giãi bày tâm sự của mình
b Thân bài
* Khái quát chung:
- Bài thơ thể hiện nỗi buồn và tâm sự của nhà thơ về số phận lẻ loi của mình và niềmkhát khao được hạnh phúc
* Phân tích:
– Trong sự hoang vắng, tịch mịch của không gian, nhân vật trữ tình xuất hiện vớinhững tâm sự, suy tư chất chồng về sự nhỏ bé của bản thân và sự lỡ làng của duyênphận
– Âm thanh tiếng trống trong đêm không làm lòng người thôi khắc khoải mà dườngnhư càng làm đậm thêm nỗi buồn, sự lạc lõng giữa cuộc đời
– “Hồng nhan” là gương mặt đẹp, thường được dùng để chỉ những người con gáiđẹp
–> động từ trơ được đảo lên đầu câu lại gợi ấn tượng về sự nhỏ bé, lạc lõng của thânphận người phụ nữ trước cuộc đời rộng lớn
– Tâm trạng chất chứa những suy tư, bế tắc khôn nguôi nhưng người phụ nữ ấy lạichẳng có lấy một người để giãi bày những tâm sự mà phải tìm đến rượu như mộtcách để thoát li với thực tại đau khổ
– Đối diện với thân phận hẩm hiu, tình duyên dang dở nữ sĩ đã muốn mượn rượu giảisầu, muốn say để quên đi tất cả nhưng dường như càng uống càng tỉnh
– “Say lại tỉnh” gợi ra trạng thái say – tỉnh bất phân, hơi rượu không làm cho nữ sĩquên đi mà càng khắc sâu nỗi đau về thân phận
Trang 17– Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn là vầng trăng sắp tàn khi ngày đến, trạng tháikhuyết chưa tròn cũng như tình duyên dang dở, lỡ làng của duyên phận.
– Nghệ thuật đảo ngữ được sử dụng vô cùng hiệu quả để hiện sự bất bình, bức bốicủa tác giả trước tình sự bất công của số phận đồng thời thể hiện khát khao vượtthoát khỏi hoàn cảnh
– Người phụ nữ dùng cả tuổi xuân của mình để chờ mong, khát cầu một hạnh phúc
dù là nhỏ bé, đơn giản nhưng chờ cả tuổi xuân hạnh phúc khát cầu ấy cũng chẳng thểtrọn vẹn
– “Ngán” là trạng thái của nhà thơ Hồ Xuân Hương trước sự mất mát của tuổi xuânnhưng không thể một lần chạm đến hạnh phúc
– Tình duyên vốn mỏng manh, nhỏ bé “mảnh tình” cũng không được trọn vẹn màphải san sẻ càng khiến cho độc giả thêm xót xa về thân phận hẩm hiu của kiếp chồngchung, lẽ mọn
TIẾT 1:
* Đánh giá chung:
– Cách dùng từ ngữ của Hồ Xuân Hương hết sức giản dị, giàu sức biểu cảm, táo bạonhưng lại rất tinh tế Với tài nghệ sử dụng từ ngữ, Hồ Xuân Hương đã tạo cho bài thơnhiều giọng điệu với đầy đủ các sắc thái tình cảm: tủi hổ, phiền muộn, bực dọc, phảnkháng và cuối cùng là chua chát, chán chường
- Bài thơ đã thể hiện được tâm trạng đau buồn, phẫn uất trước duyên phận, gắng
gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch số phận Bài thơ cho thấy khát vọng sống,khát vọng hạnh phúc
c Kết bài
- Tự tình 2 là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho tâm hồn, tài năng và phongcách của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Bài thơ thể hiện được sự ý thức sâu sắc của ngườiphụ nữ trước hoàn cảnh éo le, bất công của số phận, tuy nặng trĩu nỗi buồn nhưngkhông hề bi lụy, ấn tượng đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc lại là sự mạnh mẽcủa tâm hồn người phụ nữ
IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )
- Ghi nhớ nội dung bài học
- Tìm hiểu một số đề bài liên quan
- Chuẩn bị bài: Chủ đề Thơ Nguyễn Khuyến
Trang 18- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Nguyễn Khuyến
- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dân tộc
II CHUẨN BỊ
1 Giáo viên
- Giáo án dạy thêm
- Phương tiện, đồ dùng dạy học
- Phương pháp:
+ Thuyết trình
+ Giảng giải
Trang 192 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Nguyễn Khuyến trong tài liệu tham khảo hoặctrên các trang web
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
TIẾT 1:
PHẦN I: NGUYỄN KHUYẾN VÀ CHÙM THƠ THU.
1 Nhà thơ Nguyễn Khuyến:
- Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là người thông minh, cần cù, chăm chỉ, có
nghị lực nên đạt được được những vinh quang trên con đường học tập, khoa cử
- Xuất thân trong một gia đình nhà nho có truyền thống khoa bảng nhưng nghèo,Nguyễn Khuyến phải đi dạy học để kiếm sống và để nuôi mẹ
Từng không đỗ trong các kì thi Hương năm 1852,1855,1861 nhưng Nguyễn Khuyếnkhông nản lòng, ông vừa đi dạy học, vừa tìm thầy để học và nhất là bằng sự tự học,
sự nỗ lực lớn của bản thân, nám 1864, ông đỗ đầu kì thi Hương Trong các năm tiếptheo 1865, 1868, 1869 (ân khoa) ông thi Hội đều không đỗ Lại một lần nữa, thất bạikhông làm ông nản lòng mà chỉ càng làm ông thêm quyết chí Năm 1871, NguyễnKhuyến đỗ đầu cả thị Hội và thi Đình, được vua Tự Đức ban cờ, biển vận hai chữTam nguyên Đỗ đầu cả ba kì thi nên Nguyễn Khuyến được gọi là Tam nguyên YênĐổ
- Nguyễn Khuyến là người có lòng yêu nước, thương dân Ông từng ra làm quan vớitriều Nguyễn, nhưng khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chiếm sáu tỉnh Nam Kì,đang lần lượt chiếm các tỉnh Bắc Kì, ông từ chối không nhận chức làm quyền Tổngđốc Sơn Tây Năm 1884, Nguyễn Khuyến cáo quan trở về quê Yên Đổ Để muachuộc sĩ phu miền Bắc, thực dân Pháp từng cho người mời Nguyễn Khuyến ra làmquan trở lại nhưng ông đều từ chối, kiên quyết không hợp tác với chính quyền thựcdân
- Là người có tấm lòng yêu nước thương dân nhưng Nguyễn Khuyến chưa có dũng
Trang 20khí chiến đấu với giặc Tuy nhiên, về mặt tư tưởng, ông là người có dũng khí.Nguyễn Khuyến ý thức được sự khủng hoảng của Nho giáo, sự bất lực của học vấn,khoa cử truyền thống, muốn từ bỏ những tư tưởng Nho giáo đã tỏ ra lỗi thời : “Đềvào mấy chữ trong bia – Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu” [Di chúc).Nguyễn Khuyến là người có cốt cách thanh cao, tính tình đôn hậu Đỗ đạt cao nhưngông chỉ làm quan hơn mười năm còn phần lớn cuộc đời là sống ờ quê nhà, dạy họctrong hoàn cảnh thanh bạch, ông sống chan hoà với gia đình, họ hàng, xóm giềng, bèbạn Ông gắn bó với người dân quê, với quê hương, làng cảnh một cách chân tình,nhiều khi đến mộc mạc.
- Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, hiện còn khoảng trên
800 bài gồm thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ Đóng góp nổi bật của tác giả đốivới văn học dân tộc là ở mảng thơ viết về làng quê, thơ trào phúng và ngôn ngữ thơNôm Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ số một về quê hương, làng cảnh vìông viết nhiều, viết đúng và viết hay về thiên nhiên, con người và cuộc sống thônquê
2 Chùm thơ thu:
* Bài thơ: Thu điếu
Bài thơ Thu điếu là một bài thơ thu của tác giả Nguyễn Khuyến nằm trong tập thơ thu gồm ba bài Thu Vinh, Thu Điếu và Thu ẩm Bài thơ Thu Điếu miêu tả vẻ đẹp tĩnh lặng của mùa thu ở vùng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp mà cô đơn, buồn của một nhà Nho nặng tình với quê hương đất nước.
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Trang 21* Bài thơ: Thu ẩm
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.
* Bài thơ: Thu vịnh
Bài thơ Thu vịnh Nguyễn Khuyến hay còn được biết đến với tên gọi Vịnh mùa thu, Mùa thu ngồi mát ngâm thơ Đây là một trong 3 bài thơ nằm trong chùm Thu vịnh, thu điếu, thu ẩm đặc sắc Mỗi bài thơ là một bức tranh mùa thu thủy mặc được diễn
tả bằng ngôn từ Đó chính là cảnh thu đồng bằng bắc bộ với những hình ảnh mang đặc trưng.
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
TIẾT 2:
PHẦN II: LUYỆN ĐỀ
Trang 22ĐỀ SỐ 1: PHÂN TÍCH BÀI THƠ " CÂU CÁ MÙA THU”( THU ĐIẾU) CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN KHUYẾN
DÀN BÀI
a Mở bài
- Đôi nét về tác giả Nguyễn Khuyến: một tác giả chịu ảnh hưởng đậm nét tư tưởngNho giáo, sáng tác của ông thường về đạo đức con người, người quân tử Sau khithấy thực tại rối ren, ông ở ẩn sáng tác các tác phẩm thể hiện sự hòa hợp với thiênnhiên thanh tịnh
- Bài thơ Câu cá mùa thu: Là một bài thơ trong chùm thơ thu ba bài được sáng táctrong thời gian
+ Màu sắc "trong veo": sự dịu nhẹ, thanh sơ của mùa thu
+ Hình ảnh: Chiếc thuyền câu bé tẻo teo ⇒ rất nhỏ
+ Cách gieo vần "eo": giàu sức biểu hiện
- Cũng từ ao thu ấy tác giả nhìn ra mặt ao và không gian quanh ao ⇒ đặc trưng củavùng đồng bằng Bắc Bộ
⇒ bộc lộ rung cảm của tâm hồn thi sĩ trước cảnh đẹp mùa thu và của tiết trời mùathu, gợi cảm giác yên tĩnh lạ thường
* Hai câu thực
- Tiếp tục nét vẽ về mùa thu giàu hình ảnh:
+ Sóng biếc: Gợi hình ảnh nhưng đồng thời gợi được cả màu sắc, đó là sắc xanh dịunhẹ và mát mẻ, phải chăng là sự phản chiếu màu trời thu trong xanh
+ Lá vàng trước gió: Hình ảnh và màu sắc đặc trưng của mùa thu Việt Nam
- Sự chuyển động:
+ hơi gợn tí ⇒ chuyển động rất nhẹ ⇒sự chăm chú quan sát của tác giả+ "khẽ đưa vèo" ⇒ chuyển động rất nhẹ rất khẽ ⇒ Sự cảm nhận sâu sắc và tinh tế
Trang 23⇒ Nét đặc sắc rất riêng của mùa thu làng quê được gợi lên từ những hình ảnh bình
dị, đó chính là "cái hồn dân dã"
* Hai câu luận
- Cảnh thu đẹp một vẻ bình dị nhưng tĩnh lặng và đượm buồn:
+ Không gian của bức tranh thu được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâu
+ Tầng mây lơ lửng: gợi cảm giác thanh nhẹ, quen thuộc gần gũi, yên bình, tĩnh lặng.+ Hình ảnh trời xanh ngắt: sắc xanh của mùa thu lại được tiếp tục sử dụng, nhưngkhông phải là màu xanh dịu nhẹ, mát mẻ mà xanh thuần một màu trên diện rộng ⇒đặc trưng của mùa thu
+ Hình ảnh làng quê được gợi lên với "ngõ trúc quanh co": hình ảnh quen thuộc+ Khách vắng teo: Gieo vần "eo" gợi sự thanh vắng, yên ả, tĩnh lặng
⇒ Không gian của mùa thu làng cảnh Việt Nam được mở rộng lên cao rồi lại hướngtrực tiếp vào chiều sâu, không gian tĩnh lặng và thanh vắng
* Hai câu kết
- Xuất hiện hình ảnh con người câu cá trong không gian thu tĩnh lặng với tư thế "Tựagối buông cần":
+ " Buông": Thả ra (thả lỏng) đi câu để giải trí, ngắm cảnh mùa thu
+ "Lâu chẳng được" : Không câu được cá
⇒ Đằng sau đó là tư thế thư thái thong thả ngắm cảnh thu, đem câu cá như một thúvui làm thư thái tâm hồn ⇒ sự hòa hợp với thiên nhiên của con người
- Toàn bài thơ mang vẻ tĩnh lặng đến câu cuối mới xuất hiện tiếng động:
+ Tiếng cá "đớp động dưới chân bèo" → sự chăm chú quan sát của nhà thơ trongkhông gian yên tĩnh của mùa thu, nghệ thuật "lấy động tả tĩnh"
⇒ Tiếng động rất khẽ, rất nhẹ trong không gian rộng lớn càng làm tăng vẻ tĩnhvắng , "cái tĩnh tạo nên từ một cái động rất nhỏ"
⇒ Nói câu cá nhưng thực ra không phải bàn chuyện câu cá, sự tĩnh lặng của cảnh vậtcho cảm nhận về nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ, đó là tâm sự đầy đaubuồn trước tình cảnh đất nước đầy đau thương
Trang 24- Nghệ thuật lấy động tả tĩnh được sử dụng thành công
- Cách gieo vẫn "eo" và sử dụng từ láy tài tình
c Kết bài:
- Khẳng định lại những nét tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của bài thơ
- Bài thơ đem đến cho độc giả những cảm nhận sâu lắng về một tâm hồn yêu nướcthầm kín mà thiết tha
- Bài thơ Câu cá mùa thu là một trong số những bài thơ chữ Nôm tiêu biểu nhất
