Theo điều 74 của Bộ luật dân sự năm 2015, một tổ chức, tập thể được xem là Pháp nhân khi thỏa 4 điều sau: Được thành lập theo quy định của bộ luật dân sự hoặc là luật khác có liên quan
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI
PHÁP NHÂN CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
LỚP:…L20… NHÓM: …8 , HK211
GVHD: CAO HỒNG QUÂN SINH VIÊN THỰC HIỆN
MỨC ĐỘ LÀM VIỆC
ĐIỂM BTL
GHI CHÚ
5 2013474 Ngô Phước Quang Khải
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 2BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM 8
2 Nguyễn Quốc Khánh 2013460
4 Nguyễn Nguyên Khôi 2013531
5 Ngô Phước Quang Khải 2013474
NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Lê Nguyên Khoa
Thông tin liên lạc
Zalo: 0855667756 (Nguyên Khoa) Mail: khoa.le_nk2001@hcmut.edu.vn
Trang 3Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 4 PHẦN NỘI DUNG 6 CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ 6 1.1 Khái niệm và phân loại pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam .6
1.1.1 Khái niệm 6 1.1.2 Phân loại pháp nhân 8
1.2 Các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân
1.2.1 Được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan
1.2.2 Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật Dân sự 1.2.3 Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
1.2.4 Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ pháp luật được định nghĩa là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Trong hệ thống pháp luật hiện nay, mỗi ngành luật có những điều chỉnh về một nhóm quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, tồn tại những khái niệm như thể nhân và pháp nhân Thể nhân (trong luật học) có thể được hiểu đơn giản là một cá nhân, và được hưởng các quyền lợi, nghĩa vụ và nhận được sự bảo vệ từ pháp luật Khác với thể nhân, pháp nhân được hiểu là một tổ chức được thành lập hợp pháp hoặc được pháp luật thừa nhận khi đáp ứng được các điều kiện
mà pháp luật quy định
Ngày nay, pháp nhân là chủ thể quan trọng khi đây được xem như một tiêu chí đánh giá về tự do kinh tế và phát triển của một quốc gia Vì vậy, đây là một chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế và dân sự phổ biến và thường xuyên, có nhiều tác động đến xã hội
Vậy nên, nhóm tác giả thựa hiện việc nghiên cứu đề tài “PHÁP NHÂN CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ” cho Bài tập lớn trong chương
trình học môn Pháp luật Việt Nam Đại cương
2 Nhiệm vụ của đề tài
Một là, làm rõ lý luận về những chế định về pháp nhân – chủ thể quan hệ
pháp luật dân sự Trong đó, nhóm tác giả nghiên cứu những vấn đề về khái niệm; các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân; năng lực chủ thể của pháp nhân cũng như việc thành lập, chấm dứt hoạt động pháp nhân
Hai là, tập trung phân tích, đánh giá những tiêu chí để công nhận tổ chức có
tư cách pháp nhân trong pháp luật dân sự Việt Nam
Ba là, nghiên cứu tình huống từ thực tiễn Toà án để nhận diện tổ chức có tư
cách pháp nhân trong thực tế, phát hiện ra bất cập quy định pháp luật và thực tiễn
Bốn là, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế định pháp nhân trong quan hệ
dân sự
3 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 5Đề tài thực hiện nghiên cứu về pháp nhân trong chủ thể quan hệ pháp luật
dân sự
4 Phạm vi nghiên cứu
Bài tập lớn sẽ nghiên cứu trong phạm vi xã hội Việt Nam ngày nay Được dựa phần lớn vào Bộ luật Dân sự năm 2015, ngoài ra sẽ sử dụng Bộ luật Lao động 2019
để có thể làm rõ luận điểm của nhóm
5 Bố cục tổng quát của đề tài
Bài tiểu luận sẽ gồm 2 chương bao gồm: Những vấn đề chung về Pháp nhân -Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự và Thực tiễn xác định tư cách pháp nhân trong tranh chấp thức tế
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ
QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ 1.1 Khái niệm và phân loại pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm
Theo từ điển hán- việt, có thể thấy pháp (法) là phép tắc, khuôn phép, khuôn mẫu và nhân (人) tức là người Từ đó, ta có pháp nhân, tức bản thể do pháp luật đặt
ra, có quyền lợi và nghĩa vụ như một cá nhân (1)
Ngoài ra, pháp nhân là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các ngành nghiên cứu về luật học Theo một trong những định nghĩa được sử dụng trong luật kinh tế, có thể hiểu pháp nhân là một định nghĩa trong luật pháp về một thực thể mang tính hội đoàn, tổ chức
