I Phần 1 (Nguyễn T Nhung(91) Từ xưa nay cũng đã có những quan điểm, tư tưởng khẳng định giáo dục là một trong những nhân tố quan trọng xây dựng xã hội an lạc, phú cường Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn.
Trang 1I Phần 1 (Nguyễn T Nhung(9/1)
Từ xưa nay cũng đã có những quan điểm, tư tưởng khẳng định giáo dục là một trong những nhân tố quan trọng xây dựng xã hội an lạc, phú cường Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được, nền kinh tế không phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được, giáo dục không phát triển thì không đủ cán bộ giúp cho kinh tế phát triển, hai việc đó liên quan mật thiết với nhau.”
Thực tiễn cho thấy, nguyên nhân thành công của nhiều quốc gia là do có sự đầu tư và chăm lo đặc biệt đến sự phát triển giáo dục Ngày nay , giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, tức là phải được thể hiện trong chính sách của quốc gia, thể hiện trong chiến lược phát triển đất nước
Ở VN, quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” được đề ra trong Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam khoá VII (6-1991), được ghi vào Hiến pháp CHXHCN 1992 (điều 35) Nội dung của quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” đã được Đảng và Nhà nước chỉ đạo thực hiện bốn điểm chủ yếu sau:
-Mục tiêu về GD-ĐT là mục tiêu ưu tiên quốc gia
-Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện mục tiêu ở tầm quyền lực quốc gia
-Chính sách đầu tư thuộc hàng ưu tiên ngân sách mỗi năm một tăng
-Hệ thống chính sách đối với người dạy, người học ngày càng thể hiện dự tôn vinh của xã hội; khuyến khích, phát huy các giá trị đức tài của mọi công dân thông qua GD-ĐT
Những nội dung cơ bản của quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” đã thể hiện: giáo dục là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, phải nâng cao chất lượng giáo dục; giáo dục là bộ phận quan trọng hàng đầu của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đối với từng địa phương, từng khu vực và cả nước, cần có những chính sách ưu tiên cao nhất cho giáo dục, phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kt-xh
II Phần 2 (Thủy )
Xã hội hoá giáo dục là một xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới Mục tiêu của xã hội hoá giáo dục là thu hút mọi thành phần, thành viên trong xã hội tham gia đóng góp phát triển sự nghiệp giáo dục và được hương quyền lợi giáo dục như một loại phúc lợi xã hội thể hiện sự dân chủ, tự do, công bằng nhân quyền tối thiểu của con người Hiện nay,
xu hướng chung của giáo dục các nước trên thế giới và trong khu vực là đa dạng hoá, dân
Trang 2chủ hoá, xã hội hoá nhằm huy động ngân sách cho giáo dục từ nhiều nguồn vốn khác nhau.Xã hội hoá giáo dục đòi hỏi nhà trường khi đóng vai trò chính để truyền thụ kiến thức và hình thành nhân cách con người theo yêu cầu xã hội cần phải được hỗ trợ nhiều mặt bởi các thành phần của xã hội, của mọi thiết chế xã hội, của môi trường lao động, giải trí, nghỉ ngơi, các hoạt động truyền thông đại chúng v.v đó là giáo dục cho mọi người và mọi người làm giáo dục Thực hiện giáo dục cho mọi người đòi hỏi không chỉ đơn thuần ở việc mở trường, mở lớp, cung cấp đủ người dạy, trang bị cơ sở vật chất sư phạm mà điều vô cùng quan trọng là nội dung giáo dục và đào tạo phải gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với lao động sản xuất Thực hiện giáo dục cho mọi người còn là việc mở rộng cho mọi người cơ hội lựa chọn các hình thức tổ chức giáo dục thích hợp với hoàn cảnh của mình.Xã hội hoá giáo dục là một xu hướng có tính chất chiến lược quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới nhằm phát triển đất nước và hội nhập thế giới Ở Việt Nam, chủ trương xã hội hóa giáo dục đã được khắng định Điều 12 trong Luật giáo dục nước CHXHCN Việt Nam nêu rõ “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường dục lành mạnh và an toàn
Phần 3
Giáo dục không chỉ là học tập trên lớp , trong trường học , mà là mọi nơi mọi lúc Học tập suốt đời từ lâu đã được thế giới đặc biệt quan tâm bởi nhu cầu tất yếu của con người
và của xã hội trong thời đại công nghiệp Giờ đây trước cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 thì nhu cầu đó càng bức thiết hơn bao giờ hết Nhân loại đang bị đặt trước thách thức phải đổi mới , học tập và thích ứng không ngừng với những biến đổi của thiên nhiên , khoa học công nghệ Vì vậy nếu ngừng trao đổi , học tập giao lưu để theo kịp thời đại
sẽ bị tẩy chay , lạc hệ Học tập suốt đời sẽ tạo cơ hội cho tất cả mọi người để có thể chống chọi được với những thách thức của thời kỳ mới và được khẳng định là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân của các nước Tuy nhiên , lâu nay , nhiều người vẫn cho rằng học là việc của học sinh sinh viên và những nhà khoa học , người làm công tác nghiên cứu Việc học tập gần như đã dừng lại sau cánh cổng trường ĐH trường nghề Cần nhìn nhận đúng tầm quan trọng của học tập suốt đời như thế nào ? Làm sao để nâng cao nhận thức của xã hội để tăng cường đầu tư , quan tâm thúc đẩy sự nghiệp học tập suốt đời
IV Phần 4 (dung)
Trang 3Công nghệ thông tin đang tạo ra 1 cách mạng về giáo dục mở và giáo dục từ xa,mang mầm mống của cuộc cách mạng sư phạm thực sự.Trong phương thức giáo dục từ xa, các phương tiện thông tin như điện thoại, máy tính kết nối với internet đến các phương tiện thông tin đại chúng như thu phát sóng truyền hình.
