Đây là một trong những giá trị mà Phan Châu Trinh đã để lại, chúng ta cầ Chính từ những ý nghĩa lý luận sâu sắc và thực tiễn thiết thực đã phân tích, chúng em đã chọn vấn đề: Tư tưởng ca
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
- -
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN 2016-2017
CỦA NÓ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của TS.Cao Xuân Long Các tài liệu sử dụng phân tích trong đề tài có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định và hoàn toàn chính thống Các kết quả nghiên cứu trong đề tài là do nhóm chúng em tự tìm hiểu và phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
TM NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Thị Bích Thi
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
PHẦN MỤC LỤC 2
PHẦN TÓM TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 6
PHẦN NỘI DUNG 23
Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH 23
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH 23
1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam hình thành tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu Trinh 23
1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới hình thành tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu Trinh 40
1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH 43
1.2.1 Truyền thống văn hóa dân tộc hình thành tư tưởng canh tân về giáo dục của Phan Châu Trinh 43
1.2.2 Tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo hình thành tư tưởng canh tân về giáo dục của Phan Châu Trinh 47
1.2.3 Những tư tưởng tân thư hình thành tư tưởng canh tân về giáo dục của Phan Châu Trinh 49
1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH QUA CUỘC ĐỜI VÀ MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 54
1.3.1 Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng canh tân giáo dục qua cuộc đời hoạt động của Phan Châu Trinh 54
1.3.2 Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng canh tân giáo dục qua những tác phẩm tiêu biểu của Phan Châu Trinh 67
Trang 4Chương 2: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC PHAN CHÂU TRINH 74
2.1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH 74
2.1.1 Quan điểm của Phan Châu Trinh về vai trò giáo dục 74
2.1.2 Quan điểm của Phan Châu Trinh về mục đích và đối tượng giáo dục 80
2.1.3 Quan điểm của Phan Châu Trinh về nội dung và phương pháp giáo dục 92
2.2 ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH 115
2.3 GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH 119
2.3.1 Giá trị trong tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu Trinh 119
2.3.2 Ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu Trinh 127
PHẦN KẾT LUẬN 136
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
PHẦN PHỤ LỤC 146
Trang 5PHẦN TÓM TẮT
Phan Châu Trinh là một trong những nhà yêu nước tiêu biểu của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Trong tình cảnh nhân dân ta bị áp bức nặng nề bởi cùng một lúc hai thế lực là thực dân Pháp và triều đình phong kiến nhà Nguyễn, người chí sĩ ấy đã không chọn con đường quy ẩn
mà vẫn hiên ngang đối chọi với kẻ thù, vẫn trăn trở làm sao để tìm ra con đường giải phóng dân tộc Không đi theo lối mòn dường như lâm vào bế tắc của những nhà yêu nước trước đó, Phan Châu Trinh đã chọn cho mình một hướng đi riêng, mới mẻ và quyết đoán: Ông đã không lãnh đạo người nông dân đứng lên đấu tranh chống Pháp như Hoàng Hoa Thám, cũng không chọn con đường Đông du và bạo động cách mạng như Phan Bội Châu… mà đề xướng đường lối dân chủ với câu khẩu hiệu “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Phương án canh tân này tuy không sử dụng bạo lực để cứu nước, nhưng vẫn gây được tiếng vang lớn khiến thực dân Pháp phải dè chừng, còn nhân dân ta thì đông đảo đứng lên hưởng ứng
Phan Châu Trinh cũng là một trong những người chịu ảnh hưởng bởi các luồng tư tưởng Đông – Tây mạnh mẽ Tư tưởng của ông là sự dung hợp đặc sắc của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Nho giáo – Phật giáo – Đạo giáo) và tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ của phương Tây lúc bấy giờ mà đặc biệt là nước Pháp
Để thực hiện được những đường lối đó, theo ông, trước hết phải
“Khai dân trí” – phải làm cho dân hiểu thế nào là dân chủ và chính thể dân chủ, phải giúp người dân nhận biết được quyền lợi của mình để từ đó mới
có thể giành lại độc lập, tự do, dân chủ cho cả dân tộc mình Cụ thể hơn, ông quan niệm phải cứu nước bằng nội lực của chính mình, cổ vũ ý thức tự cường của quần chúng nhân dân; do đó cần tiến hành cải cách về mọi mặt,
Trang 6dứt khoác vứt bỏ cái cũ cái lạc hậu mới có thể đón nhận cái mới cái tiến bộ,
mà trước hết cần phải quan tâm cải cách đối với giáo dục và thi cử Trọng tâm, theo Phan Châu Trinh là cần đổi mới về đầu óc và tầm nhìn, tầm nhận thức của người dân Ông đề xướng từ bỏ lối học cũ với những tri thức lỗi thời và bó hẹp con người trong những tư duy giáo điều chật hẹp, hướng đến một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại và thực dụng với sự phát triển của khoa học – kĩ thuật
Bên cạnh cải cách giáo dục, Phan Châu Trinh cũng đặc biệt quan tâm đến cải cách đời sống sinh hoạt của người dân An Nam Đó là việc kêu gọi người dân từ bỏ những lề lối, phong tục sinh hoạt cũ đượm màu sắc phong kiến chèn ép con người; mà thay vào đó hãy tiếp nhận những nền văn hoá mới tiến bộ và hiện đại Ông cũng kêu gọi nhân dân chú trọng hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, chấn hưng đất nước, mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho toàn thể dân tộc Việt Nam
Nói tóm lại, những đường lối canh tân khá triệt để của ông đã góp một phương án trả lời cho câu hỏi con đường cứu nước của thời cuộc Mặc
dù đường hướng ấy vẫn còn một số hạn chế - mà sai lầm lớn nhất của cụ Phan chính là việc “ỷ Pháp cầu tiến” trong khi chính thực dân Pháp cũng là một trong những kẻ thù nguy hiểm của chúng ta; thì chúng ta cũng không thể bỏ qua những phương án cải cách táo bạo đáng khâm phục, những gì
mà Phan Châu Trinh đã thực hiện được trong hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc của mình Công lao ấy cùng với những giá trị tốt đẹp trong tư tưởng của Phan Châu Trinh vẫn là bài học muôn thuở của hậu thế, đúc kết từ những cái ông đã làm được và chưa thực hiện được để hôm nay và ngày sau – với mong muốn kiến thiết đất nước, chúng ta sẽ tiếp tục những công việc còn dang dở của người chí sĩ yêu nước họ Phan
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Danh sĩ Thân Nhân Trung đã từng viết: Hiền tài là nguyên khí quốc
gia - điều đó đã được thể hiện rõ nét qua lịch sử hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước của dân tộc Trải qua biết bao thăng trầm lịch sử của các triều đạ ấy rằng hiền tài thời nào cũng có, cũng góp phần làm
định trong điều kiện lịch sử nước ta luôn đứng trước sự tồn vong bởi nạn
bộ ngày nay, giáo dục vẫn đóng một vai trò quan trọng, mang tính tiên quyết Lịch sử đã chỉ ra cách giáo dục đúng đắn của các bậc cha ông đi trướ
ại hiệu quả như thế nào, cũng như hậu quả trong việ
được trọng dụ
Chính vì vậy, muốn thúc đẩy sự phát triển củ ục, nhất là trong thời kì hội nhập, tiến bộ ể
những bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết từ các thế hệ trước đó
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế
kỉ XX, khi thự ợc và biến nước ta thành xã hội thuộc địa nửa phong kiế ều biến động lớn về mọi mặt Tương ứng với điều kiệ ớ ệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc cũng mang tính chất khác trước Băn khoăn lớn nhấ
ủa các nhà tư tưởng lúc bấy giờ là phải xác định được con đường, cách thức đúng đắn để giải phóng dân tộc thoát khỏ
ức, bóc lột của kẻ địch mạnh hơn ta rất nhiề
ều chí sĩ yêu nước đã gắn sự nghiệp giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục đối với thời đại Và
Trang 8trong hàng loạt những phong trào, cải cách nhằm đưa vận mệnh đất nước thoát khỏi cả ổi bật lên mộ ời chí sĩ yêu nước có tư tưởng tiến bộ, biết tiếp thu và áp dụng những cái mới vào hoàn cảnh lịch sử
cụ thể ở Việt Nam – điển hình trong số ớc Phan Châu Trinh – một trong những nhà dân chủ đầu tiên của Việt Nam
Phan Châu Trinh là một trong những nhân vật tiêu biểu trong phong trào Duy Tân đầu thế kỉ XX Ông là một nhà Nho yêu nước có nhiều tư tưởng tiến bộ Có thể xem Phan Châu Trinh là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà Nho yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỉ XX Đặc biệt hơn, ông đã chọn cho mình con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động Ông cho rằng dân chủ cấp bách hơn độc lập và coi việc dùng luật pháp nghiêm minh sẽ có thể ủ bại phong kiến Với lòng yêu nước nồng nàn, cuộc đời của ông luôn gắn bó với vận mệnh của đất nướ ới cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạ
Phan Châu Trinh xứng đáng là một tấm gương sáng để hậu thế noi theo
tin rằng, để san bằng khoảng cách thời đạ ––
ấ - không gì hơn là phải bắt đầu từ
“Khai dân trí” rồi mới “chấn dân khí” là tầm nhìn vượt trội của Phan Châu Trinh: Thấy trước được rằng nếu lực lượng cách mạng
là những giai tầng vô học thì chỉ có thể dùng bạo lực để lật đổ
chưa thể xây dựng một xã hội mới công bằng, văn minh và thịnh vượn
ọ ể khai dân trí Dân phải có hiểu biết và được giác ngộ thì mới chấn hưng dân khí để vùng lên phá bỏ gông xiềng và xây dựng đời sống ấm no, t
Trang 9Phan Châu Trinh không chỉ là tấm gương hướng tới các giá trị nhân sinh mà còn là người đi đầu trong lĩnh vực văn học với thể văn chính luận chặt chẽ và khúc chiết Ngoài ra, điều đó còn được thể hiện trong các tác
phẩm thơ, đặc biệt là tác phẩm Giai nhân kỳ ngộ, dài gấp 2.5 lần Truyện
Kiều, trong Tỉnh quốc hồn ca I và II và hàng trăm bài thơ, bài văn khác
Trong đó, ông không chỉ nêu lên hiện trạng bi thảm của đất nước, ngợi ca lịch sử hào hùng, vạch chỉ ất nước mà còn dành phần lớn nội dung cho đấu tranh kêu gọi cuộc đổi mới toàn diện văn hóa nước nhà, phục hồi độc lập tự
biệt đặc sắc ở Phan Châu Trinh
Một đóng góp rất mới của Phan Châu Trinh trong việc tiếp thu có
hiện cuộc canh tân đất nước phải được từ ời nhận thức
trên xuống dưới, bắt đầu từ việc chính phủ bảo hộ phải mở rộng ban bố các quyề ảo tưởng khi đặt hy vọng vào thiện chí của chính quyền thực dân Tuy là đó là một gợ
cho công cuộc xây dự – ới hiện nay, khi mà nhân dân
đã làm chủ, quyền lực của nhân dân phải được thể hiện tập trung từ cấp cao nhất của nó, phải được thực hiện từ trên xuống dưới, có định hướng, chủ động của bộ máy chính quyền cao nhất Đây là một trong những giá trị mà Phan Châu Trinh
đã để lại, chúng ta cầ
Chính từ những ý nghĩa lý luận sâu sắc và thực tiễn thiết thực đã
phân tích, chúng em đã chọn vấn đề: Tư tưởng canh tân về giáo dục của
Phan Châu Trinh và ý nghĩa lịch sử của nó làm đề tài nghiên cứu khoa học
cấp trường của mình
Trang 102 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn đã khẳng định ở trên, vấn đề về Phan Châu Trinh nói chung và tư tưởng canh tân giáo dục của ông nói riêng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, nhưng tựu chung ta có thể khái quát thành ba khuynh hướng cơ bản sau:
Hướng nghiên cứu thứ nhất, những công trình nghiên cứu về điều kiện, tiền đề và quá trình hình thành tư tưởng canh tân về giáo dục của Phan Châu Trinh, hay nghiên cứu Phan Châu Trinh trong dòng chảy lịch
sử của dân tộc
Đầu tiên, phải nói đến công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam do Viện
Triết học thực hiện gồm 2 tập, với tổng số 944 trang Nhìn chung đây là công trình khá toàn diện, phong phú và sâu sắc về các nội dung tư tưởng
Việt Nam Trong đó, với tiêu đề Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I do
PGS.Nguyễn Tài Thư chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993) Đây
là thành quả sau 20 năm nghiên cứu của nhóm tác giả Trong cuốn sách này
đã được tập thể tác giả kết cấu thành 7 phần, 23 chương: Phần mở đầu với tiêu đề Mấy vấn đề lý luận và phương pháp luận của môn Lịch sử tư tưởng
Việt Nam, nhóm tác giả đã đi sâu phân tích nhằm đưa ra “một quan niệm
phù hợp hơn, sát với thực tế lịch sử hơn, và gắn với chuyên ngành lịch sử triết hơn”1 về những vấn đề về lý luận, phương pháp luận của đề tài Phần
thứ nhất với tiêu đề Tư tưởng thời kỳ tiền sử và sơ sử: Trong phần này, tác
giả đã khái quát thành hai giai đoạn - đó là tư tưởng thời nguyên thủy và tư
tưởng buổi đầu dựng nước Phần thứ hai với tiêu đề Tư tưởng thời kỳ đầu
đấu tranh lâu dài giành độc lập dân tộc (Bắc Thuộc từ cuối thế kỷ II trước công nguyên đến đầu thế kỷ X sau công nguyên): Trong phần này công
1
Nguyễn Tài Thư (1993, Chủ biên), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, T.1, tr.11
Trang 11trình đã khái quát thành ba nội dung: một là, thời đại và khuynh hướng phát triển của tư duy; hai là, ý thức tư tưởng về cộng đồng người Việt và chủ quyền đất nước; ba là, ý thức đạo đức và quan niệm nhân sinh Phần thứ ba với tiêu đề Tư tưởng thời kỳ phục hồi và xây dựng quốc gia độc lập (từ thế
kỷ X đến thế kỷ XIV): Trong phần này công trình đã đi vào trình bày, phân
tích những bước phát triển mới trong tư tưởng nói chung của các nhà tư
tưởng về các mặt như tư tưởng chính trị - xã hội (Chương VIII), tư tưởng quân sự Trần Quốc Tuấn (Chương IX), tư tưởng thiền học thời Đinh, Lê,
Lý, Trần (chương X), hay tư tưởng Nho giáo, và sự phê phán Phật giáo ở cuối thế kỷ XIV (chương XI) Từ sự phân tích khá sâu sắc về lịch sử tư
tưởng từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV, nhóm tác giả đi đến nhận định: đây
“thực sự là một thời kỳ mà các khuynh hướng tư tưởng ở Việt Nam phát triển một cách sôi nổi đầy sinh và hào khí của một dân tộc đã giành được độc lập tự chủ.[…] Những bước phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa của nước Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV đặc biệt trong thời Lý - Trần là
cơ sở và điều kiện cho vườn hoa tư tưởng của dân tộc tươi tốt và có nhiều hương sắc”2
Phần thứ tư với tiêu đề Tư tưởng thời kỳ ổn định và thịnh
vượng của chế độ phong kiến (thế kỷ XV): Nội dung của phần này được giải
quyết qua 4 chương, từ trang 233 đến trang 332 đã tập trung luận giải tình hình chính trị - xã hội, văn hóa tư tưởng, cũng như những ảnh hưởng của
nó đối với việc hình thành tư tưởng thời kỳ này; từ đó công trình đã khái quát những tư tưởng cơ bản của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, và các nhà
sử học thời Lê Phần thứ năm gồm 4 chương, 77 trang (từ trang 333 đến trang 400) với tiêu đề Tư tưởng thời kỳ khủng hoảng và chia cắt của chế độ
phong kiến (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII): Từ việc phân tích những điều
kiện về xã hội, văn hóa tư tưởng, công trình đã khái quát những quan điểm
2
Nguyễn Tài Thư (1993, Chủ biên), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, T.1, tr.150
Trang 12của các nhà tư tưởng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc
Khoan và tư tưởng Phật giáo từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII Phần thứ sáu với tiêu đề Tư tưởng thời kỳ các cuộc chiến tranh nông dân và sụp đổ
của các chính quyền đàng trong, đàng ngoài được nhóm tác giả trình bày
từ chương XX đến chương XXIII nhằm làm rõ: một là, phân tích tình hình
xã hội, văn hóa, tư tưởng ở thời kỳ này; hai là, khái quát các quan điểm của
ba nhà tư tưởng tiêu biểu là Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác và Ngô Thì Nhậm
Tiếp nối tập 1 là tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 2 (Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1997) của tác giả Lê Sỹ Thắng Trong tập
này, ngoài phần Vào đề, Kết luận, Chú thích, Mục lục thì nội dung được kết cấu thành 3 phần, 17 chương với 447 trang sách Trong Phần một với tiêu
đề Một bước phát triển của hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam: Khuynh
hướng tự khẳng định và thành tựu của khuynh hướng này: Ở phần này,
công trình đã làm rõ những nội dung như: một là, Phật giáo bị bác bỏ, Nho giáo giành địa vị độc tôn trong hệ tư tưởng chính thống; hai là, khuynh
hướng và sự cố gắng xây dựng hệ tư tưởng riêng mà Nho giáo là nòng cốt;
ba là, Minh Mệnh và chính sách “Minh Mệnh chính yếu”; bốn là, Nguyễn
Đức Đạt và tác phẩm Nam Sơn tùng thoại Như vậy, từ bốn nội dung này
công trình đã khẳng định rằng các nhà tư tưởng ở giai đoạn này có khuynh hướng muốn xây dựng hệ thống tư tưởng, quan điểm mang màu sắc Việt Nam, tuy vẫn lấy Nho giáo làm nòng cốt, vẫn sử dụng các phạm trù, khái niệm của Nho giáo và vẫn phải dùng chữ Hán; nhưng các quan điểm của các nhà tư tưởng Việt Nam ở thời kỳ này “bao quát nhiều lĩnh vực hơn là nội dung các sách kinh điển của Khổng Mạnh, và mở rộng, bàn kỹ hơn các sách kinh điển
ấy đối với cùng những vấn đề như nhau”3
Trang 13Phần thứ hai với tiêu đề Tư tưởng Việt Nam trước một vấn đề của thực tiễn bảo vệ tổ quốc hồi nửa cuối thế kỷ XIX: Nội dung của phần này
