- Làm rõ các vấn đề kiến thức cơ bản, bình luận các vấn đề liên quan vềđiều kiện trở thành chủ thể luật dân sự, đại diện, tài sản chung, hoạt động vàtrách nhiệm của hộ gia đình.. - Làm r
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP NHÓM
BỘ MÔN: Luật dân sự
CHỦ ĐỀ: Các chủ thể khác trong luật dân sự
NHÓM: Bao Thanh Thiên
HÀ NỘI, 10/2012
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3Nội dung Trang
MỞ ĐẦU
1 Hộ gia đình (HGĐ), được công nhận là một chủ thể của quan hệ
pháp luật dân sự (QHPLDS) Việt Nam
2 Điều kiện để HGĐ trở thành chủ thể của QHPLDS:
4 Tài sản chung của hộ gia đình và chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của HGĐ
Trang 4MỞ ĐẦU
Nhóm Bao Thanh Thiên nghiên cứu đề tài “Các chủ thể khác trong luật
dân sự” gồm có hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước.
- Làm rõ các vấn đề (kiến thức cơ bản, bình luận các vấn đề liên quan) vềđiều kiện trở thành chủ thể luật dân sự, đại diện, tài sản chung, hoạt động vàtrách nhiệm của hộ gia đình
- Làm rõ các vấn đề (kiến thức cơ bản, bình luận các vấn đề liên quan) vềđiều kiện trở thành chủ thể luật dân sự, đại diện, tài sản, hoạt động và tráchnhiệm của tổ hợp tác
- Đưa ra các đặc điểm cơ bản của Nhà nước trong quan hệ phápluật dân sự
- Tìm ra các điểm tiến bộ và hạn chế về quy định BLDS 1995
và so sánh với các quy định khác liên quan đến bài nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài nhóm Bao Thanh Thiên sử dụng tổng hợpcác phương pháp duy vật biện chứng Mác – Lênin, phương pháp so sánh,phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp lịch sử, … Song tập trung vàocác phương pháp sau:
Phương pháp biện chứng Mác – Lênin: đây là phương pháp để nhómnghiên cứu các quy phạm, chế định, quan hệ, những đặc điểm, quy luật,… của
đề tài nghiên cứu “các chủ thể khác trong luật dân sự”.
Trang 5Phương pháp so sánh: khi nghiên cứu, nhóm so sánh các chủ thể khác trong
bộ luật dân sự 2005 với các chủ thể khác trong bộ luật dân sự 1995 Qua so sánhchúng ta có thể thấy xu hướng phát triển của các quy phạm, chế định, quan hệ
về vấn đề nghiên cứu trong bộ luật dân sự 2005 Đồng thời nhóm có so sánh,liên hệ, nhìn sang pháp luật thế giới về quy định chủ thể khác trong pháp luậtdân sự Nhờ vậy, chúng ta thấy được đặc điểm của các chủ thể khác trong phápluật dân sự Việt Nam, học hỏi kinh nghiệm các nước khác đồng thời phê phánnhững quan điểm sai lầm về những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của bộ luậtdân sự nói chung và các chủ thể khác trong luật dân sự nói riêng
Gồm 4 chương và phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
1 Hộ gia đình (HGĐ), được công nhận là một chủ thể của quan
hệ pháp luật dân sự (QHPLDS) Việt Nam:
BLDS 1995 cũng như BLDS 2005 không hề có định nghĩa nào về HGĐ màchỉ đưa ra điều kiện để một hộ gia đình là chủ thể của QHPLDS
Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này1:
1 Giáo trình Luật dân sự (2007), Học viện tư pháp, NXB Công an nhân dân, tr 115 - 116.
Trang 6Nhóm ý kiến thứ nhất thì không chấp nhận HGĐ là chủ thể của QHPLDS.