Về việc áp dụng công nghệ vào quá trình giáo dục đã giúp các yếu tố như : yếu tố thời gian , không gian không còn bị ràng buộc, người học có thể tham gia lớp học
mà không cần có mặt trong không gian trường, yếu tố giữa người học và người dạy, người dạy sẽ không còn là người giảng bài, đặt ra câu hỏi ,học sinh là người trả lời
và ghi chép 1 cách thụ động nữa mà ngược lại học sinh sẽ phải chủ động trong quá trình học tập hơn Và từ đó người học sẽ không chỉ tiếp thu thông tin mà còn phải học cách chiếm lĩnh thông tin tùy theo nhu cầu và biến nó thành kiến thức việc dạy học theo cách truyền thống như : phấn bnagr ,giấy bút, sách vở …sẽ vẫn còn giữ vai trong chủ đạo trong quá trình dạy và học nhưng những phương tiện công nghệ hiện đại sẽ bổ sung và sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học.
Ví dụ như:trong đợt dịch vừa qua,việc ứng dụng công nghệ đã góp phần giáo dục được tiếp tục thông qua các ứng dụng công nghệ như:gg meet, gg classroom, zoom…mà người dạy học vẫn có thể tiếp thu kiến thức và thông tin từ người dạy khi không cần đến lớp
là
II Phần 5 (hằng)
-Toàn ngành hiện có 508 cơ sở giáo dục công lập từ mầm non đến các cấp học phổ thông, -78 cơ sở giáo dục ngoài công lập, chủ yếu là cấp học mầm non và tiểu học
- Giáo dục nghề nghiệp có 3 cơ sở, có 2 chi nhánh trường đại học trên địa bàn
Quy mô học sinh, sinh viên ở các cấp học hiện nay trên 260.000, nếu tính cả số sinh viên được đào tạo ngoài tỉnh, mỗi năm có khoảng 5.000 sinh viên ra trường, bổ sung nguồn nhân lực có chất lượng cho tỉnh
-Chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển theo hướng chuẩn hoá
và hội nhập
-Trường chuẩn quốc gia mức độ 1 đạt 59,45%, trong đó có 9 trường đạt chuẩn mức độ 2 Học sinh đỗ tốt nghiệp THPT chất lượng nâng lên theo từng năm, cao hơn bình quân chung của cả nước
Hạn chế
Trang 4- chất lượng giáo dục có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế;
- chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội;
-chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng;
- giữa dạy chữ và dạy người; chương trình, nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá chậm đổi mới;
-quản lý Nhà nước về giáo dục còn bất cập; giáo dục nghề nghiệp còn nhiều hạn chế -Cách thức tổ chức phân luồng học sinh còn lúng túng
-Chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số lượng với nâng cao chất lượng đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
- Nội dung chương trình ở các cấp học thay đổi nhiều nhưng thiếu tính ổn định, nặng về
lý thuyết, chưa phù hợp với nhu cầu và khả năng học tập của học sinh và yêu cầu phát triển chung của xã hội
-Một số cán bộ quản lý, giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới Các chế độ chính sách đối với nhà giáo chưa tạo được sự khuyến khích
-Cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật phục vụ giảng dạy, học tập còn thiếu, chưa đồng bộ, nhìn chung là còn lạc hậu
-Phát huy những kết quả đạt được, khắc phục khó khăn, hạn chế nêu trên, ngành GD&ĐT
đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau đây:
+ Thứ nhất, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác quản lý giáo dục Cần có những chủ trương, chế định nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả các cơ quan quản lý Nhà nước
về giáo dục
+ Thứ hai, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục các cấp học từ mầm non, phổ thông đến giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
+ Thứ ba, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, trung thực,chú trọng giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh
+ Thứ tư, phát triển giáo dục ngoài công lập hài hoà với giáo dục công lập
+ Thứ năm, đa dạng hoá nguồn lực tài chính, nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục
Phần 6
Việt Nam đang trên con đường hội nhập thì ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu là vấn đề có tính nguyên tắc Bối cảnh này đặt ra cho Việt Nam bài toán về
Trang 5chuẩn bị và phát triển nguồn vốn, nhân lực Để giải quyết bài toán này thì giáo dục đại học của Việt Nam sẽ phải quan tâm đến một số giải pháp sau: - Giáo dục đại học phải thực hiện đồng thời 2 mục tiêu là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tích lũy tri thức;
- Đầu tư cho giáo dục đại học để góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất dịch vụ, nâng cao năng suất lao động; - Đầu tư cho giáo dục đại học nâng cao chất lượng đồng thời với việc phân tầng trong giáo dục đại học; - Xuất khẩu và nhập khẩu giáo dục đại học diễn ra mạnh mẽ