của Nguyễn Khuyến khi viết về quê hương, làng cảnh đó Bài thơ đem đến chongười đọc sự cảm nhận tinh tế vẻ đẹp cảnh thu và tình thu
b Thân bài
b 1 Cảnh thu
b.1.1 Cảnh thu được khắc họa từ sự thay đổi điểm nhìn
- Bức tranh mùa thu được thu vào tầm mắt theo điểm nhìn thay đổi từ gần đến cao
xa, từ cao xa trở về gần: từ “thuyền câu bé tẻo teo” trong “ao thu” đến “tầng mây lơlửng” rồi quay trở về với thuyền câu, ao thu
b.1.2 Cảnh thu trong bài là bức tranh mùa thu tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất cho “mùa thu của làng cảnh Việt Nam”
Những nét đặc trưng nhất của mùa thu Bắc bộ được phác họa trong bức tranh mùathu với đầy đủ màu sắc và đường nét:
- Màu sắc:
+ “trong veo” “sóng biếc”, “trời xanh ngắt”: màu sắc thanh dịu
- Đường nét, chuyển động:
Trang 25+ hơi gợn tí ⇒ chuyển động rất nhẹ ⇒sự chăm chú quan sát của tác giả
+ “khẽ đưa vèo” ⇒ chuyển động rất nhẹ rất khẽ ⇒ Sự cảm nhận sâu sắc và tinhtế
+ Tiếng cá “đớp động dưới chân bèo”⇒ “cái tĩnh tạo nên từ một cái động rấtnhỏ”
- Sự hòa hợp trong hòa phối màu sắc:
+ Các sắc thái xanh khác nhau tăng dần về độ đậm: xanh màu “trong veo” của ao,xanh biếc của sóng, “xanh ngắt” của trời hòa với sắc vàng của lá ⇒ tăng thêm sự hàihòa thanh dịu
b.1.3 Cảnh thu được khắc họa đẹp nhưng tình lặng và đượm buồn
- Không gian của bức tranh thu được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâu nhưngtĩnh vắng:
+ Ngõ trúc “khách vắng teo”: Gieo vần “eo” gợi sự thanh vắng, yên ả, tĩnh lặng,làng quê ngõ xóm không có hoạt động nào của con người
+ Chuyển động nhưng là chuyển động rất khẽ: sóng “hơi gợn tí”, mây “lơ lửng”,
lá “khẽ đưa” ⇒ không đủ sức tạo nên âm thanh
+ Toàn bài thơ mang vẻ tĩnh lặng đến câu cuối mới xuất hiện tiếng động rất khẽtrong không gian rộng lớn càng làm tăng vẻ tĩnh vắng
⇒ Không gian của mùa thu làng cảnh Việt Nam được mở rộng lên cao rồi lại hướngtrực tiếp vào chiều sâu, không gian tĩnh lặng và thanh vắng
b.2 Tình thu (tình cảm, vẻ đẹp tâm hồn thi nhân trước cảnh thu)
b.2.1 Tâm hồn yêu thiên nhiên, sự hòa hợp với thiên nhiên của con người
- Biểu hiện tình yêu thiên nhiên của tác giả:
+ Khả năng quan sát và cảm nhận sâu sắc những hình ảnh, đường nét, màu sắccủa mùa thu
+ Sự cảm nhận được thực hiện bằng nhiều giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác
và thường là sự hoà trộn nhiều cảm giác
Trang 26- Hình ảnh con người xuất hiện trong không gian thu tĩnh lặng với tư thế “Tựa gốibuông cần”:
+ “ Buông”: Thả ra (thả lỏng) đi câu để giải trí, ngắm cảnh mùa thu
+ “Lâu chẳng được” : Không câu được cá
⇒ Đằng sau đó là tư thế thư thái thong thả ngắm cảnh thu, đem câu cá như một thúvui làm thư thái tâm hồn ⇒ sự hòa hợp với thiên nhiên, với mùa thu của làng cảnhViệt Nam của con người
b.2.2 Tấm lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha
- Đằng sau sự cảm nhận tinh tế về mùa thu của quê hương là tình yêu thiên nhiên
Sự hòa hợp với thiên nhiên cũng chính là một biểu hiện của lòng yêu nước
- Bức tranh mùa thu mang hồn dân tộc, vượt ngoài những khuôn sáo, ước lệ của thipháp cũ không phải chỉ bởi tài năng mà còn bởi tình yêu đất nước của tác giả
- Hình ảnh người câu cá hững hờ trước việc câu cá ⇒ sự nặng lòng trước thế sự ⇒nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ, đó là tâm sự đầy đau buồn trước tìnhcảnh đất nước đầy đau thương
* Đánh giá về nghệ thuật khắc họa thành công cảnh thu và tình thu
- Bút pháp thuỷ mặc (dùng đường nét chấm phá) Đường thi và vẻ đẹp thi trung hữuhoạ của bức tranh phong cảnh
- Vận dụng tài tình nghệ thuật đối
- Nghệ thuật lấy động tả tĩnh được sử dụng thành công
- Cách gieo vẫn “eo” và sử dụng từ láy tài tình
c Kết bài
- Khái quát lại những nét đặc sắc về cảnh thu và tình thu trong tác phẩm
- Liên hệ cảm xúc bản thân trước cảnh thu và tâm hồn tác giả
IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )
- Ghi nhớ nội dung bài học
- Tìm hiểu một số đề bài liên quan
Trang 27- Chuẩn bị bài: Chủ đề Thơ Tú Xương
- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Trần Tế Xương
- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dân tộc
II CHUẨN BỊ
1 Giáo viên
- Giáo án dạy thêm
- Phương tiện, đồ dùng dạy học
Trang 282 Học sinh:
- Sgk, tài liệu tham khảo
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Tú Xương trong tài liệu tham khảo hoặc trêncác trang web
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
TIẾT 1:
PHẦN I: TRẦN TẾ XƯƠNG- CUỘC SÔNG- SỰ NGHIỆP
- Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai,hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương Nhưng cái tênTrần Tế Xương cũng chưa phải cối cùng, sau nhiều lần thi hỏng ông đổi tên thànhTrần Cao Xương nhưng cũng chẳng may hơn tý nào Ông sinh ngày 10-8-1871 tạilàng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Ðịnh trong một gia đình nhà nho nghèo, đôngcon và mất ngày 20-1-1907 ở làng Ðịa Tứ cùng huyện - Cuộc đời Tú Xương lận đận