Họ lí giải rằng:
Thực chất HGĐ là một nhóm các cá nhân có tư cách chủ thể độc lập vớinhau, có tài sản chung, có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau và có người đại diệncho nhóm tham gia vào các quan hệ dân sự
Chủ thể QHPLDS chỉ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, việc quy địnhHGĐ là chủ thể của QHPLDS sẽ hạn chế quyền tự do của cá nhân, của thànhviên HGĐ
Các đặc thù về địa vị pháp lí và hoạt động của chủ thể này đã được quyđịnh trong các văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật đất đai, Luật Bảo vệ
và phát triển rừng
Ở nhóm ý kiến thứ nhất, nhóm ý kiến này đã không hướng đến nhiệm vụ,chức năng, tầm quan trọng của HGĐ trong PLDS và trong đời sống con người ViệtNam, mà chỉ chú ý đến địa vị pháp lý của các chủ thể Vậy tại sao HGĐ được coi làmột chủ thể của QHPLDS Chúng tôi cho rằng gồm những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, cần trở lại thời điểm lịch sử khi mà trong BLDS 1995 bắt đầu cóquy định về hộ gia đình 9 năm kể từ Đại hội Đảng lần VI năm 1986 chấp thuậnchính sách Đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước, và chuyển đổi nền kinh tếtheo hướng kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội Khoảng giữa thậpniên 1990, Việt Nam bắt đầu hội nhập vào cộng đồng quốc tế 1995, 28-6 Đạihội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành khẳng định tiếp tục đổi mới, pháttriển đất nước theo định hướng XHCN và bầu đồng chí Đỗ Mười làm Tổng bíthư 27-7, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, cùng vớinhững nỗ lực quốc tế giải quyết vấn đề người tị nạn, viện trợ phát triển choĐông Dương Những sự kiện trên đã khẳng định đường lối phát triển kinh tếcủa nước ta theo hướng kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó
Trang 7rất cần chú trọng từ các hình thức kinh tế quy mô nhỏ, đến quy mô rất lớn do đó
hộ gia đình là một hình thức kinh tế quan trọng, phổ biến ở nước ta
Thứ hai, về mặt xã hội, mặt bằng dân trí của nước ta còn thấp, người dânchủ yếu vẫn sống bằng nghề nông, lâm, ngư nghiệp Sản xuất kinh tế còn phụthuộc vào kinh nghiệm mà ít khi cập nhật các công nghệ hiện đại trên thế giới.Mặt khác, truyền thống của người Việt ''trọng tình hơn trọng lý'', ''một giọt máuđào hơn ao nước lã'', do đó kinh tế HGĐ ra đời là hệ quả tất yếu, vì nó có nhiềuđiều kiện để thâm nhập sâu vào đời sống của người Việt, và kinh tế HGĐ xuấthiện sẽ là khởi nguồn cho sự phát triển kinh tế với quy mô lớn hơn
Thứ ba, trong hệ thống pháp luật nước ta cũng công nhận kinh tế HGĐ.Điều 21 Hiến pháp 1992 khẳng định kinh tế hộ gia đình cần được khuyến khích
và phát triển Điều 48, Luật đất đai 2003, ''trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cùng sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng tổ chức đồng quyền sử dụng'' Điều 3, Luật thủy sản 2003, ''cá nhân trong Luật này là người trực tiếp hoạt động thủy sản hoặc người đại diện của hộ gia đình đăng ký kinh doanh hoạt động thủy sản ''
Nhóm ý kiến thứ hai thì chỉ đề nghị quy định HGĐ là chủ thể của QHPLDSduy nhất trong quan hệ pháp luật về quyền sử dụng đất
Theo chúng tôi nhóm ý kiến này lại hạn chế phạm vi hoạt động của HGĐ,chỉ công nhận HGĐ trong quan hệ pháp luật về quyền sử dụng đất Điều nàycũng có thể là do họ cho rằng đa phần hộ gia đình sẽ có kinh tế chung về đất đai
vì do tổ tiên để lại, hay từ thừa kế nhưng họ lại không nhìn nhận trực tiếp đếnmục đích của HGĐ ra đời cũng góp phần vào phát triển kinh tế nước ta, mà bắtnguồn từ sản xuất kinh tế nhỏ lẻ, với một số ngành và lĩnh vực chủ chốt khácnhư nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp…
Nhóm ý kiến thứ ba thì tán thành quy định HGĐ là chủ thể của QHPLDS
Trang 8Theo nhóm chúng tôi, chúng tôi đồng ý HGĐ là một chủ thể của QHPLDS,tức là tán thành với nhóm ý kiến thứ ba.
2 Điều kiện để HGĐ trở thành chủ thể của QHPLDS:
Ðiều 106 Hộ gia đình
Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức
để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.
