1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Đặc điểm của các địa danh huyện Thủy Nguyên

87 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa danh là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: lịch sử, địa lý, văn hóa, ngôn ngữ...Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về địa danh với các cách tiếp cận kh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

_

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐỊA DANH HUYỆN THỦY NGUYÊN (HẢI PHÒNG)

TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ - VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ THANH HÀ

HẢI PHÒNG - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự

hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thanh Hà

Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách

quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hải Phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2016

Tác giả

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ,

chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo tại trường Đại học Hải Phòng, Học viện

Ngôn ngữ Việt Nam, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều cá nhân trong và

ngoài nhà trường

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể các thầy, cô giáo đã giảng

dạy các chuyên đề cho lớp Cao học Ngôn ngữ Việt Nam A-Khóa VI và các

thầy, cô giáo Phòng Quản lý sau đại học - Trường Đại học Hải Phòng Đặc

biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thanh Hà đã tận

tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, nhân viên

Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện; các đồng chí cán bộ các xã, thị trấn và

nhân dân trong huyện Thủy Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá

trình nghiên cứu luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người thân,

bạn bè đã động viên tôi trong trong suốt quá trình học tập và thực hiện

luận văn

Hải Phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

Trang 4

Trang

LỜI CAM ĐOAN……… i

LỜI CẢM ƠN……… ii

MỤC LỤC……… iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… v

DANH MỤC CÁC BẢNG……… vi

MỞ ĐẦU……… 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC 11

1.1 Khái quát chung về định danh ngôn ngữ……… 11

1.2 Cơ sở lý thuyết về địa danh……… 14

1.2.1 Định nghĩa về địa danh……… 14

1.2.2 Phân loại địa danh……… 16

1.2.3 Các phương diện nghiên cứu địa danh……… 19

1.2.4 Hướng tiếp cận của đề tài……… 19

1.3 Đặc điểm của định danh nói chung và địa danh nói riêng……… 19

1.3.1 Về nguồn gốc của các tên gọi……… 20

1.3.2 Về kiểu ngữ nghĩa của các tên gọi……… 20

1.3.3 Cách thức biểu thị của các tên gọi……… 22

1.4 Tiểu kết chương 1……… 23

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH CỦA HUYỆN THỦY NGUYÊN (HẢI PHÒNG)… 25

2.1 Một số vấn đề tư liệu về địa bàn, địa danh huyện Thủy Nguyên…… 25

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Thủy Nguyên……… 25

2.1.2 Phân loại địa danh Thủy Nguyên theo tiêu chí tự nhiên/không tự nhiên……… 35

2.2 Đặc điểm định danh của các địa danh thuộc Thủy Nguyên……… 37

2.2.1 Xét theo nguồn gốc ngôn ngữ……… 37

2.2.2 Xét theo kiểu ngữ nghĩa của chúng……… 39

2.2.3 Xét theo cách thức biểu thị của chúng……… 42

Trang 5

2.3 Kiểu mô hình cấu tạo phức thể địa danh Thủy Nguyên……… 49 2.3.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh Thủy Nguyên……… 49 2.3.2 Phân tích thành tố chung trong phức thể địa danh Thủy Nguyên… 51 2.3.3 Đặc điểm một số kiểu cấu tạo của địa danh Thủy Nguyên………… 57 2.4 Tiểu kết chương 2……… 60 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA HUYỆN THỦY NGUYÊN (HẢI PHÒNG) ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA HỆ THỐNG ĐỊA

DANH………

62

3.1 Một vài vấn đề về văn hóa và ngôn ngữ……… 62 3.1.1 Khái niệm văn hóa……… 62 3.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa……… 63 3.2 Một số đặc trưng văn hóa thể hiện trong địa danh Thủy Nguyên…… 65 3.2.1 Đặc trưng văn hóa được thể hiện qua thành tố ngôn ngữ……… 65 3.2.2 Sự thể hiện các dạng tồn tại của văn hóa trong địa danh Thủy Nguyên… 68 3.2.3 Sự thể hiện các phương diện văn hóa trong địa danh Thủy Nguyên…… 71 3.3 Tiểu kết chương 3……… 73 KẾT LUẬN……… 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 78

Trang 6

1 Viết tắt trong địa danh các xã, thị trấn

Từ viết tắt Giải thích Từ viết tắt Giải thích

2 Viết tắt trong loại hình địa danh

Từ viết tắt Giải thích

ĐDCTGT Địa danh công trình giao thông

Trang 7

Số

2.2 Kết quả thu thập và phân loại theo loại hình 41 2.3 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh Thủy Nguyên 50 2.4 Kết quả thống kê thành tố chung trong địa