được giải quyết trong 8 chương Từ việc giải quyết những vấn đề cụ thể của lịch sử xã hội đặt ra cho các nhà tư tưởng Việt Nam như: vấn đề về chủ quyền quốc gia, đất nước thống nhất; hay vấn đề về nước, về vua và trung vua, yêu nước thương dân, những tư tưởng về đạo làm người, đến vấn đề nhận diện kẻ thù… Công trình đã trình bày, phân tích những nhà tưởng tiêu biểu như Đặng Đức Tuấn, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Xuân Ôn Từ việc trình bày những nội dung, phân tích những giá trị và hạn chế, công trình cũng đã chỉ ra rằng đối diện với sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, tư tưởng Việt Nam “đang cần được nâng nên một tầm mới,
và - muốn vậy - đang cần một hệ tư tưởng mới cao hơn hệ tư tưởng phong kiến truyền thống”4
Phần thứ ba với tiêu đề Tư tưởng Canh Tân: Nội dung của phần này
được triển khai trong 5 chương (từ chương XIII đến chương XVII) Công trình đã trình bày những vấn đề về quá trình, cũng như những đặc trưng trong tư tưởng canh tân và bảo thủ để đi đến khái quát những quan điểm của các nhà tư tưởng canh tân giai đoan này như: Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… từ đó khái quát những nội dung, giá trị và hạn chế của tư tưởng canh tân thời kỳ này Như vậy, thông qua hai tập của bộ sách này có thể nhận thấy rằng công trình này có nội dung phong phú, hệ thống, và có chất lượng tốt về lịch sử tư tưởng Việt Nam Tuy nhiên, nó cũng chưa thực sự đi sâu khai thác phần tư tưởng triết học trên
các phương diện về thế giới quan, nhận thức luận và nhân sinh quan
Cùng với hướng nghiên cứu trên, còn có tác phẩm Đại cương lịch sử
Việt Nam, (Toàn tập, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003), của GS.Trương
4
Lê Sỹ Thắng (1997), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, T.2, tr.278
Trang 14Hữu Quýnh, GS.Đinh Xuân Lâm, PGS.Lê Mậu Hãn đồng chủ biên Trong tác phẩm này, các tác giả đã nghiên cứu và trình bày một cách khá hệ thống đời sống xã hội trên các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng… của giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX, đến đầu thế kỷ XX Nghiên cứu về sự phát triển
tư tưởng Việt Nam giai đoạn này còn có công trình Sự phát triển của tư
tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám gồm 3 tập
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996), của GS.Trần Văn Giàu Đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ đề cập quá trình chuyển biến của ba hệ tư tưởng nối tiếp nhau, xen kẽ và đấu tranh với nhau, đó là: hệ ý thức phong
kiến; hệ ý thức tư sản và hệ ý thức vô sản Tác phẩm Nho giáo và văn học
Việt Nam trung cận đại (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999) của GS.Trần Đình
Hượu đã nghiên cứu tư tưởng triết lý Nho giáo qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam thời kỳ trung đại và cận đại
Nghiên cứu theo hướng này còn có tác phẩm Bước chuyển tư tưởng
Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Trương Văn Chung và Doãn
Chính đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005), và đề tài Tư
tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX qua một số chân dung tiêu biểu (Mã số: B2004 - 18b - 06) do Vũ Văn Gầu làm chủ nhiệm đề tài
Thông qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các tác giả của các đề tài trên đã phân tích và nêu bật được những vấn đề như: Tiền đề hình thành tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; nội dung, đặc điểm và bài học lịch sử của tư tưởng Việt Nam ở thời kỳ này Trong các công trình viết về giai đoạn cuối thế kỷ XIX còn có tác
phẩm Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX của Lê Thị Lan (Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002) Tác giả đã trình bày khá sâu sắc những điều kiện hình thành các tư tưởng cải cách ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX; cùng một số đóng góp căn bản trên phương diện tư tưởng của các nhà canh tân
Trang 15và có sự so sánh các tư tưởng này của Việt Nam với Nhật Bản, Thái Lan để làm sáng tỏ những nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc các đề nghị cải cách không được hiện thực hóa; qua đó tác giả đã nêu lên vị trí, ý nghĩa của của
tư tưởng canh tân cuối thế kỷ XIX trong lịch sử cũng như trong hiện tại
Hay trong luận án tiến sĩ Bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - giá trị và bài học lịch sử của Phạm Đào Thịnh,
tác giả đã làm rõ ba vấn đề: một là, tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử thế giới;
những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, khoa học - kỹ thuật ở nước ta; những tiền đề lý luận và yếu tố chủ quan của các nhà tư tưởng tạo nên bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đến đầu
thế kỷ XX; hai là, từ những tiền đề hình thành tư tưởng chính trị: tác giả đã
trình bày khái quát nội dung, đặc điểm của bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thông qua tư tưởng của các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, và thông qua các trào lưu tư
tưởng Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục; ba là, trên cơ sở nội dung và đặc
điểm, tác giả đã rút ra giá trị và bài học lịch sử của bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX đối với nhận thức nói chung và công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Cùng với hướng nghiên cứu trên, phải kể đến hai tập Lịch sử tư
tưởng Việt Nam văn tuyển do Trần Nguyên Việt, Viện triết học Việt Nam
chủ biên, trong đó tập 1 trích tuyển các văn bản về lịch sử tư tưởng Việt Nam từ đầu Công nguyên đến cuối thời Lý của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2002 Tập 2 là trích tuyển các bản văn về
tư tưởng Việt Nam thời kỳ Trần - Hồ do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội xuất bản năm 2004 Đặc biệt, trong thời gian gần đây có công trình
Đại cương Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1 do Nguyễn Hùng Hậu
Trang 16chủ biên (Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, năm 2002) Trong cuốn sách này,
ngoài Lời nhà xuất bản và Danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung được kết cấu thành 6 chương: Chương 1 với tiêu đề Một vài vấn đề về phương
pháp luận, nhóm tác giả từ sự khái quát các công trình nghiên cứu trong
nước đã công bố đi đến khái quát các quan điểm khác nhau về câu hỏi Việt
Nam có tư tưởng, tư tưởng triết học hay triết học hay không? Và từ việc
luận giải, phân tích sự khác nhau trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học; cũng như đặc trưng trong tư tưởng phương Tây, phương Đông với
tư tưởng Việt Nam để từ đó cuốn sách đã chỉ ra các phương pháp tiếp cận nghiên cứu tư tưởng Việt Nam đó là: Khi nghiên cứu triết học Việt Nam
“không nên đi từ vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức”5 mà có thể đi theo hai cách: thứ nhất là, đi từ hiện tượng đến
những khái quát có tính chất triết học về nhân sinh quan, đạo lý làm người,
rồi đến thế giới quan; thứ hai là, đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan rồi
đến lý luận đạo đức, đạo lý làm người Ngoài ra, theo công trình này, khi tiếp cận triết học Việt Nam ngoài việc tiếp cận từ các “văn bản mang tính chất bác học” thì cần tiếp cận qua các thơ ca, hò vè, ca dao, tục ngữ, ngụ ngôn, tiếu lâm, phong giao,… hay nghiên cứu tư tưởng của các nhà tư tưởng Việt Nam cần phải có quan điểm toàn diện, nghiên cứu “ở khắp mọi nơi, trong hành vi, trong hành động, trong đối nhân xử thế, trong toàn bộ cuộc đời họ”6
Chương 2 với tiêu đề Cơ sở hình thành và đặc điểm của triết học
Việt Nam, nhóm tác giả đã khái quát cơ sở xã hội đối với việc hình thành tư
tưởng triết học Việt Nam Đặc biệt, nhóm tác giả xuất phát từ việc phân tích ảnh hưởng của phương thức sản xuất châu Á đến việc hình thành tư tưởng triết học của Việt Nam, từ đó đã chỉ ra sáu đặc điểm của lịch sử tư
5 Nguyễn Hùng Hậu (2002, Chủ biên), Đại cương Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nxb Đại học quốc
gia, Hà Nội, T.1, tr.13
6 Nguyễn Hùng Hậu (2002, Chủ biên), Đại cương Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nxb Đại học quốc
gia, Hà Nội, T.1, tr.15
Trang 17tưởng triết học Việt Nam đó là: tư tưởng Việt Nam gắn với chủ nghĩa yêu nước, với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; tư tưởng Việt Nam có hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan trong đó vấn đề trung tâm hàng đầu là vấn đề con người, đạo làm người; tư tưởng triết học Việt Nam là sự thể hiện, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của cộng đồng dân tộc; tư tưởng triết học Việt Nam xét trên bình diện vấn đề cơ bản của triết học thì khuynh hướng duy tâm tôn giáo trội hơn khuynh hướng duy vật vô thần; tư tưởng triết học Việt Nam hướng nội lấy trong giải thích ngoài, biện chứng trong tư tưởng triết học Việt Nam nghiêng về thống nhất,
