1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ " Đặc điểm địa danh Quảng Nam " docx

42 659 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm địa danh Quảng Nam
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học / Địa lý học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 314,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1717, chúa Nguyễn Phúc Chu trong một lần tuần du tỉnh Quảng Nam, đã đến thăm Hội An, nhân đó đã đổi tên chiếc cầu này thành tên chữ “Lai Viễn Kiều” có nghĩa là cầu của khách phương x

Trang 1

Luận văn thạc sĩ

Đặc điểm địa danh

Quảng Nam

Trang 2

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Trang 3

2.2 Lịch sử nghiên cứu địa danh ở Quảng

Trang 5

1.3 Tiểu

kết 46

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH QUẢNG NAM 48

2.1 Địa danh Quảng Nam: kết quả thu thập và phân

Trang 6

2.3 Đặc điểm cấu tạo địa danh Quảng

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT CHUYỂN BIẾN CỦA ĐỊA DANH

QUẢNG NAM 81

Trang 7

3.1 Các nguyên nhân làm biến đổi địa

Trang 9

TÀI LIỆU THAM

KHẢO 141

PHỤ

LỤC 147

Chương 4 ĐẶC ĐIỂM VỀ NGUỒN GỐC – Ý NGHĨA

VÀ GIÁ TRỊ PHẢN ÁNH HIỆN THỰC CỦA ĐỊA DANH QUẢNG

NAM 4.1 Đặc điểm về nguồn gốc – ý nghĩa

4.1.1 Một số địa danh có nguồn gốc rõ ràng

4.1.1.1 Chùa Cầu

Trang 10

Nằm ở tiếp giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường Trần Phú (HA), Chùa Cầu (hay còn gọi là chùa Nhật Bản) là công trình kiến trúc do các

thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Hội An xây dựng vào khoảng giữa thế

kỷ XVI Chùa Cầu có dáng hình chữ Công, mặt cầu bằng ván gỗ cong vòng ở giữa, bắt qua con lạch thông ra sông Hoài Cầu có mái che uốn cong mềm mại và được chạm trổ nhiều hoạ tiết tinh xảo Năm 1717, chúa Nguyễn Phúc Chu trong một lần tuần du tỉnh Quảng Nam, đã đến thăm Hội An, nhân đó đã đổi tên chiếc cầu này thành tên chữ “Lai Viễn Kiều” (có nghĩa là cầu của khách phương xa đến) Ba chữ này được chạm nổi trên cửa chính của cầu Trên sườn cầu có một ngôi miếu nhỏ thờ thần Bắc Đế Trấn Vũ – vị thần chuyên trấn trị phong ba, lũ lụt theo tín ngưỡng của người Trung Hoa Ở hai đầu cầu có đặt hai nhóm tượng khỉ và chó bằng gỗ ngồi chầu

Lai lịch của Chùa Cầu gắn liền với truyền thuyết về con Cù – một loài thuỷ quái có đầu nằm ở Ấn Độ, mình ở Việt Nam và phần đuôi ở tận Nhật Bản Mỗi lần Cù cựa quậy là gây lũ lụt, động đất ở những nơi này Vì vậy, ngoài việc xây cầu để phục vụ giao thông, người xưa còn có hàm ý trấn yểm loài thuỷ quái, giữ cho cuộc sống yên bình

Chùa Cầu là một tài sản vô giá và đã được chọn làm biểu tượng của Hội An

4.1.1.2 Bằng Than

Dân gian quen gọi là “Bàn Than” và cả trên một số sách báo cũng thường viết là “Bàn Than”, với cách giải thích theo kiểu trực quan là hòn núi có đỉnh bằng phẳng như mặt “bàn” và màu đen như than Thực ra, đúng tên là “Bằng Than” Trong ngôn ngữ địa phương trước đây đã xảy ra hiện tượng từ “bằng”

Trang 11

vốn là tính từ được dùng như danh từ, chẳng hạn như: Bằng Thùng là tên một ngọn núi ở phía tây huyện Quế Sơn giống như một cái thùng úp ngược; Bằng

