1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) PHÂN TÍCH QUAN NIỆM của CHỦ NGHĨA DUY vật BIỆN CHỨNG về THỨC và VAI ý TRÒ của THỨC TRONG THỰC TIỄN và LIÊN hệ ý với THỰC TIỄN

21 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Về Ý Thức Và Vai Trò Của Ý Thức Trong Thực Tiễn Và Liên Hệ Với Thực Tiễn Đổi Mới Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Trần Thị Ngọc Linh
Người hướng dẫn Phạm Văn Sinh, Giáo viên hướng dẫn
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Triết Học Mác – Lênin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 253,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo định nghĩa của triết học Mác – Lênin, ý thức là một phạm trù songsong, được quyết định với phạm trù vật chất, có mối quan hệ hữu cơ vớivật chất, và theo đó ý thức là sự phản ánh năn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ

QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN

VỚI THỰC TIỄN ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LỚP TRIẾT HỌC MÁC : – LÊNIN _(120)_10 KHÓA

62

Trang 2

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học Nó

là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêngcon người mới có ý thức của con người là cơ năng của cái “ khối vật chất đặcbiệt phức tạm mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo LêNin) Tác động của

ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn Nó không những là kim chỉnam cho hoạt động thực tiễn mà con là động lực thực tiễn Sự thành công haythất bại của thực tiễn, tác động tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự pháttriển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức màbiểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưỏng

Vì vậy, em chọn đề tài “ Phân tích quan niệm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng về ý thức và vai trò của ý thức trong thực tiễn và liên hệ với thực tiễnđổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu

Bài tiểu luận của em đã hoàn thành, song do mới tiếp cận với triết học,cũng như năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên khó có thể tránh được nhữngthiếu sót nhất định; rất mong nhận được ý kiến đánh giá từ giáo viên hướngdẫn Phạm Văn Sinh để bài tiểu luận của em được hoàn chỉnh hơn Em xin chânthành cảm ơn

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

I. QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ Ý

THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC

1. Ý THỨC LÀ GÌ NGUỒN ? GỐC, BẢN CHẤT THUỘC TÍNH VÀ KẾT, CẤU CỦA Ý THỨC

Ý thức là một trong hai phạm trù cơ bản được nhiều trường phái triếthọc quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên tùy theo các cách lý giải khác nhau

mà đã xuất hiện những quan niệm rất khác nhau và từ đó trở thành cơ sở đểhình thành các trường phái triết học khác nhau Trong đó, hai đường lối cơbản đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà cốt lõi

là chủ nghĩa duy vật kết hợp với phép biện chứng, triết học Mác – Lênin đãgóp phần làm sáng tỏ vấn đề ý thức cùng với mối quan hệ biện chứng giữavật chất và ý thức

Theo định nghĩa của triết học Mác – Lênin, ý thức là một phạm trù songsong, được quyết định với phạm trù vật chất, có mối quan hệ hữu cơ vớivật chất, và theo đó ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới vậtchất khách quan vào bộ óc con người Ý thức dùng để chỉ toàn bộ đời sốngtinh thần của con người, bao gồm nhiều yếu tố khác nhau như tri thức, tìnhcảm và trong đó nhân tố căn bản nhất theo lí luận triết học Mác là tri thức

Chủ nghĩa duy tâm có thể được chia thành hai khuynh hướng lớn:Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan tuyệt đối hóa vai trò củacảm giác, cùng lúc phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan và khẳng

Trang 5

định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân,của chủ thể Một số triết gia tiêu biểu của khuynh hướng này có thể kể đếnGeorge Berkeley với luận điểm “tồn tại là cảm nhận được”, sự vật chỉ là sựtổng hợp của những biểu tượng và được bao gói trong một cái tên, sự vậtcũng mất đi khi cảm giác về nó không còn nữa; hay David Hume với khẳngđịnh rằng tất cả những nội dung của ý thức đều bắt nguồn từ kinh nghiệmgiác quan.

