■ Tên Osaka Securities Exchange Co, Ltd ■ Địa điểm 8 - 16, Kitahama 1-chome, Chuo-ku, Osaka 541-0041 Japan ■ Đại diện Michio Yoneda Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc ■ Sơ lược kinh doanh Bán c
Trang 1Tiểu luận Chứng khoán Osaka
Trang 2Kitahama Station, Sakaisuji Line (Exit No 1B) Kitahama Station, Keihan Line (Exit No 27, 28)
Trang 3■ Tên Osaka Securities Exchange Co, Ltd
■ Địa điểm 8 - 16, Kitahama 1-chome, Chuo-ku,
Osaka 541-0041 Japan
■ Đại diện Michio Yoneda (Chủ tịch kiêm Tổng
Giám đốc)
■ Sơ lược kinh doanh Bán chứng khoán, với mục đích mở cửa
thị trường tài chính cần trao đổi chứng khoán phái sinh trên thị trường, quản lý và hoạt động liên quan đến việc giải quyết các ngành nghề, quản lý giao dịch, thanh toán và các chứng khoán được niêm yết, chẳng hạn như quản lý người tham gia kinh doanh kinh doanh,…
■ Nguyên tắc hoạt động "Khách hàng là thượng đế", "Độc lập"
"Công bằng và nhanh chóng", “Đáng tin cậy”
Trang 4Chi nhánh Tokyo
5-8, Nihombashi Kayabacho 1-chome, Chuo-ku, Tokyo 103-0025 JAPAN
Kayabacho Station, Tokyo Metro Hibiya Line (Directly connected to Exit No 8)
Nihombashi Station, Tokyo Metro Tozai Line/Asakusa Line (5 min walk from Exit No D2)
Trang 5Jasdaq Securities Exchange, Inc
Company Outline
Name Jasdaq Securities Exchange,Inc
Address 1-5-8 Nihonbashi-kayabacho, Chuo-ku, Tokyo 103-0025
Capital 1,030.4 Million yen
Issued Shares 1,000,000 shares
Staff 154 (tính tới ngày 16 tháng 06, 2009)
Trang 6Godai Tomoatsu (1835 – 1885) Sau cuộc Duy Tân Minh Trị, ông được nhận vào làm tại văn phòng Osaka Mint (nay là Mint), Osaka Sau khi nỗ lực thành lập, ông quay sang khu vực tư nhân về ngành công nghiệp dệt may, khai khoáng, và ngành công nghiệp đường sắt, và các doanh nghiệp này
đã phát triển một cách đáng kể
Cũng như với những khía cạnh khác của các doanh nhân, ông kêu gọi một cuộc họp ở Osaka, cũng là một ảnh hưởng lớn đến chính phủ Minh Trị còn non trẻ
Hơn nữa, sau việc ban hành pháp lệnh giao dịch, với việc tái thiết các giao dịch Dōjima, giao dịch chứng khoán Osaka, Tonari - một người tiền nhiệm của ông, xúc tiến các giao dịch chứng khoán Osaka, và nỗ lực làm việc để xây dựng và thành lập cơ sở kinh tế của nó ở Osaka
Phòng Luật Thương mại của Osaka (nay là Phòng Thương mại Osaka) được thành lập và ông trở thành chủ tịch đầu tiên, góp phần vào sự phát triển của thành phố giao dịch Osaka, cải thiện một cách đáng kể trong cộng đồng doanh nghiệp ở Osaka, Nhật Bản Bằng cách này, Công tước Godai Tomoatsu đã có công rất nhiều vào sự phát triển kinh tế hiện đại tại Osaka (1885) đến Phòng Luật Thương mại Tokyo, Tokyo (nay là Phòng Thương mại, Tokyo),…
OSE công khai khen ngợi Godai Tomoatsu về những thành tựu này, chúng tôi dựng lên một tượng đài để vinh danh nguồn gốc của OSE
Chân dung của Công tước
Godai
Godai Tomoatsu
Trang 71 Lịch sử hình thành
Nguồn gốc của các giao dịch tương lai: "Dojimakomekaisho"
Nguồn gốc của giao dịch chứng khoán xuất thân từ Thời kỳ Edo (1652-1673), khi trao đổi về lúa
và cây trồng được thành lập ở Osaka, trung tâm của nền kinh tế Nhật Bản
Mỗi tỉnh thành lập kho hàng riêng của mình ở Osaka cho việc vận chuyển và bảo quản lúa gạo của họ (chịu sự đánh thuế của Chính phủ), và bán chúng để trao đổi Một trong những thương gia nổi tiếng nhất là "Yodoya", dựa trên phần phía nam của khu vực Yodoyabashi Một số thương nhân khác dần dần tập hợp để tạo ra một thị trường thống nhất Thị trường này đã được gọi là
"Yodoya-Komeichi", là sàn giao dịch chứng khoán đầu tiên trong cả nước Nhật Bản
Sau đó, thị trường này đã được chuyển đến Dojima vào năm 1697, được gọi là
"Dojimakomekaisho", là một thị trường để giao dịch lúa gạo – bằng vé hoặc gạo Năm 1716, giao dịch Cho-gomai được đưa vào và công nhận bởi chính phủ năm 1730, được gọi là nguồn gốc của các giao dịch tùy chọn tại Nhật Bản
2 Các cột mốc thời gian
Tháng 05/1878 Pháp lệnh giao dịch chứng khoán (Chương Daijō-kan Tuyên ngôn số 8) được
thành lập
Tháng 06/1878 Thành lập Tổ chức giao dịch chứng khoán Osaka
Tháng 06/1943 Các giao dịch đã giúp Osaka trở thành bộ phận chính của sàn giao dịch chứng
khoán Nhật Bản trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương
Tháng 08/1945 Sàn giao dịch chứng khoán Nhật Bản bị đình chỉ hoạt động
Tháng 04/1947 Sàn giao dịch chứng khoán Nhật Bản giải thể
Tháng 05/1948 Luật Chứng khoán mới được ban hành
Tháng 04/1949 Thành lập Sàn giao dịch chứng khoán Osaka
Tháng 06/1951 Giới thiệu Hệ thống giao dịch qua thẻ tín dụng
