Đây là những khái niệm cơ bản nhất về Luật cạnh tranh
Trang 1e Sử dụng kiến thức kinh tế vi mô để giúp
học viên năm được cơ sở lý thuyết của
pháp luật cạnh tranh
e Trang bị cho người học những khái niệm
cơ bản về cạnh tranh, độc quyền và thị
trường liên quan
e Giúp học viên biết sử dụng các công cụ để
xác định thị trường liên quan trong một vụ
e Cơ sở lý thuyết của pháp luật cạnh tranh
e Các khái niệm kinh tế cơ bản liên quan
đến Luật Cạnh tranh
e Vị phạm pháp luật cạnh tranh và trách nhiệm pháp lý
Hướng dẫn môn học
Để học tốt bài này, học viên cần thực hiện các công viỆc sau:
e Đọc kỹ Bài 4 Pháp luật cạnh tranh trong
giáo trình Luật Kinh tế của Chương trinh TOPICA
e Tích cực thảo luận với giáo viên và học
viên qua mạng Internet
e Tham khảo thông tin có trên trang web
của Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương www.vcad.gov.vn
Trang 2Siêu thị của công ty BTN nhận thấy nhu cầu xe máy hiệu
WZ của thị trường đang tăng cao BTN đề nghị hãng sản
xuất xe máy nhãn hiệu nói trên ký hợp đồng mua 100 xe
Biết đây là loại xe đang được thị trường ưa chuộng nên
hãng này đã hạn chế số lượng hàng bán ra nhằm tăng giá
bán Đối với đề nghị của BTN, hãng xe này chấp nhận
bán 100 xe WZ với điều kiện BTN phải chấp nhận trong
hợp đồng mua thêm 100 mũ bảo hiểm do hãng này sản
xuất BTN đã nhập về rất nhiều mũ bảo hiểm của hãng
khác và thị trường mũ bảo hiểm đã bắt đầu trở nên bão
hòa, do vậy BTN không có nhu cầu mua thêm mũ bảo hiểm Do không chấp nhận yêu cầu mua kèm mũ bảo hiểm nên hợp đồng giữa BTN và hãng xe máy không được ký kết
Câu hỏi gợi mở
Theo anh (chị), yêu cầu buộc phải mua kèm mũ bảo hiểm của hãng xe máy nói trên có vi phạm pháp luật không? Vì sao?
80
Trang 3TOPICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
4.1
4.1.1
Cơ sở lý thuyết của pháp luật cạnh tranh
Hiệu quả kinh tế
Bất cứ nền kinh tế nào cũng phải hướng tới hiệu
quả Nếu các hoạt động của nền kinh tế không đạt
hiệu quả hoặc đạt hiệu quá thấp thì sẽ dẫn đến sự
lãng phí nguồn lực và kém phát triển Hơn nữa,
nguồn lực xã hội không phải là dồi đào mà ở dạng
khan hiếm so với nhu cầu vô tận của con người,
chính vì vậy sử dụng nguồn lực sao cho hiệu quả
luôn là vấn đề đặt ra trong quản lý kinh tế và quản
lý xã hội
Lý thuyết cấu trúc — hành vi — kết quả (S — C — P)
của nhà kinh tế học Joe Bain đã chỉ ra mối liên hệ
giữa hiệu quả kinh tế và cấu trúc thị trường Theo lý thuyết này cấu trúc thị trường sẽ
quyết định hành vi của doanh nghiệp Thông qua hành vi thực hiện trên thực tế, thị
trường sẽ cho kết quả tốt hoặc xấu
Joe Bain chỉ ra bốn dạng cấu trúc thị trường phô biến là thị trường cạnh tranh hoàn
hảo, thị trường cạnh tranh mang tính độc quyên, thị trường độc quyền nhóm và thị
trường độc quyền Hai loại thị trường cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền
nhóm được gọi chung là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Cấu trúc thị trường được xác định dựa trên các tiêu chí:
Rất lớn Rất lớn mong mae, | Không có
tính độc quyên
R A a? ñ Sản phẩm Ẩ:, Độc quyên Rât lớn Một Rât lớn
Trang 4TOEICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
4.1.1.1 Hiệu quả phân bổ ngưồn lực
Trước hết, chúng ta xem xét hình thái thị trường cạnh tranh hoàn hảo Hình thái thị
trường này dựa trên các giả định sau:
e© Người tiêu dùng muốn tối đa hóa giá trị sử dụng;
như dễ dàng tiếp cận mọi thông tin cần thiết để đánh giá những giao dịch nào có
thể tôi đa hóa lợi nhuận Nói cách khác doanh nghiệp có được thông tin hoàn hảo;
e San pham trén thị trường là giống nhau;
giá cả trên thị trường;
e Khong co rao can gia nhập thị trường
Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, tỷ suất lợi
nhuận cân bằng trên tất cả các thị trường Không
doanh nghiệp nào có được tỷ suất lợi nhuận lớn hơn
doanh nghiệp khác Vì vậy, mỗi người tiêu dùng sẽ
đạt được hiệu quá tốt nhất về hàng hóa và dịch vụ *-
Độc quyền là hình thái thị trường đối lập của cạnh
tranh hoàn hảo Trong thị trường độc quyền, chỉ có một người bán và tồn tại rào cản thị trường để ngăn cản việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp khác Doanh
nghiệp độc quyền sẽ ấn định giá sản phẩm cao hơn so với điều kiện của thị trường
cạnh tranh Điều này có thê làm giảm số lượng bán ra nhưng tổng lợi nhuận của nhà
độc quyền vẫn cao hơn Vì vậy, người tiêu dùng phải chỉ nhiều tiền hơn cho sản phẩm Nói tóm lại, độc quyền dẫn tới sự phân bổ không hiệu quả các nguồn lực của xã hội
Mô hình dưới đầy sẽ chứng minh cho tính không hiệu quả này
Trang 5TOPICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
4.1.1.2
Giả thiết rằng, trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, chi phí sản xuất một sản phẩm nhất định là 50 đồng (Pc) Nếu một doanh nghiệp thực hiện tăng giá trên chỉ phí, giá
sẽ bị kéo về bằng với chỉ phí do áp lực thị trường và tông sản phẩm được sản xuất sẽ
là 1.000 (Qc) Khi đó tông chỉ phí là 50 x 1.000 = 50.000 đồng và cân bằng với tổng
doanh thu
Trong điều kiện độc quyên, chỉ có một người bán và doanh nghiệp độc quyền là người
ấn định giá Do đó, doanh nghiệp sẽ tối đa hóa lợi nhuận bằng việc hạn chế sản lượng
Giả sử doanh nghiệp độc quyền giảm sản lượng còn 700 sản phẩm (Qm) và giá tăng lên 80 đồng cho một sản phẩm (Pm) Tổng chỉ phí lúc này là 50 x 700 = 35.000 đồng