đi theo vòng tròn tuần hoàn Chương 3 với tiêu đề Vài nét về kinh tế, xã hội
và thế giới quan của người Việt thời tiền sử, nhóm tác giả đã trình bày một
cách khái quát về các giai đoạn trong thời tiền sử, về triều đại, về kinh tế xã hội, văn hóa, tư tưởng, tôn giáo và đặc trưng trong các giai đoạn ở thời kỳ
này Chương 4 có tiêu đề Tư tưởng triết học Việt Nam trong cuộc đấu tranh
thời Bắc thuộc, công trình đã trình bày khái quát quá trình du nhập của Nho
giáo, Phật giáo và Đạo giáo vào nước ta Chương 5 với tiêu đề Tư tưởng
triết học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV (chủ yếu thời Lý - Trần),
nhóm tác giả đã trình bày những tư tưởng triết học của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, binh pháp Trần Quốc Tuấn, và tư tưởng Nho giáo Việt Nam từ thế kỷ X đến XIV, Chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam từ thế kỷ X đến XIV Chương 6 với tiêu đề Tư
tưởng triết học Việt Nam từ thế kỷ XV đến 1858, trong chương này tác giả
đã trình bày khái quát tư tưởng của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Hương Hải thiền sư, Chân Nguyên thiền sư, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm, Minh Mệnh, Nguyễn Đức Đạt; và khái quát chung về thế giới quan, nhân sinh quan triều
Trang 18Nguyễn Như vậy, có thể nhận thấy rằng đây là một trong số ít các công
trình khi nghiên cứu vấn đề này đã lấy tiêu đề Lịch sử tư tưởng triết học
Việt Nam, với 224 trang sách Nhìn chung, đây là một công trình khái quát khá
toàn diện và sâu sắc về những vấn đề trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam; điều đó thể hiện sự nghiêm túc, công phu trong nghiên cứu của nhóm tác giả
Tiếp tục nghiên cứu, phát triển và bổ sung công trình đã công bố
trên, công trình tiếp theo với nhan đề Đại cương Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) Về kết cấu
và nội dung của tác phẩm: ngoài Lời nhà xuất bản, Mở đầu và Tài liệu
tham khảo thì nội dung được kết cấu làm 7 chương, 24 mục với tổng số 483
trang, trong đó có thể nhận thấy từ chương 1 đến chương 6 là sự bổ sung,
kế thừa công trình của các tác giả đã công bố, còn chương 7 là chương bổ sung mới hoàn toàn của công trình này so với công trình trước đó Chương
này với tiêu đề là Triết học Hồ Chí Minh đã tập trung trình bày, phân tích
những vấn đề trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh như: từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh; triết lý chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc - từ truyền thống đến Hồ Chí Minh; triết lý nhân văn từ truyền thống đến Hồ Chí Minh, triết lý “Dĩ dân vi bản”,
“Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm” từ trong lịch sử đến Hồ Chí Minh; triết lý hành động Hồ Chí Minh; hay vấn đề Hồ Chí Minh phát triển sáng tạo triết học Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam Đây là một trong số ít các công trình nghiên cứu khá toàn diện các quan điểm, tư tưởng với tư cách là lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Cũng nghiên cứu về quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt
Nam còn có tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Huỳnh Công Bá (Nxb.Thuận Hóa, Huế, năm 2006) Tác phẩm ngoài Lời nói đầu, Dẫn luận,
Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo, Mục lục thì nội dung tác phẩm được
Trang 19phân thành 4 chương, 14 tiết Trong đó, Chương 1 với tiêu đề Tư tưởng
triết học đã trình bày khái quát về vấn đề vũ trụ quan, nhân sinh quan
Chương 2 với tiêu đề Tư tưởng chính trị đã trình bày nội dung tư tưởng
chính trị qua tư tưởng nhân trị của Nho giáo, qua tư tưởng dân chủ tư sản,
và qua tư tưởng Hồ Chí Minh Chương 3 mang tên Tư tưởng tôn giáo, là
công trình nghiên cứu các tôn giáo lớn ở Việt Nam như: Bàlamôn giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Đạo Cao đài, Phật giáo Hòa Hảo Qua việc trình bày, phân tích nội dung tư tưởng của các nhà tư tưởng trong lịch sử Việt Nam, tác phẩm đi đến nhận định vấn đề cốt lõi trong lịch sử tư tưởng Việt Nam là “yêu nước - dân chủ - nhân ái”, để tạo ra những quan điểm sâu sắc của người Việt Tuy nhiên, do phương pháp tiếp cận của tác phẩm chủ yếu là phương pháp lịch sử, cho nên mặc dù đã có tính hệ thống, nhưng nội dung các quan điểm của các nhà tư tưởng chưa được tác phẩm phân tích một cách toàn diện và sâu sắc để làm rõ hơn lịch
sử tư tưởng Việt Nam
Hướng nghiên cứu thứ hai là những công trình nghiên cứu những khía cạnh trong nội dung tư tưởng Phan Châu Trinh nói chung và tư tưởng Phan Châu Trinh về canh tân giáo dục nói riêng Tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu này phải kể đến những công trình như: Tuyển tập Phan Châu
Trinh (Nguyễn Văn Dương (biên soạn), Nxb Đà Nẵng, 1995); Phan Châu Trinh toàn tập gồm 3 tập (Nxb Đà Nẵng, năm 2005) nhân kỷ niệm 79 năm
ngày mất của người chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh (24/03/2005) do Hội khoa học lịch sử Việt Nam mà trực tiếp là các Giáo sư Chương Thâu, nhà
sử học Dương Trung Quốc và bà Phan Thị Minh – hậu duệ của cụ Phan Châu Trinh – đã sưu tập toàn bộ trước tác của cụ Phan và lần đầu tiên công
bố đầy đủ nhất trong ba tập sách với tổng cộng hơn 2000 trang in khổ lớn Với 3 tập của tác phẩm này, người đọc sẽ có cái nhìn tổng thể về sự nghiệp
Trang 20văn chương và tư tưởng chính trị của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh qua số
lượng lớn tác phẩm của ông còn để lại Tập I của bộ sách sẽ giới thiệu các
tác phẩm văn vần bao gồm thơ, phú và câu đối Ngoài số lượng thơ chữ Hán được xem là các sáng tác hàn lâm của một nhà nho, các tập thơ quan
trọng của Phan Châu Trinh đều được tập hợp ở đây như: Tây Hồ thi tập với
74 bài thơ thất ngôn gồm nhiều nội dung, chủ đề như: thơ thù tạc với bạn, làm khi cảm khái thế sự nhân tình, nói chuyện với ông nghè Trương Gia
Mô, xướng hoạ với một số thi hữu Đặc biệt trong tập thơ này còn có 20 bài liên hoàn hoạ vận, 10 bài tự thuật của Tôn Thọ Tường, đủ thấy sự bức xúc của Phan Châu Trinh trước thái độ theo Pháp của Tôn Thọ Tường lúc bấy
giờ Ngoài ra, trong tập I còn có tập thơ đồ sộ Santé thi tập với hơn 220 bài
thơ ông viết trong thời gian mười tháng bị giam ở nhà ngục Santé của Pháp (từ tháng 9 năm 1914 đến tháng 7 năm 1915) Điểm đặc biệt của tập thơ này là cụ Phan đã dùng thơ thất ngôn bát cú Đường luật để chú giải, vịnh những câu ca dao tục ngữ, thành ngữ của Việt Nam Hơn nữa, tác phẩm
Giai nhân kì ngộ diễn ca cũng được in đầy đủ với phần dịch của cụ Phan (8
hồi) và của ông Trần Tiêu (7 hồi) Tập II của bộ sách chủ yếu là các tác
phẩm chính luận của cụ Phan, đặc biệt có những chuyên khảo quan trọng
như Đầu Pháp chính phủ thư (thư gửi toàn quyền Đông Dương), Đông
Dương chính trị luận, Điều trần gửi hội Nhân quyền và Trung kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký (đây là bài ký quan trọng kể lại đầu đuôi vụ dân biến ở
Trung kỳ vào năm 1908), ngoài ra còn có một số thư tín và bài báo Tập III
giới thiệu các bức thư quan trọng của Phan Châu Trinh trong quãng đời hoạt động cách mạng Lại có cả các mật báo của chỉ điểm Pháp, ghi lại những tư liệu quan trọng như: cuộc gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tại Marseille, thư gửi Phan Văn Trường, thư gửi
Sarraut năm 1922… Ngoài ra, còn có tác phẩm Thư thất điều gửi đương
Trang 21kim hoàng đế An Nam và một số bài báo Đặc biệt, trong tập III này còn
ghi lại hai bài diễn thuyết của Phan Châu Trinh tại Sài Gòn đó là: Đạo đức
và luân lý Đông Tây và Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa Trong bộ
sách đồ sộ này còn sưu tập các bài viết, các ý kiến của những nhà cách mạng, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về Phan Châu Trinh Có thể nói đây là tập sách đầu tiên sưu khảo toàn bộ trước tác của cụ Phan Châu Trinh, dựa vào nguồn di cảo của gia đình, các nguồn tư liệu từ rất nhiều người đi trước đã từng nghiên cứu về Phan Châu Trinh – là một công trình giá trị, đánh dấu những nỗ lực của hậu thế trong việc gìn giữ di sản văn hoá, tư tưởng, tài liệu của một nhà cách mạng tiền bối
Ngoài ra, còn có một số tác phẩm như: Phan Châu Trinh, thân thế và
sự nghiệp của Huỳnh Lý (Nxb Đà Nẵng, 1992); Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh của Đỗ Thị Hòa Hới (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1996); Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, quyển 1, tập 1 (Nxb Đà Nẵng, 2001); Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 2, của Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), (Nxb Đà Nẵng, 2003); Phan Châu Trinh cuộc