Theo điều 74 của Bộ luật dân sự năm 2015, một tổ chức, tập thể được xem là Pháp nhân khi thỏa 4 điều sau:
Được thành lập theo quy định của bộ luật dân sự hoặc là luật khác có liên quan Tức là được thành lập hợp pháp
Phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: là cấu trúc nội tại bên trong bao gồm các cơ quan lãnh đạo, bộ phận chuyên môn của tổ chức, đảm bảo cho tổ chức có khả năng thực tế để hoạt động và điều hành đảm bảo tính nhất quán trong hoạt động pháp nhân (Theo điều 83, Bộ luật dân sự 2015)
Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản
đó
Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Sau lần sửa đổi và được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015 có hiệu lực ngày 1/1/2017 (BLDS 2015), có thể thấy được pháp nhân trong lần sửa đổi này của Bộ luật Dân sự có nhiều điểm mới mẻ và khác biệt so với BLDS 2005, do đó vẫn tồn tại những điểm tích cực và hạn chế của các quy định mới này
Những điểm tích cực của bộ luật này, có thể kể đến như:
1 Theo từ điển số Truy cập từ https://tudienso.com/tu-dien/tu-dien-tieng-viet.php?q=pháp+nhân
Trang 7Thứ nhất, chế định về pháp nhân được xây dựng trong BLDS 2015 đã góp
phần cùng với các chế định khác của Bộ luật thể hiện được tư tưởng chỉ đạo khi xây dựng Bộ luật dân sự (sửa đổi) của Chính phủ (Bộ Tư pháp, 2014, tr 7-8)
Thứ hai, chế định về pháp nhân được cụ thể hóa theo hướng hợp lý hơn, phù
hợp với quy định của pháp luật liên quan Điều đó thể hiện thông qua việc:
* Bộ luật đã bổ sung quy định về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân
* Quy định đại diện pháp nhân có thể là cá nhân, pháp nhân
* Quy định về cơ cấu tổ chức của pháp nhân
* Bổ sung quy định về trường hợp pháp nhân có thể bị giải thể
* Sửa đổi quy định về hợp nhất, sáp nhập pháp nhân (so với BLDS 2005)
Tích cực là vậy, tuy nhiên, vẫn tồn tại những điểm hạn chế:
Thứ nhất, sửa đổi lần này của BLDS 2015 không thay đổi cách tiếp cận so
với BLDS 2005 về khái niệm pháp nhân
Thứ hai, so với BLDS 2005, BLDS 2015 chia pháp nhân thành hai loại chính
là pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại Ở đây vẫn có điểm tích cực khi BLDS 2015 không còn liệt kê các dạng pháp nhân, phù hợp đối với nhu cầu hội nhập hiện nay Tuy nhiên, tiêu chí phân loại dựa trên “mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận” là chưa phù hợp
Thứ ba, về đại diện pháp nhân.
* Theo BLDS 2015, quy định đại diện pháp nhân có thể là cá nhân, pháp nhân.
Về điểm b khoản 1 Điều 142 BLDS 2015, “Người được đại diện biết mà không
phản đối trong một thời hạn hợp lý” “Một thời hạn hợp lý” ở đây có thể gây nhiều
cách hiểu
* Về phạm vi và giới hạn quyền đại diện, nên bổ sung để phù hợp và đồng bộ với các quy định liên quan:
+ Từ “hợp pháp” nên được bổ sung trong khoản 2 điều 141 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Trang 8+ Khoản 3 Điều 141 BLDS 2015 nên được điều chỉnh lại để bao quát các trường hợp đại diện và không trùng lặp từ
Thứ tư, về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân Quy định này ở BLDS
2015 đã tiến bộ nhiều so với bộ luật hiện hành khi phân định rõ thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân bởi trên thực tế có pháp nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc cho phép thành lập, có pháp nhân chỉ đăng ký doanh nghiệp Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa đề cập những pháp nhân vừa được cơ quan nhà nước có quyết định thành lập, vừa phải đăng ký doanh nghiệp, những pháp nhân dạng này năng lực pháp luật dân sự sẽ phát sinh khi nào?
Vì vậy, cần thiết có quy định hướng dẫn cụ thể đối với các pháp nhân dạng này về thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự nhằm tránh sự tùy tiện trong quá trình vận dụng luật
Thứ năm, Khoản 2 Điều 74 BLDS 2015 có vẻ như không quan tâm tới việc
thành lập pháp nhân dù là pháp nhân dân sự hay pháp nhân phi lợi nhuận Ngoài ra,
về tổ chức lại pháp nhân, các điều luật từ Điều 88 đến Điều 91 của BLDS 2015 đã
bỏ qua quyền và lợi ích giữa pháp nhân cũ và pháp nhân mới trước và sau khi hợp nhất, sáp nhập, mà chỉ giải quyết mối quan hệ của những pháp nhân này
1.1.2 Phân loại pháp nhân
So với BLDS 2005, ở bộ luật mới đã có điểm mới khi các quy định mới về pháp nhân đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy định
Căn cứ vào mục đích thành lập và hoạt động, theo Điều 75 và Điều 76 trong
BLDS 2015, pháp nhân được chia thành hai loại là pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại.