và tông doanh thu là 80 x 700 = 56.000 đồng Do đó lợi nhuận là 21.000 đồng
Giá cả độc quyền làm ngắt quãng đường cầu từ Qc xuống Qm và dẫn tới sự phân bố
không hiệu quả nguồn lực Xét trên toàn nền kinh tế, chỉ có 35.000 đồng được phân bô
cho sản xuất trong khi đó dưới điều kiện cạnh tranh sẽ có 50.000 đồng được phân bé cho sản xuất Bản thân người tiêu dùng cũng bị thiệt hại bởi họ không có cơ hội được
sử dụng sản phẩm do giá cả tăng cao Tam giác D trong đô thị thể hiện phần thiệt hai
đối với người tiêu dùng Trong kinh tế học, hiện tượng này được gọi là “thiệt hại mất
trang về của cải”
Hiệu quả sản xuất
Các doanh nghiệp có vị trí độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh thường có xu hướng hạn
chế sản lượng và tăng giá sản phẩm Hơn nữa, các doanh nghiệp này cũng sẽ ít đầu tư
vào việc đối mới sản xuất và nghiên cứu phát triển sản phẩm Ngược lại, trong các thị trường cạnh tranh, doanh nghiệp buộc phải đổi mới để nâng cao hiệu quả sản xuất bởi
vì người tiêu dùng có sự lựa chọn nhà cung cấp sản phâm để mua với giá thấp và chất
lượng cao Như vậy, cạnh tranh sẽ thúc đây các doanh nghiệp phải chú ý đến hiệu quả sản xuất, qua đó góp phần làm tăng hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế cũng như mang lại lợi ích cho người tiêu dùng
Chỉ phí sản xuất thấp là một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất Chỉ phí
sản xuất trong nhiều trường hợp sẽ được hạn chế nhờ vào “tính kinh tế của quy mô”
và “tính kinh tế của phạm vi”
“Tính kinh tế của quy mô” là khái niệm được dùng để chỉ sự thay đổi về chỉ phí sản
xuất một sản phẩm nếu sản phẩm được sản xuất ở quy mô lớn Chỉ phí sản xuất một
đơn vị sản phẩm sẽ giảm xuống theo mức độ tăng lên của quy mô sản xuất Chẳng hạn
như trong lĩnh vực may mặc, việc sản xuất hàng loạt có thể làm cho giá thành sản
83
Trang 6TOPICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
4.1.2
phẩm hạ xuống rất nhiều nhờ tiết kiệm chi phí vận hành máy móc, chi phí nhân công
và nhờ vào việc được hưởng những ưu đãi về giá sản phẩm đầu vào do mua với số lượng lớn
“Tính kinh tế của phạm vi” là khái niệm để chỉ việc giảm chi phí sản xuất một đơn vị
sản phẩm do việc kết hợp sản xuất hai hay nhiều hàng hóa trong cùng một doanh nghiệp thay vì phải sản xuất ở nhiều doanh nghiệp khác nhau Chẳng hạn như các
hãng vận tải thường bán vé khứ hồi rẻ hơn vé một chiều hoặc nếu các nhà máy đóng
tàu sản xuất được động cơ tàu thủy thì sản phâm sẽ có giá thành thấp hơn trường hợp
nhà máy chỉ đóng vỏ tàu và phải nhập động cơ từ nhà máy sản xuất khác
Quan điểm xây dựng chính sách và pháp luật cạnh tranh
Cạnh tranh có tác dụng duy trì hiệu qua phân bé
nguồn lực, vì vậy, pháp luật cạnh tranh có vai trò
quan trọng trong việc tạo lập và duy trì môi trường
cạnh tranh bình đẳng cho nền kinh tế Tuy nhiên,
phân tích về hiệu quả phân bổ nguồn lực cho thấy
răng, pháp luật cạnh tranh không nên đặt tham vọng
quá lớn vào việc điều chỉnh cấu trúc thị trường trở
vê với cạnh tranh hoàn hảo
Lý do là vì mô hình cạnh tranh hoàn hảo dựa trên những giả định đã được đơn giản
hóa và không thẻ đạt được trên thực tế
Chẳng hạn như giả định các sản phẩm trên thị trường là đồng nhất nhưng trong thực tế các nhà sản xuất luôn luôn có xu hướng tạo ra những khác biệt về sản phẩm
của chính mình
Giả định tất cả các doanh nghiệp đều theo đuổi mục đích tối đa hóa lợi nhuận cũng không phù hợp với thực tế, bởi trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thường chỉ dừng ở mục đích tìm kiếm lợi nhuận ở mức độ thỏa mãn
Bên cạnh đó, giả thiết về việc có một số lượng rất lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ trên thị trường cũng cần xem xét Trong nhiều trường hợp, “tính kinh tế của quy mô” đòi hỏi chỉ cần một hoặc một vài doanh nghiệp trên thực tế Chẳng hạn trên phạm
vi một tinh, thành phố chỉ cần một hoặc hai tờ báo được phát hành là đủ Các ngành
dịch vụ hạ tang cơ sở như mạng điện thoại, đường truyền tải điện, hệ thống đường dẫn khí gas, cảng biến, sân bay thuộc đạng độc quyền tự nhiên bởi vì chỉ cần một nhà cung
cấp là có khả năng thỏa mãn được toàn bộ nhu cầu của xã hội
Chính vì những lý do này mà chúng ta không thể
đạt được cạnh tranh hoàn hảo Các nhà kinh tế học
đã đưa ra lý thuyết cạnh tranh hiệu quả với mục
đích mang tính thực tế hơn khi xây dựng chính
sách và pháp luật cạnh tranh
Quan điểm này đặt cơ sở cho việc xây dựng pháp
luật cạnh tranh theo hướng không nên thay đổi
những đặc điểm của cấu trúc thị trường, tức là
không nên chia nhỏ các doanh nghiệp đang tồn tại
trong thị trường độc quyền hoặc độc quyền nhóm
84
Trang 7TOEICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
đặt ra yêu cầu là luật cạnh tranh sẽ điều tiết các hoạt động tập trung kinh tế như thế nào để sao cho thỏa mãn được nhu cầu sử dụng “tính kinh tế của quy mô” và “tính
kinh tế của phạm vi” trong khi vẫn kiểm soát được các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp có quy mô lớn Nói cách khác, có những hành v1 gây hạn chế cạnh tranh như sáp nhập hay thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh làm tăng sức mạnh thị trường vẫn có thê được phép thực hiện nếu xét về tổng thể nó mang lại hiệu
quả kinh tế