đời và tác phẩm của Nguyễn Q.Thắng (Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1997)
Hướng nghiên cứu thứ ba là những công trình nghiên cứu về đặc điểm giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng Phan Châu Trinh về giáo dục Khi nói đến hướng này, trước tiên, cần kể đến các công trình của
Đỗ Thị Hòa Hới đó là: Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh
với tư tưởng tự do - bình đẳng - bác ái của cách mạng Pháp 1789 (Tạp chí Triết
học, số 4-1989), Tư tưởng canh tân sáng tạo đầu thế kỷ XX của chí sỹ Phan Châu
Trinh (Tạp chí Triết học, số 3-2000), Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX (Tạp chí Triết học, số 4-1992) Tác giả Chương Thâu cũng có các
bài viết như: Tinh thần dân tộc và dân chủ của Phan Châu Trinh qua Tỉnh
quốc hồn ca (Số 11-2002); Ảnh hưởng của “Tân thư” trong tư tưởng của
Trang 22Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh (Tạp chí Triết học, số 2-1997) Tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh (Tạp chí Triết học, số 6-2016) Tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh (Tạp chí Khoa học Chính trị số 6-2016)
Từ những công trình đã khái quát ở trên, có thể thấy rằng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, hệ thống về tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu Trinh và ý nghĩa lịch sử của nó Tuy nhiên những công trình ấy vẫn là những tài liệu có giá trị để tác giả kế thừa khi nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề tài, Làm rõ nội dung trong tư tưởng của Phan Châu
Trinh về giáo dục thông qua các quan điểm, vị trí, vai trò giáo dục, đối tượng giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục Từ đó rút ra đặc điểm, giá trị và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Phan
Châu Trinh về giáo dục trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay
Để đạt được mục đích của đề tài, thì nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả đặt ra để giải quyết là:
Một là, trình bày, phân tích, làm rõ những điều kiện lịch sử - xã hội,
tiền đề lý luận và quá trình hình thành, phát triển tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu Trinh
Hai là, trình bày, phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng canh tân giáo
dục của Phan Châu Trinh Thông qua quan điểm vai trò giáo dục, mục đích giáo dục, đối tượng giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục
Ba là, thông qua nội dung tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu
Trinh để từ đó rút ra những đặc điểm, và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng của ông về đổi mới giáo dục đối với sự nghiệp phát triển đất nước ở Việt Nam hiện nay
Trang 234 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Phan Châu Trinh, đặc điểm và ý
nghĩa lịch sử trong tư tưởng của ông
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng Phan
Châu Trinh về canh tân giáo dục và ý nghĩa lịch sử của nó
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu
trên, trong đề tài này, nhóm nghiên cứu dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, hiến pháp và pháp luật của nhà nước về vấn đề giáo dục con người trong việc nghiên cứu đề tài
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp
cụ thể như: lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, so sánh - đối chiếu… và các góc độ tiếp cận của đề tài là từ góc độ giá trị, góc
độ lịch sử triết học
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: lời cam đoan, phần mục lục, phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục; nội
dung đề tài được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết và 11 tiểu tiết
Trang 24PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA
PHAN CHÂU TRINH
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH
Tư tưởng là mặt tinh thần của đời sống xã hội, phản ánh toàn bộ sinh hoạt vật chất và toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất của một thời đại nhất định, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng Trong quá trình hình thành
và phát triển, tư tưởng ở bất kì giai đoạn lịch sử nào cũng đều xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Chính những điều kiện ấy đã trở thành nhân tố quan trọng quyết định đến nội dung, tính chất, đặc điểm, khuynh hướng vận động, biến đổi của tư tưởng chứ không phải hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các nhà tư tưởng Do vậy, trước khi nghiên cứu nội dung tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu Trinh, chúng ta phải tìm hiểu những điều kiện, tiền đề đã góp phần hình thành tư tưởng canh tân của ông
1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam hình thành tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu Trinh
Điều kiện lịch sử - xã hội ở nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
có sức ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng canh tân giáo dục của Phan Châu Trinh cũng như những nhà tư tưởng đương thời Trong đó:
Trang 25Năm 1858, lấy lí do triều đình nhà Nguyễn ngược đãi các giáo sĩ và
cự tuyệt không nhận quốc thư của Pháp đòi tự do buôn bán nên thực dân Pháp đã chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam Ngày 17 tháng 02 năm
1859, “quân Pháp đổ bộ vào thành Gia Định, bị thất thủ Hộ Đốc Võ Duy Ninh chạy về huyện Phước Lộc và tự sát; Viên Án sát Lê Từ cũng tự vẫn Pháp chiếm được 200 khẩu đại bác và rất nhiều vũ khí, lúa gạo, tiền của”7 Đến năm 1863, sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông, Pháp tiếp tục âm mưu chiếm nốt ba tỉnh còn lại ở miền Tây Sau đó, “Pháp lập ra bộ máy cai trị thực dân ở Nam Kỳ - gọi là “Nam Kỳ chống Pháp” Cầm đầu bộ máy cai trị thực dân ở đây là một viên đô đốc người Pháp, do Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp cử ra”8
Khi Pháp mở rộng phạm vi vùng chiếm đóng ra Bắc Kỳ, Yên Thế trở thành đối tượng bình định đầu tiên của chúng Những người nông dân Yên Thế đã nổi dậy chống Pháp nhằm mục đích bảo vệ cuộc sống của chính họ Khởi nghĩa Yên Thế chính là phong trào đấu tranh tự phát của nông dân, tuy thất bại nhưng nó đã phần nào đáp ứng được nguyện vọng giải phóng giai cấp, bước đầu giải quyết vấn đề về ruộng đất của người nông dân Đây chính là cuộc khởi nghĩa lớn nhất của nông dân những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Cuộc đấu tranh này chính là minh chứng cho sức mạnh dẻo dai, kiên cường, tiềm năng và ý chí của giai cấp nông dân – một lực lượng cách mạng to lớn góp phần vào cuộc đấu tranh giành lại độc lập, tự do và dân chủ
Khi chiến tranh thế giới bùng nổ, thực dân Pháp ra sức vơ vét tiền của nhằm mục đích phục vụ chiến tranh, gây ra sự oán hận và căm thù trong lòng nhân dân Trong giai đoạn này đã có rất nhiều cuộc bạo động nổ
Trang 26ra từ miền núi đến đồng bằng, mà “quan trọng nhất là khởi nghĩa Thái Phiên, khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 Năm 1924, sự kiện “kinh thiên động địa” báo hiệu một đợt đấu tranh, cách mạng tại Việt nam sắp diễn ra chính là “ tiếng bom Sa Diện” của Phạm Hồng Thái” định trừ khử toàn quyền Merlin nhưng thất bại”9
Từ năm 1911 đến năm 1925 chính là giai đoạn chuyển biến sâu sắc trong tư tưởng cũng như hoạt động của Phan Châu Trinh Đây chính là khoảng thời gian Phan Châu Trinh sinh sống và hoạt động ở Pháp Lúc này, tình hình Việt Nam đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, tác động trực tiếp đến tư tưởng và hoạt động của ông Năm 1912, “thành lập Việt Nam Phục Quang Hội do Phan Bội Châu chủ xướng và diễn ra sự kiện đánh bom tại khách sạn Hà Nội do tổ chức này thực hiện năm 1913”10
Những sự kiện lịch sử quan trọng trong nước đã đánh dấu bước phát triển của phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam Tuy hầu hết các phong trào diễn ra thất bại, nhưng nó đã đánh thức và cổ vũ mạnh mẽ phong trào chống Pháp, đòi quyền tự do, dân chủ
Đối với những sự kiện lịch sử quan trọng trong nước nói trên, thái độ của Phan Châu Trinh không thật mặn mà, song cũng không hoàn toàn thờ ơ Qua trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Le Journal, Fernand Hanser đăng ngày 03 tháng 5 năm 1913 về cuộc đánh bom ở Hà Nội, Phan Châu Trinh
tỏ ý làm tiếc rằng vụ việc như vậy sẽ còn xảy ra nếu chính phủ Pháp không
thay đổi chính sách cai trị ở Đông Dương Như vậy, “tuy không đồng tình
với các vụ bạo động trong nước, song Phan Châu Trinh rất có ý thức khai thác chúng như là một áp lực để đòi chính phủ Pháp phải thực hiện những cải cách dân chủ ở Việt Nam Và có thể nói những cuộc đấu tranh bằng bạo
Trang 27lực ở trong nước, khách quan có tác dụng như một hậu thuẫn giúp Phan Châu Trinh mạnh dạn đấu tranh hòa bình ở Pháp cho nền độc lập tương lai
ở đất nước, khiến người ta có cảm giác có một sự giao kết ngẫu nhiên giữa phái bạo lực với cuộc đấu tranh hòa bình của Phan Châu Trinh ở Pháp”11
Thứ nhất, Về điều kiện kinh tế, Ngày 22 tháng 02 năm 1902, Đume
tự đắc báo cáo về Pháp: “Đông Dương ngày nay là một thuộc địa lớn, hoàn toàn bình định và tổ chức, có một nền tài chính rực rỡ, một nền thương mại quan trọng, một nền nông nghiệp phát triển nhanh chóng, số thực dân ngày một tăng và có những phương tiện hoạt động cao đẳng, một thiết bị kinh tế hùng hậu đang được xây dựng… Có thể nói rằng thuộc địa Đông Dương của chúng ta làm rạng rỡ văn minh nước Pháp”12 Ngày 01 tháng 8 năm
1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ ở châu Âu, rồi chiến tranh lan rộng khắp thế giới, các nước đế quốc và thuộc địa lúc này cũng bị cuốn vào cuộc chiến Trước tình hình đó, Pháp đã huy động toàn bộ sức người và của
để phục vụ vào chiến tranh, và Việt Nam là một trong số những thuộc địa
bị Pháp đẩy mạnh khai thác Từ năm 1897 đến năm 1914, các nhà máy, xí nghiệp và các công trình đô thị mọc lên bằng xương máu của người dân thuộc địa nhằm mục đích phục vụ công cuộc khai thác này Kinh tế nước Pháp trong chiến tranh bị sa sút trầm trọng, do đó giao lưu buôn bán giữa Pháp và Việt Nam cũng giảm dần, tàu chuyên chở hàng hóa nay dùng để chở động viên vào hải quân Đầu tư của Pháp vào Việt Nam giảm sút mạnh; máy móc công nghiệp Pháp ở Việt Nam thì trì trệ bởi vì nhân viên điều hành máy móc bị tổng động viên đi nhập ngũ; nhà máy, xí nghiệp và xưởng hoạt động của Pháp ở Đông Dương bị đóng cửa
11 Phan Châu Trinh toàn tập (2005), Nxb Đà Nẵng, T.2, tr.10
12 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.112
Trang 28Về nông nghiệp, Việt Nam là nước có nền kinh tế chủ chốt là nông
nghiệp Chính vì thế, nông nghiệp là ngành đầu tư ít mà thu được lợi nhuận rất nhiều Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, trong khi phong trào đấu tranh
vũ trang của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ, thì tư bản Pháp ra sức chiếm đoạt ruộng đất của người nông dân với quy mô lớn, bằng nhiều hình thức khác nhau Bên cạnh những tệ nạn trong ngành nông nghiệp thì còn có rất nhiều loại thuế đánh vào ruộng đất, chính những loại thuế này đã đẩy cuộc sống của người nông dân vào bước đường cùng không lối thoát, làm cho nền nông nghiệp Việt Nam kiệt quệ Việc tăng thuế diễn ra từ năm 1887:
“các loại thuế ruộng đất, mới đem nạp cho Tòa sứ và cho nạp thay bằng bạc thật Năm 1888 mới tăng thuế, lúc ấy chẳng phải chỉ tăng thuế mỗi ngày một nặng, mà số mẫu ruộng đất của các hộ cũng tăng lên gấp bội”13 Nền nông nghiệp nước ta lúc này có sự thay đổi khác biệt so với thời kỳ trước khi xảy ra chiến tranh Bởi vì nền nông nghiệp chính quốc bị tàn phá nặng
nề bởi bom đạn của Đức ngay từ khi chiến tranh thế giới bùng nổ; do đó nhu cầu cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ chiến tranh rất cao; thực dân Pháp buộc phải tăng cường đẩy mạnh phát triển nông nghiệp trồng trọt, đặc biệt là đối với các nước thuộc địa của Pháp mà chủ yếu là ở Đông Dương Bên cạnh đó, thực dân Pháp dường như đã đoán được thời cơ phát triển của ngành cao su, cho nên việc đẩy mạnh phát triển ngành trồng trọt
và chế biến cao su rất được chú trọng
Về thương nghiệp, sau năm 1906, cuộc khai thác thuộc địa thực dân
Pháp đạt kết quả cao đã dẫn đến việc nhập khẩu không chấm dứt, nhưng so với thời kì trước thì nhịp độ đã giảm sút; trong khi đó, xuất khẩu vẫn được đẩy mạnh Pháp đã sử dụng chính sách độc quyền thương mại, hàng hóa của Việt Nam đều dành cho nước Pháp và không được xuất khẩu sang nước
13
Phan Châu Trinh toàn tập (2005), Nxb Đà Nẵng, T.2, tr.305
Trang 29khác, hàng hóa của Pháp thừa ế hoặc kém chất lượng thì nước ta phải mua vào Chế độ mua bán muối, bán rượu và bán thuốc phiện được thực dân Pháp đẩy mạnh: “tửu chính Đông Dương ép dân mua rượu làm khổ dân chúng trong các thôn xã; oán giận chồng chất Xứ Bắc Kỳ chịu nặng nề nhất; xứ Trung Kỳ thì mấy tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa bị hại mà thôi”14 Còn một việc là mối tệ hại chung cho cả ba kỳ, “ấy là việc người của Cục Thương chính sục vào nhà người ta kiểm soát rượu lậu Có lúc không thấy trong nhà người ta có rượu lậu thì đập phá đồ đạc cho sướng tay; nhà người
ta có rượu Thương chính nhưng do để lâu ngày mà độ số có sai thất ít nhiều, hoặc có người dùng rượu Thương chính nhưng có bỏ Trà tàu để trừ độc, nên độ số có sai thất, thì nhất luận bị coi là rượu lậu, nhân dân bị oan không kể xiết Rượu do kẻ bao thầu thuế rượu Đông Dương nấu ra, phần lớn đều bỏ các chất độc, chỉ cần lời nhiều, không đếm xỉa đến vệ sinh Vả lại, vì giá rượu quá cao, nên số người uống rất ít Cục Thương chính bèn thông đồng với quan cai trị, chiếu theo số dân mỗi xã, mỗi thôn chia số rượu cần bán của họ Hàng tháng bắt các lý trưởng mang tiền đến Cục Thương chính, nhận rượu về phát cho dân trong làng, trong xã Vì vậy, mà đến kẻ cùng đinh rất ghét rượu cũng phải bị buộc chịu đói rét, mua rượu về tập uống”15
Thực dân Pháp còn bán rẻ người Nam, họ xem người Nam chính là công cụ, nô lệ hay chính là những con trâu, con bò mà người Pháp có quyền được tùy tiện xử lý Người Pháp đã cướp đi “Nhân quyền” của người
nước Nam: “vì họ cho rằng người nước Nam mọi rợ như trâu ngựa, ta tùy ý
đâm chém Loại tệ hại còn quá hơn là việc các tỳ sở nhàn rỗi không việc”16
Ngoài ra, trong thời chiến, nền thương nghiệp đã có sự chuyển hóa rõ rệt: Trước khi xảy ra chiến tranh thì Pháp nắm độc quyền thị trường ở Việt
14 Phan Châu Trinh toàn tập (2005), Nxb Đà Nẵng, T.2, tr.278
15 Phan Châu Trinh toàn tập (2005), Nxb Đà Nẵng, T.2, tr.278
16
Phan Châu Trinh toàn tập (2005), Nxb Đà Nẵng, T.2, tr.280
Trang 30Nam, nhưng khi chiến tranh xảy ra thì quan hệ thương mại Việt Nam bị giảm sút; vốn đầu tư vào Việt Nam bị hạn chế về nhiều mặt, hàng hóa từ nước Pháp đưa sang thị trường Việt Nam bị giảm sút rất nhiều, hàng hóa rất
ít và lưu thông hàng hóa rất khó khăn Như vậy, tư bản Pháp lúc này đã mất dần
ưu thế trong nền thương mại Đông Dương, mà đặc biệt là Việt Nam
Về giao thông vận tải, đây là một trong những ngành mà thực dân
Pháp chú trọng đến: “Số vốn Nhà nước Pháp cho ngân quỹ Đông Dương vay, một phần được sử dụng vào việc xây dựng giao thông vận tải, hạ tầng
cơ sở cho việc phát triển kinh tế Đông Dương”17
Việc mở mang các tuyến đường sắt được giới tư bản Pháp rất chú trọng, nhằm mục đích chuyên chở hàng hóa và nguyên liệu Đó cũng là phương tiện để chúng đưa quân sang nhanh nhóng, đàn áp những cuộc nổi dậy của nhân dân ta Thực dân Pháp thi hành rất nhiều chính sách xây dựng các tuyến đường giao thông ở nước
ta như đường thủy, đường bộ, đường sông… Khi chiến tranh thế giới xảy
ra, các ngành giao thông vận tải đường bộ và đường thủy phát triển nhanh
so với thời điểm trước chiến tranh: “Một số công ty vận tải được thành lập Bên cạnh hãng ôtô Beniê (Baineir) của Pháp, các hãng ô tô Phạm Văn Phi, Công ty tàu đường biển và đường sông của Bạch Thái Bưởi và Nguyễn Hữu Thu v.v… cũng được đẩy mạnh hoạt động Ngành đường sắt phát triển hơn trước chiến tranh Công ty đường sắt Đông Dương thu được lợi nhuận lớn”18
Về công nghiệp, thực dân Pháp đã “tiếp tục đẩy mạnh khai thác mỏ
nhằm vơ vét tài nguyên, khoáng sản, đồng thời mở thêm một số xí nghiệp công nghiệp chế biến để tăng cường bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt tại chỗ
Trang 31mà không gây ảnh hưởng gì đến nền công nghiệp chính quốc”19 Nền kinh
tế Việt Nam thời kỳ này phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế Pháp Khi chiến tranh thế giới bùng nổ thì vấn đề thông thương buôn bán giữa tư bản Pháp và Việt Nam cũng bị giảm sút, thậm chí là gián đoạn, bởi vì tàu chuyên chở lúc này chuyển sang dùng để chuyên chở hải quân phục vụ cho chiến tranh Nền công nghiệp của Pháp cũng bị sa sút trầm trọng do rất nhiều nhà máy, xí nghiệp phải đóng cửa vì không vận chuyển được máy móc vào phục vụ các khâu sản xuất, làm cho nền công nghiệp nước ta cũng bước vào giai đoạn khủng hoảng Lúc này, thực dân Pháp đã tiến hành
“trước hết ra sức duy trì những cơ sở sẵn có và nới rộng một phần cho các hội buôn, công ti tư sản bản xứ mở mang kinh doanh Mặt khác cố gắng phục hồi những ngành phục vụ trực tiếp cho chiến tranh như sản xuất thuốc
nổ, sửa chữa vũ khí”20 Nền công nghiệp Việt Nam trong những năm đầu xảy ra chiến tranh thế giới đã bị sa sút, sau đó thì dần dần ổn định; có một
số ngành thì bước đầu dần dần phát triển, góp phần làm ổn định nền kinh tế trong nước