Theo điều 106, BLDS 2005 thì gồm hai điều kiện để HGĐ là chủ thể của QHPLDS
Các thành viên có tài sản chung
Cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung
Ngay trong từ ''gia đình'' đã nói rằng các thành viên phải của gia đình phải
là những người có cùng huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc hôn nhân (Theođiều 8 khoản 10 Luật hôn nhân gia đình) Do đó có thể loại ra những nhómngười không thỏa mãn các yếu tố trên
Tài sản chung của hộ gia đình thì nhóm chúng tôi chia làm ba loại: Thứnhất là tài sản do các thành viên đóng góp và cùng nhau tạo nên Thứ hai là tàisản do được tặng chung, thừa kế chung Thứ ba là tài sản mà các thành viên thỏathuận là tài sản chung (Cụ thể điều 108 BLDS 2005)
Các thành viên phải cùng đóng góp công sức để tạo tài sản chung này Điềunày nói lên rằng không phải tất cả các thành viên trong gia đình đều là thànhviên của HGĐ trong QHPLDS nếu họ không có đóng góp công sức hoặc tài sảnchung Cũng có một điều lưu ý ở đây là thành viên của HGĐ không nhất thiết
Trang 9phải đóng góp tài sản ngay từ đầu, mà có thể trong quá trình sản xuất chung mà
họ có đóng góp tài sản chung
Xin nêu một ví dụ: gia đình ông A, có hai người con tên C và D, đượcUBND huyện TP Cần Thơ cấp 1.000m2 đất nông nghiệp cho cả hộ Vài nămsau D lên TP.HCM học đại học và làm việc luôn Trong thời gian này hộ ông A
đã được người bà con xa tặng cho 1.000m2 đất nông nghiệp ở gần nhà Đồngthời hộ ông A cũng có nhận chuyển nhượng thêm 1.000m2 đất thổ cư Sau đó, Cyêu cầu phân chia tài sản của hộ, lúc này phải xác định quyền của D như thếnào, có được chia tài sản không, nếu có thì những tài sản nào?
Theo Tiến sĩ Tuấn Đạo Thanh2, Trưởng phòng công chứng số 3 TP Hà Nộicho rằng vụ việc này xử lý như sau với 1.000m2 đất được UBND huyện cấptrong thời kỳ D vẫn đang cùng gia đình sản xuất nông nghiệp thì D vẫn có quyềnnhận tài sản phân chia đối với phần đất này Đối với 2.000m2 đất sau này là tàisản mà cả hộ được nhận tặng cho chung và nhận chuyển nhượng thì D không cóquyền được phân chia, do đã không còn là thành viên HGĐ
Hộ gia đình được hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất khác do pháp luật quy định Điều nàychứng tỏ rằng hộ gia đình không giống như cá nhân hay pháp nhân mà hộ giađình bị giới hạn lĩnh vực sản xuất khi tham gia Do đó tư cách chủ thể của hộ giađình phụ thuộc vào việc tham gia hoặc không tham gia vào một quan hệ dân sự,phụ thuộc vào mục đích giao dịch và lĩnh vực giao dịch
Ví dụ như trong hoạt đông mua bán một ngôi nhà, thì không phải là việcđóng góp công sức cho hoạt động kinh tế chung, khi đó bên bán không phải là
hộ gia đình mà các thành viên trong gia đình khi đó tồn tại với tư cách cá nhân.Sau đây để có thể hiểu rõ hơn về điều 106 trong BLDS 2005, có kế thừahay tiến bộ gì so với quy định tương tự ở BLDS 1995, chúng tôi đã so sánh:
2 Tìm hiểu các chủ thể hộ gia đình trong pháp luật Việt Nam hiện nay, Tiến sĩ Tuấn Đạo Thanh,
hocvientuphap.edu.vn
Trang 10số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do
do pháp luật quy định là chủ thể khi pháp luật quy định là chủ thể trong cáctham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh quan hệ dân sự đó
Bên cạnh đó, pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
đã quy định hộ gia đình là một trong những chủ thể của quan hệ giao đất, giaorừng, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất Do đó, tài sản chung của hộ giađình ngoài những loại tài sản đã được quy định trong BLDS năm 1995 như: tàisản do các thành viên cùng nhau tạo lập nên, được tặng cho chung, tài sản màcác thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ, quyền sử dụng đất hợp pháp,
Trang 12BLDS năm 2005 còn bổ sung thêm các loại tài sản khác cũng là tài sản chungcủa hộ gia đình như: quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình cho phùhợp với pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng hiện hành.