Quan điểm này cho thấy khi xem xét bất cứ một hành vi gây hạn chế cạnh tranh nào
cũng phải tính đến nó có tác động ra sao đến người tiêu dùng và nền kinh tế nói
chung Nếu hiệu quả kinh tế mà nó mang lại lớn hơn những thiệt hại mà nó gây ra thì
hành vi đó vẫn nên được thừa nhận
Các khái niệm kinh tế cơ bản liên quan đến luật cạnh tranh
Cạnh tranh trong kinh doanh và thị trường liên quan
Cạnh tranh trong kinh doanh
Cạnh tranh trong kinh doanh là hành vi của các doanh nghiệp đổi lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hoá, dịch vụ, nhằm làm thoả mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mắt đi một lượng khách hàng thường xuyên
Cạnh tranh trong kinh doanh có 3 đặc trưng sau:
e_ Phải tồn tại thị trường để ở đó cạnh tranh diễn ra
e Có sự tham gia của ít nhât hai hoặc nhiêu người
cung câp hoặc có nhu câu
e Những người này có ít nhât một sô mục đích đôi
kháng, việc đạt được mục đích của người này là
tương ứng với sự thât bại của người kia
Như vậy, để xác định có cạnh tranh xảy ra giữa hai hoặc nhiều sản phẩm thì điều đầu
tiên cần xác định được là giữa những sản phẩm đó cùng tồn tại một thị trường chung
Thị trường chung đó được gọi là thị trường liên quan Đây là khái niệm cơ bản và đòi
hỏi phải được xác định trong mọi vụ việc cạnh tranh bởi vì các hành vị chỉ được col là cạnh tranh với nhau nếu chúng xảy ra trên cùng một thị trường Chẳng hạn như các nhà sản xuất giầy chỉ có thể cạnh tranh với nhau trên thị trường sản phâm giầy hoặc it
nhất là trên thị trường sản phẩm gần với nó như đép hoặc guốc chứ không thể cạnh
tranh với các sản phẩm như túi xách hoặc quần áo
Chính vì lý do này mà trong mọi vụ việc cạnh tranh, nguyên đơn luôn có gắng lập luận để đi đến một định nghĩa về thị trường theo nghĩa rộng, ngược lại bị đơn thường tìm mọi cách để thuyết phục tòa án bằng việc đưa ra một định nghĩa thị trường theo
nghĩa hẹp
Trang 8TOPICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
4.2.1.2 Thị trường liên quan
Thị trường liên quan là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau một cách hop ly trong mot khu vuc dia ly nhat dinh
Xác định thị trường liên quan là một công việc quan trọng nhưng không đơn giản
Thông thường thị trường liên quan được xác định dựa trên hai yếu tô thị trường về
mặt sản phẩm và thị trường về mặt địa lý
Đề được coi là tồn tại trong một thị trường liên quan thì các hàng hoá phải có khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý Hàng hóa "có khả năng thay thế cho nhau" là một khái niệm trừu tượng, được xác định dựa vào các yêu tô định tính, định lượng và đựa trên suy đoán của cơ quan giải quyết tranh chấp Có nhiều tiêu chí để xác định khả năng thay thế cho nhau của sản phẩm, trong đó có ba yếu tô cơ bản là thay thê vê đặc tính, về mục đích sử dụng va ve gia ca
o Dac tinh cua hang hóa, dịch vụ được xác
định dựa vào các yếu tô tính chất vật lý, hóa
học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ và khả
năng hấp thụ đối với người sử dụng Nếu các
sản phâm có nhiều đặc tính giống nhau thì
được coi là có khả năng thay thế cho nhau về
guốc, đép thì được coi là thuộc một thị trường liên quan
o_ Giá cả của sản phẩm được xác định là giá ghi trong hóa đơn bán lẻ theo quy định của pháp luật Khả năng thay thế về mặt giá giữa các sản phẩm với nhau
thường được xác định dựa trên độ co giãn chéo vệ giá
e Thị trường về mặt địa lý:
Thị trường địa lý liên quan là một khu vực dia ly
cụ thể trong đó có các hàng hoá, dịch vụ có thé
thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh
tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu
vực địa lý lân cận
Khu vực địa lý của thị trường thường được xác
định dựa trên các yếu tố sau :
phâm liên quan o_ Cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên khu vực địa lý lân cận đủ
gần với khu vực địa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý đó
Trang 9TOPICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
o Chi phí vận chuyên trong khu vực địa lý
o Rao can gia nhập thị trường
Quy tắc SSNIP
Quy tắc SSNIP, hay còn gọi là quy tắc “tăng giá ít nhưng kéo đài” thường được sử
dụng để xác định độ co giãn chéo về giá Quy tắc này được hiểu như sau “giá sử một
doanh nghiệp có vị trí độc quyên tăng giá sản phẩm lên khoảng từ 5% đến 10% trong
một thời gian đủ dài (từ 6 tháng đến 1 năm) thì những sản phẩm được người tiêu dùng chuyển sang mua sẽ được coi là sản phẩm thay thế” Quy tắc SSNIP được áp dung
đối với doanh nghiệp có sức mạnh thị trường Trong trường hợp doanh nghiệp không
có sức mạnh thị trường thì phải giả định doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền hoặc vị
trí thống lĩnh để xác định sự thay thế về giá giữa các sản phẩm
Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cũng sử dụng quy tắc SSNIP để xác định thị
trường sản phẩm liên quan Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nội dung của
nguyên tắc này như sau: bảng bóa, dịch vụ được coi là có thể thay thể được cho nhau
về giá cả nếu trên 50% của một lượng mẫu ngâu nhiên 1.000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa ]ý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa, dịch
vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp gia cua hang hoa, dich vu do tang lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp Trường hợp số người tiêu dùng sinh
sống tại khu vực địa lý liên quan quy định tại điểm này không đú 1.000 người thì lượng
mẫu ngẫu nhiên được xác định tôi thiểu bằng 50% tổng số người tiêu dùng đó (Điểm
C, Khoản 5, Điều 4 Nghị định 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/9/2005 quy
định chỉ tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh)
Quy tắc SSNIP có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho việc xác định khả năng thay thế về giá giữa các sản phẩm, qua đó xác định được thị trường liên quan Tuy nhiên, quy tắc
này có hạn chế ở chỗ nó có thể dẫn đến “hội chứng giấy bóng kính” Đây là hiện
tượng doanh nghiệp đã lạm dụng vị trí độc quyền để định giá sản phẩm rất cao so với
giá trị thực tế trước khi vấn đề xác định thị trường liên quan được đặt ra Vì vậy, nếu doanh nghiệp tiếp tục nâng giá thì người tiêu dùng sẽ chuyển sang mua những sản
phẩm thực sự không tương đồng về mặt mục đích Trong trường hợp đó, về mặt lý
thuyết, sản phẩm của doanh nghiệp và sản phẩm người tiêu dùng chuyển sang mua
được coi là có thê thay thế cho nhau về giá nhưng về mặt thực tế, những sản phẩm đó
có tính năng sử dụng quá khác xa nhau nên việc khẳng định chúng tôn tại trên cùng
một thị trường là khó thuyết phục Điều đó dẫn đến kết quả là thị trường liên quan sẽ
được hiểu quá rộng so với thực tế Hệ quả nguy hại của nó là sẽ xác định không chính xác vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền của một doanh nghiệp bởi vì nếu thị trường được xác định ở phạm vi hẹp thì doanh nghiệp đã có thể bị rơi vào trường hợp có sức mạnh thị trường nhưng trên thị trường có phạm vi rộng hơn, thị phần của
doanh nghiệp giảm đi và do đó doanh nghiệp thoát khỏi vị trí độc quyền hoặc vị trí
thống lĩnh
§7
Trang 10Điển hình cho “hội chứng giấy bóng kính” là trường hợp của công ty E.I du Pont de
Nemours Đây là doanh nghiệp sản xuất giấy bóng kính Nếu giấy bóng kính được coi là có
thị trường riêng biệt thì công ty này có vị trí độc quyền trên thị trường đó Tuy nhiên, lạm
dụng vị trí này, DuPont đã ấn định giá bán sản phẩm rất cao ngay từ đầu khiến cho khi giá bán tăng thêm 5%, người tiêu đùng chuyên sang mua các loại giấy khác như giấy ráp, giấy nhôm, giấy poly Dựa vào tiêu chí độ co giãn về giá, DuPont cho rằng giấy bóng kính không có thị trường riêng mà có thị trường liên quan với các loại giấy thay thế như đã nói ở
trên Vì lý do này, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã khẳng định DuPont không có sức mạnh thị
trường nên không phải chịu phán quyết lạm dụng sức mạnh thị trường Đây là quyết định
không thuyết phục của tòa án và sau đó được thừa nhận là “hội chứng giấy bóng kính”
Đề khắc phục tình trạng này, trong trường hợp cần thiết, pháp luật cho phép xác định thêm cả những người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan không thê
chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với
hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa, địch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 6 tháng liên tiếp
Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này chỉ trong trường hợp thật cần thiết, nêu không
sẽ có thể dẫn đến sự tùy tiện trong việc xác định thị trường liên quan và khả năng dẫn
đến sai lệch trong giải quyết vụ việc cạnh tranh là rất lớn
Rào cản thị trường
Rào cản được coi là đặc trưng quan trọng nhất của
một thị trường độc quyền, bởi lẽ nếu không có rào
cản, các doanh nghiệp khác sẽ lập tức tham gia vào
thị trường kinh doanh khi nhà độc quyền thực hiện
chính sách tăng giá bán hoặc giảm chất lượng và số re
lượng sản phẩm Chính vì vậy, các nhà kinh doanh
khi muốn trở thành độc quyền đều cần phải có một
rào cản và nhờ vào đó để cản trở các đối thủ khác
Rào cản thị trường được thể hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau, trong đó có các hình thức phô biến
như quy định của pháp luật về hạn chế cạnh tranh,
doanh nghiệp thực hiện cắt giảm giá bán hàng hóa b
Các quy định của pháp luật về hạn chế cạnh tranh
Đây là loại rào cản rất thường gặp, nó tạo ra sự độc quyền hợp pháp cho các đoanh nghiệp Rào cản thị trường do pháp luật tạo ra có thể mang tính hợp lý hoặc bất hợp lý
e Trong trường hợp Chính phủ của các quốc gia sử dụng pháp luật để đảm bảo phát triển kinh tế, bảo vệ người tiêu dùng hoặc bảo hộ sản xuất trong nước thì những
quy định mang tính chất rào cản đó là cần thiết
Trang 111) HAI °g THES THe Uwe Gate TẾ
Chăng hạn như pháp luật trao cho chỉ một hoặc
một số doanh nghiệp nhất định được hoạt động
Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
trong các lĩnh vực mà Nhà nước cần giữ độc
quyền như các ngành thuộc an ninh, quốc phòng
hay những ngành dịch vụ công ích hoặc những
lĩnh vực có tác động mạnh và ảnh hưởng đến
đời sống của toàn bộ xã hội như cấp, thoát nước,
năm giữ mạng lưới truyền tải điện quốc gia,
Ngoài ra, trong các trường hợp để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các chủ thê sáng
tạo, Nhà nước sẽ cấp bằng phát minh sáng chế - patăng cho các chủ thể đó Bằng
phát minh sáng chế này sẽ tạo ra sự độc quyền tạm thời cho một chủ thể nhất định
phù hợp với thời gian sáng chế đó được bảo hộ