Về tài chính ngân hàng, Pháp đặc biệt chú trọng đến vấn đề ngân
sách tài chính ở Đông Dương, Đume đã tiến hành thống nhất tài chính toàn Đông Dương, lập ra ngân sách chung cho năm xứ Nguồn thu ngân sách này chủ yếu là nguồn lợi của các loại thuế, mọi thứ thuế có từ thời phong kiến trước Pháp đều tăng vọt, cộng thêm rất nhiều thứ thuế mới được đặt ra: Thuế thân, thuế đinh đánh vào công dân từ 18 đến 60 tuổi, “Người chết cũng không được miễn thuế, người sống phải đóng thay Nhà nước thực dân buộc từng làng phải nộp đủ mức thuế đã ấn định”21 Bên cạnh đó, thực
19
Nguyễn Quang Lê (2001), Từ lịch sử Việt Nam nhìn ra thế giới, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, tr.314
20 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.186
21 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.115
Trang 32dân Pháp còn tiến hành thu thuế ruộng (thuế điền), tùy tiện đặt ra ba loại thuế: thuế muối, thuế rượu và thuế thuốc phiện Trong khi “ở nước Pháp, nếu có một phòng hút thuốc phiện là bị khám xét, bỏ tù vì tội làm yếu chủng tộc Pháp”22; thì ở Việt Nam, “thuốc phiện được bán công khai, đem
lại hàng năm 15 triệu phơrăng tiền lãi cho Công ti thuốc phiện độc quyền Pháp Khắp đất nước, hầu như chỗ nào cũng có đại lí rượu, đại lí thuốc phiện mang tên “R.A.” hoặc “R.O.” có lá cờ ba sắc của nước Pháp treo trước cửa”23
Về lĩnh vực tài chính, ngân hàng Đông Dương có quyền duy trì chỉ huy tín dụng đối với các lĩnh vực kinh tế trong nước như nông, công, thương nghiệp và giao thông vận tải Ngoài ra, “ngân hàng Đông Dương còn nắm độc quyền phát hành giấy bạc và cho vay nặng lãi”24 Hình thức cho vay ở thuộc địa chính là cho vay nặng lãi, số tiền cho người dân vay rất
ít nhưng lãi rất cao, chính vì thế số nợ ngày càng chồng chất Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho đời sống nhân dân thêm bế tắc
Chính vì những chính sách cai trị hà khắc, bóc lột dã man đó đã góp phần hun đúc nên lòng yêu nước và căm thù giặc trong toàn thể nhân dân
An Nam; thôi thúc người chí sĩ yêu nước họ Phan tìm ra con đường mới, hướng đi mới để giải phóng dân tộc
Thứ hai, Về điều kiện chính trị - xã hội, Việt Nam trong giai đoạn
này có nhiều biến chuyển sâu sắc: Thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác với quy mô lớn từ đầu thế kỉ XX đã làm cho cơ cấu kinh tế Việt Nam có nhiều biến chuyển quan trọng Phương thức bóc lột mới theo lối tư bản chủ nghĩa
đã du nhập vào Việt Nam, bắt đầu xâm nhập các khu vực kinh tế nông,
Trang 33công, thương nghiệp Đồng thời, phương thức bóc lột cũ theo lối phong kiến cổ truyền cũng được thực dân Pháp cố tình duy trì để mang lại lợi ích cho chúng Sự kết hợp giữa hai phương thức bóc lột đó đã dẫn tới sự hình thành phương thức bóc lột thuộc địa bảo đảm siêu lợi nhuận tối cao cho thực dân Pháp và phong kiến tay sai
Để phục vụ kịp thời và đắc lực cho công cuộc khai thác kinh tế, Đume chú ý tới hai yếu tố chính trị là “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt” “Một mặt, Đume tìm mọi cách chia cắt đất nước, chia rẽ dân tộc Việt Nam hòng phân tán lực lượng để dễ bề cai trị Nhưng mặt khác, ông lại quan tâm đến sự thống nhất của bộ máy thuộc địa toàn Đông Dương Đó là sự phức tạp trong tính chất hai mặt của một chính sách dân tộc”25 Với âm mưu xóa bỏ Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới, thực dân Pháp đã thi hành sắc lệnh ngày 17 tháng 10 năm 1887; theo
đó “thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, năm đó mới bao gồm Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì và Campuchia, trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa Ngày 19 – 4 – 1899, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương Việt Nam bị chia cắt làm 3 kì: Bắc
Kì, Trung Kì và Nam Kì với ba chế độ cai trị khác nhau Bắc Kì và Trung Kì là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức; Nam Kì là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm cùng với Lào và Campuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp, hợp thành Liên bang Đông Dương”26
Xã hội Việt Nam từ đầu thế kỉ XX cũng bắt đầu thay đổi khá nhanh: Nhân dân lao động bị bần cùng hóa, xã hội phân hóa ngày càng sâu sắc, nông thôn và thành thị đều có những chuyển biến rõ rệt Những biến đổi về cơ cấu xã hội tất yếu có ảnh hưởng đến tính chất của cuộc đấu tranh
25 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.98-99
26 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.99
Trang 34cách mạng của nhân dân ta đang diễn ra Trong xã hội lúc này, có những giai cấp và tầng lớp mới ra đời như giai cấp công nhân; giai cấp tư sản, tầng lớp tiểu tư sản Đồng thời, các giai cấp, tầng lớp cũ trong xã hội cũng
bị phân hóa một cách rõ rệt, như giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ
Giai cấp công nhân được hình thành do công, thương nghiệp phát
triển mạnh mẽ, làm xuất hiện những người làm thuê, một số khác thì trở thành những người vô sản công nghiệp hiện đại “khác với phương Tây, công nhân Việt Nam chủ yếu xuất thân từ nông dân còn gắn bó nhiều với ruộng đất Họ trở thành công nhân bằng nhiều con đường khác nhau Một
số bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất phải đến hầm mỏ, xí nghiệp kiếm công việc làm Một số khác làm “công nhân theo mùa” Họ tranh thủ tháng ba ngày tám ra đồng làm thuê kiếm thêm ít đồng lương để bổ sung cho thu hoạch nông nghiệp vốn rất thấp kém Số khác là những “phu” hay công nhân bị cưỡng bức, số người này thực dân câu kết với phong kiến bắt các làng xã giao đủ theo quy định để làm đường sắt, đường bộ, công sở Có cả một số tù nhân cũng bị đẩy đi”27 Cùng với đó, giai cấp công nhân công nghiệp tập trung làm nòng cốt cho số công nhân lẻ tẻ khác, họ là những con người có ý thức cao về vấn đề đấu tranh chống lại sự hà khắc, áp bức của thực dân Pháp Chính vì thế, họ đã đứng lên đấu tranh thông qua rất nhiều hình thức như: “bỏ trốn tập thể, công khai bỏ việc, đấu tranh bạo lực phối hợp với các phong trào yêu nước, đưa đơn tố cáo, cử đại biểu đi khiếu tố, mít tin trước văn phòng chủ nô; phát động đình công, bãi công trước những hình thức đấu tranh mới chưa từng có trong lịch sử Việt Nam”28
Sau khi chiến tranh thế giới bùng nổ thì số lượng công nhân tăng mạnh, chính từ những điều kiện trên mà sự trưởng thành của công nhân được bộc lộ rõ nét Thực dân Pháp
27 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.123
28 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.125
Trang 35lúc này cần nguồn công nhân rất lớn để làm việc trong các ngành công nghiệp quốc phòng nhằm mục đích sửa chữa, chế biến và sản xuất vũ khí phục vụ cho chiến tranh
Về giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản, cuối thế kỉ XIX, đô thị
Việt Nam có những nét nổi bật: Đô thị nằm trong guồng quay của phương thức khai thác bóc lột tư bản chủ nghĩa nên đã phát triển theo kiểu đô thị công, thương nghiệp Sự phát triển này đã làm cho đô thị không còn mang nặng tính chất trung tâm văn hóa như trước nữa Chính vì điều này đã làm xuất hiện giai cấy tư sản và tầng lớp tiểu tư sản, số lượng này chưa đông và
có nguồn gốc xuất thân khác nhau trong xã hội Thái độ của giai cấp tư sản
và tầng lớp tiểu tư sản đối với nền kinh tế đất nước và đời sống nhân dân chia làm nhiều hướng khác nhau như: một số người bàn về kinh doanh công, thương nghiệp với ý thức phát triển kinh tế dân tộc; một số khác có ý thức hùn vốn thành lập công ty lớn để có thể cạnh tranh với tư bản Pháp; ngoại kiều và những người hoạt động yêu nước chuyển sang kinh doanh thương nghiệp nhằm hỗ trợ công tác chính trị Chính sự phát triển kinh tế
tư bản chủ nghĩa của dân tộc là cơ sở thuận lợi nhất, tạo điều kiện tiếp thu các trào lưu tư tưởng từ bên ngoài vào
Bên cạnh giai cấp tư sản thì tầng lớp tiểu tư sản ra đời, chiếm số lượng đông đảo bao gồm: thợ thủ công, tiểu thương, người làm việc ở các
cơ sở công hay cơ sở tư nhân (công chức, viên chức), học sinh, sinh viên… Trong những năm xảy ra chiến tranh, tư sản Pháp đã tiến hành nới rộng quy
mô kinh doanh cho tư sản bản xứ Trong lúc này, một số nhà tư sản có vốn lớn đã thu hút hàng ngàn công nhân đến làm việc Tư bản Pháp không còn độc quyền về thị trường ở Việt Nam như trước vì bị tác động mạnh mẽ bởi chiến tranh Do đó, “Tranh thủ thời cơ tư bản Pháp đang gặp khó khăn, ngần ngại trong việc bỏ vốn ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa lại nới