Võ là tên một khu đất ngày xưa nghĩa quân của Nguyễn Duy Hiệu hay tập võ nghệ; ở huyện Duy Xuyên có núi gọi là Hòn Bằng; ở miền tây Quảng Ngãi

có địa danh Bằng Chò là đỉnh núi bằng phẳng có nhiều cây chò mọc [54, tr.828]

Bằng Than là một hòn núi thấp, nằm sát biển, thuộc xã Tam Hải (NT), dài khoảng 2km, cao 40m, trên đỉnh bằng phẳng, rộng khoảng 20ha, phủ đầy một loại cỏ thân cứng và những cây dại như chà là, sim, mua Thời kháng chiến chống Mỹ, trực thăng của quân đội Mỹ nhiều lần đổ quân trên hòn Bằng Than trong các cuộc càn quét Điều đáng chú ý là ở mặt phía đông và đông nam, vách đá cao dựng đứng màu đen như than Từ ngoài biển nhìn vào, ta thấy có một số hang động do sự xâm thực của sóng biển lâu ngày và những bãi cát lô nhô nhiều hòn lớn nhỏ cùng những hố ẩn hiện trong những tia nước

và bọt biển trắng xoá trên cái phông màu đen của đá kéo dài đến hút tầm mắt Theo hình dáng tự nhiên và qua trí tưởng tượng phong phú của người dân địa phương, những vách đá, hố nước nơi đây được đặt tên như: hố Cột Tàu, khe

Bà Che, hố Đùng, …

Về thắng cảnh này, sách Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Quảng Nam viết: “Núi Phú Xuân có tên là núi Bàn Than, ở cách huyện Hà Đông 50 dặm về phía đông nam, nằm lề bên cửa biển Đại Áp ở phía bắc; mạch núi nguyên từ núi Chủ Sơn kéo về, chia ra quanh co qua các xã Hoà Vấn, Phú Hoà đến thôn Phú Xuân Hạ thì nổi vọt lên một ngọn núi, sắc đá đen như than, đứng xa thấy đỉnh núi bằng màu đen như cái mâm than, nên gọi tên như thế”

Trang 12

Năm 1949, giặc Pháp đã đóng một đồn lớn trên núi Bồ Bồ, nhằm án ngữ mặt trận phía nam, bảo vệ Đà Nẵng Ngày 19-7-1954, sau hai giờ chiến đấu, quân

ta đã tiêu diệt cứ điểm Bồ Bồ, diệt 100 tên, bắt sống 300 tên, trong đó có một đại tá [54, tr.1645]

Sau ngày toàn thắng, một tượng đài chiến thắng đã được xây dựng trên đỉnh

Bồ Bồ

4.1.1.4 Ông Đốc

Trang 13

Địa danh này gắn liền với trận đánh “có một không hai” của nghĩa quân

Quảng Nam trong thời kháng chiến chống Pháp Câu chuyện như sau:

Để trấn an tinh thần cho quan Khâm sai, đồng thời thị uy với nghĩa quân vùng Phú Kỳ (làng Gò Nổi – ĐB), quân Pháp đã cho bảy ca nô đầy lính

tráng, súng ống, ngược sông Vĩnh Điện lên neo đậu tại Bãi Chài thuộc làng Vân Ly (ĐB)

Từ trạm tiền tiêu của nghĩa quân ở Phong Thử do đội Côn và đội Thoá trấn giữ bảo vệ đại đồn Bình Yên, địa phận huyện Quế Sơn Tán tương Nghĩa hội Trần Huy liền cho mời bang tá Nguyễn Đình Tán từ đồn Phong Thử lên khẩn bàn Kế hoạch tập kích được vạch ra tỉ mỉ Theo đó, nghĩa quân chia làm ba mặt trận tấn công vào Bãi Chài, một đội xung kích sẽ từ bến đò đánh ra