Các quy định của pháp luật về hạn chế cạnh tranh còn tồn tại trong những trường hợp để bảo hộ sản xuất trong nước, chắng hạn như việc quy định đánh thuế cao đối
với một số mặt hàng nhập khẩu nhất định
Ví dụ
Một số nước như Mỹ và các nước phương Tây có các quy định về bảo hộ hay trợ giá các mặt hàng nông sản Chính phủ Australia thì “trao quyền độc quyền cho các nhà xuất khâu một số mặt hàng nhất định như đường, lúa mì, bởi họ cho rằng quyền độc quyền sẽ giúp Australia có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới” Nhìn chung bất cứ
quốc g1a nào cũng thừa nhận sự tồn tại của rào cản thị trường do pháp luật tạo ra, bởi lẽ
đây là một trong các điêu kiện dé dam bảo lợi ích xã hội và lợi ích quôc gia
e _ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, những quy định của pháp luật lại tạo ra rao can
bất hợp lý và cần phải được loại bỏ
Chẳng hạn như ủy ban nhân đân tỉnh ban hành quy định buộc các doanh nghiệp
đóng trên địa bàn tỉnh chỉ được mua xi măng đo tỉnh nhà sản xuất, hay việc sở giáo dục của một địa phương yêu cầu các trường học của địa phương đó chỉ được mua
bút bi của một doanh nghiệp nhất định
Một ví dụ khác liên quan đến rào cản pháp luật bất hợp lý là việc trước khi có Pháp lệnh số 43/2002/PL-UBTVQHI0 ngày 25 tháng 5 năm 2002 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Bưu chính viễn thông, pháp luật quy định chỉ các doanh
nghiệp nhà nước mới được hoạt động trong lĩnh vực này Điều đó có nghĩa là pháp
luật đã đưa ra một quy định cản trở tất cả các thành phần kinh tế khác ngoài kinh tế nhà nước tham gia kinh doanh trên thị trường bưu chính viễn thông
§9
Trang 124.2.2.2 Cắt giảm giá bán hàng hóa
Nhờ vào sức mạnh tài chính và kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường, doanh nghiệp giảm giá tới mức làm cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường cũng như các
doanh nghiệp khác là đối thủ đang kinh doanh trên thị trường không đủ sức cạnh tranh
và phải rút lui khỏi thị trường đó Kết quả là doanh nghiệp sẽ giành phần thắng trong
cuộc đua về giá
này đã thực hiện khuyến mại bằng cách tặng thêm một thùng khi mua 3 thùng Coca Cola
Trong thực tế, giá bán loại sản phâm này đã giảm tới 25% Coca Cola có thể làm như vậy bởi vì so với các công ty của Việt Nam kinh doanh cùng lĩnh vực thời kỳ đó thì công ty này
có sức mạnh tải chính vượt trội Kết quả là tất cả công ty nước uống có ga của Việt Nam đã phái đóng cửa và Coca Cola trở thành độc quyền trên thị trường nước uống có ga ở Việt
Nam Sau khi có được vị trí độc quyền, Coca Cola thực hiện tăng giá bán sản eye va
khách hàng vẫn phải chấp nhận vì không có sản phẩm khác thay thé
4.2.2.3 Độc quyền tự nhiên
Độc quyền tự nhiên là hiện tượng xảy ra trên thị
trường khi toàn bộ sản phẩm của thị trường đó nếu
được cung cấp bởi một doanh nghiệp thì sẽ ở mức
giá thấp hơn so với việc có hai hay nhiều doanh
nghiệp cùng cung cấp sản phẩm đó
Điều này là đo tính chất của sản phẩm hàng hóa
hoặc dịch vụ được cung cấp quyết định Nói cách
khác độc quyền tự nhiên là mô hình tối ưu trong
những lĩnh vực nhất định, khi mà chỉ cần một nhà
sản xuất là đủ khả năng cung cấp sản phẩm cho thị
trường với hiệu quả kinh tế cao nhất Vì thế nếu cho
phép các nhà cung cấp khác tham gia vào thị trường
fq 66
90
Trang 13TOPICA au vrravde'n Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
gia thì không nhất thiết mỗi nhà sản xuất điện phải xây dựng một hệ thống dây truyền tải
riêng biệt Đó là điều không thể làm được đối với tất cả các doanh nghiệp vì nó đòi hỏi chi phí rất lớn cũng như gây ra sự lãng phí không cần thiết Chính vì vậy các doanh nghiệp sản xuất điện chỉ cần cùng sử dụng một hệ thống đường truyền tải là đủ Khi đó doanh nghiệp nắm giữ hệ thống truyền tải điện sẽ trở thành nhà độc quyền và hiện tượng này được gọi là
độc quyền tự nhiên Những ví dụ khác về độc quyền tự nhiên có thể tìm thấy trong các
ngành như vận tải đường sắt, đường hàng không hay viễn thông Trong các trường hợp này
độc quyền tự nhiên tồn tại ở chỗ chỉ cần một nhà cung cấp hệ thống đường ray, một nhà
cung cấp nhà ga sân bay và tương tự như vậy chỉ cần một doanh nghiệp cung cấp đường trục viễn thông là đủ
Các yếu tố mà ở đó độc quyền tự nhiên tồn tại được gọi là các “phương tiện thiết
yếu” Hiện tượng này được gọi là độc quyền tự nhiên bởi vì có một lý do “tự nhiên” cho độc quyền tồn tại, đó là bản thân sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải có một quy
mô kinh tế đủ lớn mới có thể cung cấp được sản phẩm ở hiệu quả cao nhất Và do vậy, độc quyền tự nhiên là một rào cản được hình thành tự nhiên trong thị trường
Việc xác định rõ ranh giới của độc quyền tự nhiên là điều rất quan trọng trong việc
quy định độc quyền của một số ngành nhất định Ở nước ta việc chưa phân định rõ
ràng đã dẫn đến độc quyền của các ngành như điện lực, đường sắt, hàng không
Ngoài các loại rào cản phố biến như trên, trong thực tế còn tồn tại nhiều loại rào cản khác như: quảng cáo và tiếp thị sản phâm để xây dựng nhãn hiệu hàng hóa khiến cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường không thê đưa sản phâm của mình tới khách
hàng: hay một loại rào cản khác là việc doanh nghiệp nắm giữ độc quyền về nguồn tài nguyên là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất v.v