Tháng 04/1956 Thị trường trái phiếu mở cửa trở lại
Tháng 10/1961 Mở cửa thị trường cổ phiếu
Tháng 10/1966 Bắt đầu giao dịch trái phiếu
Tháng 10/1973 OSE trở thành thành viên liên kết của Federation Internationale des Bourses
de Valeurs (FIBV)
Tháng 09/1974 Hệ thống thông tin thị trường qua máy tính đã bắt đầu hoạt động
Tháng 04/1982 Luật hạn chế các thành viên của các công ty chứng khoán nước ngoài bị loại
bỏ
Tháng 06/1983 OSE đã trở thành một thành viên của EASEC (EAOSEF năm 1990: East
Asian and Oceanian Stock Exchanges Federation)
Tháng 11/1983 Hệ thống "Những vấn đề đặc biệt", được gọi là "Phần mới thứ hai", được giới
thiệu
Tháng 12/1984 Giới thiệu Hệ thống mở cửa sớm hơn mười phút, đại diện cho các vấn đề được
lựa chọn từ trong phần cổ phần thứ nhất
Trang 8Ngày 09/06/1987 Bắt đầu giao dịch "Osaka Stock Futures 50 (OSF50)"
Tháng 09/1988 Bắt đầu giao dịch Nikkei Stock Average Futures (Nikkei 225 Futures)
Tháng 10/1988 Với sự trợ giúp của hệ thống giao dịch máy tính, OSF50 và Nikkei 225
Futures đã bắt đầu hoạt động
Tháng 06/1989 Bắt đầu giao dịch Nikkei Stock Average Options (Nikkei 225 Options) Tháng 12/1989 Với sự trợ giúp của hệ thống giao dịch máy tính, Nikkei 225 Options đã bắt
đầu hoạt động
Tháng 03/1991 Với sự trợ giúp của hệ thống giao dịch máy tính, cổ phiếu đã bắt đầu hoạt
động
Tháng 05/1991 OSE đã trở thành một thành viên của IAOECH (IOMA năm 1993:
lnternational Options Markets Association - Hiệp hội thị trường tùy chọn Quốc tế)
Tháng 12/1991 Thị trường quỹ quốc gia mở cửa
Tháng 01/1992 OSE nhận thư không chấp nhận từ US Commodity Futures Trading
Commission - Ủy ban giao dịch hàng hóa tương lai Mỹ(CFTC) cho các hợp đồng Nikkei 225 Futures
Tháng 03/1992 "OSF 50" đã ngừng giao dịch các hợp đồng tương lai (Giao dịch OSF 50 đã
chấm dứt ngày 20/03/1992)
Tháng 04/1992 Trung tâm Lưu ký chứng khoán Nhật Bản (JASDEC), văn phòng Osaka bắt
đầu hoạt động tại OSE
Tháng 02/1994 Giao dịch Nikkei 300 Stock Index Futures và Options (Nikkei 300
Futures/Options) bắt đầu
Tháng 05/1994 OSE nhận thư không chấp nhận từ US Commodity Futures Trading
Commission - Ủy ban giao dịch hàng hóa tương lai Mỹ (CFTC) cho hợp đồng Nikkei 300 Futures
Tháng 10/1994 OSE trở thành thành viên liên kết của International Organization of Securities
Commissions - Ủy ban chứng khoán quốc tế (IOSCO)
Tháng 05/1995 Giao dịch "Quỹ Nikkei 300 Stock Index" bắt đầu
Tháng 01/1996 "Thị trường mới", một hệ thống với "Các vấn đề niêm yết theo tiêu chí các
điều kiện niêm yết", được giới thiệu
Tháng 04/1996 Bắt đầu giao dịch Nikkei 300 Futures kéo dài giữa các tháng
Tháng 10/1996 Thị trường chứng khoán nước ngoài được thành lập
Tháng 05/1997 Bắt đầu giao dịch Nikkei 225 Futures kéo dài giữa các tháng
Tháng 07/1997 Bắt đầu giao dịch cổ phiếu quyền chọn
Ngày 08/12/1997 Sàn giao dịch cổ phiếu đóng cửa và chuyển hoàn toàn đến hệ thống giao dịch
máy tính
Tháng 12/1997 Bắt đầu Cross Trading System - Hệ thống giao dịch chéo (đối với khối ngành
nghề lớn, thực hiện tại mức giá đóng cửa, giao dịch giỏ hàng) bắt đầu
Tháng 06/1998 Bắt đầu giao dịch trong Sector Index Futures and Options
(Giao dịch các sản phẩm này đã chấm dứt ngày 30/11/2000) Tháng 12/1998 Thành lập New Market Section - Khu vực thị trường mới
Trang 9Tháng 01/1999 Mở cửa Thị trường J-NET
Tháng 03/1999 Các "Thuế giao dịch chứng khoán" và "Thuế trao đổi" bị bãi bỏ
Tháng 06/1999 Hợp đồng đăng ký sử dụng SPAN ® dưới sự ký kết của Chicago Mercantile
Exchange
Tháng 07/1999 OSE vẫn nhận được thư không chấp nhận từ US Securities and Exchange -
Chứng khoán và Hối đoái Mỹ (SEC) cho chỉ số Nikkei 225 Options, chỉ số Nikkei 300 Options và Equity Options
Tháng 07/1999 Hệ thống giao dịch máy tính tại OSE đã được hoàn thiện
Tháng 10/1999 Thành lập Hệ thống mạng điện tử công khai OSE ED-NET
Tháng 11/1999 Một cách thức tổ chức thanh toán được giới thiệu
Tháng 11/1999 Không bán đấu giá giao dịch khối lớn áp dụng đối với chỉ số chứng khoán
tương lai và tùy chọn bắt đầu
Tháng 12/1999 Công bố về việc thỏa thuận thành lập thị trường chứng khoán NASDAQ Nhật
Bản
Tháng 02/2000 Thành lập thị trường Private Finance Initiative - Chủ động tài chính cá nhân
(PFI)
Tháng 05/2000 Thành lập thị trường NASDAQ Nhật Bản
Tháng 06/2000 Bắt đầu giao dịch trên thị trường NASDAQ Nhật Bản
Tháng 11/2000 Dừng giao dịch chỉ số tương lai và tùy chọn
Tháng 12/2000 Mở cửa thị trường OptiMark
(Giao dịch trên thị trường đã chấm dứt vào ngày 26/06/2001) Tháng 03/2001 OSE sáp nhập với Sở giao dịch chứng khoán Kyoto
