1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án dạy thêm NGữ văn lớp 11, chất lượng (kì 1)

159 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo án dạy thêm Ngữ văn lớp 11, chất lượng (Kì 1)
Tác giả Lê Hữu Trác
Trường học Trường Đại học Hưng Yên
Chuyên ngành Ngữ Văn lớp 11
Thể loại Giáo án dạy thêm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 249,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở bài - Giới thiệu những nét tiêu biểu về cuộc đời của tác giả Lê Hữu Trác: một tácgiả được biết đến không chỉ là một danh y nổi tiếng mà còn là một nhà văn, nhàthơ với những đóng góp đ

Trang 1

- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Lê Hữu Trác.

- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dântộc

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

Trang 2

2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Lê Hữu Trác trong tài liệu tham khảohoặc trên các trang web

III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP.

TIẾT 1:

PHẦN I: CUỘC ĐỜI- SỰ NGHIỆP

1 Tiểu sử

- Lê Hữu Trác (1724 – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, người làng Liêu

Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyệnYên Mĩ, tỉnh Hưng Yên)

- Dòng tộc ông vốn có truyền thống khoa bảng: ông nội, bác, chú, anh và em họđều đỗ Tiến sĩ và làm quan to

- Thân sinh của ông từng đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm Thị lang Bộ Công triều

Lê Dụ Tông, gia phong chức Ngự sử, tước Bá, khi mất được truy tặng hàmThượng thư (năm Kỷ Mùi 1739)

- Khi ấy, Lê Hữu Trác mới 20 tuổi, ông phải rời kinh thành về quê nhà, vừatrông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, mong nối nghiệp gia đình, lấyđường khoa cử để tiến thân

- Nhưng xã hội bấy giờ rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi Chỉmột năm sau (1740), ông bắt đầu nghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ

- Chẳng bao lâu sau, ông nhận ra xã hội thối nát, chiến tranh chỉ tàn phá vàmang bao đau thương, làm ông chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên đã nhiềulần từ chối sự đề bạt

- Đến năm 1746, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ vềnuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự “bẻ tên cởigiáp” theo đuổi chí hướng mới

- Ông là một danh y, không chỉ chữa bệnh mà còn soạn sách và mở trường dạynghề thuốc để truyền bá y học

- Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển, là công trình nghiên cứu y học

xuất sắc nhất của ông trong thời trung đại Việt Nam

Trang 3

- Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị

- Thượng kinh ký sự tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa

Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà chúa – những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tainghe trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử TrịnhCán và chúa Trịnh Sâm Qua đó, người đọc thấy được thái độ coi thường danhlợi của tác giả Tác phẩm kết thúc với việc Lê Hữu Trác được về lại quê nhà,trở về với cuộc sống tự do trong tâm trạng hân hoan, tiếp tục cống hiến đờimình cho y thuật

b Tóm tắt đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

Vào sáng sớm tinh mơ ngày 1 tháng 2, tôi được lệnh triệu vào phủ chúa Tôinhanh chóng được điệu đi trên một cái cáng chạy như ngựa lồng Tôi đi vào từcửa sau, nhìn quanh tôi thấy cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đuathắm Qua mấy lần cửa, các hành lang dài quanh co tôi được đưa tới một ngôinhà thật lớn gọi là phòng trà Đồ đạc trong phòng đều được sơn son thếp vàng.Lúc đó thánh thượng đang ngự phòng thuốc cùng các phi tần nên tôi không thểyết kiến Tôi được thiết đãi bữa sáng mỹ vị với đồ dùng toàn bằng vàng, bạc

Ăn xong tôi được đưa đến yết kiến ở Đông Cung và khám bệnh cho thế tửTrịnh Cán Thế tử vì “ăn quá no, mặc quá ấm” mà sinh bệnh Nửa sợ bị cuốnvào vòng danh lợi, nửa vì chịu ơn của nước Cuối cùng, tôi dốc lòng kê đơn chothế tử, rồi từ giã lên cáng trở về kinh Trung Kiền chờ thánh chỉ Bạn bè ai aitrong cung cũng đến thăm hỏi

TIẾT 2:

PHẦN II: LUYỆN ĐỀ

Trang 4

ĐỀ SỐ 1: PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH “ VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH” ( TRÍCH THƯỢNG KINH KÍ SỰ) CỦA TÁC GIẢ LÊ HỮU TRÁC.

DÀN BÀI

a Mở bài

- Giới thiệu những nét tiêu biểu về cuộc đời của tác giả Lê Hữu Trác: một tácgiả được biết đến không chỉ là một danh y nổi tiếng mà còn là một nhà văn, nhàthơ với những đóng góp đáng ghi nhận cho nền văn học nước nhà

- Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh ghi lại một lần được truyền tới phủ chúa chữa bệnh cho thế tử đã trở thành một đoạn trích tiêu biểu trong cuốn Thượng kinh

kí sự của Lê Hữu Trác

b Thân bài

* Quang cảnh và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa

*.1 Quang cảnh nơi phủ chúa

+ Những nhà: “Đại đường”, “Quyền bổng”, “Gác tía” với kiệu son võng điều,

đồ nghi trượng sơn son thếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy+ Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là mâm vàng, chén bạc

- Nội cung thế tử:

+ Phải qua năm sáu lần trướng gấm

+ Trong phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trênghế bày nệm gấm, màn là che ngang sân, xung quanh lấp lánh, hương hoa ngàongạt

=> Lộng lẫy, tráng lệ, thể hiện sự thâm nghiêm và quyền uy tột đỉnh của nhàchúa

Trang 5

*.2 Cung cách sinh hoạt

- Quyền uy: Khi tác giả được cáng vào phủ: “tên đầy tớ chạy đàng trước hétđường và cáng chạy như ngựa lồng”, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng,người có việc qua lại như mắc cửi”

- Nhắc đến chúa và thế tử một cách cung kính: “thánh thượng đang ngự ở đấy,chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà”

- Khuôn phép, lễ nghi: Tác giả không được thấy mặt chúa, chỉ làm theo mệnhlệnh do quan chánh đường truyền tới, trước khi vào xem bệnh cho thế tử phảilạy bốn lạy, muốn xem thân hình của thế tử phải có viên quan nội thần đến xinphép

- Lắm kẻ hầu người hạ: Chúa Trịnh luôn có phi tần hầu chầu chực xung quanh,Thế tử bị bệnh có đến 7, 8 thầy thuốc phục dịch và lúc nào cũng có “mấy ngườiđứng hầu hai bên”

⇒ Cao sang, quyền uy tột đỉnh cùng với cuộc sống hưởng thụ xa hoa đến cựcđiểm và sự lộng quyền của nhà chúa

⇒ Tác giả không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu khítrời và tự do

* Tài năng, y đức của Lê Hữu Trác

- Có sự mâu thuẫn, giằng co:

+ Hiểu căn bệnh, biết cách chữa trị nhưng sợ chữa có hiệu quả ngay sẽ đượcchúa tin dùng, bị công danh trói buộc

+ Muốn chữa cầm chừng nhưng lại sợ trái với lương tâm, y đức, sợ phụ lòngcha ông

- Cuối cùng phẩm chất, lương tâm của người thầy thuốc đã thắng Ông gạt sangmột bên sở thích cá nhân để làm tròn trách nhiệm ⇒ Là một thầy thuốc cólương tâm và đức độ

- Khinh thường lợi danh, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm,giản dị nơi quê nhà

- Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn sự chú ý của người đọc, không bỏ sótnhững chi tiết nhỏ tạo nên cái thần của cảnh và sự việc

* Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác giả

Trang 6

- Quan sát tỉ mỉ (quang cảnh phủ chúa, nơi thế tử Cán ở)

- Khát quát, nhấn mạnh nội dung và nghệ thuật đoạn trích

- Mở rộng vấn đề: Đoạn trích ghi chép một cách chân thực cho chúng ta hiểuthêm về cách sống, cách sinh hoạt của vua chúa trong quá khứ dân tộc

TIẾT 3:

ĐỀ SỐ 2: PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG ĐOẠN TRÍCH “ VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH” ( TRÍCH THƯỢNG KINH KÍ SỰ) CỦA TÁC GIẢ LÊ HỮU TRÁC.

trong tác phẩm Thượng kinh kí sự của ông.

- Đoạn trích đã thể hiện rõ nét vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Lê Hữu Trác

b.

Thân bài

* Là con người coi thường danh lợi

- Ban đầu, khi đứng trước khung cảnh xa hoa, lộng lẫy của phủ chúa:

+ Cảm thán: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thựckhác hẳn với người thường!”

+ Vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng vương giả trong phủ với “gác vẽ, rèmchâu, hiên ngọc, vườn ngọc” có hoa thơm, chim biết nói…

- Tuy nhiên, đằng sau đó, tác giả cũng gián tiếp phê phán cuộc sống sa hoanhưng thiếu sinh khí trong phủ chúa thông qua:

Trang 7

+ Sự miêu tả tỉ mỉ sự sa hoa giàu sang

+ Khi được mời dùng cơm: “Mâm vàng chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ,tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia” ⇒ giọng điệu mỉa mai

+ Cảm nhận về con đường vào nội cung của thế tử: Ở trong tối om, không thấycửa ngõ gì cả, “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá

ấm nên tạng phủ yếu đi” ⇒ Không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiệnnghi nhưng thiếu khí trời và tự do

+ Ẩn chứa trong bài thơ là giọng điệu mỉa mai phê phán: “Cả trời Nam sángnhất là đây!” (phơi bày hiện thực về sự sa hoa của chúa Trịnh)

⇒ Con người coi thường danh lợi

* Là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ

- Tâm trạng của Lê Hữu Trác khi kê đơn cho thế tử có sự mâu thuẫn, giằng co:+ Hiểu căn bệnh, biết cách chữa trị nhưng sợ chữa có hiệu quả ngay sẽ đượcchúa tin dùng, bị công danh trói buộc, không được về với núi rừng ẩn dật

+ Muốn chữa cầm chừng nhưng lại sợ trái với lương tâm, y đức, sợ phụ lòngcha ông

- Cuối cùng phẩm chất, lương tâm của người thầy thuốc đã chiến thắng Ôngchữa bệnh tận tình bằng tài năng của mình, thẳng thắn đưa ra những cách chữabệnh hợp lí

⇒ Cách lí giải về bệnh tình thế tử Trịnh Cán cho thấy Lê Hữu Trác là một thầythuốc có lương tâm và đức độ

* Là con người có cốt cách thanh cao

- Luôn coi việc nối tiếp lòng trung thành của cha ông mình làm tôn chỉ để hànhđộng đúng đắn

- Xem thường danh lợi, yêu thích tự do, mong muốn được sống thanh đạm nơiquê mùa: suy nghĩ của Lê Hữu Trác khi ông chữa bệnh cho thế tử

⇒ Sự coi thường danh lợi của Lê Hữu Trác, mong muốn sống cuộc đời tự do,chữa bệnh cứu người của ông cho thấy một cốt cách thanh cao của một danh y

c.

Kết bài

Trang 8

- Khẳng định lại những nét đẹp tâm hồn và nhân cách của tác giả Lê Hữu Trácthể hiện qua đoạn trích và nêu những nét nghệ thuật thể hiện thành công điềuđó.

- Bày tỏ quan điểm cá nhân về vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Lê Hữu Trác

và liên hệ bản thân

IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )

- Ghi nhớ nội dung bài học

- Tìm hiểu một số đề bài liên quan

- Chuẩn bị bài: Chủ đề Thơ Hồ Xuân Hương

- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Hồ Xuân Hương

- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dântộc

II CHUẨN BỊ

Trang 9

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về HXH trong tài liệu tham khảo hoặc trêncác trang web

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

TIẾT 1:

PHẦN I: TÁC GIẢ VÀ CHÙM THƠ TỰ TÌNH.

1 Tác giả:

- Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài ba ở nước ta vào cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ

XIX Bà là người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Ngoài tập"Lưu Hương kí" bà còn để lại khoảng 50 bài thơ nôm, phần lớn là thơ

đa nghĩa, vừa có nghĩa thanh vừa có nghĩa tục Một số bài thơ trữ tình đằmthắm, thiết tha, buồn tủi thể hiện sâu sắc thân phận người phụ nữ trong xã hội

cũ, với bao khao khát sống và hạnh phúc tình duyên Chùm thơ "Tự tình" phảnánh tâm tư tình cảm của Hồ Xuân Hương, của một người phụ nữ lỡ thì quá lứa,

Tự tình I

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,

Oán hận trông ra khắp mọi chòm.

Trang 10

Mõ thảm không khua mà cũng cốc,

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om Trước nghe những tiếng thêm rầu rỉ, Sau giận vì duyên để mõm mòm.

Tài tử văn nhân ai đó tá?

Thân này đâu đã chịu già tom!

Tự tình II

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn, Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

Tự Tình III

Chiếc bánh buồn vì phận nổi nênh,

Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng, Nửa mạn phong ba luống bập bềnh Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,

Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.

Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,

Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.

Trang 11

- Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của nền văn họctrung đại Việt Nam, được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm” Bà là một “thiêntài kì nữ” nhưng cuộc đời đầy éo le, bất hạnh Thơ Hồ Xuân Hương là thơ củaphụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà vẫn rất trữ tình Một trong những bài thơtiêu biểu viết về tâm trạng, nỗi niềm của người phụ nữ trước duyên phận, cuộcđời mình là “Tự tình” (II).

TIẾT 2:

2 BÀI THƠ TỰ TÌNH( II)

a Khái quát về bài thơ“Tự tình” (II) là bài thơ thuộc chùm thơ “Tự tình” gồm

ba bài của bà Đây là chùm thơ nữ sĩ viết để tự kể nỗi lòng, tâm tình của mình.Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thơ thất ngôn bát cú Đườngluật với bố cục bốn phần: đề, thực, luận, kết Bài thơ thể hiện thái độ, tâm trạngvừa đau đớn, vừa phẫn uất trước thực tại đau buồn, tuy vậy, bà vẫn gắng gượngvươn lên, nhưng rồi vẫn rơi vào bi kịch Dựa vào nội dung bài thơ, ta có thểđoán bài thơ được sáng tác khi bà đã gặp phải những éo le, bất hạnh trong tìnhduyên

b Nội dung

– Hai câu đề giới thiệu cảnh đêm khuya với tiếng trống canh từ xa văng vẳngdồn dập Trong thời điểm đó, nhà thơ – nhân vật trữ tình lại đang một mình trơtrọi giữa đêm khuya Hai câu đề chỉ với 14 chữ ngắn gọn nhưng đã diễn tả sâusắc tình cảnh cô đơn của nữ sĩ trong dêm khuya thanh văng

– Từ nỗi cô đơn, thao thức không biết bày tỏ, tâm sự cùng ai, nhân vật trữ tình

tỏ ra chán chường và đã tìm dến rượu, mượn rượu để giải sầu Nhà thơ muốnchìm ngập trong cơn say để quên đi thực tại xót xa, tủi nhục nhưng thật trớtrêu: Chén rượu hương đưa say lại tinh/ Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.Cơn say rồi cũng qua di và khi tỉnh rượu, nhân vật trữ tình giật mình quay vềvới thực tại và càng nhận ra nỗi trống vắng, bạc bẽo của tình đời khi chạm phải

“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn" Khi tình rượu, nhân vật trữ tình khôngchi nhận ra thân phận cô đơn mà còn nhận ra một sự thật đắng cay hơn: tìnhduyên vẫn chưa trọn vẹn nhưng tuổi xanh đã dần dần trôi di

– Từ nỗi phẫn uất duyên tình lỡ dở, hai câu luận là nỗi bực dọc, phản kháng củanhân vật trữ tình Hình ảnh từng đám rêu “xiên ngang mặt đốt" như trêu ngươinhà thơ, bởi rêu phong là bằng chứng cho sự vô tình của thời gian và nó là hiện

Trang 12

thân của sự tàn phá Bực dọc vì tuổi xuân qua mau, đời người ngắn ngủi, nhỏ

bé, nhà thơ muốn bứt phá, muốn thoát khỏi tình cảnh hiện tại Hình ảnh: Đâmtoạc chân mảy đá mấy hòn" thể hiện thái độ ngang ngạnh, phàn kháng, ấm ứccủa nhà thơ

– Nhưng phản kháng cũng không được, năm tháng cứ thế trôi đi, tuổi xuân quamau mà duyên tình vẫn chưa được vuông tròn, chung tình không đến, ngườichung tình thì cứ chờ đợi mỏi mòn, tuổi xuân tàn phai theo năm tháng Mànhtình quanh đi quẩn lại vần chỉ là “san sẻ tí con con” Bởi vậy nhân vật trử tìnhquay sang than thở cho thản phận của mình: Ngán nỗi xuân di xuân lại lại,Mảnh tình san sẻ tí con con Hai câu kết cực tả tâm trạng chua chát, buồn tủicua nhân vật trữ tình Tóm lại, Tự tình thể hiện tâm trạng, thái độ của nữ sĩ HồXuán Hương: vừa đau buồn, cô đơn, vừa phần uất trước duyên phận; càng gắnggượng vươn lên lại càng rơi vào bi kịch Đằng sau nỗi xót xa, buồn tủi đó làkhát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của nữ sĩ nói riêng và người phụ nữ trong

xã hội phong kiến nói chung

TIẾT 3:

c Nghệ thuật

– Cách dùng từ ngừ của Hồ Xuân Hương hết sức giản dị, giàu sức biểu cảm,táo bạo nhưng lại rất tinh tế Với tài nghệ sứ dụng từ ngữ, Hồ Xuân Hương đãtạo cho bài thơ nhiều giọng điệu với đầy đủ các sắc thái tình cảm: tủi hổ, phiềnmuộn, bực dọc, phản kháng và cuối cùng là chua chát, chán chường