Có thể nói những quy định BLDS 2005 khá rõ ràng nhưng vẫn để lại nhữngkhoảng trống để điều luật có thể được áp dụng mềm dẻo trên thực tế Tuy nhiêntrên thực tiễn việc áp dụng HGĐ vẫn chưa thống nhất, vẫn không có sự phânbiệt rõ ràng giữa HGĐ trong sổ hộ khẩu và HGĐ trong PLDS
3 Đại diện của hộ gia đình:
Ðiều 107 Ðại diện của hộ gia đình
1 Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.
Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự.
2 Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.
Có thể nói khi đọc nội dung điều 107 này chúng tôi thấy rằng đây là mộtquy định tùy nghi và không hề có một quy định bắt buộc nào về đại diện của hộgia đình, trừ việc người này là người đã thành niên và có quan hệ huyết thống
Do đó có thể tự suy ra rằng đại diện của hộ gia đình có thể do các thành viêncùng nhau thỏa thuận bầu lên, hoặc do vai trò quan trọng của họ trong sản xuấtkinh tế chung
Từ khi BLDS 1995 ban hành thì thông thường tên chủ hộ trong sổ hộ khẩu
là người đại diện cho hộ gia đình Nhưng có một vấn đề ở đây là nếu chủ hộtrong sổ hộ khẩu mà không đóng góp vào kinh tế chung cho HGĐ thì sao? Rõ
Trang 13ràng là khi đó chủ hộ không phải là thành viên của HGĐ trong QHPLDS Vìngay trong nội dung của sổ hộ khẩu đã không cung cấp số lượng tài sản hayquyền sở hữu của các thành viên Đây cũng là lưu ý là không nên đồng nhấtHGĐ trong PLDS với HGĐ trong sổ hộ khẩu.
Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của
hộ trong quan hệ dân sự Ủy quyền đó mang tính tạm thời và trong một thời gian
có hạn Tuy nhiên ở điều 107 này cũng không nói rõ là nếu chủ hộ ủy quyền chongười không có đủ năng lực trách nhiệm dân sự hoặc người đủ năng lực tráchnhiệm dân sự nhưng đã không hoàn thành tốt nghĩa vụ dân sự, với tư cách đạidiện cho HGĐ khi giao dịch, thì giao dịch dân sự đã được thiết lập với ngườikhác sẽ giải quyết như thế nào? Phải chịu nghĩa vụ dân sự như thế nào?
Và trong Giáo trình Luật dân sự của Bộ Tư pháp đã cho rằng hộ gia đìnhphải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do ngườiđại diện thực hiện bằng tài sản chung của hộ Nếu tài sản không đủ để thực hiệnnghĩa vụ chung của hộ thì thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sảncủa riêng mình.3
Về quy định của đại diện HGĐ ở BLDS 2005 giữ nguyên quy định tươngứng ở BLDS 1995
4 Tài sản chung của hộ gia đình và chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung:
Ðiều 108 Tài sản chung của hộ gia đình
Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ.
3 Giáo trình Luật dân sự(2007), Học viện tư pháp, NXB Công an nhân dân, tr 116.
Trang 14Ðiều 109 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình
1 Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản
chung của hộ theo phương thức thỏa thuận.
2 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.