Tán tương đồn Bình Yên - Trần Huy - cho người lên thượng lưu sông Thu Bồn đóng bè bằng hom dâu thả trôi xuống Bãi Chài Đây là loại bè có điều khiển bằng cách gióng các sợi mây hai bên, thả trôi ngầm dưới nước để kéo

bè đi Đến một cự li nhất định, gần mục tiêu, bè mới được bứt dây cho lao tới Lúc phát hiện được bè, sẽ không còn cách nào tránh kịp Trên bè, nghĩa quân đặt nhiều trái phá với liều thuốc nổ cực mạnh, nhằm công phá đội

xuồng máy của giặc đang neo đậu tại Bãi Chài

Đúng giờ quy định, các chiếc bè theo con nước đổ xuôi rất mạnh được bứt dây, phóng vun vút vào đám ca nô Bọn giặc Pháp thấy thế, ơi ới gọi nhau lấy bất cứ thứ gì có được nhằm đẩy bè ra xa Nhưng đã quá chậm, các chiếc bè công kềnh cứ thế lao tới, đâm sầm vào đội xuồng máy của giặc Một loạt tiếng nổ long trời lở đất làm cho các chiếc xuồng tung toé, ba trong bảy chiếc

Trang 14

lật úp xuống sông Tức thì ba mặt, trên nước và đất liền, nghĩa quân theo quân lệnh “hễ thấy tàu, thuyền có cắm cờ ba sắc cứ bắn xả vào” đã khai hoả vào mục tiêu và dùng câu liêm móc đầu bọn giặc nhào xuống nước, hoặc dùng giáo đâm giặc

Về phía nghĩa quân, đốc binh họ Bùi hy sinh Để tưởng nhớ ông, nhân dân gọi nơi ông ngã xuống là bến đò Ông Đốc Địa danh ghi lại một sự kiện lịch

sử, thể hiện lòng biết ơn, tôn kính đối với vị anh hùng họ Bùi Ngày nay, bến

đò Ông Đốc ở thôn Vân Ly xã Điện Quang huyện Điện Bàn

4.1.2 Một số địa danh có nguồn gốc còn tranh cãi

4.1.2.1 Faifo

Hội An trong lịch sử có nhiều tên gọi khác nhau: Hải Phố, Hoài Phố, Hội Phố, Hoa Phố, Haiso, Faifo, … vốn là một thương cảng nằm bên bờ con sông lớn nhất tỉnh, đã có một thời kỳ phát triển phát đạt nhất khu vực Đông Nam

Á Nơi này thu hút thuyền buôn nhiều nước Đông Nam Á và nhiều nước phương Tây đến đây để trao đổi, mua bán hàng hoá Về địa danh Faifo: từ Faifo lần đầu tiên xuất hiện trong hồi ký của nhà truyền giáo người Ý

Christoforo Borri đã từng sống ở Hội An và Đàng Trong từ năm 1618 đến năm 1621 Cách giải thích nguồn gốc từ Faifo có nhiều thuyết khác nhau: 1- Faifo từ Hải Phố mà ra (theo Chapuis)

2- Faifo từ Hội An phố mà ra (theo Trần Kinh Hoà)

3- Faifo từ Hoa Phố mà ra (theo Châu Phi Cơ)

Trang 15

4- Faifo từ Hoài Phố mà ra (theo Phan Khoang)

5- Ngoài ra, có người cho rằng từ Faifo phát xuất từ cách hỏi tên đường của người phương Tây đến Hội An hồi đó “Có phải phố không?”, người địa

phương trả lời “Phải phố.”, do không hiểu tiếng Việt nên “phải phố” được chuyển thành Faifo

Trong các cách giải thích trên, có lẽ Faifo từ Hoài Phố (phố chợ trên sông Hoài – tên gọi của sông Thu Bồn ngày nay) có sức thuyết phục hơn cả

Từ đầu thế kỷ XX, trong các văn bản chính quyền thực dân thường dùng từ Faifo thay cho từ Hội An Còn trong ngôn ngữ sinh hoạt thường ngày, người dân hay dùng từ phố để chỉ Hội An [54, tr.1661]

4.1.2.2 Chu Lai

Vùng đất ở huyện Núi Thành Nơi đây là khu kinh tế mở được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập Ban chỉ đạo xây dựng theo Quyết định số 204/1999 ngày 18-10-1999 của Thủ tướng Chính phủ Đây là khu kinh tế mở đầu tiên của Việt Nam, có diện tích rộng 150km2 Địa danh này có hai cách lí giải khác nhau:

1- Có người cho rằng địa danh này đã có từ thời nhà Nguyễn

2- Vào năm 1965, khi quân Mỹ đổ bộ vào vùng này đã cho xây dựng ở đây một sân bay, tên sân bay được đặt theo tháng xây dựng “July” (tháng 7) Chu Lai do biến âm từ July mà ra (Sân bay xây dựng trên vùng đất cát xã Tam

Trang 16

Nghĩa (NT), nằm phía đông đường sắt và quốc lộ 1A, có đường băng bằng bê tông dài 3.050m, rộng 45m và một đường băng phụ dài 2.400m, rộng 30m.) Cách lí giải thứ hai có sức thuyết phục hơn, vì những nguyên nhân sau:

1- Nguyên văn câu vè “Châu Lai, Châu Ổ bao xa” thực ra là “Sa Cần, Châu

Ổ bao xa”

2- Nếu địa danh này ra đời dưới thời nhà Nguyễn thì sẽ được gọi tên là Châu Lai (giống như cách gọi Châu Ổ - Quảng Ngãi, Châu Thành, …), vì kiêng huý chúa Nguyễn Phúc Chu nên không bao giờ người dân gọi là Chu Lai

3- Địa danh Chu Lai xuất hiện từ thời chống Mỹ (1965) Trong danh mục làng xã trước đây không hề có địa danh này (cf Lê Trung Hoa) [37, tr.103]

4.1.2.3 Thạnh Mỹ

Vùng đất là nơi hai con sông Đắc My (từ Phước Sơn chảy về) và sông Thanh (từ biên giới Lào về) gặp nhau để cùng đổ vào sông Bung Nhân dân nơi đây lấy từ Thanh ghép vào từ My thành tên gọi vùng đất: Thanh My (theo cách gọi của đồng bào Cơ Tu)

Lại có ý kiến cho rằng: vùng đất Thạnh Mỹ hiện nay là vùng đất đá vôi (lớn nhất ở Quảng Nam), có nhiều hang động, nhiều tảng đá rất đẹp nên được gọi

là Thạch Mỹ (từ gốc Hán Việt: vẻ đẹp của đá) Đây là cách gọi của người Kinh

Trang 17

Ngày nay, do bị biến âm nên gọi chệch đi thành Thạnh Mỹ (cf Nguyễn Tri Hùng) Thạnh Mỹ hiện nay là thị trấn của huyện Nam Giang

4.1.2.4 Tr’Hy

Sau khi Gia Long (Nguyễn Ánh) lên ngôi, lập ra triều nhà Nguyễn, vị vua này tiến hành truy sát binh lính của triều Tây Sơn – Nguyễn Huệ Một số người dân vùng Đại Lãnh (ĐL) phải lánh nạn lên núi, cư trú tại vùng của đồng bào dân tộc thiểu số Tại nơi đây, họ được đồng bào Cơ Tu che chở, nuôi nấng và trở thành dân làng Những người Kinh chạy nạn này thường kể cho đồng bào nghe việc làm tốt đẹp của quan quân nhà Tây Sơn là lấy đất người giàu chia cho dân nghèo và thường nói câu “Tây Sơn hy hữu” (ít có như Tây Sơn) Chính vì câu chuyện này mà người dân tại đây lấy luôn cụm

từ “Tây Sơn hy hữu” để đặt tên cho làng mình Vì cái tên quá dài nên được rút gọn lại là Tây Hy, về sau biến âm thành Tr’Hy (cf Nguyễn Tri Hùng)

Hiện nay, Tr’Hy là một xã của huyện Tây Giang, nằm giáp với nước bạn Lào

4.2 Giá trị phản ánh hiện thực

Địa danh ra đời trong những điều kiện lịch sử, địa lý nhất định Địa danh chứa đựng những thông tin về chính trị, lịch sử, văn hoá, xã hội Những thông tin đó cho ta biết được đặc điểm của vùng đất cư trú Cũng giống như địa danh trên thế giới, địa danh Việt Nam, địa danh Quảng Nam cũng thế Khi nghiên cứu những giá trị phản ánh hiện thực của địa danh, ta có thể tìm

ra những ý nghĩa về nhiều mặt của đời sống xã hội được thể hiện thông qua

Trang 18

địa danh Không sai khi có người cho rằng địa danh giống như “vật hoá

thạch”, hay người khác lại cho rằng đó là những “đài kỷ niệm” Trải qua lịch

sử hình thành gần 600 năm, địa danh Quảng Nam thể hiện rõ những giá trị hiện thực như vậy