Tháng 05/2001 Giới thiệu hệ thống thanh toán DVP
Tháng 06/2001 Thành lập thị trường ETFs
Tháng 07/2001 Bắt đầu giao dịch trên thị trường ETFs
Tháng 12/2001 Thành lập thị trường Quỹ mạo hiểm
Tháng 01/2002 Bắt đầu giao dịch trên thị trường Quỹ mạo hiểm
Tháng 07/2002 Bắt đầu giao dịch FTSE Japan Index Exchange Traded Fund (ETF)
Tháng 07/2002 Bắt đầu giao dịch DJIA™ Futures, MSCI JAPAN Index(SM) Futures và
FTSE™ Japan Index Futures
Tháng 12/2002 Thay đổi tên NASDAQ Japan Market thành Nippon New Market - "Hercules" Tháng 01/2003 Hoạt động nợ giả định bắt đầu như một sự phát sinh của tổ chức thanh toán
Chỉ định Công ty thanh toán chứng khoán Nhật Bản như là một tổ chức thanh toán của cổ phần…
Tháng 04/2003 Khu vực thị trường mới bị hủy bỏ Tất cả các vấn đề đã được chuyển giao cho
Nippon New Market - "Hercules" (Khu vực tăng trưởng)
Tháng 04/2003 Giới thiệu IPO Transaction Participant – Thành viên tham gia giao dịch IPO Tháng 07/2003 Bắt đầu tính toán và công bố các chỉ số Hercules
Tháng 10/2003 Bắt đầu tính toán và công bố các chỉ số Hercules sau phiên sáng
Trang 10Tháng 12/2003 Giới thiệu những quy định về nguyên tắc niêm yết cho REIT
(Bắt đầu giao dịch ngày 17 tháng 5) Tháng 04/2004 Niêm yết cổ phiếu OSE trên Nippon New Market - "Hercules"
Tháng 05/2004 IOMA (International Options Market Association - Hiệp hội thị trường tùy
chọn quốc tế) tổ chức tại Osaka
Tháng 02/2005 Derivatives clearing system - Hệ thống thanh toán phát sinh đi vào hoạt động Tháng 04/2005 Bắt đầu giao dịch RN Prime Index Futures
Tháng 12/2005 Tham gia Hệ thống TDnet
Tháng 01/2006 Khai trương sàn giao dịch mới (đối với Hercules – niêm yết chứng khoán
Bắt đầu giao dịch Nikkei 225 mini
Tháng 02/2007 Giới thiệu giao dịch chứng khoán tùy chọn J-NET
Tháng 03/2007 Nguyên tắc niêm yết đối với giá cả hàng hóa/chỉ số giá nước ngoài liên kết
Exchange Traded Fund (ETF)
Tháng 08/2007 Bắt đầu mối quan hệ giữa giá vàng và Exchange Traded Fund
Tháng 09/2007 Bắt đầu giao dịch phiên tối (từ 16:30 đến 19:00 cho tất cả các chỉ số giá chứng
khoán tương lai/tùy chọn)
Tháng 10/2007 Niêm yết chỉ số giá Trung Quốc liên kết Exchange Traded Fund
Tháng 10/2007 Thiết lập Self-Regulation Committee - Uỷ ban điều hành dựa trên các Công cụ
tài chính cụ và Luật trao đổi
Tháng 03/2008 Khai trương sàn giao dịch mới
Tháng 03/2008 Trung tâm dự phòng đi vào hoạt động
Tháng 09/2008 Tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 20 từ khi bắt đầu giao dịch Nikkei 225 Futures Tháng 09/2008 Ký kết Memorandum of Understanding với Tập đoàn CME
Tháng 09/2008 Niêm yết Tiền tệ và Exchange Traded Fund
Tháng 09/2008 Niêm yết Covered Warrants
Tháng 10/2008 Mở rộng giờ giao dịch phiên tối (đến 20:00)
Tháng 11/2008 Bắt đầu Co-location Service
Tháng 12 2008 Giúp JASDAQ Securities Exchange, Inc củng cố công ty con của mình bằng
cách mua lại 76,1% cổ phần của công ty
Tháng 02/2009 Ký kết Memorandum of Understanding với Tập đoàn NASDAQ OMX Tháng 02/2009 Thành lập Hệ thống tham gia giao dịch từ xa
Tháng 04/2009 Đạt được uy tín về mặt tài chính
Tháng 06/2009 Kỷ niệm lần thứ 20 từ khi bắt đầu giao dịch Nikkei 225 Options
Tháng 07/2009 Bắt đầu Exchange FX Margin Trading (OSE-FX)
Trang 11Tháng 08/2009 Niêm yết WTI và Exchange Traded Fund
3 Vai trò
Vai trò là cung cấp thị trường cho các giao dịch chứng khoán, làm tăng khả năng thanh khoản cho chứng khoán bằng cách tập trung một khối lượng lớn các nguồn cung và cầu thị trường, nhằm đưa ra giá cả hợp lý để phản ánh mối quan hệ cung - cầu, và để cung cấp giá cho thị trường Osaka Securities Exchange - OSE cung cấp thị trường cho các giao dịch chứng khoán phái sinh với mục tiêu duy trì các giao dịch công bằng và thuận lợi để đáp ứng lợi ích cộng đồng và bảo vệ nhà đầu tư
Trang 124 Tổ chức
Đại hội cổ đông
Ban kiểm toán
- Ủy ban kỷ luật
- Ủy ban niêm yết
Chủ tịch
Ủy ban chấp hành
Ủy ban thường trực
- Ủy ban tư vấn tổng thể
- Ủy ban thanh toán
và phân xử
- Ủy ban định mức thuế rủi ro thanh toán
Ủy ban cố vấn
Ủy ban đặc biệt
Phòng kiểm soát nội
bộ
Phòng quản lý
Phòng phát triển thị trường
Phòng giao dịch thị trường
Phòng công nghệ thông tin
Chi nhánh Tokyo
Trang 131 Giám đốc, Kiểm toán
Chủ tịch & Giám đốc điều hành Michio Yoneda
(Osaka Securities Exchange Co., Ltd.) Giám đốc điều hành cấp cao Motoharu Fujikura
(Osaka Securities Exchange Co., Ltd.) Giám đốc điều hành Kazutoshi Aritomi
(Osaka Securities Exchange Co., Ltd.)
(Osaka Securities Exchange Co., Ltd.)
(Luật sư) Giám đốc
Tsutomu Okuda (Đại diện Giám đốc và Chủ tịch & Giám đốc điều hành, J Front Retailing Co, Ltd)
Giám đốc
Yuko Kawamoto (Giáo sư, Trường đại học Tài chính, Kế toán & Luật, Đại học Waseda)
(Nhà văn)
Giám đốc
Shigeru Morinaka (Đại diện Giám đốc và Chủ tịch, The Hikari Securities
Co, Ltd)
(Giáo sư, Trường Luật, Đại học Doshisha) Kiểm toán toàn thời gian theo luật định Takashi Takashi Kaneda
(Osaka Securities Exchange Co, Ltd) Kiểm toán ngoài theo luật định Hiroshi Iwaki
(Luật sư) Kiểm toán ngoài theo luật định Hiroyuki Nakatsukasa
(Kế toán, Công ty Kế toán CPA Nakatsukasa)
2 Ban quản trị cấp cao
Giao dịch đóng cửa vào các ngày thứ bảy, chủ nhật và ngày lễ sau đây:
Ngày lễ trong năm 2009
Trang 1412/01 Coming of Age Day – Ngày mừng tuổi trưởng thành
21/09 Respect for the Aged Day – Ngày người cao tuổi
*05/01: Half-Trading Day – Giao dịch nửa ngày
Ngày lễ trong năm 2009
20/09 Respect for the Aged Day – Ngày người cao tuổi
Trang 1531/12 Non-trading Day
II CÁC TIÊU CHUẨN NIÊM YẾT CƠ BẢN
1 Số vốn không được thấp hơn 300.000.000 Yên (Nếu là giao dịch IPO: trình độ chuyên môn thì
số vốn không được thấp hơn 500.000.000 Yên)
2 Tỷ lệ vốn không được ít hơn 200% (nếu là cơ quan Quản lí tài chính kinh doanh), các trường hợp còn lại không được ít hơn 140%
3 Không chịu sự kiểm soát, ảnh hưởng hay thiếu sự tín nhiệm của xã hội hoặc của bất kì người nào khác xem là không phù hợp các mục tiêu của OSE và hoạt động của thị trường
4 Phải có một hệ thống thích hợp cho các hoạt động kinh doanh liên quan đến chấp nhận và thực hiện các giao dịch trên thị trường OSE, giao hàng thanh toán, mất mát quản lí rủi ro, cũng như việc tuân thủ các quy định kinh doanh, môi giới bất kì Hiệp định các tiêu chuẩn và quy định khác của OSE, và các nguyên tắc công bằng, công bằng giao dịch
5 Hoạt động kinh doanh chính của tổ chức niêm yết phải có hiệu quả, phải được dự kiến sẽ cho thấy lợi nhuận ổn định và đem lại lợi ích cho nền kinh tế
6 Giai đoạn kinh doanh dài hơn 3 năm
7 Không có báo cáo sai lệch trong báo cáo chứng khoán
8 Đội ngũ quản lí phải ổn định, có đạo đức, kinh nghiệm và đủ năng lực
III HỆ THỐNG THÀNH VIÊN
1 Các loại thành viên: 2 loại
- Thành viên tham gia giao dịch (Transaction Participants): những đối tượng có đủ điều
kiện mua bán cổ phiếu, hợp đồng tương lai, hoặc hợp đồng quyền chọn trực tiếp trên sàn OSE
Chia làm 3 loại:
Thành viên có đủ khả năng tham gia giao dịch tiền mặt: giao dịch cổ phiếu trên sàn OSE
Thành viên có đủ khả năng tham gia giao dịch tương lai, quyền chọn: giao dịch hợp đồng tương lai và quyền chọn trên sàn OSE Những người tham gia giao dịch phải có một vòng giao dịch để tiến hành giao dịch liệt kê trên thị trường OSE (trừ các giao dịch được thực hiện bởi môi giới chứng khoán)
Thành viên có đủ khả năng tham gia giao dịch IPO: chỉ giao dịch các cổ phiếu được phát hành bởi các công ty niêm yết trên sàn OSE Những người tham gia giao dịch phải có một vòng giao dịch trên thị trường OSE, chứng khoán được phát hành bởi các công ty liệt
Trang 16kê mà có kiến nghị, nghĩa là chứng khoán đủ điều kiện để giao dịch mua bán (trừ các giao dịch được thực hiện bằng cách giải phóng cho môi giới chứng khoán)
- Thành viên tham gia thanh toán (Clearing Participants): Là những đối tượng có đủ điều kiện thanh toán các giao dịch tương lai và quyền chọn trên sàn OSE
Sau khi thi hành thẩm tra và xem xét, thực hiện giao dịch trên sàn OSE phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: Theo điều khoản của “Các nguyên tắc tham gia giao dịch trên sàn OSE” , những đối tượng tham gia giao dịch bị giới hạn bởi các công ty chứng khoán trong nước, các công ty chứng khoán nước ngoài có chi nhánh tại Nhật Bản, được đăng ký tại Sở Dịch vụ Tài Chính tại Nhật Bản (Financial Services Agency of Japan)
2 Điều kiện trở thành thành viên:
- Điều kiện yêu cầu đối với người tham gia giao dịch:
Những người tham gia giao dịch đảm bảo giá cả hợp lí và lưu thông thuận lợi trên thị trường và OSE nhằm làm tốt nhất những nỗ lực để bảo tồn và cải thiện chức năng của OSE
Những người tham gia giao dịch phải xử lí các giao dịch chứng khoán trên thị trường OSE do tầm quan trọng
Những người tham gia giao dịch phải nộp lệ phí cơ bản, chi phí giao dịch Số tiền lệ phí
cơ bản được quy định bởi OSE
Những người tham gia giao dịch phải thông báo cho OSE trong các trường hợp: Chấm dứt kinh doanh, sáp nhập hay chuyển giao doanh nghiệp
- Số tiền phí tham gia:
Giao dịch tiền mặt: 20.000.000 Yên
Giao dịch tương lai: 10.000.000 Yên
Giao dịch IPO: khi tham gia giao dịch mua lại có các điều kiện:
Khi mua tiền mặt giao dịch tương lai và giao dịch quyền chọn: 30.000.000 Yên
Khi có được giao dịch tiền mặt, ngoại trừ điều kiện trên: 10.000.000 Yên
- Điều kiện yêu cầu đối với người tham gia thanh toán:
Individual Clearing Qualification: chỉ thanh toán các giao dịch tương lai và quyền chọn cho tài khoản thuộc quyền sở hữu
General Clearing Qualification: thanh toán các giao dịch tương lai và quyền chọn cho tài khoản thuộc quyền sở hữu hoặc những tài khoản không thuộc thành viên tham gia thanh toán nhưng ký kết thoả thuận giao kết thanh toán ( Clearing Entrustment Agreement) được thi hành bởi OSE
Trang 17IV HỆ THỐNG CÔNG BỐ THÔNG TIN
Hệ thống thông tin thị trường
- Hệ thống giao dịch trái phiếu
- Hệ thống giao dịch cổ phiếu
- Hệ thống giao dịch quyền chọn và hợp đồng tương lai
- Hệ thống báo giá
- Hệ thống công bố thông tin về tổ chức niêm yết
Phương tiện công bố thông tin
- Hệ thống phát thanh, truyền hình, báo chí và mạng Internet
- Cung cấp thông qua mạng lưới thông tin giá chứng khoán
- Cung cấp qua các kênh trực tiếp
- Bảng hiển thị điện tử
V BOND (Trái phiếu – Chứng khoán nợ)
Trái phiếu được phát hành bởi chính phủ (quốc gia hay địa phương), bởi các công ty và nhu cầu cho các quỹ
Các loại trái phiếu:
a) Convertible Bonds: ( trái phiếu có thể chuyển đổi)
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu mà người nắm giữ có khả năng chuyển đổi chúng thành một lượng cổ phiếu nhất định của công ty phát hành Khi được phát hành lần đầu, các trái phiếu này đóng vai trò như một loại trái phiếu doanh nghiệp thông thường, có mức lãi suất thấp hơn một chút Vì các trái phiếu chuyển đổi thường có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu và người nắm giữ cũng sẽ hưởng lợi từ việc tăng giá của cổ phiếu được chuyển đổi nên các công ty thường đưa ra tỉ lệ lãi suất thấp đối với các trái phiếu chuyển đổi Nếu như công ty hoạt động kém hiệu quả thì trái phiếu sẽ không có khả năng chuyển đổi, do đó các nhà đầu tư sẽ chỉ nhận được khoản lợi tức nhỏ bé mà trái phiếu này mang lại Điều này là hoàn toàn bình thường bởi lợi nhuận lúc nào cũng đi kèm với rủi ro
b) Government Bonds: ( Trái phiếu chính phủ)
Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu do Chính phủ phát hành, để vay nợ của nhà đầu tư Bao gồm trái phiếu chính phủ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Trái phiếu chính phủ ngắn hạn được ban hành để trang trải sự thiếu hụt tạm thời cho các quỹ chính phủ, quỹ trợ cấp của đất nước
Government Bonds: Conditional Transactions (Trade executed issues): giao dịch có điều kiện.(lượng phát hành theo luật pháp)
Government Bonds: Regular Way Transactions (Trade executed issues): giao dịch theo đường lối thông thường.(lượng phát hành theo luật pháp)
Government Bonds: Regular Way Transaction (Issues having the quotation): giao dịch theo đường lối thông thường (lượng phát hành theo giá cả thị trường)
c) Municipal Bonds: (Trái phiếu địa phương)
Trang 18Trái phiếu do chính quyền địa phương ( thành phố trực thuộc trung ương) phát hành Được phát hành đi theo các lợi ích xã hội: chi tiêu công cộng (xe lửa, nhà tắm, nước…), hỗ trợ khi có các thảm họa thiên nhiên xảy ra, hoàn trả các khoản nợ vay của địa phương Tuy nhiên có giới hạn đối tượng địa phương được phát hành trái phiếu cho công chúng là: Tokyo, Osaka, Hyogo Prefecture, Yokohama, Kyoto và Nagoya
d) Special Bond: (Trái phiếu đặc biệt – Trái phiếu màu đỏ):
- Bank Debentures: (Trái phiếu phát hành bởi tổ chức tài chính Ngân hàng)
- Industrial Bonds: ( Trái phiếu công ty)
Trái phiếu công ty là trái phiếu có bảo đảm, là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ
ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể
e) Foreign Bonds:
Foreign Bonds in Yen: (Trái phiếu nước ngoài được thanh toán bằng Yên)
Foreign Bonds in Yen (Special Transaction): ( Trái phiếu nước ngoài thanh toán bằng Yên – giao dịch đặc biệt)
Foreign Bonds: (Trái phiếu nước ngoài thanh toán bằng tiền hay bằng ngoại tệ)
Notes:
Trái phiếu chuyển đổi:
Tỷ lệ chuyển đổi
Để có thể chuyển đổi được thì cần phải có tỷ lệ chuyển đổi:
- Tỷ lệ chuyển đổi cho biết mỗi trái phiếu có thể chuyển đổi được thành bao nhiêu cổ phiếu
- Tỷ lệ chuyển đổi được thể hiện dưới dạng tỷ số hoặc là mức giá chuyển đổi, và nó được xác định trong các hợp đồng mua trái phiếu cùng với các điều kiện và điều khoản khác
Ví dụ: Tỷ lệ chuyển đổi 45:1 có nghĩa là mỗi trái phiếu sẽ đổi được 45 cổ phiếu Hoặc nó
cũng được ấn định ở mức 50% lãi có nghĩa là nếu một nhà đầu tư lựa chọn chuyển đổi cổ phiếu,
họ sẽ phải mua cổ phiếu thường vào thời điểm phát hành với mức giá là 150% Nói chung cả hai cách này đều không khác nhau nhiều về bản chất
Đồ thị sau sẽ cho ta thấy những biến động của trái phiếu chuyển đổi khi giá cổ phiếu tăng Cần chú ý rằng giá của trái phiếu bắt đầu tăng khi giá cổ phiếu tiến tới mức giá chyển đổi Lúc này thì trái phiếu chuyển đổi cũng tương tự như một quyền chọn cổ phiếu vậy Khi giá cổ phiếu lên cao hoặc biến động mạnh thì trái phiếu của bạn cũng sẽ biến đổi theo chiều tương tự
Trang 19Chuyển đổi bắt buộc
Một nhược điểm của trái phiếu chuyển đổi đó là công ty phát hành trái phiếu sẽ có quyền thu hồi lại trái phiếu Nói cách khác họ có quyền yêu cầu chuyển đổi chúng Việc chuyển đổi bắt buộc thường xảy ra khi giá cổ phiếu lên cao hơn giá trị mà nó có thể đạt được vào thời điểm trái phiếu được mua lại hoặc bị thu hồi Đặc tính này làm hạn chế khả năng tăng giá của trái phiếu chuyển đổi
Như đã nói từ đầu trái phiếu chuyển đổi có thể trở thành một loại chứng khoán rất phức tạp
do một số nguyên nhân Trước tiên chúng mang những đặc điểm của cả trái phiếu và cổ phiếu, khiến cho các nhà đầu tư dễ bị nhầm lẫn Với trái phiếu chuyển đổi bạn phải tập trung vào các nhân tố tác động đến cả hai loại chứng khoán trên Đó là sự hoà trộn giữa những tác động của lãi suất (nhân tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu) và những thay đổi diễn ra trên thị trường của cổ phiếu Vì vậy nên có một thực tế là các công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi có thể thu hồi lại chúng tại một mức giá nhất định, từ đó tránh được sự tăng giá cổ phiếu đột ngột Tất cả các yếu tố này đều rất quan trọng trong việc xác định mức giá chuyển đổi Chúng ta có thể xét một ví dụ sau
để hiểu rõ hơn về loại trái phiếu này:
Ví dụ: Giả định rằng công ty TSJ Sports phát hành một lượng trái phiếu chuyển đổi có trị giá
10 triệu đôla, thời hạn 3 năm, lãi suất là 5% và tỷ lệ chuyển đổi là 25%lãi Điều đó có nghĩa là TSJ sẽ phải trả lãi trái phiếu là 500,000 đôla một năm, hoặc trả tổng cộng là 1.5 triệu đôla khi trái phiếu đáo hạn Nếu như cổ phiếu của TSJ được mua bán với mức giá là 40 đôla/cp vào thời điểm phát hành trái phiếu chuyển đổi thì các nhà đầu tư sẽ có thể chuyển đổi lượng trái phiếu này sang
cổ phiếu với mức giá $40x1.25 = $50/cp Do đó nếu cổ phiếu được mua bán ở mức giá $55 vào ngày đáo hạn trái phiếu, thì nhà đẩu tư sẽ nhận được 5 đôla tiền lãi trên mỗi cổ phiếu Tuy nhiên việc tăng giá cổ phiếu luôn bị giới hạn bởi điều khoản thu hồi lại trái phiếu của công ty phát hành như đã nói ở trên
Nếu công ty TSJ không muốn cho cổ phiếu vuợt ngưỡng 100 đôla, họ sẽ tiến hành thu hồi lại trái phiếu khi nào giá cổ phiếu có xu hướng tăng vượt mức 100 đôla Mặt khác nếu giá cổ phiếu giảm chỉ còn 25 đôla, người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi vẫn được trả lại số tiền đúng với mệnh giá của trái phiếu vào ngày đáo hạn Như vậy trái phiếu chuyển đổi có thể hạn chế rủi ro khi cổ phiếu bị sụt giá và ngăn ngừa không cho giá cổ phiếu tăng quá mức
Xét những đặc điểm trên thì có vẻ như trái phiếu chuyển đổi rất phức tạp Nói một cách chung nhất thì trái phiếu chuyển đổi là một dạng chứng khoán phát hành cho các nhà đầu tư mong muốn được hưởng lợi từ một công ty mà họ chưa hiểu rõ lắm Bằng việc đầu tư vào các trái phiếu chuyển đổi, họ có thể hạn chế được rủi ro khi giá cổ phiếu giảm nhưng ngược lại, họ sẽ thiệt chút
ít khi giá cổ phiếu tăng cao
Trái phiếu công ty: Các loại trái phiếu công ty
Trang 20Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể
Trái phiếu không bảo đảm: ngược lại với trái phiếu có bảo đảm
Trái phiếu tín chấp: không được đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ động Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định
Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào đó Cụ thể là:
- Trái phiếu có thể mua lại: cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
- Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
- Trái phiếu có thể chuyển đổi: cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành người chủ sở hữu của công ty Loại trái phiếu này thuộc vào nhóm hàng hoá chứng khoán có thể chuyển đổi được đề cập tới dưới đây
4 Quỹ mạo hiểm
5 Quỹ quốc gia
6 PFI
Trang 211 HERCULES
Nasdaq Japan Market đã tái sinh như Nippon New Market - "Hercules" vào ngày 16/12/2002
Tại sao cái tên "Hercules" đã được lựa chọn
- OSE hy vọng thị trường này sẽ bao gồm các công ty niêm yết có năng lực cao, đó là sức mạnh thiết yếu của sự tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản trong thế kỷ 21
- Nó rất dễ dàng cho nhà đầu tư nước ngoài cũng như các nhà đầu tư trong nước để hiểu được nét đặc trưng của thị trường sẽ đến toàn cầu
- OSE đặt tên này cho thị trường là "Hercules", vị anh hùng vĩ đại nhất trong thần thoại Hy Lạp
và là người thực hiện 12 nhiệm vụ, hy vọng rằng các công ty được niêm yết sẽ phát triển mạnh trong nền kinh tế hiện nay
OSE quan tâm "Hercules" như thị trường quốc gia để niêm yết các công ty tăng trưởng cao tại Nhật Bản, đạt được hiệu quả và mang lại lợi nhuận trên toàn quốc Đồng thời, OSE hy vọng sẽ tạo ra nơi niêm yết, mà tại đó sẽ kích thích nền kinh tế Nhật Bản và khuyến khích nhà đầu tư, các công ty niêm yết, và người tham gia giao dịch để thực hiện những giấc mơ của họ
Số lượng Cổ phiếu lưu hành >=10.000 đơn vị giao dịch
Số lượng Cổ đông tại Nhật Bản -Trong trường hợp các cổ phiếu đã được giao dịch trên thị
trường chứng khoán hay thị trường ngoài Nhật Bản mà không có khó khăn: >=600 cổ đông
-Trong trường hợp khác: >=1.200 cổ đông
Số năm hoạt động của doanh nghiệp 3 năm trở lên
Vốn hóa thị trường của cổ phiếu lưu
Trang 22Vốn hóa thị trường của cổ phiếu
Tài sản ròng (Vốn chủ sở hữu) >=¥1.000.000.000
Lợi nhuận trước thuế (Lưu ý) >=¥200.000.000 trong năm gần nhất, và >=¥200.000.000
trung bình hằng năm trong 2 năm gần nhất
Báo cáo tài chính -Không có báo cáo sai lệch trong báo cáo chứng khoán của
ứng viên trong 2 năm tài chính gần nhất -Ý kiến kiểm toán tuyệt đối công bằng trong năm tài chính gần nhất
Các tiêu chuẩn khác Cổ phiếu được niêm yết sẽ được quản lý bởi Công ty lưu
ký chỉ định Không hạn chế chuyển nhượng cổ phiếu niêm yết Tiêu chuẩn như chứng khoán trong nước
(Lưu ý): Trong trường hợp vốn hóa thị trường vượt quá ¥100.000.000.000, không có điều kiện sẽ được áp dụng trên tổng số tiền lợi nhuận trước thuế (trừ trường hợp nếu tổng doanh thu bán hàng cho 1 năm gần nhất dưới ¥10.000.000.000)
2 Giao dịch
Về cơ bản, chứng khoán nước ngoài được giao dịch như giao dịch chứng khoán thông thường trong nước tại OSE
3 Tài khoản giao dịch cổ phiếu nước ngoài
Để bắt đầu giao dịch chứng khoán nước ngoài, nhà đầu tư phải nộp cho công ty chứng khoán một hợp đồng thiết lập tài khoản giao dịch chứng khoán nước ngoài, và sau đó mở tài khoản
3 ETF
1 ETFs được niêm yết trên OSE
ETFs là viết tắt của Exchange Traded Funds ETFs là sự tín nhiệm đầu tư được niêm yết trên
sự trao đổi và giá cả của nó (giá trị tài sản ròng) có sự liên hệ chặt chẽ đến chỉ số giá chứng khoán Vì vậy, ETFs có thể được giao dịch tại mức giá thị trường trên OSE trong giờ giao dịch của nó trong phương thức tương tự như cổ phiếu phổ thông
2 Trao đổi giữa Cổ phiếu cơ bản và chứng chỉ thụ hưởng
Khi ETFs được tạo ra (hoặc mua lại), thì cổ phiếu cơ bản có thể đổi ra được thành chứng chỉ thụ hưởng (hoặc chứng chỉ thụ hưởng có thể đổi ra được thành cổ phiếu cơ bản) Nghĩa là, trong trường hợp ETFs của Nikkei Stock Average (sau đây, xin tham khảo chỉ số Nikkei 225), việc trao đổi giữa 225 cổ phiếu cơ bản trong đó sẽ bao gồm Nikkei 225 và chứng chỉ thụ hưởng của ETFs
Trang 23được thực hiện Trong trường hợp các quỹ thông thường, nhà đầu tư nhận được giấy chứng chỉ thụ hưởng để đổi ra thành tiền Đó là điểm khác giữa ETFs với các quỹ thông thường
3 Cơ hội cho các giao dịch Arbitrage
Chứng chỉ thụ hưởng của ETFs và mỗi cổ phiếu cơ bản sẽ tồn tại một cách độc lập dưới dạng giá riêng Do đó, các giao dịch Arbitrage có thể được thực hiện giữa chứng chỉ thụ hưởng và cổ phiếu cơ bản Trong trường hợp chứng khoán phái sinh được niêm yết tại đó, các giao dịch Arbitrage cũng có thể được thực hiện giữa các chứng chỉ thụ hưởng và các chứng khoán phái sinh
4 Giá thị trường của ETFs có liên hệ chặt chẽ đến Stock Price Index – Chỉ số giá chứng khoán
Nếu có sự sai lệch giá giữa giá thị trường của ETFs và chỉ số giá chứng khoán, thì sự dao động của giá trị tài sản ròng sẽ có liên hệ chặt chẽ đến chỉ số giá chứng khoán, bởi vì giao dịch Arbitrage được thực hiện Điểm mạnh của ETFs là loại quỹ có liên hệ chặt chẽ đến chỉ số giá chứng khoán, các tiêu chuẩn niêm yết nhằm mục đích chú trọng tới "Sự tương quan giữa giá trị tài sản ròng của ETFs và chỉ số giá chứng khoán" tại OSE