Trong khi đó, chủ nghĩa duy tâm khách quan lại tuyệt đối hóa vai tròcủa lý tính, khẳng định thế giới “ý niệm”, hay “ý niệm tuyệt đối” là bản thểtồn tại khách quan bên ngoài con người, sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực.Plato và G.Hegel là hai trong số những đại diện tiêu biểu nhất của chủnghĩa duy tâm khách quan Theo Plato, vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc khuynhhướng duy lý trong triết học Hy Lạp cổ đại, đã xem nhẹ vai trò của nhậnthức cảm tính và đồng thời tuyệt đối hóa vai trò của nhận thức lý tính.Cũng từ đó mà ông chia thế giới thành hai loại: thế giới của những ý niệm

và thế giới của những sự vật cảm tính Theo ông, thế giới của những ý niệm

là tồn tại chân thực, vĩnh viễn, tuyệt đối, bất biến và nó là cơ sở tồn tại củathế giới của các sự vật cảm tính Còn thế giới của các sự vật cảm tính (haygiới tự nhiên) là tồn tại không chân thực, phụ thuộc vào thế giới của các ýniệm, là cái bóng của ý niệm Đồng thời, ông cũng cho rằng để nhận thứcđược chân lý, người ta phải từ bỏ mọi cái hữu hình cảm tính, “hồi tưởng”lại những gì mà linh hồn bất tử đã quan sát được trong giới ý niệm Quanđiểm của Hegel thì cho rằng, khởi nguyên của thế giới không phải là vậtchất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” và ý niệm tuyệt đốitồn tại vĩnh viễn

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, đối lập với cácquan niệm của chủ nghĩa duy tâm, các nhà duy vật siêu hình lại tuyệt đốihóa yếu tố vật chất, đồng nhất vật chất và ý thức, coi ý thức cũng chỉ là một

dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra ,“óc tiết ra ý thức cũng như

gan tiết ra mật” Họ coi thế giới giống như một cỗ máy cơ giới khổng lồ

mà mỗi bộ phận tạo nên nói luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại và nếu cóbiến đổi thì đó chỉ là sự tăng giảm đơn thuần về số lượng và do nguyênnhân ngoại sinh gây ra

Điển hình của chủ nghĩa duy vật siêu hình có thể kể đến hệ thống cácquan điểm của d’Holbach, Denis Diderot hay Ludwig Feuerbach, Thếgiới quan của Holbach được dựng nên từ nền tảng vật chất và ông đã chỉ ra

Trang 6

rằng thế giới này không gì khác hơn đó là thế giới vật chất Trong tác phẩm

Hệ thống tự nhiên hay là quy luật của thế giới vật lý và của thế giới tinh thần, ông đã khẳng định “ Thế giới, đó là sự kết hợp kỳ diệu của tất cả những vật đang tồn tại, bất cứ chỗ nào chúng ta cũng chỉ thấy vật chất

và chuyển động; trước mặt chúng ta toàn thế giới chỉ là một sợi dây chuyền vô tận và liên tục của nguyên nhân và kết quả” Diderot cũng cho

thấy tính duy vật triệt để khi quả quyết rằng thế giới là vật chất tồn tạikhách quan trong trạng thái thường xuyên vận động và vì thế khởi điểmcủa thế giới là phải bắt đầu từ vật chất Đối với nhà triết học này, tất cả sựvật hiện tượng trong thế giới đều có chung nguồn gốc vật chất, “cảm giác

là đặc tính chung của vật chất hay là sản phẩm của tính tổ chức của vậtchất” Quan điểm của Feuerbach cho rằng bản chất của thế giới là vật chất,giới tự nhiên không hề phụ thuộc vào con người, nằm ngoài tầm kiểm soátcủa con người, không do một ai sáng tạo ra và không ai có thể tiêu diệtđược Bên cạnh đó ông cũng tuyệt đối hóa mọi mặt sinh học của con người,không thấy mặt xã hội của con người

Chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình đều thuộc lớp bảnthể học nhất nguyên chứ không phải nhị nguyên hay đa nguyên, cho rằngtất cả thế giới đều thuộc về một bản chất, nguyên lý, chất hay năng lượng,tất cả đều có một khởi nguyên Mặc dù có những ý nghĩa và vai trò nhấtđịnh, chúng đều có những quan niệm phiến diện, sai lầm và hạn chế, khôngthể đạt đến chân lý của sự nhận thức, thiếu cơ sở giải quyết các vấn đề thựctiễn xã hội

b Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Karl Marx đã đưa ra khẳng định của quan điểm duy vật biện chứng

về ý thức: “ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong

đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó.”

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có thể khái quát

ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con

người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giớikhách quan Trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người,

từ đó tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới kháchquan Như vậy, ý thức chính là sự phản ánh của con người về thế giớikhách quan

Trang 7

Nhân tố chủ yếu đầu tiên tạo nên nguồn gốc tự nhiên của ý thứcchính là bộ não người Chú nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức làhình thức phản ánh đặc trưng chỉ có ở con người và là hình thức phản ánhcao nhất của thế giới vật chất Ý thức là sự phản ánh thế giới hiện thực bởi

bộ óc con người Bộ óc người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoálâu dài về mặt sinh vật - xã hội của thế giới vật chất, có cấu trúc đặc biệtphát triển, rất tinh vi và phức tạp, nặng trung bình 1.7 kg, bao gồm 14 -15

tỷ tế bào thần kinh Sự phân khu của não bộ và hệ thống dây thần kinh liên

hệ với các giác quan để thu nhận và xử lý thông tin từ thế giới khách quanvào não bộ, hình thành những phản xạ có điều kiện và không có điều kiện,điều khiển các hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài

Nhân tố chủ yếu thứ hai tạo nên nguồn gốc tự nhiên của ý thức làmối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo nên hiện tượngphản ánh năng động, sáng tạo Cũng theo chủ nghĩa Mác-Lê nin, hoạt động

ý thức con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ ócngười Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi

bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn Tuy nhiên, nếu chỉ

có bộ óc người mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ ócphản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức Phản ánh là nănglực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệthống vật chất khác trong quá trình trao đổi qua lại của chúng Phản ánh làthuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất, song phản ánh đượcthể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học;phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (tức phản ánh ý thức).Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hoá của vật chất tựnhiên

Phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật

chất vô sinh Phản ánh vật lý, hoá học thể hiện qua những biến đổi về cơ,

lý, hoá (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý – hoá qua quá trình kết hợp,phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vậtchất vô sinh Ví dụ như mặt nước, mặt gương phản chiếu ánh sáng (sự phảnánh này mang tính đơn giản, không phân biệt, không lựa chọn) Hình thứcphản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vậtnhận tác động

Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho

giới tự nhiên hữu sinh Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên

Trang 8

hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảmứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậcthấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màusắc, thay đổi cấu trúc, khi nhận sự tác động trong môi trường sống.Chẳng hạn như hoa hướng dương biết hướng về phía mặt trời để hấp thụđược nhiều năng lượng, rễ cây phát triển mạnh về hướng có nhiều dinhdưỡng (sự phản ánh đã có lựa chọn).Tính cảm ứng là phản ứng của độngvật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điềukhiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có

sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống Ví dụ như mèo xùlông, co mình khi cảm thấy trời lạnh

Phản ánh tâm lý là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát

triển đến trình độ có hệ thần kinh trung ương, được thực hiện thông qua cơchế phản xạ có điều kiện đối với những tác động của môi trường sống.Chẳng hạn như con người có tâm lý đau buồn khi người thân yêu mất

Tuy vậy, sự ra đời của ý thức không phải chỉ có nguồn gốc tự nhiên

mà còn do nguồn gốc xã hội Sự phát triển của giới tự nhiên mới tạo ratiền đề vật chất có năng lực phản ánh, chỉ là nguồn gốc sâu xa của ý thức.Hoạt động thực tiễn của loài người mới là nguồn gốc trực tiếp quyết định

sự ra đời của ý thức Con người, nhờ có lao động mới làm nảy sinh ranhững quan hệ xã hội, mà trước hết là quan hệ trong sản xuất Từ nhữngquan hệ này làm nảy sinh ra ngôn ngữ C.Mác và Ph Ăngghen xũng đã

nhiều lần chỉ rõ rằng, ý thức không những có nguồn gốc tự nhiên mà còn

có nguồn gốc xã hội và là một hiện tượng mang bản chất xã hội.