về thi cử Tám khoa đều hỏng nên thi cử đã để lại một dấu ấn không thể phai mờtrong cuộc đời ngắn ngủi của ông Ông cưới vợ rất sớm Phạm Thị Mẫn từ một cô gáiquê: “ Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ Tiếng có miếng không, gặp chăng haychớ” trở thành bà Tú tần tảo một nắng hai sương: “Quanh năm buôn bán ở momsông Nuôi đủ năm con với một chồng” Ông Tú vẫn có thể có tiền để ăn tiêu nhưnggia cảnh nghèo túng, việc nhà trông cậy vào một tay bà Tú
- Có thể nói, việc hỏng thi và cảnh nghèo của gia đình là nguồn đề tài phong phútrong sáng tác của Tú Xương
- Thời đại: Cuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan Năm Tú Xương
ba tuổi (1873) Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Ðịnh Năm mườibốn tuổi (1884) triều đình ký hiệp ước dâng đất nước ta cho giặc Tuổi thơ của TúXương trôi qua trong những ngày đen tối và ký ức về những cuộc chiến đấu của cácphong trào khởi nghĩa chống Pháp cũng mờ dần Nhất là sau cuộc khởi nghĩa củaPhan Ðình Phùng (1896) bị thất bại thì phong trào đấu tranh chống Pháp dường nhưtắt hẳn Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trị đất nước, xã hội có nhiều biến động,nhất là ở thành thị Tú Xương lại sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kỳ chế độthực dân nửa phongkiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát triển ở một nước thuộcđịa làm đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn đời sống tinh thần của nhân dân Nhà thơ đãghi lại rất sinh động, trung thành bức tranh xã hội buổi giao thời ấy và thể hiện tâmtrạng của mình Có thể nói, đứng trước sự tha hoá của xã hội nên nguyên tắc Tamcương ngũ thường của Tú Xương không đậm như Nguyễn Khuyến và càng xa rời ÐồChiểu
Trang 29- Tác phẩm: Tú Xương mất sớm, ông chưa đi trọn con đường sáng tác của mình.Nhưng những tác phẩm Tú Xương để lại có tác dụng như một bản cáo trạng đanhthép lên án xã hội thực dân nửa phong kiến trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX TúXương sáng tác rất nhiều và thất lạc cũng nhiều Ông viết khoảng 151 bài thơ bằngchữ Nôm với đủ các thể loại Ngoài ra, ông có dịch một số thơ Ðường II.Sáng táccủa Trần Tế Xương
+ Nội dung sáng tác của Trần Tế Xương 1.1.Thơ Tú Xương là một bức tranh nhiều
vẻ, sinh động về một xã hội thực dân nửa phong kiến: Trong thơ ông có hình bóngcon người và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã bị thực dân hóa, và có hình bóngnhững vật mới, những sinh hoạt mới - sản phẩm của xã hội thực dân nửa phong kiến.Thơ Tú Xương là tiếng nói đả kích, châm biếm sâu sắc và dữ dội vào các đối tượng
mà ông căm ghét
Ðả kích bọn thực dân Pháp: Ðối với thực dân Pháp, tuy chưa phải là đối tượng
chính để tập trung phê phán nhưng ta vẫn bắt gặp bóng dáng những tên thực dân xuấthiện với dáng vẻ rất buồn cười Ðó là hình ảnh những ông Tây, bà Ðầm rất nghênhngang lố bịch Với ngòi bút châm biếm sắc sảo, Tú Xương đả kích chúng khôngkhoan nhượng: Nhà nước ba năm mở một khoa Trường Nam thi lẫn với trường HàLôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm ọe quan trường miệng thét loa Lọng cắm rợp trời quan
sứ đến Váy lê quét đất mụ đầm ra Nhân tài đất Bắc nào ai đó Ngoảnh cổ mà trôngcảnh nước nhà (Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh Dậu)
.Ðối với bọn quan lại, tay sai: Ðề tài này thật ra không có gì mới mẻ so với trước,
nhưng cái mới ở đây là bút pháp của Tú Xương có cá tính và mang nét cảm hứngthời sự Dưới ngòi bút của ông, hình ảnh bọn quan lại hiện lên rất phong phú đadạng Ðó là những lũ bất tài, dốt nát, chúng không khác chi những tên hề Nào có rachi lũ hát tuồng Cũng hò cũng hét cũng y uông Dẫu rằng dối được đàn con trẻ Cáimặt bôi vôi nghĩ cũng buồn (Hát tuồng) Ông phê phán trò gian lận, hối lộ, bòn rútcủa dân không nghĩ gì đến trách nhiệm Tri phủ Xuân Trường được mấy niên? Nhờtrời, hạt ấy cũng bình yên Chữ thôi chữ cứu không phê đến Ông chỉ quen phê mộtchữ tiền! (Bỡn tri phủ Xuân Trường) Từ đó thấy được thái độ phẫn uất của TúXương trước thực trạng xã hội và ông đã dùng ngòi bút của mình để lên án, phê phánnhững con người, những hiện tượng trái tai, gai mắt
.Ðối với khoa cử, nho học: Trong bức tranh xã hội của Tú Xương còn có những nho
sĩ đi thi, những ông Nghè, ông Cống; có hình ảnh của trường thi, của một nền nhohọc đang xuống dốc trầm trọng Thời Tú Xương không còn tìm thấy hình ảnh uynghi, trang trọng của một trường thi chữ Hán xưa kia nữa mà nó đang lùi dần trước
uy thế của kẻ thù Ông phản ánh thực trạng nho học suy đồi bằng tiếng thở dài áo
Trang 30não: Cử nhân: Cậu ấm Kỷ Tú tài: Con đô Mỹ Thi thế mà cũng thi! Ới khỉ ơi là khỉ!(Than sự thi) Tú Xương than thở cho số phận của một ông Nghè, ông Cống và giễu
cả những ông Phán: Nào có gì lạ cái chữ nho Ông nghè, ông cống cũng nằm co Saobằng đi học làm ông Phán Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò (Chữ nho) Hay đôi khi là