Như vậy, không phải mọi rào cán thị trường đều là xấu và cần phải loại bỏ, bởi vì có
những rào cản là do nỗ lực kinh doanh của doanh nghiệp tạo nên (như đây mạnh
quảng cáo tiếp thị, đây mạnh đầu tư nghiên cứu hạ giá thành sản phẩm và đưa ra sản
phẩm mới) Chính vì thế trong những trường hợp này pháp luật không thể cắm doanh nghiệp trở thành độc quyền được mà chỉ có thể đưa ra các quy định để doanh nghiệp
đó không thể lạm dụng vị tri thong lĩnh thị trường và vị trí độc quyền của mình gây
hạn chế cạnh tranh và làm tốn hại đến lợi ích người tiêu dùng
Vi phạm luật cạnh tranh và trách nhiệm pháp lý
Vi phạm pháp luật cạnh tranh
Các hành vi được pháp luật cạnh tranh điều chỉnh
Pháp luật cạnh tranh của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng đến giải quyết hai vẫn đề, đó là kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh Tuy
nhiên, xét về mặt kỹ thuật lập pháp, hai vấn đề này có thể được quy định trong một hoặc nhiều văn bản pháp luật khác nhau
91
Trang 14Luật cạnh tranh của một số nước như Mỹ, Nhật
Bản, Trung Quốc chỉ điều chỉnh các hành vi gây
hạn chế cạnh tranh, trong khi đó hành vi cạnh tranh
không lành mạnh được quy định trong các văn bản
pháp luật khác Điều này lý giải vì sao ở một số
nước văn bản pháp luật quy định về cạnh tranh chỉ
gọi là luật chống độc quyền Ngược lại, các quốc
gia như Hàn Quốc, Bungari, Việt Nam lại ban hành
luật cạnh tranh điều chinh đồng thời cả vấn đề chống độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh
Sự khác biệt này chỉ mang ý nghĩa về kỹ thuật lập pháp, còn về nội dung, đù các quy
định của pháp luật cạnh tranh năm tải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhưng chúng đều bao gồm 2 bộ phận cấu thành, đó là kiểm soát hành vi gây hạn chế cạnh tranh và điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Mục đích của luật cạnh tranh đều là hướng đến tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và bảo vệ người tiêu dùng, qua đó thúc đây việc sử dụng nguồn lực kinh tế xã
hội có hiệu quả nhất
Luật Cạnh tranh Việt Nam được mô hình hóa theo sơ đồ như sau:
Các hành vĩ được pháp luật cạnh tranh điêu chỉnh
aS
Cac hanh vi gay Cac hanh vi canh tranh
han ché canh tranh không lành mạnh
Thoa thuan vé Lam dung vi tri Tap trung
han ché canh thống lĩnh, vị trí kinh tế
Cũng giống như mọi vi phạm pháp luật khác, vi f a Ỉ phạm pháp luật cạnh tranh gồm 4 yếu tô cấu thành là Ñ ' 1 N i
Chủ thể của vi phạm pháp luật cạnh tranh là các
tổ chức, cá nhân kinh doanh Luật Cạnh tranh ủ 7 +
nghiệp Xét về nội dung, việc gọi như vậy là q&% \
chưa chính xác Tuy nhiên, có lẽ nhà làm luật sử 8 Ậ i
niệm chủ thê kinh doanh của Luật Thương mại
92
Trang 15TOEICA
Như vậy, mọi chủ thê kinh doanh đều có thể trở thành chủ thể của vi phạm pháp
luật cạnh tranh Lẽ đương nhiên, chủ thể kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp phải là những cá nhân, tô chức thỏa mãn các điều kiện về độ tuôi và khả
năng nhận thức để có được năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
e© _ Khách thể của vi phạm pháp luật cạnh tranh
Khách thể của vi phạm pháp luật là các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hai
Pháp luật cạnh tranh hướng đến bảo vệ trật tự kinh tế bình đẳng và hiệu quả kinh
tế của toàn xã hội Môi trường bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, không kê đó
là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, có kinh nghiệm hay mới gia nhập thị trường là đòi
hỏi quan trọng để thúc đây hiệu quả phân bố nguồn lực, hiệu quả sản xuất kinh
doanh và hiệu quả xã hội
Nguồn lực tự nhiên và xã hội luôn có hạn trong khi nhu cầu của con người là vô tận, bởi vậy cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ giúp cho việc phân bố các nguồn lực đó đạt hiệu quả tối ưu Xét trên phương điện xã hội, cạnh tranh góp phần bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng thông qua việc thúc đây doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư nghiên cứu phát triển và hạ giá thành sản phẩm
Như vậy, pháp luật cạnh tranh hướng đến bảo vệ những quan hệ cạnh tranh bình
đẳng cũng như bảo vệ lợi ích người tiêu dùng Hành vi cạnh tranh xâm hại những
quan hệ này sẽ bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh
Trong mặt chủ quan của vi phạm pháp luật, lỗi là yếu tố quan trọng đầu tiên cần phải được xác định Khoa học pháp lý phân biệt hai loại lỗi là lỗi có ý và lỗi vô ý
o_ Lỗi cô ý trong vi phạm pháp luật cạnh tranh là trường hợp chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây ra tác hại phản cạnh tranh cho nền kinh tế nhưng vẫn mong muốn thực hiện hoặc tuy không mong muốn nhưng dé
mac cho hau quả phản cạnh tranh xảy ra
o_ Lỗi vô ý trong vi phạm pháp luật cạnh tranh là
trường hợp chủ thể vi phạm nhận thức được
hành vi của mình có thể gây tác hại phản cạnh
tranh cho nền kinh tế nhưng tin là hậu quả đó
không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được hoặc
chủ thể không nhận thức được tác hại phản
cạnh tranh của hành vi mặc đủ có thể thấy hoặc
buộc phải thấy trước
Lỗi trong vi phạm pháp luật cạnh tranh là yếu tố
bắt buộc phải được chứng minh khi khẳng định chủ
thê có vi phạm pháp luật hay không