Hai nhân tố cơ bản và trực tiếp nhất tạo thành nguồn gốc xã hội của

ý thức là lao động và ngôn ngữ

Trang 9

Ý thức không chỉ là sự phản ánh tái tạo đơn thuần mà chủ yếu là sựphản ánh sáng tạo hiện thực khách quan Thông qua các hoạt động thựctiễn, những sáng tạo trong tư duy được con người hiện thực hoá, cho ra đờinhiều vật phẩm chưa có trong tự nhiên Đó là “giới tự nhiên thứ hai” inđậm dấu ấn của bàn tay và khối óc con người Bản thân là phương thức tồntại cơ bản của con người, lao động mang tính xã hội đã làm nảy sinh nhucầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong xã hội Từnhu cầu đó, bộ máy phát âm, trung tâm ngôn ngữ trong bộ óc con ngườiđược hình thành và hoàn thiện dần Ph.Ăngghen viết: “Đem so sánh conngười với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ laođộng và cùng phắt triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng

về nguồn gốc của ngôn ngữ”

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung của ý thức Nóxuất hiện trở thành “vỏ vật chất” của tư duy; là hiện thực trục tiếp của ýthức; là phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội - lịch

sử Cùng với lao động, ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và pháttriển của ý thức Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) vừa là phương tiện giaotiếp, đồng thời vừa là công cụ của tư duy Nhờ ngôn ngữ con người có thểkhái quát, trừu tượng hoá, suy nghĩ độc lập, tách khỏi sự vật cảm tính.Cũng nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể giao tiếp trao đổi tư tưởng, lưugiữ, kế thừa những tri thức, kinh nghiệm phong phú của xã hội đã tích luỹđược qua nhiều thế hệ cũng như thời kỳ lịch sử Lao động và ngôn ngữ làhai sức kích thích chủ yếu làm chuyển biến dần bộ óc của loài vượn ngườithành bộ óc con người và tâm lý động vật thành ý thức con người

Xem xét nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức ta nhậnthấy, ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới tựnhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội

- lịch sử của con người Trong đó, nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn

nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ để ý thức hình thành, tồn tại và phát triển.

Hoạt động thực tiễn phong phú của loài người chính là môi trường để ýthức hình thành, phát triển và khẳng định sức mạnh sáng tạo của nó

1.2 Bản chất và thuộc tính của ý thức

Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thựcthể độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý

Trang 10

thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh củavật chất.

Ngược lại, chủ nghĩa duy vật siêu hình lại đi tới tầm thường hóa vai tròcủa ý thức, coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất; hoặc coi ý thức chỉ là

sự phán ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất, tách rời thực tiễn xã hộivốn rất phong phú, sinh động Những quan niệm sai lầm đó đã không chophép con người hiểu được bản chất của ý thức, cũng như biện chứng củaquá trình phản ánh ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng ý thức là sự phản ánh thế giớikhách quan vào bộ não con người thông qua thực tiễn, nên:

Thứ nhất, bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách

quan, là sự phản ánh tích cực, sáng tạo thế giới vật chất vào bộ ócngười.Cũng chính vì vậy mà ý thức có thuộc tính phụ thuộc vào vật chấtkhách quan và cũng đồng thời mang thuộc tính ảo (hay phi cảm giác) Từđặc trưng phụ thuộc vào thế giới khách quan của ý thức cho thấy để tìmđược nguồn gốc của ý thức phải tìm đến hiện thực khách quan nào Cũng

vì vậy mà V.I Lê-nin đã nhận định rằng ý thức là hình ảnh chủ quannhưng là của thế giới khách quan (hay nó có nguồn gốc khách quan vàphản ánh khách quan) Đồng thời, ý thức mang thuộc tính ảo (hay thuộctính phi cảm giác) Vì vậy mà để tồn tại trong đời sống thực tế, nó phảimượn hình thái vật chất nào đó để biểu hiện, gọi là ngôn ngữ

Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cùng cónghĩa là ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới Vì vậy mà ýthức mang thuộc tính sáng tạo (hay tạo ra cái mới) Sáng tạo là thuộc tínhđặc trưng bản chất nhất của ý thức Tính năng động, sáng tạo của sự phảnánh thể hiện ở khả năng hoạt động tâm – sinh lý của con người trong việcđịnh hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, lưu giữthông tin và trên cơ sở những thông tin đã có, nó có thể tạo ra những thôngtin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận Tính chất năngđộng, sáng tạo của sự phản ánh còn được thể hiện ở quá trình con người tạo

ra những ý tưởng, giả thuyết, huyền thoại, trong đời sống tinh thần củamình hoặc khái quát bản chất quy luật khách quan, xây dựng các mô hình

tư tưởng, tri thức trong các hoạt động của con người Sức sáng tạo của ýthức trong tinh thần và sức sáng tạo của con người trong thực tiễn khácnhau về bản chất nhưng chỉ là những biểu hiện khác nhau của năng lực

Ngày đăng: 03/12/2022, 09:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w