5 ETFs thu hút sự chú ý đáng kễ trên thế giới
ETFs đầu tiên được niêm yết trên Toronto Stock Exchange vào năm 1990 Từ năm 1993, ETFs đã nhanh chóng phát triển chủ yếu tại Hoa Kỳ Có khoảng 100 quỹ đã được giao dịch trên thế giới cho đến nay
4 ABOUT VENTURE FUNDS
Trang 24Thị trường Quỹ mạo hiểm cung cấp những dự án với một cách thức mới của việc gây quỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho hầu hết các loại công ty tín nhiệm đầu tư
Trên thị trường, quỹ của nhà đầu tư cá nhân sẽ được đầu tư trong những dự án thành công Cung cấp cho các nhà đầu tư cá nhân một cơ hội rộng lớn hơn để đầu tư vào các công ty chưa niêm yết
Các nhà đầu tư mạo hiểm hay tập trung vào các nhà tổ chức đầu tư, vì đầu tư mạo hiểm yêu cầu phải được thực hiện thông qua lượng tổ chức có giới hạn
Tuy nhiên, thị trường Quỹ đầu tư mạo hiểm cho phép đầu tư vào các công ty chưa niêm yết với một lượng tiền nhỏ, và gây quỹ bằng việc chào bán công khai Do đó, nhà đầu tư cá nhân cũng có thể đầu tư vào các công ty mạo hiểm thuận lợi
5 ABOUT COUNTRY FUNDS
Quỹ quốc gia đầu tư vào chứng khoán của các quốc gia hoặc các khu vực cụ thể
Quỹ quốc gia là một loại hình công ty tín nhiệm đầu tư dạng closed-end, mà mục đích là để đầu tư vào chứng khoán của các quốc gia hoặc khu vực cụ thể Nhà đầu tư, người nắm giữ cổ phần của công ty đầu tư, có thể nhận được cổ tức hoặc thu lợi nhuận từ việc bán cổ phần như là quyền lợi trong hoạt động đầu tư quỹ
Loại hình công ty đầu tư dạng closed-end không thể chuyển đổi cổ phần của mình thành tiền mặt
Cổ phiếu của một công ty đầu tư được niêm yết tại OSE, được giao dịch như những công ty được niêm yết khác Các nhà đầu tư của công ty đầu tư được niêm yết có thể bán cổ phần của mình thông qua OSE
Tham gia vào sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng đầu tư của quốc gia hoặc khu vực
Quỹ được tạo lập bởi công ty đầu tư bắt nguồn từ các quỹ đầu tư theo định hướng quốc gia hoặc khu vực, nhằm mục đích đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế hơn nữa trong những quốc gia tương ứng Quỹ quốc gia giúp cho các nhà đầu tư có thể tham gia vào sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng đầu tư của quốc gia và khu vực
6 PFI
Các cơ sở hạ tầng xã hội của Nhật Bản vẫn còn đòi hỏi nhiều về dịch vụ cao cấp hơn và đa dạng hơn, dẫn đến sự cần thiết thúc đẩy thực hiện cơ sở hạ tầng xã hội
Trang 25Tuy nhiên, Chính phủ trung ương và khu vực đau đầu về nền tài chính đang bị suy thoái, và các biện pháp khác nhau hiện đang được xem xét
Trước tình hình này, vào ngày 30 tháng 7 năm 1999, chính phủ đã công bố luật gọi là "Luật Khuyến khích PFI "
Việc xúc tiến cải thiện cơ sở hạ tầng xã hội thông qua việc sử dụng các quỹ tư nhân… là điều mang lại cơ hội kinh doanh mới cho khu vực tư nhân, và có kỳ vọng rằng điều này cũng sẽ góp phần vào việc thúc đẩy cải cách cơ cấu kinh tế
Vì vậy, OSE đã quyết định thành lập một thị trường PFI, để mở đường cho các công ty tham gia vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng xã hội để gây quỹ bằng cách niêm yết trên thị trường này, nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh của mình, và cung cấp cho các nhà đầu tư với các sản phẩm tài chính đa dạng
Thông tin giao dịch
1 Thời gian giao dịch
2 J-NET
3 Margin Transactions
4 Clearing and Settlement (Thanh toán)
1 THỜI GIAN GIAO DịCH
Thời gian giao dịch tại OSE (Tính tới ngày 01/10/2006)
Sản phẩm Phiên giao dịch
buổi sáng
Phiên giao dịch buổi chiều
Giao dịch nửa ngày
8:20-9:00 11:10-12:30
Giao dịch chứng
Cổ phiếu nước Giao dịch đấu giá 9:00-11:00 12:30-15:10 9:00-11:10
Trang 26ngoài
Chứng chỉ thụ
hưởng tín nhiệm
đầu tư (ETFS)
Giao dịch đấu giá 9:00-11:00 12:30-15:10 9:00-11:10
8:20-9:00 11:10-12:30
2 J-NET
Mục đích thành lập
Thị trường J-NET được giới thiệu bởi Osaka Securities Exchange (OSE) để đáp ứng nhu cầu
đa dạng của các nhà đầu tư đặt lệnh với khối lượng lớn và đặc biệt là basket orders (các giỏ đơn đặt hàng) của tổ chức các nhà đầu tư Các nhu cầu này bắt nguồn từ những rủi ro liên quan khi đặt lệnh với khối lượng lớn trên thị trường bán đấu giá, như lượng thời gian đáng kể cần thiết để thực thi lệnh và cũng không thể định trước một cách chính xác giá thực hiện Giải pháp cần để tránh những rủi ro như vậy, để có thể tiến hành ngay lập tức những giao dịch lớn, để cung cấp giao dịch giấu tên và cuối cùng để giảm chi phí giao dịch