Quan hệ pháp luật cạnh tranh có thể phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc giữa chủ thể kinh doanh với cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh
Trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh, dù bên khiếu nại vụ việc cạnh tranh
(nguyên đơn) là chủ thể kinh doanh hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ
quan quản lý cạnh tranh vẫn là chủ thể có trách nhiệm tiến hành điều tra, thu thập
chứng cứ và chứng minh tính có lỗi của hành vi
93
Trang 16TOPICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
Hành vi trái pháp luật cạnh tranh không mặc nhiên bị coi là có lỗi mà cần phải
được chứng minh trên thực tế Nếu không chứng minh được yếu tô lỗi thì hành vi
đó không bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật cạnh tranh
Yếu tố quan trọng nhất cần phải được xác định trong mặt khách quan của bất kỳ vi phạm pháp luật nào là hành vi trái pháp luật Ngoài ra, mặt khách quan của vi phạm pháp luật còn bao gồm yếu tố hậu quả thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi và hậu quả thực tế
o_ Hành vi trái pháp luật là yếu tố bắt buộc phải xác định trong mọi vi phạm pháp
luật, hành vi trái pháp luật cạnh tranh trong thực tế rất đa dạng và thay đôi theo thời gian Tuy nhiên, các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp có thể được phân thành hai nhóm như sau:
Hành vi gây hạn chế cạnh tranh: Là những hành vi được thực hiện bởi các
chủ thể kinh doanh nhằm làm giảm áp lực cạnh tranh trên thị trường Thông thường, hành vi gây hạn chế cạnh tranh tồn tại dưới dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng sức mạnh thị trường nhờ vào việc doanh nghiệp
có vị trí độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh trên thị trường ấy và hành vi tập
trung kinh tế giữa các doanh nghiệp nhằm có được sức mạnh thị trường để
loại bỏ cạnh tranh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Là những hành vi được thực hiện bởi
các chủ thể kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích xã hội, lợi ích
của các đối thủ cạnh tranh và lợi ích của người tiêu dùng
không nhất thiết phải xác định trong mọi vi phạm pháp luật Nếu theo quy định của pháp luật, trong cấu thành chỉ cần mô tả hành vi thì trường hợp đó gọi là cầu thành hình thức Trong trường hợp cấu thành đòi hỏi phải xác định được cả
hành vi, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa chúng thì gọi là cấu thành vật chất Như vậy, cấu thành vi phạm pháp luật cạnh tranh có thể tồn tại
đưới đạng cấu thành hình thức hoặc cấu thành vật chất
Trong pháp luật cạnh tranh, việc áp dụng
cầu thành hình thức đối với một vi phạm
tắc cầm đoán tự thân Theo quy tắc này, ` pháp luật sẽ quy định những hành vi bi
cắm tuyệt đối, không có ngoại lệ Chủ
thể kinh doanh chỉ cần thực hiện hành vi
đó là bị coi vi phạm pháp luật cạnh tranh
mà không cần xác định thiệt hại do hành vi đó gây ra là gì Quy tắc này được áp dụng đối với một số hành vi như thông đồng để thăng thầu hoặc
ngăn cản doanh nghiệp khác gia nhập thị trường
Bên cạnh quy tắc cắm đoán tự thân, pháp luật cạnh tranh còn sử đụng quy
tắc lý do để xác định có hay không có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh
94
Trang 17TOPICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
4.3.2
4.3.2.1
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là trường hợp các
chủ thể kinh doanh cùng nhau thỏa thuận những
cách thức để làm giảm bớt hoặc triệt tiêu cạnh tranh
giữa họ trong hoạt động kinh doanh Như vậy, trong
trường hợp này, thay vì phải nỗ lực cạnh tranh để
giành được phần thắng trong cuộc đua, các doanh
nghiệp đi đến thỏa hiệp với nhau để giảm đến mức
tối đa sức ép cạnh tranh Hệ quả của hoạt động này
là các doanh nghiệp lẽ ra cạnh tranh với nhau lại trở
thành các chủ thể thông đồng với nhau
Quy tắc này được áp dụng đối với một số
hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường,
tập trung kinh tế Quy tắc lý do đòi hỏi
phải xem xét vì lý do nào mà hành vi trái pháp luật cạnh tranh được thực hiện Nếu
các hành vi đó được thực hiện để thúc
đây sự tiến bộ của khoa học công nghệ
và lợi ích mà hành vi đó mang lại lớn hơn những thiệt hại do tính hạn chế cạnh tranh của nó gay ra thì không bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh
Như vậy, ở một chừng mực nhất định, quy tắc lý đo đòi hỏi phải xác định thiệt hại
đo hành vi phản cạnh tranh mang lại, tức là đòi hỏi phải xác định được câu thành
vật chất Tuy nhiên, những thiệt hại đó không nhất thiết là đã phải xảy ra mà có thể
sẽ xảy ra trong tương lai Chính vì vậy, cầu thành vật chất trong trường hợp này chỉ mang tính giả định Như vậy, với quy tắc lý do, một hành vi trái pháp luật cạnh
tranh không mặc nhiên bị coi là vi phạm pháp luật mà đòi hỏi phải xác định được
tại sao hành vi đó được thực hiện Nếu hành vi đó mang lại lợi ích cho xã hội và cho nền kinh tế lớn hơn những thiệt hại xảy ra hoặc có thể xảy ra thì lý đo thực hiện hành vi được coi là tình tiết loại trừ tính phản cạnh tranh của hành vi đó Quy
tac lý do xuất phát từ cơ sở kinh tế của luật cạnh tranh đó là cạnh tranh phải hướng
đến hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất Vì vậy, yếu tố hiệu quả luôn phải được xem
xét khi giải quyết các vụ việc cạnh tranh