sự giễu cợt việc thi cử thiếu nghiêm túc, công bằng Thánh cắt ông vào chủ việc thiĐêm ngày coi sóc chốn trường quy Chẳng hay gian dối vì đâu vậy Bá ngọ thằng ôngbiết chữ gì? (Chế ông huyện Đ)
.Phê phán thế lực đồng tiền và xã hội suy thoái đạo đức: Trước Tú Xương, nhiều
tác giả Việt Nam cũng như nừơc ngoài đã lên án sức mạnh đồng tiền Nó chi phối tưtưởng và hành động của con người Ðến thời Tú Xương, đồng tiền lại một lần nữagây đảo điên xã hội nhất là ở thành thị Nó làm cho đạo đức suy đồi từ trong gia đìnhcho đến ngoài xã hội Có thể thấy bức tranh xã hội của Tú Xương bị tha hóa đến trầmtrọng Nào là cảnh: Ở phố Hàng Song thật lắm quan Thành thì đen kịt, độc thì langChồng chung vợ cha kìa cô Bố Ðậu lại quan xin nọ chú Hàn (Phố hàng Song) Vìđồng tiền, con người lường gạt nhau để sống, đối xử với nhau không ra gì Tìnhnghĩa cha con, vợ chồng, tình yêu, tình bè bạn đều bị chà đạp bởi thế lực củađồng tiền và trở nên rẻ rúng: Mới biết hồng nhan là thế thế Trăm năm trăm tuổi lạitrăm chồng Ngòi bút Tú Xương đã khái quát bức tranh hiện thực sinh động về một xãhội lố lăng, rởm đời, có những cảnh khá nực cười, những cảnh chướng tai, gai mắt cứnhan nhản xuất hiện trong thơ Tú Xương Chí cha chí chát khua giày dép, Ðen thủiđen thui cũng lụa là
TIẾT 2:
Thơ Tú Xương là tiếng nói tâm tình trĩu nặng đau xót:
Về bản thân: Gánh nặng đeo đẳng nhà thơ suốt đòi là nợ lều chõng Ban đầu hỏng
thi, ông còn cười cợt, còn tự nghĩ cách để an ủi mình Nhưng các khoa thi sau ( 1903,1906) ông càng thất vọng, càng chua chát Tú Xương ngày càng đau buồn, chán nản,tuyệt vọng và cay cú: Học đã sôi cơm nhưng chửa chín/ Thi không ăn ớt thế mà cay Ðến khoa thi cuối (1906) tiếng thở dài của Tú Xuơng càng áo não và bi thiết hơnnhiều: Bụng buồn còn biết nói năng chi/ Ðệ nhất buồn là cái hỏng thi/ Một việc vănchương thôi cũng nhảm/ Trăm năm thân thế chẳng ra gì (Buồn thi hỏng) Ở đây, dùđau vì thi rớt, vì công danh không thành đạt nhưng Tú Xương vẫn ít ủy mị và luôn tỏthái độ khôi hài, lúc nào nụ cười trào phúng cũng đến với ông
Về cảnh nghèo: Qua thơ ông, gia cảnh nhà ông hiện lên rất áo não và bi thiết.Nhà
thơ từng thấm thía cảnh chạy ăn, vay nợ, nhiều lúc ông phải gào lên: Van nợ lắm khitrào nước mắt Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi (Than nghèo)
Trang 31Nỗi lo lắng thầm kín của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước:
-Tình cảm của Tú Xương đối với nhân dân: Ðối với người phụ nữ, hình ảnh họ hiệnlên thật đáng thương, họ không những khổ sở về vật chất mà còn bị đau đớn về mặttinh thần Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu của Tú Xương viết về vợ: Quanh nămbuôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãngvắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắngmười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng nhưkhông ( Thương vợ) Nỗi u hoài kín đáo của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnhđất nước thường triền miên, day dứt: Nhân tài đất Bắc nào ai đó? Ngoảnh cổ màtrông cảnh nước nhà (Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh Dậu) Lòng yêu nước của TúXuơng còn thể hiện qua sự khâm phục của Tú Xương đối với những người có tài, cóđức ra cứu đời, giúp nước: Vá trời gặp hội mây năm vẻ Lấp bể ra công đất một hòn(Gửi cụ thủ khoa Phan) Tuy không đủ dũng khí để đi vào cuộc cách mạnh như baonghĩa sĩ yêu nước khác nhưng ông có cảm tình nồng hậu đối với những người làmcách mạng Hình ảnh Phan Bội Châu Vá trời, lấp bể đã đến với Tú Xương bằng tất cả
sự kính mến, khâm phục Tú Xương đến trong làng thơ cuối thế kỉ XIX với nụ cườisắc sảo và độc địa Dưới ngòi bút linh hoạt của ông, xã hội thực dân nửa phong kiếnngu xuẩn và giả dối vừa mới thành lập ở nước ta đã bị bóc trần một cách thảm hại
Đó cũng chính là lời tố cáo đanh thép mà nhà thơ muốn gửi gắm qua tác phẩm củamình
- Nghệ thuật sáng tác của nhà thơ Trần Tế Xương
Sự kết hợp hai yếu tố hiện thực và trữ tình: Rất độc đáo và sâu sắc Kết cấu bài
thơ không gò bó Tính phóng túng trong suy nghĩ cũng như trong tính tình đã đemvào khuôn khổ thể thơ bảy chữ tám câu nhiều nét mới đã phá vỡ mọi qui định: Việcbác không xong tôi chết ngay! Chết ngay? Như thế vội vàng thay! (Bỡn người làmmối) Hỏi lão đâu ta?- Lão ở Liêm Trông ra bóng dáng đã hom hem (Già chơi trốngbỏi) Người đói ta đây cũng chẳng no, Cha thằng nào có tiếc không cho (Thề với ănxin) Rất nhiều bài thơ của Tú Xương có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố hiện thực và
trữ tình (Vịnh khoa thi hương năm Ðinh Dậu, Thương vợ, Thề với ăn xin ) Nói về
sự kết hợp giữa hai yếu tố hiện thực và trữ tình trong một bài thơ, Nguyễn Tuân cho rằng: Sở dĩ thơ Tú Xương không bị tắt gió, không bị bay ra khỏi là vì thơ
Tú Xương đã đi bằng hai chân hiện thực và lãng mạn, là vì thi pháp của Tú Xương phối hợp cả hiện thực và trữ tình.