Theo đó, pháp nhân được xem là pháp nhân thương mại khi thỏa những điều kiện sau:
1 Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên
2 Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác
Trang 93 Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan
Như vậy, pháp nhân thương mại được hiểu là pháp nhân hoạt động vì mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận Đồng thời việc thành lập, hoạt động, tổ chức lại
và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của các luật có liên quan Trong đó, mục địch lợi nhuận là điều kiện tiên quyết khi đây là đặc điểm
để so sánh với pháp nhân phi thương mại
Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác Theo Điều 4 của Luật Doanh nghiệp 2014, “Doanh nghiệp” được định nghĩa theo hai ý chính:
+ Là tổ chức có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch
+ Được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Dựa vào loại hình, doanh nghiệp sẽ được chia thành 4 dạng: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, theo Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp tư nhân không được trao quyền pháp nhân, trong khi 3 loại hình doanh nghiệp được công nhận và trao quyền pháp nhân Để giải thích cho việc trên, tại Khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014:
“Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.” và Khoản 3 Điều 185 Luật Doanh nghiệp 2014: “Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa
án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp.”
Các tổ chức kinh tế khác cũng được đề cập trong BLDS 2015 Theo đó, các tổ chức kinh tế ở đây được hiểu là các tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng vẫn
tổ chức các hoạt động kinh tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận Những hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, các tổ chức này có các quyền như:
+ Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm
+ Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh
Trang 10+ Chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh, …
Ngoài ra, theo Điều 76, pháp nhân được gọi là Pháp nhân phi thương mại khi thỏa bốn đặc điểm:
1 Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên
2 Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác
3 Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan
Theo đó, pháp nhân phi thương mại có nhiều mục đích khác nhau tùy thuộc vào loại hình từng loại pháp nhân,và các mục đích của các pháp nhân này sẽ không hướng đến lợi nhuận Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là trong quá trình hoạt động, các pháp nhân này sẽ không phát sinh lợi nhuận Trong trường hợp lợi nhuận phát sinh, những khoản này sẽ được dùng cho mục đích hoạt động và các công việc khác, trừ việc phân chia cho các thành viên
Như vậy, có thể thấy điều kiện tiên quyết để được công nhận là pháp nhân phi thương mại là: mục đích hoạt động không phải tìm kiếm lợi nhuận, và việc thành lập, hoạt động và chấm dứt hoạt động phải được thực hiện theo Bộ luật này
Những chủ thể được công nhận là pháp nhân phi thương mại có thể kể đến:
- Các cơ quan nhà nước: Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan có chức năng quản lý nhà nước thuộc Chính phủ; ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã và các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân
- Đơn vị vũ trang nhân dân: Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác
Trang 11Có thể thấy, những tổ chức trên đều thu được lợi nhuận, nhưng khoản lợi nhuận được sử dụng cho các mục đích từ thiện hoặc điều hành xã hội,…
Thông qua việc phân loại các pháp nhân dựa trên tiêu chí lợi nhuận, chế định mới về pháp nhân bắt đầu trở nên rõ ràng, thống nhất và khoa học hơn trong thời kỳ phát triển về mặt công nghệ và kỹ thuật như hiện tại
Thông qua các nghiên cứu về các cơ sở lý luận xung quanh vấn đề pháp nhân và dựa trên việc phân tích cơ sở thực tiễn, các giải pháp, phương hướng mới đã được đưa ra nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý cũng như nâng tầm vị thế của các pháp nhân trong đời sống xã hội, từ đó góp phần xây dựng chế định pháp nhân thêm chặt chẽ, chính xác hơn
Ngoài việc phân loại dựa trên những mục đích thu được lợi nhuận của BLDS
2015, pháp nhân còn được phân loại theo các tiêu chí như thủ tục thành lập, nguồn thu và mục đích hoạt động Từ đó có thêm các khái niệm pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp
Pháp nhân công pháp là các tổ chức nắm giữ quyền lực công cộng và thực hiện một trong các chức năng của Nhà nước hoặc đảm nhận một vai trò trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Ðảng cộng sản, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị, là một ví dụ về pháp nhân công pháp Tuy nhiên, Nhà nước không được công nhận là một pháp nhân công pháp; song tư cách pháp nhân của Nhà nước được thừa nhận trong nhiều chế định, đặc biệt là trong pháp luật về tài sản và pháp luật thừa kế: Nhà nước là người thực hiện quyền sở hữu toàn dân về tài sản, là người tiếp nhận các di sản không người hưởng
Khác với pháp nhân công pháp, pháp nhân tư pháp có hai nhóm cơ quan chính: cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành Một số pháp nhân có quy mô tổ chức lớn còn có thêm cơ quan kiểm soát Tổ chức kinh tế là ví dụ điển hình về pháp nhân tư pháp Tổ chức kinh tế có thể là doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,
1.2 Các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân:
Theo điều 74, Bộ Luật Dân Sự năm 2015