4.2.1.1 Phản ánh quá trình di trú

Xứ Quảng vốn là địa bàn cư trú của người Chăm từ khoảng thế kỷ thứ II Nơi đây đã hình thành nên vương quốc với những tên gọi khác nhau như Lâm Ấp, Chiêm Thành, … Quảng Nam là nơi đặt kinh đô Sinhapura (kinh thành Sư Tử), nay là vùng Trà Kiệu (DX) từ thế kỷ thứ IV đến giữa thế kỷ thứ VIII, và cũng là nơi đặt kinh đô Indrapura (kinh thành Sấm Sét) tại khu vực Đồng Dương (TB) từ khoảng giữa thế kỷ thứ IX đến cuối thế kỷ thứ X Chính vì thế, ở Quảng Nam có không ít những làng Việt đan xen với làng Chăm hoặc làng Việt được hình thành ngay trên phế tích của làng Chăm Đó là những làng có nhiều công trình như đền, chùa, miếu, … được xây dựng với những vật liệu đá cũ như ở Chiêm Sơn (DX), Trà Kiệu (DX), làng Thanh Chiêm (ĐB), Cù Lao Chàm (HA), Đồng Dương (TB), Hương Quế (QS), … Dấu ấn

Trang 19

Chămpa còn lưu lại khá rõ ở các tên làng đã được Việt hoá như: Trà Quế (HA), Trà Nhiêu (DX), Trà Châu (DX), Trà Đoả (TB), Thi Lại (DX), …

Những cư dân đầu tiên đến định cư, mở đất ở Trà Kiệu là 13 tráng binh quê gốc Thanh Hoá và Nghệ An trong đội quân bình Chiêm của vua Lê Thánh Tông được phân công ở lại để tổ chức khai hoang, lập làng Chính 13 người này là 13 vị thuỷ tổ của làng Ngũ Xá Trà Kiệu (DX), về sau chia thành 5 làng: Trà Kiệu Thượng, Trà Kiệu Đông, Trà Kiệu Tây, Trà Kiệu Nam, Trà Kiệu Trung

Minh Hương (HA) là địa danh thể hiện rõ ràng nguồn gốc những cư dân đầu tiên của làng Cư dân ở đây chủ yếu là người Hoa, họ chính là lưu dân nhà Minh (Trung Quốc), chạy sang cư trú ở Hội An để tránh sự truy bắt của quân Thanh Được sự cho phép của chúa Nguyễn, họ đã định cư tại nơi đây và lấy tên Minh Hương làm tên làng

Quá trình cộng cư của người Việt, người Chăm và người Hoa trên đất Quảng Nam đã được thể hiện trong sách Ô Châu cận lục khi miêu tả đời sống của dân Điện Bàn (được hiểu là nửa tỉnh phía bắc Quảng Nam lúc bấy giờ) vào giữa thế kỷ XVI như sau: “Dân lấy thóc làm giàu, nhà nông dùng trâu đạp lúa; xe tiện chuyên chở đường bộ, ghe thuyền thuận lợi đường sông Vườn Mạc Xuyên trồng lắm hoa hồng, người Lang Châu dệt nhiều lụa trắng… Phụ

nữ mặc quần vải Chiêm, đàn ông tay cầm quạt Tàu…”

Một trường hợp khá đặc biệt của một tập thể lưu dân gồm 33 người quê huyện Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An) vào Quảng Nam thế kỷ XVI, lập ra bốn làng

ở phía nam chân núi Hòn Tàu Để ghi nhớ quê gốc, họ đặt tên ba làng lấy từ

Trang 20

đầu là “Nghi”, đó là các làng Nghi Thượng, Nghi Hạ, Nghi Trung và một làng lấy từ cuối là “Lộc”, làng Lộc Đại Cả bốn địa danh này nay là bốn thôn của xã Quế Hiệp (QS)