TIẾT 3:
PHẦN II: LUYỆN ĐỀ
Trang 32ĐỀ SỐ 1: PHÂN TÍCH BÀI THƠ "THƯƠNG VỢ ” CỦA NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG
DÀN BÀI
a Mở bài
- Thương vợ được viết khoảng năm 1896 - 1897 Bà Tú tên Phạm Thị Mẫn, là người
vợ hiền thục đảm đang, tần tảo lo cho chồng con, nên tác giá rất quý trọng và có viếtmột số bài thơ về bà Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũngbắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện ra phía trước, ỏng Tú khuất ở phía sau, nhìn
kĩ mới nhận ra và hiển hiện trong từng câu thơ Đằng sau cốt cách khôi hài, tràophúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ
- Đặc biệt, bài Thương vợ thể hiện lòng thương quý và biết ơn người vợ đảm đang,giàu đức hi sinh cho chồng con
b Thân bài
* Việc mưu sinh vất vả của bà Tú
- Việc mưu sinh vất vả của bà Tú được diễn ta trong bốn câu đầu
- Thời gian (quanh năm), công việc (buôn bán), không gian (ở mom sông): quanhnăm bà Tú miệt mài buôn bán vất vả ở mom sông, lo liệu việc mưu sinh cho cả nhà
và nuôi lũ con (năm con), lại nuôi luôn cá chồng (với một chồng) Lối nói úp mở vừahóm hỉnh trong hai câu 1, 2 vừa nhấn mạnh lòng biết ơn pha lẫn sự ăn năn và tỏ ýthương quý bà Tú
- Câu 3 mượn hình ảnh con cò trong ca dao, có sử dụng biện pháp đảo ngữ (lặn lộithân cò để diễn tả việc buôn bán vất vả của bà Tú, lặn lội cả những nơi vắng vẻ, nguyhiểm (nơi quãng vắng) Câu 4 tả cảnh bà Tú phải chen chúc trên mặt nước vào nhữngbuổi đò đông, eo sèo mua bán thật tất bật, nhọc nhằn
* Đức tính cao đẹp của bà Tú
- Bà Tú là ngươi đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng con:
Nuôi đủ năm con với một chồng
Trong hai câu 5 và 6, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự quên mình của vợ:
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công
Trang 33Duyên một mà nợ hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận sự vất
vả vì chồng con
Nắng mưa chỉ sự vất vả, năm, mười là số lượng phiếm chỉ để nói số nhiều, được tách
ra tạo nên một thành ngữ chéo ("năm nắng mười mưa"), vừa nói lên sự vất vả giantruân, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của
bà Tú
* Thói đời ăn ở bạc
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.
- Trong hai câu 7, 8, giọng thơ như nguyền rủa thói ăn ở bạc bẽo của chính nhà thơ.Nhìn bề ngoài, quả thật ông chẳng những không chia sẻ với nỗi cực nhọc trong việcmưu sinh của gia đình, lại trở thành gánh nặng cho bà Tú, nên có cũng như không
Có vẻ như ông hờ hững, bạc bẽo đối với sự thật đáng chê trách
- Lởi chửi trong hai câu kết là lời Tú Xương rủa mát mình nhưng lại mang ý nghĩa xãhội sâu sắc Ông chửi "thói đời" bạc bẽo, vì thói đời là một nguyên nhân xâu xakhiến bà Tú phải khổ Từ hoàn cảnh riêng, tác giả lên án thói đời bạc bẽo nói chung
c Kết bài
Xã hội xưa "trọng nam khinh nữ", coi người phụ nữ là thân phận phụ thuộc Một nhànho như Tú Xương dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừa nhậnmình là "quan ăn lương vợ", không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn dám tựnhận khiếm khuyết Một con người như thế là một nhân cách đẹp
TIẾT 4,5:
ĐỀ SỐ 2: HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM THỜI XƯA QUA BÀI THƠ “TỰ TÌNH” ( II) – HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ "THƯƠNG VỢ ” CỦA NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG
DÀN BÀI
a Mở bài:
- Giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong văn chương
- Giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong hai bài thơ
Trang 34Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã xuất hiện trên bao trang giấy câu văn Đó làngười phụ nữ trong câu nói dân gian "Thân em như củ ấu gai / Ruột trong thì trắng
vỏ ngoài thì đen / Ai ơi nếm thử mà xem / Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi", lànàng Kiều trong thơ Nguyễn Du và cũng là người phụ nữ trong “Tự tình II” của HồXuân Hương và người mẹ, người vợ trong “Thương vợ” của Tú Xương Hình ảnhngười phụ nữ trong hai bài thơ đều mang nét đẹp chung của người phụ nữ Việt Nam
b.Thân bài
* Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, vất vả, gian nan
- “Thương vợ”: hình ảnh người phụ nữ chịu khó, lặn lội sớm khuya, vất vả quanh năm để lo cơm áo gạo tiền.