Trang 36rộng thể lệ kinh doanh, tư sản Việt Nam ở Bắc Kì, Trung Kì đã vươn mạnh lên trước tiên”29 Tư sản Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh mở rộng sản xuất kinh doanh với tư bản nước ngoài, từ các khâu như mua nguyên liệu sản xuất, máy móc đến khâu buôn bán các sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp Tiểu tư sản trong thời chiến có số lượng phát triển rất nhanh, họ biết chớp thời cơ để đẩy mạnh phát triển các quy mô sản xuất của mình Cũng trong giai đoạn này, hàng hóa của Pháp trên thị trường Việt Nam dần dần cạn kiệt
Về giai cấp nông dân và bộ phận thợ thủ công, họ đã có trong xã
hội cũ Việt Nam Tuy nhiên vào thời kì này, họ bị bần cùng hóa và phá sản:
“có một điều cần làm rõ là thực dân Pháp sau khi chiếm đoạt ruộng đất của nông dân để lập các đồn điền nông nghiệp (trồng lúa) vẫn phải áp dụng chế
độ bóc lột phong kiến cũ, phát canh thu tô đối với các tá điền, giống hệt như các địa chủ người Việt vì chúng nhận thấy đó là cách làm ít tốn kém, chắc ăn và lời nhiều nhất Thêm vào đó, nạn sưu thuế ngày một nặng, nạn cho vay lãi và cầm cố vẫn duy trì càng làm cho nông dân xơ xác, cuối cùng còn mảnh đất, mảnh vườn nào cũng bị tước đoạt”30
Một bộ phận của tầng lớp tiểu tư sản là thợ thủ công cũng lâm vào tình trạng phân hóa và phá sản, vì họ cũng bị chính sách độc chiếm thị trường của thực dân Pháp bóp nghẹt, trừ một số nghề mĩ nghệ ở các đô thị
có điều kiện phát triển Nói chung, các nghề thủ công và nghề phụ nông thôn đều trì trệ Trước mắt, họ chỉ còn lại mấy con đường: “ở lại làng làm
tá điền cho bọn ăn cướp đất; hay ra thành phố, các khu công nghệ, vùng mỏ
Trang 37làm thuê, nếu cùng đường đành vào làm công trong các đồn điền”31 Do đó,
“Cuộc khai thác của tư bản Pháp càng đẩy mạnh bao nhiêu thì quá trình bần cùng hóa và phá sản của nông dân và thợ thủ công ở nông thôn ngày càng nhanh chóng bấy nhiêu”32 Chiến tranh thế giới bùng nổ, một lần nữa lại đẩy đời sống nhân dân rơi vào cảnh khó khăn chồng chất khó khăn “Kế hoạch thu thuế” đã khiến cho nông dân phải bán cả nhà, trâu bò, ruộng vườn để nộp thuế Nông dân còn phải mua công trái, “phiếu quốc phòng”, góp tiền vào “quỹ chiến tranh” và nộp nhiều thứ tiền cho chính quyền Đông Dương và các địa phương đặt ra
Giai cấp địa chủ Việt Nam cũng bị phân hóa mạnh mẽ Tuy nhiên,
giai cấp này lại được sự giúp đỡ của thực dân Pháp, nên về lĩnh vực kinh tế
và chính trị thì họ lại chiếm ưu thế mạnh Vì vậy: “Một số người kinh doanh công thương nghiệp xuất thân từ địa chủ vẫn cố giữ lấy một phần ruộng đất để phát canh thu tô Một số ít khác, đề phòng công việc kinh doanh bấp bênh, cũng mua một ít ruộng đất cho phát canh thu tô Như vậy, ngoài địa chủ Pháp, địa chủ Nhà thờ, địa chủ quan lại, địa chủ thường, còn
có các địa chủ kiêm công thương Địa chủ phong kiến Việt Nam phát triển hơn trước và trở thành chỗ dựa đắc lực cho thực dân Pháp trong công cuộc khai thác thuộc địa và duy trì trật tự xã hội có lợi cho chúng Với sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phương thức ản xuất phong kiến có tính chất tự cung, tự cấp không còn độc quyền thống trị như trước nữa”33
Chiến tranh bùng nổ, thì quá trình tập trung ruộng đất vào tay những nhà địa chủ phong kiến và tư bản diễn ra càng mạnh mẽ Chính vì thế, quá trình bóc lột sức lao động của người nông dân bị đẩy lên cao trào
31 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Trang 38Sự chuyển biến rõ nét về tình hình chính trị - xã hội Việt Nam lúc này đã có những tác động to lớn đối với tư tưởng canh tân của Phan Châu Trinh, đặc biệt là về vấn đề giáo dục con người
Thứ ba, Về văn hóa – giáo dục, Việt Nam trong thời kỳ này có
tại Đông Dương Bên cạnh đó, nền văn hóa nước ta cũng có một số điểm quan trọng cần chú ý như: “Tình hình “sinh hoạt văn hóa” cũng có biến đổi và phát triển chủ yếu ở các đô thị Ở nông thôn, “văn hóa làng” vẫn tồn tại chính sách “bần cùng hóa” và “ngu dân hóa” Những thói hư tật xấu vẫn được dung dưỡng Nạn cờ bạc không bị cấm mà còn khuyến khích bằng cách mở các sòng bạc để thu thuế Tệ uống rượu không bị hạn chế,
mà dân ta còn bị bắt uống một loại rượu cồn độ nặng do Hãng rượu độc quyền Phôngten (Fontaine) sản xuất trên khắp đất nước Thực dân Pháp còn mở các cơ quan thu mua và các ti bán thuốc phiện để lập quỹ cho Phủ Toàn quyền, chính là trực tiếp khuyến khích nạn nghiện hút Ở nông thôn,
hủ tục ma chay, cưới xin, tệ hương ẩm, nạn thù hằn giữa các phe phái vẫn tồn tại, thêm vào đó nạn bói toán, đồng bóng, mê tín dị đoan ngày càng nặng nề Nhân dân bị thất học đến 95%”34 Chính vì vậy, Bác Hồ đã từng viết: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền
bổ sung cho các công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại”35
Trong những năm chiến tranh thế giới bùng nổ, chính quyền thực dân rất chú trọng đến lĩnh vực văn hóa – tư tưởng: “Đầu năm 1915, Bộ trưởng Giáo dục Mĩ thuật nước Pháp ra chỉ thị gửi tất cả các cơ quan thống
Trang 39trị ở thuộc địa, yêu cầu phải thu thập mọi phương tiện để tuyên truyền cho cuộc chiến tranh “Vì công lý và nhân đạo” của nước Pháp Tiếp đó là các cuộc cổ động, tuyên truyền bằng báo chí, văn học, nghệ thuật v.v… phục
vụ cho mưu đồ của nhà cầm quyền muốn đẩy mạnh việc động viên vét thuế, mộ lính, tán dương công ơn “Nước mẹ”, cổ xúy việc “hợp tác Pháp – Việt” v.v…”36
Tháng 6 năm 1915, “Thư viện truyền bá” được thành lập, chia thành hai bộ phận là “Đông Dương tạp chí” – tuần báo văn chương khoa học và giáo dục, và “Trung Bắc tân văn” – thời báo chính trị kinh tế với mục đích chính là truyền bá văn minh của nước Pháp và đề cao công ơn khai hóa của thực dân Pháp Điểm nổi bật trong tình hình văn hóa - tư tưởng thời kì này là: “Năm 1917, Đông Dương tạp chí đình bản, thay cho
nó là tạp chí Nam Phong với cây bút chính là Phạm Quỳnh – cơ quan tuyên truyền chính thức cho đường lối chính trị của thực dân Pháp tại Việt Nam Núp dưới chiêu bài “yêu nước” phụng sự “Tổ quốc”, tờ báo đã mê hoặc được một số người còn bế tắc hay mơ hồ về con đường đi, dẫn đến hoặc là cộng tác chặt chẽ với Pháp, hoặc là quay lưng lại thực trạng mất nước với ách thống trị tàn bạo đẫm máu của đế quốc Pháp”37
Còn đối với giáo dục, chính sách của thực dân Pháp áp dụng vào
các nước thuộc địa mà đặc biệt là đối với Việt Nam nhằm lợi dụng nền Nho học với chế độ khoa cử lỗi thời để nô dịch nhân dân ta, đào tạo một lớp người chỉ biết phục tùng Trong báo cáo của Đume đọc trước Hội đồng tối cao Đông Dương có đoạn: “Những nguyên tắc đã làm cho trong xã hội người bản xứ, gia đình được vững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ đều rút ra từ các sách Hán học dạy ở các trường làng
36 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.194
37 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.194
Trang 40Ngay từ khi đi học những chữ đầu tiên, họ đã được học ngay những nguyên tắc nền tảng của luân lí Nho giáo, họ đã khắc sâu vào lòng dạ những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ trong cả cuộc đời Chính các trường làng đã đem lại cho họ nền học vấn đó”38
Cuối năm 1907, với mục đích hạn chế ảnh hưởng của phong trào Đông Kinh nghĩa thục và ngăn chặn luồng thanh niên xuất dương sang Nhật học (phong trào Đông Du); đồng thời cổ động các thế lực nước Pháp
ở Á Đông và loại bỏ ảnh hưởng Trung Hoa trên nước ta; và với mục đích đào tạo một tầng lớp “tân học”, “thượng lưu trí thức” mới luôn sẵn sàng cộng tác với chúng, nên thực dân Pháp đã mở trường Đại học Đông Dương Đến năm 1908, xảy ra nhiều biến cố, Toàn quyền Klôbuycôpxki (Klobukovski) đã hạ lệnh đóng cửa trường Năm 1917, Sarraut sang làm Toàn quyền tại Đông Dương, đã mở lại trường đại học để thu phục nhân tâm Các hình thức thi cử thời phong kiến cũng bị dỡ bỏ: Thi Hương bị bãi
bỏ ở Nam Kì từ năm 1867; Thi Hội cũng chấm dứt vào năm 1919 ở Huế, kết thúc chế độ khoa cử phong kiến ở nước ta Và đến ngày 14 tháng 6 năm
1919, Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các trường dạy chữ Hán39
Để tiến hành các chính sách cai trị trong hoàn cảnh mới, thực dân Pháp đã tiến hành thành lập các trường đại học theo kiểu mới: “Tháng 7 năm 1917, Toàn quyền Xarô lập “Đại học cục” nhằm “mở rộng trường Đại học phổ thông để khai dẫn cho kẻ thượng lưu Việt Nam biết văn minh học thuật quý tộc” và gây cơ sở truyền bá thuyết Pháp – Việt hợp tác Trường Pháp Chính trong “Đại học cục” làm nhiệm vụ đào tạo “ngạch quan cai trị” làm việc trong các công sở thực dân, hoặc của Nam triều”40 Chính quyền
38
Nguyễn Văn Kiệm (1979), Lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX – 1918, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.30
39 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.110
40 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, T.2, tr.193