Việc chiếm hữu, sử dụng tài sản chung của hộ thì theo phương thức thỏathuận Còn việc định đoạt phải có sự đồng ý của thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên.Xung quanh vấn đề này xin được bình luận như sau:
Thứ nhất, trong Bộ luật lao động đã công nhận người từ đủ 15 tuổi trở lên
có thể tham gia lao động Tức là các nhà làm luật đã nghiên cứu khá kỹ về thểtrạng và sinh lý của những người này, điều này hoàn toàn phù hợp với việc cũngcoi người từ đủ 15 tuổi trở lên có vị trí khá quan trọng trong HGĐ ở PLDS.Thứ hai, như đã nói ở trên tài sản chung của hộ gia đình ngoài việc là tàisản của chung mà còn cần có điều kiện là các thành viên cùng đóng góp, tạo nênhoặc được cho, được thừa kế hoặc thỏa thuận là tài sản chung
Thứ ba, việc thỏa thuận của HGĐ và việc xin ý kiến đồng ý của các thànhviên từ đủ 15 tuổi trở lên liệu có được đảm bảo khi mà ngay từ trong quy địnhcủa BLDS 2005 đã không có việc yêu cầu HGĐ phải đăng ký số lượng thànhviên hay công bố số lượng thành viên Điều này không thể dẫn đến một số hậuquả trên thực tế, khi mà lợi ích của các thành viên trong hộ gia đình trái ngượcnhau
Thứ tư là tại sao có sự phân biệt giữa chiếm hữu, sử dụng, định đoạt ở đây
vì nhóm chúng tôi chưa được học về quyền sở hữu trong PLDS nên chưa thể trảlời được
Trang 15Có một ý kiến cho rằng có một vài sự không thống nhất trong quy địnhpháp luật ở đây Đó là ngay trong các giao dịch liên quan đến quyền sử dụngđất, tại khoản 2 điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ–CP, thuộc quyền sử dụngchung của HGĐ phải được tất cả các thành viên có năng lực hành vi dân sựtrong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên Mà người có năng lực hành vi dân sựbắt buộc phải từ đủ 18 tuổi trở lên.4
So sánh quy định tương ứng của BLDS 2005 và BLDS 1995
Quyền sử dụng đất hợp pháp củasản khác mà các thành viên thỏa thuận hộ gia đình cũng là tài sản chung của
là tài sản chung của hộ
1 Các thành viên của hộ gia
đình chiếm hữu, sử dụng tài sản chung
4 Tìm hiểu các chủ thể hộ gia đình trong pháp luật Việt Nam hiện nay, Tiến sĩ Tuấn Đạo Thanh,
hocvientuphap.edu.vn
Trang 16của hộ theo phương thức thỏa thuận.
2 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớncủa hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối vớicác loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lênđồng ý
Quy định tương ứng của BLDS 2005 so với quy định ở BLDS 1995 được
bổ sung một số vấn đề như tài sản chung của hộ nhờ được thừa kế chung vàthêm quy định về chiếm hữu, sử dụng, định doạt tài sản chung của hộ
BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm quy định về chiếm hữu, sử dụng, địnhđoạt tài sản chung của hộ gia đình (Điều 109) Theo quy định mới này thì cácthành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theophương thức thoả thuận Tuy nhiên, việc định đoạt tài sản chung là tư liệu sảnxuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình được quy định chặt chẽ hơn tuỳtheo từng trường hợp cụ thể Nếu so sánh với các tài sản khác, thì tài sản là tưliệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình thường có ý nghĩa rấtlớn và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội của cả hộ gia đình nênviệc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ giađình thì cần phải được tất cả các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.Đối với các loại tài sản chung khác của hộ gia đình thì việc định đoạt tài sản nàychỉ cần được đa số thành viên của hộ gia đình từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồngý
Trang 175 Trách nhiệm dân sự của HGĐ:
Ðiều 110 Trách nhiệm dân sự của hộ gia đình
1 Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình.
2 Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình.