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
+ Buôn bán không lớn Công việc diễn ra quanh năm, ngày đến ngày, tháng đếntháng, liên tục không có sự nghỉ ngơi diễn ra theo vòng tuần tự khép kín Ngay cảngười nông dân còn có lúc nông nhàn, nhưng với người làm nghề như bà Tú thìkhông có phút nào được nghỉ ngơi
+ “Ở mom sông”: chênh vênh, ba phía bốn mặt giáp sông và nước Bà Tú bươn chảibán mua ở nơi nguy hiểm suốt năm suốt tháng, công việc ấy thật vất vả, gian nan.+ “Nuôi đủ năm con với một chồng”: gánh nặng bị đặt lên trên đôi vai của người phụ
nữ mảnh mai yếu đuối Người đàn bà làng chài còn có chồng chèo chống, còn bà Túchỉ có một mình Chồng đáng lẽ là trụ cột gia đình nay lại thành gánh nặng mưu sinh.+ “Đủ” hàm chứa bao nhiêu ý nghĩa: đủ ánh nặng chồng con: lo ăn lo học cho con, locho nhu cầu của chồng, của một ông Tú sĩ diện
- “Tự tình II”: là nỗi buồn về thân phận, về chuyện tình duyên, về hạnh phúc lứa đôi.
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non”
+ Thời gian: “đêm khuya”, thời gian của những nỗi niềm sâu kín, lúc con người đượcsống thực với mình nhất
+ Không gian: yên tĩnh vắng lặng, quặng quẽ được gợi ra qua âm thanh của tiếngtrống canh “văng vẳng”
+ Con người xuất hiện đậm nét: “trơ”
Trang 35+ Khi cảnh vật chìm vào giấc ngủ thì chỉ có mình Xuân Hương cô đơn, trăn trở Thaothức giữa đêm khuya, cái cô đơn của phận hồng nhan, của kiếp người nhỏ bé trướccái dài rộng của không gian thời gian.
+ Từ “cái” thể hiện sự tầm thường, bình thường Qua đó thấy được cảm giác chuaxót, đau đớn cho thân phận của chính mình
+ Từ “trơ” không chỉ là nỗi cô đơn mà còn như là thách thức với cuộc đời Đó là tâm
sự của Xuân Hương, bên cạnh nỗi đau bao giờ cũng là sự trỗi dậy của cảm xúc
“Chén rượu hương đưa say lại tình
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
+ “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”: vầng trăng sắp tàn, vầng trăng hao khuyết,gợi lên liên tưởng về sự lụi tàn mơ hồ Ở đây có sự đồng nhất giữa trăng và người,giữa ngoại cảnh và tâm cảnh
+ Hình ảnh vầng trăng gợi liên tưởng đến cuộc đời người phụ nữ đã ở bên kia dốc màhạnh phúc vẫn chưa một lần trọn vẹn, duyên phận vẫn lỡ làng
+ Vầng trăng cuộc đời, vầng trăng tâm trạng nói lên sự dở dang, muộn màng củacuộc đời người
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con”
+ Từ ‘ngán” đứng đầu câu cùng hai thanh trắc cuối câu “lại lại” làm câu thơ nhưnặng trĩu xuống
+ Hai từ “lại” thể hiện tâm trạng, nỗi niềm của chủ thể trữ tình Mùa xuân của đấttrời đi qua rồi lại trở lại, sự sống cứ thế tuần tự, tuần hoàn nhưng con người nhạycảm trong Xuân Hương lại phát hiện ra một nghịch lý: xuân đất trời đi qua sẽ trở lạinhưng xuân của người một đi không trở lại
+ Trớ trêu hơn là người phụ nữ khao khát vẫn tràn đầy mà lại nhận ra hạnh phúc dếnvới mình quá ít ỏi: “mảnh tình” chỉ còn lại “tí con con”
+ Phép tăng tiến và cụm từ “tí con con” đã tô đậm những thua thiệt trong duyên phậncủa nữ sĩ
* Người phụ nữ với nhiều nét đẹp tâm hồn
Trang 36- “Thương vợ”: vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống Việt Nam: nhân hậu, đảm đang, giàu đức hi sinh.
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
+ “Lặn lội”: nhấn mạnh nỗi chuân chuyên của bà Tú
+ “Thân cò”: nỗi vất vả của bà Tú trong kiếp mưu sinh
+ Hai câu thơ gợi lên dáng hình gầy guộc mong manh và số phận nhọc nhằn của bàTú: sinh ra là kiếp con cò nên phải lặn lội, tần tảo, mưu sinh
+ “Quãng vắng”: hiu quạnh, càng làm tăng thêm sự tội nghiệp, cái đáng thương.+ “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”: không khí cạnh tranh, bấp bênh nơi bến nước.+ Công việc nơi bến nước hiểm nguy bon chen vậy nhưng bà Tú vẫn ngày qua ngày,tháng qua tháng làm lụng để nuôi chồng nuôi con Đó là đức hi sinh của người mẹvới con, người vợ với chồng
“Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
- “Tự tình II”: không cam chịu phận hẩm hiu, khao khát được yêu thương
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đã mấy hòn”
+ Đám rêu mềm yếu, những hòn đá bé nhỏ vô tri: bình thường, tầm thường, bị vùidập dưới bước chân của người đi đường
+ Nhưng trong cái nhìn của nhà thơ thì người nữ sĩ thì rêu mềm yếu mà “xiên ngangmặt đất”, đá vô tri mà “đâm toạc chân mây”
Trang 37+ Phép đảo ngữ, động từ mạnh gợi cảm giác dữ dội của bức tranh thiên nhiên, trànđầy sức sống mãnh liệt ngay cả trong bi thương.