liên quan Thông thường, thỏa thuận ngang tôn tại đưới các đạng sau đây:
hàng hóa, địch vụ nhằm triệt tiêu cạnh tranh về giá
e© _ Thỏa thuận kiểm soát sản lượng Các doanh nghiệp cùng nhau thỏa thuận về số lượng,
95
Trang 18TOPICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan Chẳng
hạn như, các hãng bia thỏa thuận với cửa hàng bia
không được quảng cáo sản phâm của hãng khác
Trong thực tế, thỏa thuận ngang thường có mức độ
gây hạn chế cạnh tranh lớn hơn nhiều so với thỏa
thuận dọc Chính vì vậy, pháp luật cạnh tranh của
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn tồn tại dưới
dạng thỏa thuận dọc Đây là trường hợp các doanh
nghiệp trong cùng một chuỗi sản xuất và cung ứng
hàng hóa, dịch vụ thỏa thuận với nhau để thực hiện
khối lượng hàng hóa, địch vụ sẽ được cung cấp trên thị trường nhằm hạn chế về
mặt cung, qua đó tác động đây giá sản phẩm lên cao
Thỏa thuận phân chia thị trường Toàn bộ thị trường được chia nhỏ thành nhiều phần và mỗi doanh nghiệp sẽ độc quyền kinh doanh trên phần thị trường của mình
Thỏa thuận thông đồng trong đấu thầu Các doanh nghiệp cùng nhau thông đồng
để một hoặc một số chủ thê nhất định thắng thầu
Trong nhiều trường hợp, để thực hiện được những thỏa thuận nói trên, các doanh
nghiệp cùng nhau lập ra một tô chức chỉ đạo và giám sát thực hiện các thỏa thuận đó Những tô chức này được gọi là các-ten (cartel) hoặc tờ-rớt (trust) Tuy nhiên,
không nhất thiết mợi thỏa thuận ngang đều phải thành lập các-ten mà chỉ cần có hợp đồng thỏa thuận dưới dạng văn bản hoặc thỏa thuận ngầm giữa các bên là đủ Những thỏa thuận không thành lập các-ten tồn tại trong một số trường hợp như các doanh nghiệp liên kết cùng sản xuất một sản phẩm hoặc cùng phát
hợp thỏa thuận ngang, bao gồm các thỏa thuận về:
Trong tám loại hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh ở trên, các hành vi thỏa thuận để kìm hãm
doanh nghiệp khác gia nhập thị trường, loại bỏ
Ấn định giá
Phân chia thị trường
Hạn chế, kiểm soát số lượng, khối lượng
Hạn chế đầu tư
Ấn định các điều kiện thương mại không liên quan
Kìm hãm doanh nghiệp khác gia nhập thị trường;
Loại bỏ doanh nghiệp không phải là các bên của
thỏa thuận
Thông đồng để thắng thầu
doanh nghiệp khác và thông đồng để thắng thầu có
cau thành hình thức Nói cách khác, quy tắc cắm đoán tự thân được sử dụng để xác
định các hành vi này có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không Theo quy định của
96
Trang 19TOPICA Bài 4: Pháp luật cạnh tranh
pháp luật, bản thân những hành vi này khi được thực hiện sẽ mang lại những thiệt hại
phan cạnh tranh mà không thể giải thích bằng bất cứ lý do nào khác Chính vì vậy,
những hành vi này bị cắm tuyệt đối Chủ thể kinh doanh chỉ cần thực hiện các hành vi
nói trên là được xem như là đã đủ yếu tố cầu thành vi phạm pháp luật cạnh tranh và phải chịu trách nhiệm pháp lý
Đối với các thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế và kiểm soát số lượng và khối lượng, hạn chế đầu tư và ấn định các điều kiện thương mại không liên
quan sẽ sử dụng quy tắc lý do và thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia vào
thỏa thuận để xác định tính hợp pháp của chúng Bản thân những hành vi này tiềm ân
nguy cơ gây hạn chế cạnh tranh nhưng chúng chỉ bị coi là vi phạm pháp luật nếu thị phan kết hợp của các doanh nghiệp đủ lớn để chỉ phối thị trường và việc thực hiện
những hành vi đó không nhằm mang lại hiệu quả kinh tế xã hội và hướng đến thu lợi
cho các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận
Thị phần sản phẩm của một doanh nghiệp được xác
định bằng tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của
doanh nghiệp đó với tổng doanh thu của tất cả các
doanh nghiệp kinh doanh cùng loại hàng hóa, dịch
vụ trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm
giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp đó với
tông doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp
kinh doanh cùng loại hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường liên quan theo tháng, quý hoặc năm Thị
phần kết hợp của các doanh nghiệp là tổng thị phần
trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh hoặc tập trung kinh tế
Theo quy định của Luật Cạnh tranh, nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham
gia thỏa thuận nhỏ hơn 30% thì thỏa thuận đó vẫn được phép thực hiện Nếu thị phần
kết hợp vượt ngưỡng 30% thì quy tắc lý do tiếp tục được sử dụng để xác định tính hợp
pháp của hanh vi Nếu lợi ích mà hành vi thỏa thuận mang lại lớn hơn những thiệt hại
do tác động phản cạnh tranh của nó gây ra thì hành v1 đó được phép thực hiện do được hưởng các yếu tô miễn trừ
ĐIỀU 10 LUẬT CẠNH TRANH
Điều 10 Luật Cạnh tranh đưa ra điều kiện chấp nhận thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận nhằm hạ giá thành, khiến cho người tiêu dùng được
hưởng lợi thông qua các biện pháp sau:
e Hợp lý hóa cơ cấu tô chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh;
e Thúc đây việc ap dung théng nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của
chủng loại sản phâm;
e© Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và yếu tố của giá;
e Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ;
Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế
97