Câu hỏi đặt ra ở đây là những thành viên nào phải chịu trách nhiệm liên đớibằng tài sản của mình Ở điều 109 BLDS có nhắc đến việc khi muốn định đoạttài sản chung đáng giá của HGĐ phải xin ý kiến của thành viên từ đủ 15 tuổi trởlên Do đó có thể thấy thành viên của HGĐ trong PLDS có cả những người chưathành niên cũng là thành viên, tuy nhiên phải là những người đủ tuổi lao động.Tuy nhiên họ là thành viên của HGĐ nhưng chưa chắc họ có đủ tài sản riêng đểthực hiện trách nhiệm liên đới, đặc biệt là người chưa thành niên, vẫn đang ởtuổi đi học chưa đi làm
So sánh với quy định tương ứng ở BLDS 2005 và BLDS 1995
Điều 110 Trách nhiệm dân sự của Điều 119 Trách nhiệm dân sự của
hộ gia đình (sửa đổi, bổ sung) hộ gia đình
1 Hộ gia đình phải chịu 1 Hộ gia đình phải chịutrách nhiệm dân sự về việc thực hiện trách nhiệm dân sự về việc thực hiệnquyền, nghĩa vụ dân sự do người đại quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại
diện của hộ gia đình xác lập và thực diện xác lập và thực hiện nhân danh hộhiện nhân danh hộ gia đình gia đình
Trang 182 Hộ gia đình chịu trách 2 Hộ gia đình chịu tráchnhiệm dân sự bằng tài sản chung của nhiệm dân sự bằng tài sản chung của
hộ, nếu tài sản chung của hộ không để hộ, nếu tài sản chung của hộ không đểthực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì
các thành viên phải chịu trách nhiệm các thành viên phải chịu trách nhiệmliên đới bằng tài sản riêng của mình liên đới bằng tài sản riêng của mình
Trên thực tế thì vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc xác định tư cách chủthể của HGĐ trong PLDS, HGĐ trong BLDS hoàn toàn không đồng nhất vớiHGĐ trong sổ hộ khẩu Nhưng trên thực tiễn thì việc không hề tách bạch Điểnhình là trong lĩnh vực công chứng ở nước ta
6 Phân biệt tư cách chủ thể của cá nhân trong HGĐ và cá nhân
trong pháp nhân
trong hộ gia đình là nhân và cần có sự côngnhững người trong gia nhận, cho phép, đề nghịđình có các quan hệ thành lập của cơ quanhuyết thống, nuôi dưỡng Nhà nước có thẩm quyền
và hôn nhân cùng nhautạo lập nên, do thỏathuận
viên hộ gia đình là những cần là các cá nhân này có
người trong gia đình có quan hệ huyết thống,các quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay hôn
Trang 19nuôi dưỡng và hôn nhân nhân Chỉ cần là các cá
nhân có đầy đủ năng lựcpháp luật dân sự
hộ gia đình thuộc sở hữu nhân là tài sản riêng, độcchung của các thành lập, không phụ thuộc vàoviên, được tạo dựng bởi tài sản của cá nhân trongcác thành viên (có thể pháp nhân Tài sản docác thành viên đóng góp, các thành viên sáng lậpcùng nhau tạo lập nên góp vốn nên
- Các thành viên
trong phá nhân khôngchung và các tài sản khác
mà các thành viên thỏa phải dùng tài sản riêng
thuận là tài sản chung) của mình để thực hiện
các nghĩa vụ của phápnhân
4 Trách nhiệm với trách nhiệm với tài trách nhiệm với tài
trách nhiệm vô hạn hạn trong phạm vi tài sản
của pháp nhân
5 Năng lực chủ thể Thông qua cá nhân Người đại diện với
là chủ hộ với năng lực năng lực chủ thể rộngchủ thể hạn chế hơn hơn
6 Phương thức sử Theo phương thức Tài sản thuộc quyềndụng tài sản thỏa thuận giữa các chiếm hữu, sử dụng, định
thành viên trong hộ đoạt trong phạm vi
nhiệm vụ và phù hợp với
Trang 20xa mua láng giềng gần'' Nó hoàn toàn là một chủ thể quan trọng trong PLDS.
Trang 21Mặc dù cũng còn một vài ý kiến không tán thành THT là chủ thể của QHPLDS.Những ý kiến đưa ra này thậm chí là gay gắt hơn ở HGĐ trong việc không coiTHT không đủ tư cách pháp lý là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự:
Trong ngày 17-2-2012, Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách tiếp tụcthảo luận về dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi) đã bàn về vấn đề có nên hay không
để THT và HGĐ là chủ thể của QHPLDS
Họ cho rằng: Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng tự nguyện từ
3 cá nhân trở lên, có cam kết về nghĩa vụ giữa họ với nhau; liên đới trách nhiệm
về tài sản riêng của mình, theo phần tương ứng với phần đóng góp của mỗingười, trừ khi họ có thỏa thuận khác về mức chịu trách nhiệm Như vậy, vềnguyên tắc tổ hợp tác phải chịu trách nhiệm vô hạn, là một tổ chức đối nhân,đây là điểm cơ bản để phân biệt tổ hợp tác với các hợp tác xã là một pháp nhân