+ Tả cảnh thiên nhiên nhưng là để nói tâm trạng con người Xuân Hương không camchịu, chấp nhận phận hẩm hiu mà luôn muốn bứt phá, phản kháng, chống lại hoàncảnh trớ trêu một cách mạnh mẽ với nghịch cảnh, tự tìn và đầy khát vọng
+ Ở hai câu luận ta không còn thấy cái bi lụy như bốn câu đầu nữa mà chỉ thấy nhữngđộng thái đầy mạng mẽ của thiên nhiên cũng như là trong chính lòng người
+ Nỗi chán chường dù phận hẩm duyên hiu cũng là một biểu hiện của khao khátđược yêu thương, khát vọng tình yêu của người phụ nữ
c.Kết bài
- Nêu cảm nhận chung về hình tượng người phụ nữ trong hai bài thơ
- “Thương vợ” và “Tự tình II” đã cho người đọc những cái nhìn khác nhau về ngườiphụ nữ, xong có một điểm chung là hình tượng người phụ nữ dù gặp nhiều khó khăntrong cuộc đời, số phận nhưng vẫn giữ được những nét đẹp tâm hồn Đó đều lànhững phẩm chất truyền thống và có sự phát triển của người phụ nữ Việt Nam
TIẾT 6:
ĐỀ SỐ 3: NỖI LÒNG TÚ XƯƠNG QUA BÀI THƠ “THƯƠNG VỢ”.
DÀN BÀI
a Mở bài
- Thương vợ được viết khoảng năm 1896 - 1897 Bà Tú tên Phạm Thị Mẫn, là người
vợ hiền thục đảm đang, tần tảo lo cho chồng con, nên tác giả rất quý trọng và có viếtmột số bài thơ về bà Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũngbắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện ra phía trước, ông Tú khuất ở phía sau, nhìn
Trang 38kĩ mới nhận ra và hiển hiện trong từng câu thơ Đằng sau cốt cách khôi hài, tràophúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ.
- Đặc biệt, bài Thương vợ thể hiện lòng thương quý và biết ơn người vợ đảm đang,
giàu đức hi sinh cho chồng con
b Thân bài
* Hình ảnh vất vả, tần tảo cùng đức tính hi sinh đầy đẹp đẽ của bà Tú trong mắt ông Tú
*.1 Cuộc sống mưu sinh nuôi chồng, nuôi con của bà Tú
- Việc mưu sinh vất vả của bà Tú được diễn ta trong bốn câu đầu
- Thời gian (quanh năm), công việc (buôn bán), không gian (ở mom sông): quanhnăm bà Tú miệt mài buôn bán vất vả ở mom sông, lo liệu việc mưu sinh cho cả nhà
và nuôi lũ con (năm con), lại nuôi luôn cá chồng (với một chồng) Lối nói úp mở vừahóm hỉnh trong hai câu 1, 2 vừa nhấn mạnh lòng biết ơn pha lẫn sự ăn năn và tỏ ýthương quý bà Tú
- Câu 3 mượn hình ảnh con cò trong ca dao, có sử dụng biện pháp đảo ngữ (lặn lộithân cò để diễn tả việc buôn bán vất vả của bà Tú, lặn lội cả những nơi vắng vẻ, nguyhiểm (nơi quãng vắng) Câu 4 tả cảnh bà Tú phải chen chúc trên mặt nước vào nhữngbuổi đò đông, eo sèo mua bán thật tất bật, nhọc nhằn
*.2 Những đức tính cao đẹp của bà Tú
- Bà Tú là ngươi đảm dang, tháo vát, chu đáo với chồng con:
Nuôi đủ năm con với một chồng.
- Trong hai câu 5 và 6, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự quên mình của vợ:
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
- Duyên một mà nợ hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận sựvất vả vì chồng con
+ Nắng mưa chỉ sự vất vả, năm, mười là số lượng phiếm chỉ để nói số nhiều, đượctách ra tạo nên một thành ngữ chéo ("năm nắng mười mưa"), vừa nói lên sự vất vảgian truân, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì concủa bà Tú
* Bức xúc của ông Tú với xã hội, với bản thân trước sự bạc bẽo với bà Tú
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.
Trang 39- Trong hai câu 7, 8, giọng thơ như nguyền rủa thói ăn ở bạc bẽo của chính nhà thơ.Nhìn bề ngoài, quả thật ông chẳng những không chia sẻ với nỗi cực nhọc trong việcmưu sinh của gia đình, lại trở thành gánh nặng cho bà Tú, nên có cũng như không.
Có vẻ như ông hờ hững, bạc bẽo đối với sự thật đáng chê trách
- Lởi chửi trong hai câu kết là lời Tú Xương rủa mát mình nhưng lại mang ý nghĩa xãhội sâu sắc Ông chửi "thói đời" bạc bẽo, vì thói đời là một nguyên nhân xâu xakhiến bà Tú phải khổ Từ hoàn cảnh riêng, tác giả lên án thói đời bạc bẽo nói chung
c Kết bài
- Xã hội xưa "trọng nam khinh nữ", coi người phụ nữ là thân phận phụ thuộc Mộtnhà nho như Tú Xương dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừanhận mình là "quan ăn lương vợ", không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còndám tự nhận khiếm khuyết Một con người như thế là một nhân cách đẹp
IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )
- Ghi nhớ nội dung bài học
- Tìm hiểu một số đề bài liên quan
- Chuẩn bị bài: Chủ đề Thơ văn Nguyễn Công Trứ
Trang 40- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Nguyễn Khuyến
- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dân tộc
II CHUẨN BỊ
1 Giáo viên
- Giáo án dạy thêm
- Phương tiện, đồ dùng dạy học
2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Nguyễn Công Trứ trong tài liệu tham khảo hoặctrên các trang web
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
TIẾT 1:
PHẦN I: NGUYỄN CÔNG TRỨ- CUỘC ĐỜI – SỰ NGHIỆP
1 Vài nét về cuộc đời- sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ.
* Cuộc đời:
- Nguyễn Công Trứ tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn Ông sinh ngày
mồng 1, tháng 11, năm Mậu Tuất (tức ngày 19 tháng 12 năm 1778) tại huyện
lỵ Quỳnh Côi, phủ Thái Bình Thân phụ là Nguyễn Công Tuấn tước Đức Ngạn Hầu,quê ở làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang, Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, tri phủ TiênHưng – Thái Bình, thân mẫu là Nguyễn Thị Phan, con gái quan Quản nội thị tướcCảnh Nhạc Bá dưới triều vua Lê – chúa Trịnh Ông mất ngày 14/11 năm Mậu Ngọ(tức ngày 7/12/1858), thọ 80 tuổi tại quê nhà làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân