1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn

18 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Triết học Mác – Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 305,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được những sai lầm và hạn chế của các quan niệm duy tâm, siêu hình, từ đó đưa ra những quan điểm đúng đắn về hai lĩnh vực lớn nhất của thế giới

Trang 1

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

… 0O0…

BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

Đề tài số 3:

Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương

pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn.

Họ, tên SV:

Mã SV:

Lớp: Triết học Mác – Lênin Khóa: 63 GĐ:

Hà Nội - 12/2021

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, con người đã tích lũy và đúc kết được những

tư tưởng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại Dựa trên những giá trị tư tưởng đó và tổng kết thời đại, triết học Mác – Lênin được hình thành và trở thành hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật – chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được những sai lầm và hạn chế của các quan niệm duy tâm, siêu hình, từ đó đưa ra những quan điểm đúng đắn về hai lĩnh vực lớn nhất của thế giới là vật chất, ý thức và mối quan

hệ giữa chúng

Hơn hết, mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại (hay là vật chất và ý thức) đã và đang nắm giữ vai trò hết sức quan trọng trong thực tiễn cuộc sống Những vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa ý thức và vật chất không chỉ định hướng cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày mà còn luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội Với mục tiêu hàng đầu

là tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng một đất nước Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới” theo lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước đã xác định cần phải nhận thức và vạch ra được đường lối, chính sách phù hợp nhất với đặc điểm tình hình của nước ta Đảng ta đã khẳng định trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Cụ thể hơn, Đảng và Nhà nước đã vận dụng mối liên hệ giữa vật chất và ý thức vào mối liên hệ giữa kinh tế và chính trị, vào đường lối phát triển kinh tế xã hội giúp đất nước phát triển bền vững

Chính vì những lí do trên cùng mong muốn góp một phần sức lực vào công cuộc kiến thiết đất nước, em muốn nghiên cứu sâu thêm về chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vậy nên em chọn đề tài:

“Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn.” làm đề tài nghiên cứu tiểu luận.

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu quan trọng nhất của đề tài là tìm hiểu và phân tích được mối quan hệ tương quan giữa vật chất và ý thức thông qua quan niệm duy vật biện chứng Từ đó rút ra được phương pháp luận chung và vận dụng vào liên hệ với

Trang 3

thực tiễn đời sống, cụ thể là trong nhận thức cuộc sống học tập, sinh hoạt thường ngày và đổi mới đất nước Đó là mọi sách lược, chiến lược cách mạng đưa ra cần xuất phát từ cơ sở thực tế khách quan, phát huy tối đa tính năng động chủ quan và khắc phục tính chủ quan duy ý chí Những điều này sẽ được phân tích rõ hơn trong phần nội dung của tiểu luận

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: vật chất, ý thức, quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ thực tiễn

Phạm vi nghiên cứu: trong phạm vi của chủ nghĩa Mác – Lênin

4 Bố cục của đề tài

Bài tiểu luận ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì còn được chia thành các nội dung cơ bản như sau:

I Cơ sở lí luận chung của quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

II Ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ mối quan hệ giữa vật chất và

ý thức vào thực tiễn

Do chưa có nhiều kinh nghiệm và kiến thức bản thân còn hạn chế nên bài tiểu luận của em khó có thể tránh khỏi thiếu sót, em kính mong sẽ nhận được sự góp ý và giúp đỡ của thầy giáo giảng dạy bộ môn cùng toàn thể các bạn đọc

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG CỦA QUAN NIỆM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC.

Ph.Ăngghen viết: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” [Giáo trình Triết học Mác – Lênin] Trong nhiều năm, các giáo trình triết học Mác – Lênin ở nước ta về cơ bản cũng đều khẳng định tầm quan trọng của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Có thể nói đây là vấn đề cơ bản, cốt lõi để phân biệt các trường phái triết học trên thế giới Trong mối quan hệ này, triết học Mác – Lênin với quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đã nhận định: “Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất”

1 Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất

1.1.Các quan niệm về phạm trù vật chất

*Quan niệm của triết học Mác – Lênin về vật chất

Trong quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc, C.Mác và Ph Ăngghen đã đưa ra những

tư tưởng vô cùng quan trọng về vật chất Ăngghen cho rằng vật chất không có sự tồn tại cảm tính Ông chỉ rõ các sự vật, hiện tượng dù muôn hình vạn trạng nhưng vẫn có một đặc tính chung thống nhất là tính vật chất – tính tồn tại độc lập không lệ thuộc vào ý thức