- Nhà thơ còn dùng phép tiểu đối: lấy “cái hồng nhan" đem dối với “nước non”thật đắt và táo bạo nhưng lại rất phù hợp nên đã làm nổi bật dược tâm trạng côđơn, chán chường của mình

– Đặc biệt, nghệ thuật tăng tiến ờ câu cuối: Mảnh tình – san sẻ – tí – con – con,

đã làm nổi bật tâm trạng chua chát, buồn tủi của chủ thế trữ tình trước tìnhduyên lận dận Với nghệ thuật đặc sắc đó, Hồ Xuân Hương đã góp vào khotàng thơ Nôm Việt Nam một tiếng thơ táo bạo mà chân thành, mới lạ nhưng lạihết sức gần gũi

c Giá trị

Bài thơ mang giá trị nhân đạo sâu sắc Với việc giãi bày nỗi cô dơn, buồn tủicủa mình, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nói lên được tình cảnh chua chát cùa muônvàn phụ nữ trong xã hội phong kiến Đó là xã hội bất công đã làm cho baonhiêu thản phận “hồng nhan” bị lỡ làng và đau khổ Buồn tủi với tình cảnh hiện

Trang 13

tại, nữ sĩ luôn khao khát một cuộc sống hạnh phúc, một tinh yêu lứa đôi trọnvẹn Khát vọng của Hồ Xuán Hương về hạnh phúc lứa đôi cũng chính là khátvọng của người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ Đó là một khát vọng chínhdáng và đầy tính nhân văn.

IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )

- Ghi nhớ nội dung bài học

- Tìm hiểu một số đề bài liên quan

- Chuẩn bị bài: Chủ Thơ Hồ Xuân Hương

- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Hồ Xuân Hương

- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dântộc

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

Trang 14

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về HXH trong tài liệu tham khảo hoặc trêncác trang web

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

- Giới thiệu bài thơ Tự tình II: Đây là một trong số 3 bài thơ trong chùm thơ

Tự tình thể hiện nỗi niềm buồn tủi trước cảnh ngộ lỡ làng

b Thân bài

* Hai câu đề: Nỗi niềm buồn tủi, chán chường

Trang 15

•*.1.Câu 1: Thể hiện qua việc tái hiện bối cảnh:

- Thời gian: + Đêm khuya, trống canh dồn – nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếngtrống thể hiện bước đi thời gian gấp gáp, vội vã ⇒ Con người chất chứa nỗiniềm, bất an

- Không gian: “văng vẳng”: lấy động tả tĩnh ⇒ không gian rộng lớn nhưngtĩnh vắng

⇒ Con người trở nên nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn

*.2 Câu 2: Diễn tả trực tiếp nỗi buồn tủi bằng cách sử dụng từ ngữ gây ấntượng mạnh:

- Từ “trơ” được nhấn mạnh: nỗi đau, hoàn cảnh “trơ trọi”, tủi hờn, đồng thờithể hiện bản lĩnh thách thức, đối đầu với những bất công ngang trái

- Cái hồng nhan: Kết hợp từ lạ thể hiện sự rẻ rúng

⇒ Hai vế đối lập: “cái hồng nhan” >< “với nước non”

⇒ Bi kịch người phụ nữ trong xã hội

* Hai câu thực: Diễn tả rõ nét hơn tình cảnh lẻ loi và nỗi niềm buồn tủi

*.1 Câu 3: gợi lên hình ảnh người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặngvới bao xót xa

- Chén rượu hương đưa: Tình cảnh lẻ loi, mượn rượu để giải sầu

- Say lại tỉnh: vòng luẩn quẩn không lối thoát, cuộc rượu say rồi tỉnh cũng nhưcuộc tình vướng vít cũng nhanh tan, để lại sự rã rời

⇒ Vòng luẩn quẩn ấy gợi cảm nhận duyên tình đã trở thành trò đùa của sốphận

*.2 Câu 4: Nỗi chán chường, đau đớn e chề

- Hình tượng thơ chứa hai lần bi kịch:

+ Vầng trăng bóng xế: Trăng đã sắp tàn ⇒ tuổi xuân đã trôi qua

Trang 16

- Khuyết chưa tròn: Nhân duyên chưa trọn vẹn, chưa tìm được hạnh phúc viênmãn, tròn đầy ⇒ sự muộn màng dở dang của con người

- Nghệ thuật đối → tô đậm thêm nỗi sầu đơn lẻ của người muộn màng lỡ dở

⇒ Niềm mong mỏi thoát khỏi hoàn cảnh thực tại nhưng không tìm được lốithoát

* Hai câu luận: Nỗi niềm phẫn uất, sự phản kháng của Xuân Hương

- Cảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang niềm phẫn uất và bộc lộ cátính:

+ Rêu: sự vật yếu ớt, hèn mọn mà cũng không chịu mềm yếu

+ Đá: im lìm nhưng nay phải rắn chắc hơn, phải nhọn hoắt lên để “đâm toạcchân mây”

+ Động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với bổ ngữ ngang, toạc: thể hiện sựbướng bỉnh, ngang ngạnh

+ Nghệ thuật đối, đảo ngữ ⇒ Sự phản kháng mạnh mẽ dữ dội, quyết liệt

⇒ sức sống đang bị nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng

⇒ Sự phản kháng của thiên nhiên hay cũng chính là sự phản kháng của conngười

* Hai câu kết: Quay trở lại với tâm trạng chán trường, buồn tủi

*.2 Câu 8:- Mảnh tình: Tình yêu không trọn vẹn

- Mảnh tình san sẻ: Càng làm tăng thêm nỗi chua xót ngậm ngùi, mảnh tìnhvốn đã không được trọn vẹn nhưng ở đây còn phải san sẻ

Trang 17

- Tí con con: tí và con con đều là hai tính từ chỉ sự nhỏ bé, đặt hai tính từ nàycạnh nhau càng làm tăng sự nhỏ bé, hèn mọn

⇒ Mảnh tình vốn đã không được trọn vẹn nay lại phải san sẻ ra để cuối cùngtrở thành tí con con

⇒ Số phận éo le, ngang trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phảichịu thân phận làm lẽ

* Nghệ thuật

- Ngôn ngữ thơ điêu luyện, bộc lộ được tài năng và phong cách của tác giả: + Sử dụng từ ngữ, hình ảnh giàu sức tạo hình, giàu giá trị biểu cảm, đanghĩa

- Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ: câu hỏi 2, câu 5 và câu 6

- Sử dụng động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc

c Kết bài

- Khẳng định lại những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

- Thông qua bài thơ thể hiện giá trị hiện thực và bộc lộ tấm lòng nhân đạo sâusắc của một nhà thơ “phụ nữ viết về phụ nữ”

TIẾT 1:

ĐỀ SỐ 2 TÂM SỰ CỦA HXH QUA BÀI THƠ “TỰ TÌNH” (II)

DÀN BÀI

a Mở bài

- Giới thiệu bài thơ: Tự tình II là bài thơ Hồ Xuân Hương viết về thân phận nhỏ

bé cùng thân phận dang dở của chính mình, nhưng qua những tâm sự ấy ngườiđọc lại thấy được những thân phận chung của rất nhiều phụ nữ trong xã hộiđương thời

- Bên cạnh giọng thơ khinh bạc ấy, ta lại bắt gặp một trong những bài thơ tảcảnh ngụ tình khá sâu sắc và ý tứ chân thành nhằm giãi bày tâm sự của mình

b Thân bài

Trang 18

* Khái quát chung:

- Bài thơ thể hiện nỗi buồn và tâm sự của nhà thơ về số phận lẻ loi của mình vàniềm khát khao được hạnh phúc

* Phân tích:

– Trong sự hoang vắng, tịch mịch của không gian, nhân vật trữ tình xuất hiệnvới những tâm sự, suy tư chất chồng về sự nhỏ bé của bản thân và sự lỡ làngcủa duyên phận

– Âm thanh tiếng trống trong đêm không làm lòng người thôi khắc khoải màdường như càng làm đậm thêm nỗi buồn, sự lạc lõng giữa cuộc đời

– “Hồng nhan” là gương mặt đẹp, thường được dùng để chỉ những người congái đẹp

–> động từ trơ được đảo lên đầu câu lại gợi ấn tượng về sự nhỏ bé, lạc lõng củathân phận người phụ nữ trước cuộc đời rộng lớn

– Tâm trạng chất chứa những suy tư, bế tắc khôn nguôi nhưng người phụ nữ ấylại chẳng có lấy một người để giãi bày những tâm sự mà phải tìm đến rượu nhưmột cách để thoát li với thực tại đau khổ

– Đối diện với thân phận hẩm hiu, tình duyên dang dở nữ sĩ đã muốn mượnrượu giải sầu, muốn say để quên đi tất cả nhưng dường như càng uống càngtỉnh

– “Say lại tỉnh” gợi ra trạng thái say – tỉnh bất phân, hơi rượu không làm cho

nữ sĩ quên đi mà càng khắc sâu nỗi đau về thân phận

– Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn là vầng trăng sắp tàn khi ngày đến,trạng thái khuyết chưa tròn cũng như tình duyên dang dở, lỡ làng của duyênphận

– Nghệ thuật đảo ngữ được sử dụng vô cùng hiệu quả để hiện sự bất bình, bứcbối của tác giả trước tình sự bất công của số phận đồng thời thể hiện khát khaovượt thoát khỏi hoàn cảnh

– Người phụ nữ dùng cả tuổi xuân của mình để chờ mong, khát cầu một hạnhphúc dù là nhỏ bé, đơn giản nhưng chờ cả tuổi xuân hạnh phúc khát cầu ấycũng chẳng thể trọn vẹn

– “Ngán” là trạng thái của nhà thơ Hồ Xuân Hương trước sự mất mát của tuổixuân nhưng không thể một lần chạm đến hạnh phúc

Trang 19

– Tình duyên vốn mỏng manh, nhỏ bé “mảnh tình” cũng không được trọn vẹn

mà phải san sẻ càng khiến cho độc giả thêm xót xa về thân phận hẩm hiu củakiếp chồng chung, lẽ mọn

TIẾT 1:

* Đánh giá chung:

– Cách dùng từ ngữ của Hồ Xuân Hương hết sức giản dị, giàu sức biểu cảm,táo bạo nhưng lại rất tinh tế Với tài nghệ sử dụng từ ngữ, Hồ Xuân Hương đãtạo cho bài thơ nhiều giọng điệu với đầy đủ các sắc thái tình cảm: tủi hổ, phiềnmuộn, bực dọc, phản kháng và cuối cùng là chua chát, chán chường

- Bài thơ đã thể hiện được tâm trạng đau buồn, phẫn uất trước duyên phận,

gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch số phận Bài thơ cho thấy khátvọng sống, khát vọng hạnh phúc

c Kết bài

- Tự tình 2 là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho tâm hồn, tài năng vàphong cách của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Bài thơ thể hiện được sự ý thức sâu sắccủa người phụ nữ trước hoàn cảnh éo le, bất công của số phận, tuy nặng trĩu nỗibuồn nhưng không hề bi lụy, ấn tượng đọng lại cuối cùng trong lòng người đọclại là sự mạnh mẽ của tâm hồn người phụ nữ

IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )

- Ghi nhớ nội dung bài học

- Tìm hiểu một số đề bài liên quan

- Chuẩn bị bài: Chủ đề Thơ Nguyễn Khuyến

Trang 20

- Hướng dẫn, rèn kĩ năng cho HS luyện giải một số đề liên quan.

- Có thái độ nghiêm túc, tự giác khi tìm hiểu văn chương Nguyễn Khuyến

- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dântộc

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

Trang 21

+ Phân tích

2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Nguyễn Khuyến trong tài liệu tham khảohoặc trên các trang web

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

TIẾT 1:

PHẦN I: NGUYỄN KHUYẾN VÀ CHÙM THƠ THU.

1 Nhà thơ Nguyễn Khuyến:

- Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là người thông minh, cần cù, chăm

chỉ, có nghị lực nên đạt được được những vinh quang trên con đường học tập,khoa cử

- Xuất thân trong một gia đình nhà nho có truyền thống khoa bảng nhưngnghèo, Nguyễn Khuyến phải đi dạy học để kiếm sống và để nuôi mẹ

Từng không đỗ trong các kì thi Hương năm 1852,1855,1861 nhưng NguyễnKhuyến không nản lòng, ông vừa đi dạy học, vừa tìm thầy để học và nhất làbằng sự tự học, sự nỗ lực lớn của bản thân, nám 1864, ông đỗ đầu kì thi Hương.Trong các năm tiếp theo 1865, 1868, 1869 (ân khoa) ông thi Hội đều không đỗ.Lại một lần nữa, thất bại không làm ông nản lòng mà chỉ càng làm ông thêmquyết chí Năm 1871, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cả thị Hội và thi Đình, được vua

Tự Đức ban cờ, biển vận hai chữ Tam nguyên Đỗ đầu cả ba kì thi nên NguyễnKhuyến được gọi là Tam nguyên Yên Đổ

- Nguyễn Khuyến là người có lòng yêu nước, thương dân Ông từng ra làmquan với triều Nguyễn, nhưng khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chiếmsáu tỉnh Nam Kì, đang lần lượt chiếm các tỉnh Bắc Kì, ông từ chối không nhậnchức làm quyền Tổng đốc Sơn Tây Năm 1884, Nguyễn Khuyến cáo quan trở

về quê Yên Đổ Để mua chuộc sĩ phu miền Bắc, thực dân Pháp từng cho ngườimời Nguyễn Khuyến ra làm quan trở lại nhưng ông đều từ chối, kiên quyết

- Là người có tấm lòng yêu nước thương dân nhưng Nguyễn Khuyến chưa códũng khí chiến đấu với giặc Tuy nhiên, về mặt tư tưởng, ông là người có dũngkhí Nguyễn Khuyến ý thức được sự khủng hoảng của Nho giáo, sự bất lực của

Trang 22

học vấn, khoa cử truyền thống, muốn từ bỏ những tư tưởng Nho giáo đã tỏ ralỗi thời : “Đề vào mấy chữ trong bia – Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”

Nguyễn Khuyến là người có cốt cách thanh cao, tính tình đôn hậu Đỗ đạt caonhưng ông chỉ làm quan hơn mười năm còn phần lớn cuộc đời là sống ờ quênhà, dạy học trong hoàn cảnh thanh bạch, ông sống chan hoà với gia đình, họhàng, xóm giềng, bè bạn Ông gắn bó với người dân quê, với quê hương, làngcảnh một cách chân tình, nhiều khi đến mộc mạc

- Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, hiện còn khoảngtrên 800 bài gồm thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ Đóng góp nổi bật củatác giả đối với văn học dân tộc là ở mảng thơ viết về làng quê, thơ trào phúng

và ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ số một vềquê hương, làng cảnh vì ông viết nhiều, viết đúng và viết hay về thiên nhiên,con người và cuộc sống thôn quê

2 Chùm thơ thu:

* Bài thơ: Thu điếu

Bài thơ Thu điếu là một bài thơ thu của tác giả Nguyễn Khuyến nằm trong tập thơ thu gồm ba bài Thu Vinh, Thu Điếu và Thu ẩm Bài thơ Thu Điếu miêu tả

vẻ đẹp tĩnh lặng của mùa thu ở vùng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp mà cô đơn, buồn của một nhà Nho nặng tình với quê hương đất nước.

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Trang 23

* Bài thơ: Thu ẩm

Năm gian nhà cỏ thấp le te,

Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ?

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.

Độ năm ba chén đã say nhè.

* Bài thơ: Thu vịnh

Bài thơ Thu vịnh Nguyễn Khuyến hay còn được biết đến với tên gọi Vịnh mùa thu, Mùa thu ngồi mát ngâm thơ Đây là một trong 3 bài thơ nằm trong chùm Thu vịnh, thu điếu, thu ẩm đặc sắc Mỗi bài thơ là một bức tranh mùa thu thủy mặc được diễn tả bằng ngôn từ Đó chính là cảnh thu đồng bằng bắc bộ với những hình ảnh mang đặc trưng.

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

TIẾT 2:

PHẦN II: LUYỆN ĐỀ

Trang 24

ĐỀ SỐ 1: PHÂN TÍCH BÀI THƠ " CÂU CÁ MÙA THU”( THU ĐIẾU) CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN KHUYẾN

DÀN BÀI

a Mở bài

- Đôi nét về tác giả Nguyễn Khuyến: một tác giả chịu ảnh hưởng đậm nét tưtưởng Nho giáo, sáng tác của ông thường về đạo đức con người, người quân tử.Sau khi thấy thực tại rối ren, ông ở ẩn sáng tác các tác phẩm thể hiện sự hòahợp với thiên nhiên thanh tịnh

- Bài thơ Câu cá mùa thu: Là một bài thơ trong chùm thơ thu ba bài được sángtác trong thời gian

tác giả ở ẩn

b Thân bài

* Hai câu đề

- Mùa thu gợi ra với hai hình ảnh vừa đối lập vừa cân đối hài hoà "ao thu",

"chiếc thuyền câu" bé

tẻo teo;

+ Màu sắc "trong veo": sự dịu nhẹ, thanh sơ của mùa thu

+ Hình ảnh: Chiếc thuyền câu bé tẻo teo ⇒ rất nhỏ

+ Cách gieo vần "eo": giàu sức biểu hiện

- Cũng từ ao thu ấy tác giả nhìn ra mặt ao và không gian quanh ao ⇒ đặc trưngcủa vùng đồng bằng Bắc Bộ

⇒ bộc lộ rung cảm của tâm hồn thi sĩ trước cảnh đẹp mùa thu và của tiết trờimùa thu, gợi cảm giác yên tĩnh lạ thường

* Hai câu thực

- Tiếp tục nét vẽ về mùa thu giàu hình ảnh:

+ Sóng biếc: Gợi hình ảnh nhưng đồng thời gợi được cả màu sắc, đó là sắcxanh dịu nhẹ và mát mẻ, phải chăng là sự phản chiếu màu trời thu trong xanh+ Lá vàng trước gió: Hình ảnh và màu sắc đặc trưng của mùa thu Việt Nam

- Sự chuyển động:

Trang 25

+ hơi gợn tí ⇒ chuyển động rất nhẹ ⇒sự chăm chú quan sát của tác giả+ "khẽ đưa vèo" ⇒ chuyển động rất nhẹ rất khẽ ⇒ Sự cảm nhận sâu sắc và tinhtế

⇒ Nét đặc sắc rất riêng của mùa thu làng quê được gợi lên từ những hình ảnhbình dị, đó chính là "cái hồn dân dã"

* Hai câu luận

- Cảnh thu đẹp một vẻ bình dị nhưng tĩnh lặng và đượm buồn:

+ Không gian của bức tranh thu được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâu+ Tầng mây lơ lửng: gợi cảm giác thanh nhẹ, quen thuộc gần gũi, yên bình, tĩnhlặng

+ Hình ảnh trời xanh ngắt: sắc xanh của mùa thu lại được tiếp tục sử dụng,nhưng không phải là màu xanh dịu nhẹ, mát mẻ mà xanh thuần một màu trêndiện rộng ⇒ đặc trưng của mùa thu

+ Hình ảnh làng quê được gợi lên với "ngõ trúc quanh co": hình ảnh quen thuộc+ Khách vắng teo: Gieo vần "eo" gợi sự thanh vắng, yên ả, tĩnh lặng

⇒ Không gian của mùa thu làng cảnh Việt Nam được mở rộng lên cao rồi lạihướng trực tiếp vào chiều sâu, không gian tĩnh lặng và thanh vắng

* Hai câu kết

- Xuất hiện hình ảnh con người câu cá trong không gian thu tĩnh lặng với tư thế

"Tựa gối buông cần":

+ " Buông": Thả ra (thả lỏng) đi câu để giải trí, ngắm cảnh mùa thu

+ "Lâu chẳng được" : Không câu được cá

⇒ Đằng sau đó là tư thế thư thái thong thả ngắm cảnh thu, đem câu cá như mộtthú vui làm thư thái tâm hồn ⇒ sự hòa hợp với thiên nhiên của con người

- Toàn bài thơ mang vẻ tĩnh lặng đến câu cuối mới xuất hiện tiếng động:

+ Tiếng cá "đớp động dưới chân bèo" → sự chăm chú quan sát của nhà thơtrong không gian yên tĩnh của mùa thu, nghệ thuật "lấy động tả tĩnh"

⇒ Tiếng động rất khẽ, rất nhẹ trong không gian rộng lớn càng làm tăng vẻ tĩnhvắng , "cái tĩnh tạo nên từ một cái động rất nhỏ"

Trang 26

⇒ Nói câu cá nhưng thực ra không phải bàn chuyện câu cá, sự tĩnh lặng củacảnh vật cho cảm nhận về nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ, đó làtâm sự đầy đau buồn trước tình cảnh đất nước đầy đau thương

* Nghệ thuật

- Bút pháp thuỷ mặc (dùng đường nét chấm phá) Đường thi và vẻ đẹp thi trunghữu hoạ của bức tranh phong cảnh

- Vận dụng tài tình nghệ thuật đối

- Nghệ thuật lấy động tả tĩnh được sử dụng thành công

- Cách gieo vẫn "eo" và sử dụng từ láy tài tình

c Kết bài:

- Khẳng định lại những nét tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của bài thơ

- Bài thơ đem đến cho độc giả những cảm nhận sâu lắng về một tâm hồn yêunước thầm kín mà thiết tha

- Bài thơ Câu cá mùa thu là một trong số những bài thơ chữ Nôm tiêu biểu

nhất của Nguyễn Khuyến khi viết về quê hương, làng cảnh đó Bài thơ đemđến cho người đọc sự cảm nhận tinh tế vẻ đẹp cảnh thu và tình thu

b Thân bài

b 1 Cảnh thu

b.1.1 Cảnh thu được khắc họa từ sự thay đổi điểm nhìn

- Bức tranh mùa thu được thu vào tầm mắt theo điểm nhìn thay đổi từ gần đếncao xa, từ cao xa trở về gần: từ “thuyền câu bé tẻo teo” trong “ao thu” đến

“tầng mây lơ lửng” rồi quay trở về với thuyền câu, ao thu

Trang 27

b.1.2 Cảnh thu trong bài là bức tranh mùa thu tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất cho “mùa thu của làng cảnh Việt Nam”

Những nét đặc trưng nhất của mùa thu Bắc bộ được phác họa trong bức tranhmùa thu với đầy đủ màu sắc và đường nét:

+ Tiếng cá “đớp động dưới chân bèo”⇒ “cái tĩnh tạo nên từ một cái độngrất nhỏ”

- Sự hòa hợp trong hòa phối màu sắc:

+ Các sắc thái xanh khác nhau tăng dần về độ đậm: xanh màu “trong veo”của ao, xanh biếc của sóng, “xanh ngắt” của trời hòa với sắc vàng của lá ⇒tăng thêm sự hài hòa thanh dịu

b.1.3 Cảnh thu được khắc họa đẹp nhưng tình lặng và đượm buồn

- Không gian của bức tranh thu được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâunhưng tĩnh vắng:

+ Ngõ trúc “khách vắng teo”: Gieo vần “eo” gợi sự thanh vắng, yên ả, tĩnhlặng, làng quê ngõ xóm không có hoạt động nào của con người

+ Chuyển động nhưng là chuyển động rất khẽ: sóng “hơi gợn tí”, mây “lơlửng”, lá “khẽ đưa” ⇒ không đủ sức tạo nên âm thanh

+ Toàn bài thơ mang vẻ tĩnh lặng đến câu cuối mới xuất hiện tiếng động rấtkhẽ trong không gian rộng lớn càng làm tăng vẻ tĩnh vắng

⇒ Không gian của mùa thu làng cảnh Việt Nam được mở rộng lên cao rồi lạihướng trực tiếp vào chiều sâu, không gian tĩnh lặng và thanh vắng

Trang 28

b.2 Tình thu (tình cảm, vẻ đẹp tâm hồn thi nhân trước cảnh thu)

b.2.1 Tâm hồn yêu thiên nhiên, sự hòa hợp với thiên nhiên của con người

- Biểu hiện tình yêu thiên nhiên của tác giả:

+ Khả năng quan sát và cảm nhận sâu sắc những hình ảnh, đường nét, màusắc của mùa thu

+ Sự cảm nhận được thực hiện bằng nhiều giác quan: thị giác, thính giác,xúc giác và thường là sự hoà trộn nhiều cảm giác

- Hình ảnh con người xuất hiện trong không gian thu tĩnh lặng với tư thế “Tựagối buông cần”:

+ “ Buông”: Thả ra (thả lỏng) đi câu để giải trí, ngắm cảnh mùa thu

+ “Lâu chẳng được” : Không câu được cá

⇒ Đằng sau đó là tư thế thư thái thong thả ngắm cảnh thu, đem câu cá nhưmột thú vui làm thư thái tâm hồn ⇒ sự hòa hợp với thiên nhiên, với mùa thucủa làng cảnh Việt Nam của con người

b.2.2 Tấm lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha

- Đằng sau sự cảm nhận tinh tế về mùa thu của quê hương là tình yêu thiênnhiên Sự hòa hợp với thiên nhiên cũng chính là một biểu hiện của lòng yêunước

- Bức tranh mùa thu mang hồn dân tộc, vượt ngoài những khuôn sáo, ước lệcủa thi pháp cũ không phải chỉ bởi tài năng mà còn bởi tình yêu đất nước củatác giả

- Hình ảnh người câu cá hững hờ trước việc câu cá ⇒ sự nặng lòng trước thế

sự ⇒ nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ, đó là tâm sự đầy đaubuồn trước tình cảnh đất nước đầy đau thương

* Đánh giá về nghệ thuật khắc họa thành công cảnh thu và tình thu

- Bút pháp thuỷ mặc (dùng đường nét chấm phá) Đường thi và vẻ đẹp thi trunghữu hoạ của bức tranh phong cảnh

Trang 29

- Vận dụng tài tình nghệ thuật đối.

- Nghệ thuật lấy động tả tĩnh được sử dụng thành công

- Cách gieo vẫn “eo” và sử dụng từ láy tài tình

c Kết bài

- Khái quát lại những nét đặc sắc về cảnh thu và tình thu trong tác phẩm

- Liên hệ cảm xúc bản thân trước cảnh thu và tâm hồn tác giả

IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )

- Ghi nhớ nội dung bài học

- Tìm hiểu một số đề bài liên quan

- Chuẩn bị bài: Chủ đề Thơ Tú Xương

Trang 30

- Yêu mến, trân trọng gìn giữ các tác phẩm văn chương có giá trị của của dântộc.

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

- Sgk, tài liệu tham khảo

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Tú Xương trong tài liệu tham khảo hoặctrên các trang web

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

TIẾT 1:

PHẦN I: TRẦN TẾ XƯƠNG- CUỘC SÔNG- SỰ NGHIỆP

- Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là MặcTrai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương.Nhưng cái tên Trần Tế Xương cũng chưa phải cối cùng, sau nhiều lần thi hỏngông đổi tên thành Trần Cao Xương nhưng cũng chẳng may hơn tý nào Ôngsinh ngày 10-8-1871 tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Ðịnh trong mộtgia đình nhà nho nghèo, đông con và mất ngày 20-1-1907 ở làng Ðịa Tứ cùnghuyện - Cuộc đời Tú Xương lận đận về thi cử Tám khoa đều hỏng nên thi cử

đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong cuộc đời ngắn ngủi của ông Ôngcưới vợ rất sớm Phạm Thị Mẫn từ một cô gái quê: “ Con gái nhà dòng, lấy

Trang 31

chồng kẻ chợ Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ” trở thành bà Tú tầntảo một nắng hai sương: “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm convới một chồng” Ông Tú vẫn có thể có tiền để ăn tiêu nhưng gia cảnh nghèotúng, việc nhà trông cậy vào một tay bà Tú.

- Có thể nói, việc hỏng thi và cảnh nghèo của gia đình là nguồn đề tài phongphú trong sáng tác của Tú Xương

- Thời đại: Cuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan Năm TúXương ba tuổi (1873) Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Ðịnh.Năm mười bốn tuổi (1884) triều đình ký hiệp ước dâng đất nước ta cho giặc.Tuổi thơ của Tú Xương trôi qua trong những ngày đen tối và ký ức về nhữngcuộc chiến đấu của các phong trào khởi nghĩa chống Pháp cũng mờ dần Nhất

là sau cuộc khởi nghĩa của Phan Ðình Phùng (1896) bị thất bại thì phong tràođấu tranh chống Pháp dường như tắt hẳn Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trịđất nước, xã hội có nhiều biến động, nhất là ở thành thị Tú Xương lại sinh ra

và lớn lên ở thành thị vào thời kỳ chế độ thực dân nửa phongkiến được xác lập,nền kinh tế tư bản phát triển ở một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội,đảo lộn đời sống tinh thần của nhân dân Nhà thơ đã ghi lại rất sinh động, trungthành bức tranh xã hội buổi giao thời ấy và thể hiện tâm trạng của mình Có thểnói, đứng trước sự tha hoá của xã hội nên nguyên tắc Tam cương ngũ thườngcủa Tú Xương không đậm như Nguyễn Khuyến và càng xa rời Ðồ Chiểu

- Tác phẩm: Tú Xương mất sớm, ông chưa đi trọn con đường sáng tác củamình Nhưng những tác phẩm Tú Xương để lại có tác dụng như một bản cáotrạng đanh thép lên án xã hội thực dân nửa phong kiến trong giai đoạn nửa cuốithế kỷ XIX Tú Xương sáng tác rất nhiều và thất lạc cũng nhiều Ông viếtkhoảng 151 bài thơ bằng chữ Nôm với đủ các thể loại Ngoài ra, ông có dịchmột số thơ Ðường II.Sáng tác của Trần Tế Xương

+ Nội dung sáng tác của Trần Tế Xương 1.1.Thơ Tú Xương là một bức tranhnhiều vẻ, sinh động về một xã hội thực dân nửa phong kiến: Trong thơ ông cóhình bóng con người và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã bị thực dân hóa,

và có hình bóng những vật mới, những sinh hoạt mới - sản phẩm của xã hộithực dân nửa phong kiến Thơ Tú Xương là tiếng nói đả kích, châm biếm sâusắc và dữ dội vào các đối tượng mà ông căm ghét

Trang 32

Ðả kích bọn thực dân Pháp: Ðối với thực dân Pháp, tuy chưa phải là đối

tượng chính để tập trung phê phán nhưng ta vẫn bắt gặp bóng dáng những tênthực dân xuất hiện với dáng vẻ rất buồn cười Ðó là hình ảnh những ông Tây,

bà Ðầm rất nghênh ngang lố bịch Với ngòi bút châm biếm sắc sảo, Tú Xương

đả kích chúng không khoan nhượng: Nhà nước ba năm mở một khoa TrườngNam thi lẫn với trường Hà Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm ọe quan trường miệngthét loa Lọng cắm rợp trời quan sứ đến Váy lê quét đất mụ đầm ra Nhân tài đấtBắc nào ai đó Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà (Vịnh khoa thi Hương nămÐinh Dậu)

.Ðối với bọn quan lại, tay sai: Ðề tài này thật ra không có gì mới mẻ so với

trước, nhưng cái mới ở đây là bút pháp của Tú Xương có cá tính và mang nétcảm hứng thời sự Dưới ngòi bút của ông, hình ảnh bọn quan lại hiện lên rấtphong phú đa dạng Ðó là những lũ bất tài, dốt nát, chúng không khác chinhững tên hề Nào có ra chi lũ hát tuồng Cũng hò cũng hét cũng y uông Dẫurằng dối được đàn con trẻ Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn (Hát tuồng) Ông phêphán trò gian lận, hối lộ, bòn rút của dân không nghĩ gì đến trách nhiệm Tri phủXuân Trường được mấy niên? Nhờ trời, hạt ấy cũng bình yên Chữ thôi chữ cứukhông phê đến Ông chỉ quen phê một chữ tiền! (Bỡn tri phủ Xuân Trường) Từ

đó thấy được thái độ phẫn uất của Tú Xương trước thực trạng xã hội và ông đãdùng ngòi bút của mình để lên án, phê phán những con người, những hiệntượng trái tai, gai mắt

.Ðối với khoa cử, nho học: Trong bức tranh xã hội của Tú Xương còn có

những nho sĩ đi thi, những ông Nghè, ông Cống; có hình ảnh của trường thi,của một nền nho học đang xuống dốc trầm trọng Thời Tú Xương không còntìm thấy hình ảnh uy nghi, trang trọng của một trường thi chữ Hán xưa kia nữa

mà nó đang lùi dần trước uy thế của kẻ thù Ông phản ánh thực trạng nho họcsuy đồi bằng tiếng thở dài áo não: Cử nhân: Cậu ấm Kỷ Tú tài: Con đô Mỹ Thithế mà cũng thi! Ới khỉ ơi là khỉ! (Than sự thi) Tú Xương than thở cho số phậncủa một ông Nghè, ông Cống và giễu cả những ông Phán: Nào có gì lạ cái chữnho Ông nghè, ông cống cũng nằm co Sao bằng đi học làm ông Phán Tối rượusâm banh, sáng sữa bò (Chữ nho) Hay đôi khi là sự giễu cợt việc thi cử thiếunghiêm túc, công bằng Thánh cắt ông vào chủ việc thi Đêm ngày coi sóc chốntrường quy Chẳng hay gian dối vì đâu vậy Bá ngọ thằng ông biết chữ gì? (Chếông huyện Đ)

Trang 33

.Phê phán thế lực đồng tiền và xã hội suy thoái đạo đức: Trước Tú Xương,

nhiều tác giả Việt Nam cũng như nừơc ngoài đã lên án sức mạnh đồng tiền Nóchi phối tư tưởng và hành động của con người Ðến thời Tú Xương, đồng tiềnlại một lần nữa gây đảo điên xã hội nhất là ở thành thị Nó làm cho đạo đức suyđồi từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội Có thể thấy bức tranh xã hội của TúXương bị tha hóa đến trầm trọng Nào là cảnh: Ở phố Hàng Song thật lắm quanThành thì đen kịt, độc thì lang Chồng chung vợ cha kìa cô Bố Ðậu lại quan xin

nọ chú Hàn (Phố hàng Song) Vì đồng tiền, con người lường gạt nhau để sống,đối xử với nhau không ra gì Tình nghĩa cha con, vợ chồng, tình yêu, tình bèbạn đều bị chà đạp bởi thế lực của đồng tiền và trở nên rẻ rúng: Mới biếthồng nhan là thế thế Trăm năm trăm tuổi lại trăm chồng Ngòi bút Tú Xương đãkhái quát bức tranh hiện thực sinh động về một xã hội lố lăng, rởm đời, cónhững cảnh khá nực cười, những cảnh chướng tai, gai mắt cứ nhan nhản xuấthiện trong thơ Tú Xương Chí cha chí chát khua giày dép, Ðen thủi đen thuicũng lụa là

TIẾT 2:

Thơ Tú Xương là tiếng nói tâm tình trĩu nặng đau xót:

Về bản thân: Gánh nặng đeo đẳng nhà thơ suốt đòi là nợ lều chõng Ban đầu

hỏng thi, ông còn cười cợt, còn tự nghĩ cách để an ủi mình Nhưng các khoa thisau ( 1903, 1906) ông càng thất vọng, càng chua chát Tú Xương ngày càng đaubuồn, chán nản, tuyệt vọng và cay cú: Học đã sôi cơm nhưng chửa chín/ Thikhông ăn ớt thế mà cay Ðến khoa thi cuối (1906) tiếng thở dài của Tú Xuơngcàng áo não và bi thiết hơn nhiều: Bụng buồn còn biết nói năng chi/ Ðệ nhấtbuồn là cái hỏng thi/ Một việc văn chương thôi cũng nhảm/ Trăm năm thân thếchẳng ra gì (Buồn thi hỏng) Ở đây, dù đau vì thi rớt, vì công danh không thànhđạt nhưng Tú Xương vẫn ít ủy mị và luôn tỏ thái độ khôi hài, lúc nào nụ cườitrào phúng cũng đến với ông

Về cảnh nghèo: Qua thơ ông, gia cảnh nhà ông hiện lên rất áo não và bi

thiết.Nhà thơ từng thấm thía cảnh chạy ăn, vay nợ, nhiều lúc ông phải gào lên:Van nợ lắm khi trào nước mắt Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi (Than nghèo)

Nỗi lo lắng thầm kín của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước: - Tình cảm của Tú Xương đối với nhân dân: Ðối với người phụ nữ, hình

ảnh họ hiện lên thật đáng thương, họ không những khổ sở về vật chất mà còn bị

Trang 34

đau đớn về mặt tinh thần Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu của Tú Xương viết

về vợ: Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng Lặnlội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông Một duyên hai nợ âuđành phận Năm nắng mười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Cóchồng hờ hững cũng như không ( Thương vợ) Nỗi u hoài kín đáo của TúXương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước thường triền miên, day dứt: Nhântài đất Bắc nào ai đó? Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà (Vịnh khoa thiHương năm Ðinh Dậu) Lòng yêu nước của Tú Xuơng còn thể hiện qua sựkhâm phục của Tú Xương đối với những người có tài, có đức ra cứu đời, giúpnước: Vá trời gặp hội mây năm vẻ Lấp bể ra công đất một hòn (Gửi cụ thủkhoa Phan) Tuy không đủ dũng khí để đi vào cuộc cách mạnh như bao nghĩa sĩyêu nước khác nhưng ông có cảm tình nồng hậu đối với những người làm cáchmạng Hình ảnh Phan Bội Châu Vá trời, lấp bể đã đến với Tú Xương bằng tất

cả sự kính mến, khâm phục Tú Xương đến trong làng thơ cuối thế kỉ XIX với

nụ cười sắc sảo và độc địa Dưới ngòi bút linh hoạt của ông, xã hội thực dânnửa phong kiến ngu xuẩn và giả dối vừa mới thành lập ở nước ta đã bị bóc trầnmột cách thảm hại Đó cũng chính là lời tố cáo đanh thép mà nhà thơ muốn gửigắm qua tác phẩm của mình

- Nghệ thuật sáng tác của nhà thơ Trần Tế Xương

Sự kết hợp hai yếu tố hiện thực và trữ tình: Rất độc đáo và sâu sắc Kết cấu

bài thơ không gò bó Tính phóng túng trong suy nghĩ cũng như trong tính tình

đã đem vào khuôn khổ thể thơ bảy chữ tám câu nhiều nét mới đã phá vỡ mọiqui định: Việc bác không xong tôi chết ngay! Chết ngay? Như thế vội vàngthay! (Bỡn người làm mối) Hỏi lão đâu ta?- Lão ở Liêm Trông ra bóng dáng đãhom hem (Già chơi trống bỏi) Người đói ta đây cũng chẳng no, Cha thằng nào

có tiếc không cho (Thề với ăn xin) Rất nhiều bài thơ của Tú Xương có sự kếthợp hài hòa hai yếu tố hiện thực và trữ tình (Vịnh khoa thi hương năm Ðinh

Dậu, Thương vợ, Thề với ăn xin ) Nói về sự kết hợp giữa hai yếu tố hiện thực và trữ tình trong một bài thơ, Nguyễn Tuân cho rằng: Sở dĩ thơ Tú Xương không bị tắt gió, không bị bay ra khỏi là vì thơ Tú Xương đã đi bằng hai chân hiện thực và lãng mạn, là vì thi pháp của Tú Xương phối hợp cả hiện thực và trữ tình.

TIẾT 3:

PHẦN II: LUYỆN ĐỀ

Trang 35

ĐỀ SỐ 1: PHÂN TÍCH BÀI THƠ "THƯƠNG VỢ ” CỦA NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

DÀN BÀI

a Mở bài

- Thương vợ được viết khoảng năm 1896 - 1897 Bà Tú tên Phạm Thị Mẫn, làngười vợ hiền thục đảm đang, tần tảo lo cho chồng con, nên tác giá rất quýtrọng và có viết một số bài thơ về bà Trong những bài thơ viết về vợ của TúXương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện ra phía trước,ỏng Tú khuất ở phía sau, nhìn kĩ mới nhận ra và hiển hiện trong từng câu thơ.Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương

mà còn tri ân vợ

- Đặc biệt, bài Thương vợ thể hiện lòng thương quý và biết ơn người vợ đảmđang, giàu đức hi sinh cho chồng con

b Thân bài

* Việc mưu sinh vất vả của bà Tú

- Việc mưu sinh vất vả của bà Tú được diễn ta trong bốn câu đầu

- Thời gian (quanh năm), công việc (buôn bán), không gian (ở mom sông):quanh năm bà Tú miệt mài buôn bán vất vả ở mom sông, lo liệu việc mưu sinhcho cả nhà và nuôi lũ con (năm con), lại nuôi luôn cá chồng (với một chồng).Lối nói úp mở vừa hóm hỉnh trong hai câu 1, 2 vừa nhấn mạnh lòng biết ơn phalẫn sự ăn năn và tỏ ý thương quý bà Tú

- Câu 3 mượn hình ảnh con cò trong ca dao, có sử dụng biện pháp đảo ngữ (lặnlội thân cò để diễn tả việc buôn bán vất vả của bà Tú, lặn lội cả những nơi vắng

vẻ, nguy hiểm (nơi quãng vắng) Câu 4 tả cảnh bà Tú phải chen chúc trên mặtnước vào những buổi đò đông, eo sèo mua bán thật tất bật, nhọc nhằn

* Đức tính cao đẹp của bà Tú

- Bà Tú là ngươi đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng con:

Nuôi đủ năm con với một chồng

Trong hai câu 5 và 6, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự quên mình của vợ:

Trang 36

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công

Duyên một mà nợ hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận

* Thói đời ăn ở bạc

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.