Ở huyện Quế Sơn còn có một trường hợp khác, đó là địa danh Đức Giáo Đức Giáo nguyên là tên của một làng ở Phú Xuân (Thuận Hoá) nơi có nhiều người chuyên nghề hát tuồng Vào tháng 4 năm Ất Sửu (1805), khi vua Gia Long bắt đầu xây dựng kinh thành Phú Xuân thì Đức Giáo nằm trong diện giải toả Thế là phần lớn dân Đức Giáo vào Quảng Nam, đến định cư tại làng Khánh Đức (nay là một thôn thuộc xã Quế Hiệp – QS) Tuy ở địa phận

Khánh Đức nhưng nhóm dân di cư này vẫn lập một làng riêng và giữ tên làng

cũ là Đức Giáo Làng này đặc biệt ở chỗ “hữu đinh vô điền”, tức là có dân mà không có ruộng đất Dân Đức Giáo vẫn tiếp tục giữ nguyên nghề cũ của mình

là hát tuồng, do đó mới có câu phổ biến trong vùng là “Đức Giáo vô địa lập chuỳ, dĩ xướng ca vi nghệ” (Đức Giáo không có đất cắm dùi, chỉ lấy việc xướng ca làm nghề vui sống) [54, tr.1093] Đức Giáo là một trong những cái nôi đã khai sinh ra nghệ thuật hát bội đặc sắc của Quảng Nam

Qua tìm hiểu của chúng tôi, một số địa danh có nguồn gốc dân tộc thiểu số ở Quảng Nam cũng phản ánh quá trình cư trú của dân tộc họ Khi những người

Ve chuyển từ nước Lào về huyện Nam Giang, họ vẫn tiếp tục lấy tên làng cũ

để đặt tên cho làng họ đến cư trú, như: làng Đắc Pring (NG), làng Đắc Pre (NG) Hay trường hợp đồng bào Cơ Tu dù đã chuyển đến sinh sống tại huyện Tây Giang nhưng vẫn lấy tên ngọn núi ở quê cũ (nước Lào) để đặt tên cho xã mới, đó là xã Bhalêê (TG)

Trang 21

Trường hợp khá thú vị khi chúng tôi tìm hiểu về huyện Phước Sơn Ở xã Phước Xuân (PS) có hai thôn là Lao Đu và Lao Mưng, đây là hai thôn tập trung nhiều dân tộc Giẻ triêng sinh sống Về nguồn gốc địa danh của hai thôn này được giải thích như sau: trước đây, những người Giẻ triêng đầu tiên sống trong hai thôn này vốn là người cùng một làng ở huyện Đắc Glây (tỉnh Kon Tum) Khi quyết định chuyển cư về Phước Sơn họ tiến hành chia dân, tách thành hai nhóm, số dân trong hai nhóm không đều nhau Khi đến Phước Sơn,

họ lập hai làng mới, làng đi ít dân hơn gọi là làng La Đu (“La” có nghĩa là

“đi”, “Đu” có nghĩa là “ít”), làng đi nhiều dân hơn gọi là làng La Mâng

(“Mâng” có nghĩa là “nhiều”) Về sau tên làng bị biến âm và được gọi là Lao

Đu, Lao Mưng như hiện nay (cf Nguyễn Tri Hùng)

Qua những ví dụ như trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, chính địa danh là nơi phản ánh quá trình di trú, là “cái nôi” lưu giữ nguồn gốc của con người sống trên vùng đất hiện tại, là yếu tố quan trọng để tìm hiểu nguồn cội xa xưa

4.2.1.2 Phản ánh sự kiện, biến cố lịch sử

Như mọi danh từ, danh ngữ chung, địa danh có chức năng định danh sự vật

Đó là đứng trên quan điểm đồng đại Nếu đứng trên quan điểm lịch đại, địa danh có chức năng bảo tồn Rất nhiều những biến cố chính trị, lịch sử được lưu giữ trong địa danh

Đối với vùng đất Quảng Nam, năm 1976 là mốc khởi đầu cho quá trình

nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh với cuộc khai quật ở Tam Mỹ (NT) của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Hàng loạt những cuộc khai quật và khám phá kế tiếp

Ngày đăng: 21/03/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w