Có thể nói, tổ hợp tác là một tổ chức đơn giản cả về hình thức thành lập, cũngnhư về nội dung hoạt động
Mặt khác, người đại diện cho tổ hợp tác khi tham gia giao dịch dân sựthường với tư cách, uy tín cá nhân nhiều hơn Trên thực tế, chuyện thường gặp
là khi tổ hợp tác có nhu cầu vay vốn ngân hàng để đầu tư sản xuất, ngân hàngkhông chấp nhận thế chấp tài sản chung của tổ hợp tác, mà cần phân định rõmức vay của từng cá nhân tương ứng với tài sản của từng thành viên trong tổ.Hoặc yêu cầu tổ chức Hội Nông dân đứng ra bảo lãnh tín chấp cho từng cá nhân
tổ hợp tác như với tư cách là hội viên nông dân
Với những quy định pháp luật dân sự trước đây về tổ hợp tác, khi áp dụngvào thực tiễn đời sống có những bất cập như đã nêu, cho thấy tổ hợp tác không
có đủ yếu tố cần thiết để xác định trách nhiệm dân sự, không đủ tư cách pháp lý
là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Do vậy, đề nghị không quy định tổhợp tác là một chủ thể được điều chỉnh trong BLDS sửa đổi lần này
Trang 22Tuy nhiên việc công nhận hay không còn đang là vấn đề tranh cãi Khôngnên phủ nhận vai trò của THT đối với tình hình kinh tế nước ta Trong năm
2007, nước ta đã có 320 nghìn THT, các THT đã giải quyết việc làm cho hàngchục nghìn lao động góp phần đẩy lùi nạn thất nghiệp ở nước ta, từ đó tạo công
ăn việc làm, nâng cao chất lượng sống của nhiều người dân nông thôn
Nghị định 151/2007/NĐ-CP và Thông tư 04/2008/TT-BKH hướng dẫn tổchức, hoạt động của tổ hợp tác (THT) với những đặc điểm cơ bản: THT do các
cá nhân tự nguyên thành lập, là một loại hình của kinh tế tập thể, của tổ chức xãhội dân sự số lượng thành viên tối thiểu là 3 người, UBND cấp xã chứng thựchợp đồng hợp tác; THT không phải là pháp nhân, hoạt động vì mục đích kinh tế,
xã hội, sở thích nhóm không trái với pháp luật
Theo quy định hiện hành thì các tổ sau là THT:
Thứ nhất: Tổ vay vốn của hệ thống ngân hàng nông nghiệp Việt Nam triểnkhai cho vay kinh tế hộ hình thức như tổ tín chấp, tổ liên đới trách nhiệm, tổtương hỗ
Thứ hai: Tổ tiết kiệm và vay vốn do Ngân hàng chính sách xã hội quy định
5 thành viên và tối đa 50 thành viên cư trú trên cùng một địa bàn thôn, ấp,bản , được UBND cấp xã chứng thực
Thứ ba: Các THT hoạt động theo ngành, nghề, giới, sở thích nhóm Số liệu
340000 THT hiện nay do Liên minh HTX Việt Nam đưa ra chưa tính đến tổ thứnhất, thứ hai
Từ số liệu 150.000 tổ vay vốn (năm 2006) của Ngân hàng Nông nghiệpViệt Nam, 222000 tổ tiết kiệm vay vốn (năm 2006) do Ngân hàng Chính sách xãhội công bố đến nay ước tính cả nước có gần 1 triệu THT trong đó có khoảng
100000 tổ thuộc các chương trình, dự án, các nhóm đồng sở thích như câu lạc
bộ, tổ tương trợ, nhóm liên kết, đội thợ, nhóm bạn,…5
5 Các loại hình tổ hợp tác, mối liên hệ với chính quyền địa phương, TS Nguyễn Mạnh Hùng, vca.org.vn
Trang 23Số các THT có hợp đồng hợp tác được chứng thực chỉ gần 30% số tổ đang hoạt động bởi những lý do:
1 THT hoạt động kinh tế có thời hạn ngắn, theo vụ việc;
2 Một số tổ đã gắn với đoàn thể như phụ nữ, thanh niên, các hội nghề nghiệp, sở thích;
3 Một số tổ hoạt động ngoài địa phương như các đội xây dựng, đội làm thuê theo mùa vụ; tổ có các thành viên gắn với một gia đình;
4 Tổ gắn với một dự án đã thoả thuận với đối tác;
5 Tổ hoạt động tự phát như nhóm gia sư; nhóm bạn nghề; câu lạc bộcủa một nhóm sở thích văn hoá, văn nghệ, thể thao, ban liên lạc các dòng họ, đồngmôn, đồng ngũ, đồng liên,… hoặc tổ liên gia đình ở một cụm dân cư
Ðiều 111 Tổ hợp tác
1 Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự.
Tổ hợp tác có đủ điều kiện để trở thành pháp nhân theo quy định của pháp luật thì đăng ký hoạt động với tư cách pháp nhân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2 Hợp đồng hợp tác có các nội dung chủ yếu sau đây: a) Mục đích, thời hạn hợp đồng hợp tác;
b) Họ, tên, nơi cư trú của tổ trưởng và các tổ viên;