- Trong hai câu 7, 8, giọng thơ như nguyền rủa thói ăn ở bạc bẽo của chính nhàthơ Nhìn bề ngoài, quả thật ông chẳng những không chia sẻ với nỗi cực nhọctrong việc mưu sinh của gia đình, lại trở thành gánh nặng cho bà Tú, nên cócũng như không Có vẻ như ông hờ hững, bạc bẽo đối với sự thật đáng chêtrách

- Lởi chửi trong hai câu kết là lời Tú Xương rủa mát mình nhưng lại mang ýnghĩa xã hội sâu sắc Ông chửi "thói đời" bạc bẽo, vì thói đời là một nguyênnhân xâu xa khiến bà Tú phải khổ Từ hoàn cảnh riêng, tác giả lên án thói đờibạc bẽo nói chung

TIẾT 4,5:

ĐỀ SỐ 2: HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM THỜI XƯA QUA BÀI THƠ “TỰ TÌNH” ( II) – HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ "THƯƠNG VỢ ” CỦA NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

Trang 37

DÀN BÀI

a Mở bài:

- Giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong văn chương

- Giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong hai bài thơ

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã xuất hiện trên bao trang giấy câu văn Đó

là người phụ nữ trong câu nói dân gian "Thân em như củ ấu gai / Ruột trong thìtrắng vỏ ngoài thì đen / Ai ơi nếm thử mà xem / Nếm ra mới biết rằng em ngọtbùi", là nàng Kiều trong thơ Nguyễn Du và cũng là người phụ nữ trong “Tựtình II” của Hồ Xuân Hương và người mẹ, người vợ trong “Thương vợ” của TúXương Hình ảnh người phụ nữ trong hai bài thơ đều mang nét đẹp chung củangười phụ nữ Việt Nam

b.Thân bài

* Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, vất vả, gian nan

- “Thương vợ”: hình ảnh người phụ nữ chịu khó, lặn lội sớm khuya, vất vả quanh năm để lo cơm áo gạo tiền.

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.”

+ Buôn bán không lớn Công việc diễn ra quanh năm, ngày đến ngày, tháng đếntháng, liên tục không có sự nghỉ ngơi diễn ra theo vòng tuần tự khép kín Ngay

cả người nông dân còn có lúc nông nhàn, nhưng với người làm nghề như bà Túthì không có phút nào được nghỉ ngơi

+ “Ở mom sông”: chênh vênh, ba phía bốn mặt giáp sông và nước Bà Tú bươnchải bán mua ở nơi nguy hiểm suốt năm suốt tháng, công việc ấy thật vất vả,gian nan

+ “Nuôi đủ năm con với một chồng”: gánh nặng bị đặt lên trên đôi vai củangười phụ nữ mảnh mai yếu đuối Người đàn bà làng chài còn có chồng chèochống, còn bà Tú chỉ có một mình Chồng đáng lẽ là trụ cột gia đình nay lạithành gánh nặng mưu sinh

Trang 38

+ “Đủ” hàm chứa bao nhiêu ý nghĩa: đủ ánh nặng chồng con: lo ăn lo học chocon, lo cho nhu cầu của chồng, của một ông Tú sĩ diện.

- “Tự tình II”: là nỗi buồn về thân phận, về chuyện tình duyên, về hạnh phúc lứa đôi.

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

+ Thời gian: “đêm khuya”, thời gian của những nỗi niềm sâu kín, lúc con ngườiđược sống thực với mình nhất

+ Không gian: yên tĩnh vắng lặng, quặng quẽ được gợi ra qua âm thanh củatiếng trống canh “văng vẳng”

+ Con người xuất hiện đậm nét: “trơ”

+ Khi cảnh vật chìm vào giấc ngủ thì chỉ có mình Xuân Hương cô đơn, trăn trở.Thao thức giữa đêm khuya, cái cô đơn của phận hồng nhan, của kiếp người nhỏ

bé trước cái dài rộng của không gian thời gian

+ Từ “cái” thể hiện sự tầm thường, bình thường Qua đó thấy được cảm giácchua xót, đau đớn cho thân phận của chính mình

+ Từ “trơ” không chỉ là nỗi cô đơn mà còn như là thách thức với cuộc đời Đó

là tâm sự của Xuân Hương, bên cạnh nỗi đau bao giờ cũng là sự trỗi dậy củacảm xúc

“Chén rượu hương đưa say lại tình

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

+ “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”: vầng trăng sắp tàn, vầng trăng haokhuyết, gợi lên liên tưởng về sự lụi tàn mơ hồ Ở đây có sự đồng nhất giữatrăng và người, giữa ngoại cảnh và tâm cảnh

+ Hình ảnh vầng trăng gợi liên tưởng đến cuộc đời người phụ nữ đã ở bên kiadốc mà hạnh phúc vẫn chưa một lần trọn vẹn, duyên phận vẫn lỡ làng

+ Vầng trăng cuộc đời, vầng trăng tâm trạng nói lên sự dở dang, muộn màngcủa cuộc đời người

Trang 39

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

+ Từ ‘ngán” đứng đầu câu cùng hai thanh trắc cuối câu “lại lại” làm câu thơnhư nặng trĩu xuống

+ Hai từ “lại” thể hiện tâm trạng, nỗi niềm của chủ thể trữ tình Mùa xuân củađất trời đi qua rồi lại trở lại, sự sống cứ thế tuần tự, tuần hoàn nhưng con ngườinhạy cảm trong Xuân Hương lại phát hiện ra một nghịch lý: xuân đất trời điqua sẽ trở lại nhưng xuân của người một đi không trở lại

+ Trớ trêu hơn là người phụ nữ khao khát vẫn tràn đầy mà lại nhận ra hạnhphúc dến với mình quá ít ỏi: “mảnh tình” chỉ còn lại “tí con con”

+ Phép tăng tiến và cụm từ “tí con con” đã tô đậm những thua thiệt trong duyênphận của nữ sĩ

* Người phụ nữ với nhiều nét đẹp tâm hồn

- “Thương vợ”: vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống Việt Nam: nhân hậu, đảm đang, giàu đức hi sinh.

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

+ “Lặn lội”: nhấn mạnh nỗi chuân chuyên của bà Tú

+ “Thân cò”: nỗi vất vả của bà Tú trong kiếp mưu sinh

+ Hai câu thơ gợi lên dáng hình gầy guộc mong manh và số phận nhọc nhằncủa bà Tú: sinh ra là kiếp con cò nên phải lặn lội, tần tảo, mưu sinh

+ “Quãng vắng”: hiu quạnh, càng làm tăng thêm sự tội nghiệp, cái đángthương

+ “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”: không khí cạnh tranh, bấp bênh nơi bếnnước

+ Công việc nơi bến nước hiểm nguy bon chen vậy nhưng bà Tú vẫn ngày quangày, tháng qua tháng làm lụng để nuôi chồng nuôi con Đó là đức hi sinh củangười mẹ với con, người vợ với chồng

Trang 40

“Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!”

+ Ngay cả khi ý thức được nỗi vất vả, nhọc nhằn, nhận thức được người chồng

“sĩ diện” của mình thì bà vẫn âm thầm lặng lẽ, chấp nhận tất cả nhọc nhằn vềphía mình Đó là sự hi sinh quên mình, là tấm lòng vị tha hết mực của bà Túdành cho ông Tú và những đứa con

- “Tự tình II”: không cam chịu phận hẩm hiu, khao khát được yêu thương

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đã mấy hòn”

+ Đám rêu mềm yếu, những hòn đá bé nhỏ vô tri: bình thường, tầm thường, bịvùi dập dưới bước chân của người đi đường

+ Nhưng trong cái nhìn của nhà thơ thì người nữ sĩ thì rêu mềm yếu mà “xiênngang mặt đất”, đá vô tri mà “đâm toạc chân mây”

+ Phép đảo ngữ, động từ mạnh gợi cảm giác dữ dội của bức tranh thiên nhiên,tràn đầy sức sống mãnh liệt ngay cả trong bi thương

+ Tả cảnh thiên nhiên nhưng là để nói tâm trạng con người Xuân Hươngkhông cam chịu, chấp nhận phận hẩm hiu mà luôn muốn bứt phá, phản kháng,chống lại hoàn cảnh trớ trêu một cách mạnh mẽ với nghịch cảnh, tự tìn và đầykhát vọng

+ Ở hai câu luận ta không còn thấy cái bi lụy như bốn câu đầu nữa mà chỉ thấynhững động thái đầy mạng mẽ của thiên nhiên cũng như là trong chính lòngngười

+ Nỗi chán chường dù phận hẩm duyên hiu cũng là một biểu hiện của khaokhát được yêu thương, khát vọng tình yêu của người phụ nữ

* Đánh giá

- Hai bài thơ đặt điểm nhìn khác nhau về người phụ nữ, nhưng cả hai tác phẩmđều là những bài ca ca ngợ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

Ngày đăng: 08/11/2022, 19:38

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w