Kế thừa những tư tưởng của những bậc thiên tài đi trước, V.I Lênin đã tổng kết

và đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm phương pháp định nghĩa phạm trù vật chất Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I Lênin

đã đưa ra định nghĩa về vật chất một cách mới mẻ và phản ánh các khía cạnh duy vật

và lý luận rõ ràng:

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”

Có thể phân tích định nghĩa của Lênin thành các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại bên ngoài ý thức và

không lệ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa

Trang 5

nhận thức được Ví dụ như vũ trụ, ánh sáng, không khí, v.v đều đang tự thân tồn tại

có thật mà không dựa vào ý chí của con người

Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại

cho con người cảm giác, có thể bằng cách gián tiếp hoặc trực tiếp, thông qua các giác quan của con người hoặc qua các dụng cụ thí nghiệm khoa học, thậm chí có cái đến bây giờ vẫn chưa có cách nhận biết Nhưng nó vẫn được coi là vật chất nếu nó tồn tại khách quan, hiện thực, độc lập và hoàn toàn không phụ thuộc vào ý thức của con người

Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó Con

người có khả năng nhận thức được vật chất, thực tại khách quan

=> Như vậy, có thể thấy rằng định nghĩa của Lênin vô cùng triệt để, giúp chúng

ta xác định được các nhân tố vật chất trong đời sống xã hội, có ý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên đi sâu vào nghiên cứu vật chất, khám phá ra ngày càng nhiều tính chất, cấu trúc mới của vật chất, không ngừng làm phong phú tri thức của con người về thế giới Đồng thời cũng góp phần đưa chủ nghĩa duy vật lên một tầm cao mới, làm cơ sở khoa học xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội, đóng góp to lớn trong việc khắc phục sự khủng hoảng về mặt thế giới quan trong đội ngũ các nhà triết học và khoa học tự nhiên lúc bấy giờ

1.2.Các hình thức tồn tại của vật chất

*Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất

Vật chất và vận động không tách rời nhau, vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua sự vận động để biểu hiện sự tồn tại của nó dưới các hình dạng phong phú, muôn vẻ, muôn tận

*Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

Không có vật chất nào tồn tại bên ngoài không gian và thời gian cũng như không có không gian, thời gian nào tồn tại bên ngoài vật chất

1.3.Tính thống nhất vật chất của thế giới

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất:

- Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất, tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức

Trang 6

- Mọi bộ phận của thế giới có mối quan hệ vật chất thống nhất.

- Thế giới vật chất không do ai sinh ra và cũng không tự mất đi, tồn tại vĩnh viễn

2 Nguồn gốc, bản chất của ý thức

2.1.Nguồn gốc

- Nguồn gốc tự nhiên: dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là một thuộc tính của vật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất, mà là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ óc con người Ý thức không thể tự sinh ra trong bộ óc mà là kết quả quản ánh sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ não con người

- Nguồn gốc xã hội: hoạt động thực tiễn của loài người mới mang tính quyết định trực tiếp ý thức Ý thức ra đời song song với quá trình hình thành bộ óc người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội

=> Ý thức là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội – lịch sử loài người Nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ để ý thức hình thành, tồn tại và phát triển

2.2.Bản chất của ý thức

Một là, sự trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh.

Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần (thực

chất là quá trình “sáng tạo” lại hiện tượng)

Ba là, chuyển từ mô hình tư duy sang hiện thực khách quan, thể hiện tính năng

động sáng tạo của ý thức

Không nên hiểu nhầm ý thức sáng tạo có nghĩa là ý thức tạo ra vật chất Sáng tạo ở đây là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh, mà kết quả luôn là những khách thể tinh thần Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất ý thức

3 Mối quan hệ biện chứng duy vật giữa vật chất và ý thức

Vật chất và ý thức không đối lập mà có quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn

nhau Mối quan hệ vật chất và ý thức được coi là “vấn đề cơ bản của mọi triết học,

đặc biệt là triết học hiện đại” [C.Mác và Ph.Ăngghen] Tương ứng với các lập

Trang 7

trường thế giới quan khác nhau ta sẽ có các đường lối, cách thức giải quyết mối quan

hệ vật chất và ý thức khác nhau Tuy nhiên, nắm vững phép biện chứng duy vật và luôn theo sát, kịp thời khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đưa ra những quan điểm khoa học không chỉ khắc phục được những sai lầm, hạn chế của các quan niệm duy tâm siêu hình mà còn khát quát đúng đắn về hai lĩnh vực lớn nhất của thế giới này

Xét theo quan điểm triết học Mác – Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất

3.1 Vật chất quyết định ý thức

Vai trò của vật chất với ý thức được thể hiện qua một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.

Vật chất “sinh” ra ý thức, bởi lẽ con người do giới tự nhiên, vật chất sinh ra nên theo lẽ tự nhiên thì ý thức – một thuộc tính của con người – cũng là do vật chất sinh

ra Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc của ý thức, điều này đã được các thành tựu khoa học của con người chứng minh Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình hoạt động khách quan, nếu

bộ não mất chức năng hoạt động thì không thể có ý thức Sự vận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ óc người

Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức.

Dưới bất kì hình thức nào, ý thức suy cho cùng đều phản ánh hiện thực khách quan Ý thức mà trong nội dung của nó chẳng qua là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người Sự phát triển của hoạt động thực tiễn cả

về bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất ảnh hưởng đến tính phong phú và

độ sâu sắc của nội dung tư duy, ý thức con người qua các thế hệ, nền văn minh

Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức.

Không giống với chủ nghĩa duy vật cũ coi thế giới vật chất như là những sự vật, hiện tượng cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người – là cơ sở hình thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo

Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức.

Trang 8

Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn với quá trình biến đổi của vật chất

dù sớm hay muộn Con người – một sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển cả thể chất lẫn tinh thần thì ý thức – một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển cả về nội dung và hình thức Sự phát triển của kinh tế quy định sự phát triển của văn hóa, xã hội Xã hội phát triển càng cao, điều kiện vật chất thay đổi thì đời sống tinh thần, nhận thức ngày càng phong phú, đa dạng

VD: Ở Việt Nam, kĩ năng thực hành của học sinh các cấp 1, 2, 3 về các bộ môn đòi hỏi quan sát hiện tượng như hóa học, vật lí hay về công nghệ thông tin là rất yếu kém do không đủ điều kiện về dụng cụ, máy móc cùng đội ngũ giáo viên giảng dạy Nhưng dần dần với sự phát triển kinh tế, đầu tư cho giáo dục, những vấn đề về cơ sở vật chất được đáp ứng thì trình độ và nhận thức của học sinh cũng được nâng cao

3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất

Thứ nhất, ý thức do vật chất sinh ra, là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con

người nhưng bản thân ý thức cũng có “đời sống”, quy luật vận động và phát triển riêng

Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực

tiễn của con người, tự bản thân ý thức không thể biến đổi được hiện thực

Thứ ba, ý thức có thể chỉ đạo hoạt động, hành động của con người, quyết định

sự thành công hay thất bại, đúng hay sai của hành động ấy Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể tiên đoán một cách chính xác hiện thực, đưa ra những lý luận, định hướng đúng đắn góp phần cổ vũ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo Tuy nhiên nếu ý thức phản ánh sai lệch, xuyên tạc hiện thực thì cũng sẽ dẫn đến tác động tiêu cực

VD: Nếu không có tư tưởng, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng thì dân tộc ta cũng không thể giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ Hay tâm trạng không tốt sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của con người

Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng được nâng cao,

nhất là trong thời đại thông tin, kinh tế phát triển, thời kì cách mạng khoa học hiện đại Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò của tri thức khoa học, tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân văn là vô cùng quan trọng

II Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG VÀ LIÊN HỆ MỐI QUAN

HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VÀO THỰC TIỄN.

Trang 9

1 Ý nghĩa phương pháp luận chung

Dựa trên cơ sở về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động sáng tạo của ý thức cùng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, có thể rút ra khái quát ý nghĩa phương pháp luận chung như sau: Trong tất cả các hoạt động thực tiễn

và nhận thức đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo khách quan đồng thời chú trọng phát huy tính năng động chủ quan Cụ thể:

- Vì vật chất quyết định ý thức nên trong hoạt động thực tiễn ta phải tôn trọng khách quan, nhận thức hoạt động theo đúng quy luật khách quan Trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục tiêu, đề ra đường lối, chủ trương, kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế làm cơ sở; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức lại thành lực lượng vật chất để hành động

- Vì ý thức tác động trở lại vật chất nên cần phát huy tính năng động chủ quan, đặc biệt là phát huy vai trò của khoa học kĩ thuật, tri thức, quan tâm đến giáo dục và nâng cao nhận thức con người, coi trọng giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học, mặt khác phải tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học kết hợp tu dưỡng rèn luyện bản thân về đạo đức, ý chí, nghị lực

=> Phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học, mặt khác phải tích cực học tập kết hợp tu dưỡng rèn luyện đạo đức, ý chí, nghị lực

- Khắc phục bệnh quan điểm chủ quan duy ý chí, chống việc tuyệt đối hóa vai trò của ý thức mà hạ thấp, đánh giá sai vai trò của các điều kiện vật chất Tránh hành động lấy ý chí áp đặt thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực Nếu yếu kém về trình

độ nhận thức nói chung và còn nhiều hạn chế trong áp dụng lí luận vào thực tiễn thì

dễ dẫn đến “sự mù quáng chủ quan”, có thể rơi vào chủ nghĩa duy tâm một cách không tự giác Đồng thời cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò của vật chất, tức là chống lại “chủ nghĩa khách quan”, có thái độ thụ động ỷ lại vào điều kiện vật chất VD: Giáo dục chính trị, tư tưởng cần gắn liền với khuyến khích, động viên bằng lợi ích vật chất như đạt bằng khen, danh hiệu thi đua, được phần thưởng

=> Như vậy, đảm bảo tính thống nhất biện chứng giữa tính khách quan và chủ quan trong hoạt động nhận thức của con người chính là một yếu tố quan trọng trong quá trình nhận thức của con người

Trang 10

2 Liên hệ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào thực tiễn

2.1 Vận dụng trong cuộc sống học tập của bản thân

Người Việt Nam được công nhận là thông minh, hiếu học Tuy nền giáo dục Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất nhưng ta cũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào Có thể nói sinh viên Việt Nam khá thông minh, có khả năng tiếp nhận tri thức khá tốt Tuy nhiên chỉ chiếm một phần nhỏ, phần lớn sinh viên vẫn còn thụ động trong việc tìm tòi học tập và thiếu tính sáng tạo Một kết quả nghiên cứu về tính sáng tạo của sinh viên ở một trường đại học lớn của Việt Nam cho biết trong hàng ngàn sinh viên, chỉ có khoảng 20% sinh viên đạt hoặc vượt mức sáng tạo trung bình Đây là một điều đáng buồn và buộc các nhà giáo dục phải nghiêm túc xem xét và đổi mới phương pháp, cách tổ chức dạy và học trong chương trình đào tạo của nước ta

Để xã hội ngày càng phát triển thì cần phát huy tính năng động chủ quan, nghĩa

là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và vai trò nhân tố con người để tác động, cải tổ thế giới

Thứ nhất, vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực

tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tức là phải tự xác định được các điều kiện vật chất khách quan ảnh hưởng đến chất lượng học tập của bản thân Là sinh viên năm nhất trường đại học Kinh tế Quốc dân, tuy chưa được trải nghiệm cơ

sở vật chất của trường do dịch bệnh nhưng thông qua thời gian học tập online và sử dụng các trang web, ứng dụng của nhà trường, em nhận thấy có thể đáp ứng được nhu cầu học tập và rèn luyện của bản thân Nhà trường đã cung cấp tài khoản trên các trang web LMS hay Daihocchinhquy giúp học sinh dễ dàng theo dõi, nắm bắt và điều chỉnh lịch trình cùng thời gian học tập sao cho tối ưu nhất

Thứ hai, vì ý thức có tác động trở lại đối với vật chất nền cần phát huy tính

năng động chủ quan, tức là phải phát huy tính tích cực, năng động và sáng tạo của ý thức Bản thân cần phải tham gia đầy đủ và hăng hái, năng nổ trong từng tiết học Trong kết cấu của ý thức thì tri thức là yếu tố quan trọng nhất Chính vì vậy sinh viên cần chủ động khai thác, tìm hiểu vấn đề, trong quá trình học không nên quá phụ thuộc vào giảng viên mà thay vào đó nên suy nghĩ những ý tưởng mới của riêng mình Điển hình như bộ môn Triết học cần có sự thảo luận giữa cả giảng viên và sinh viên, sinh viên cần đưa ra quan điểm riêng của bản thân mình và tiếp nhận những nhận xét của giảng viên bộ môn Đối với sinh viên, để đạt thành tích tốt trong học tập cũng như phát triển tương lai thì cần phải có niềm đam mê và tâm huyết đối với mỗi môn học, bất kể là môn đại cương hay chuyên ngành Cần phải có niềm tin ở bản

Ngày đăng: 03/12/2022, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w