2.5 Thống kê cấu tạo của thành tố chung trong các

2.6 Thống kê địa danh Thủy Nguyên theo kiểu cấu tạo 57

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Địa danh là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: lịch

sử, địa lý, văn hóa, ngôn ngữ Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về địa danh với các cách tiếp cận khác nhau và đem lại những kết quả to lớn về giá trị khoa học cũng như giá trị về thực tiễn Dưới góc độ ngôn ngữ học, ý nghĩa, nguồn gốc và những biến đổi của địa danh cũng như cấu tạo đặc điểm của địa danh, các phương thức đặt địa danh đã được các công trình ngôn ngữ nghiên cứu một cách chuyên sâu Gần đây, địa danh đã được nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ - văn hóa đem lại những vấn đề lý thú cả về mặt khoa học và thực tiễn

1.2 Đặc trưng văn hóa của địa danh được thể hiện khá rõ trong ngôn ngữ Vì thế một số nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp của cộng đồng mà còn là phương tiện bảo tồn những đặc trưng

về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng dân tộc Nghiên cứu địa danh ở một vùng miền, địa phương góp phần làm sáng tỏ bức tranh hiện thực về văn hóa, địa lý của vùng miền, địa phương đó

1.3 Thủy Nguyên là một huyện của thành phố Hải Phòng, tiếp giáp với tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương, là đầu mối giao thông nối Hải Phòng với nhiều tỉnh, thành khác, đặc biệt là một huyện rộng được coi là vùng có bản

sắc văn hóa nổi trội trong thành phố “Điều đó đã được thể hiện qua các đồ trang sức bằng đá quý, các hoa văn trên đồ gốm, đồ đồng Tràng Kênh - Việt Khê Dòng chảy ấy tiếp tục kết tinh, phát triển, hình thành hát đúm, ca trù, các phong tục, tập quán và các công trình kiến trúc - nghệ thuật vẫn được

Trang 9

bảo tồn đến ngày nay” [31, tr.16-17] Chính vì vậy việc nghiên cứu địa danh

Thủy Nguyên cũng đã được một số nhà nghiên cứu lịch sử, địa lý quan tâm Tuy nhiên nghiên cứu đặc điểm địa danh Thủy Nguyên từ góc độ ngôn ngữ và văn hóa chưa có một công trình chuyên sâu Với những lý do trên, chúng tôi

chọn địa danh của Thủy Nguyên là đối tượng nghiên cứu của luận văn

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới

Vấn đề nghiên cứu địa danh đã được ngôn ngữ học thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Từ thời cổ đại trên thế giới đã có nhiều ghi chép, sưu tập, tổng hợp và giải thích về cách đọc, về ý nghĩa của địa danh Tác phẩm

Hán thư (32-92 sau công nguyên) đã ghi chép được hơn 4000 địa danh; khoảng 2300 địa danh đã được giải thích trong hơn 20000 địa danh được đề cập đến ở Thủy kinh chú Trong Thành kinh của thiên chúa giáo với mục đích

truyền giáo tới các quốc gia cũng đã thu thập nhiều địa danh với các nguồn gốc khác nhau Đây là những công trình khởi đầu cho việc nghiên cứu địa danh từ góc độ địa lý học lịch sử

Ở phương Tây từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX xuất hiện nhiều công

trình nghiên cứu về địa danh Chẳng hạn cuốn "Địa lí từ nguyên học" (1835)

của T.A Gibson đã đưa ra một hệ thống phân loại về từ ngữ trong phức thể

của tên địa lý; cuốn "Từ và các địa điểm hay sự minh họa có tính nguyên lai

về lịch sử, dân tộc học và địa lí học" (1864) của I ssac Taylor; cuốn "Địa danh học" (1872) của J.J Egli; cuốn "Địa danh học" (1903) của J.W Nagh

Những công trình này đã đưa ra hướng lý thuyết làm tiền đề cho khoa học địa danh phát triển trong thế kỷ XX

Trang 10

Đầu thế kỉ XX có thêm nhiều công trình nghiên cứu đi sâu về địa danh

Ví dụ như cuốn "Nguồn gốc và sự phát triển địa danh" (1926) của A.Dauzat,

"Các tên gọi, một khảo sát về việc đặt tên địa điểm" (1958) của George,

"Thực hành địa danh học" (1977) của P.E.Raper Tại Nga, E.M.Murzaev với

"Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học", A.Kapenko với tác phẩm

"Bàn về địa danh học đồng đại" (1964), hay "Những nguyên tắc cơ bản của công tác nghiên cứu địa danh" của A.I.Popôv, đặc biệt là công trình “Những nguyên lý địa danh học” và "Địa danh học là gì?" của A.V Superanskaja [2]

tiêu biểu trong việc nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ Theo tác giả thì chỉ có các phương pháp ngôn ngữ mới có thể kiểm tra những giả thuyết có

liên quan đến xuất xứ của địa danh Đặc biệt, trong "Địa danh là gì" (2000),

tác giả đã đề cập đến toàn bộ các vấn đề lý thuyết về địa danh Các vấn đề như: định nghĩa địa danh, phân loại địa danh, chức năng, cấu tạo của địa danh và các thuật ngữ như sơn danh, thủy danh, phố danh đã được nghiên cứu khá sâu Có thể nói, Superanskaja đã đem lại kết quả to lớn trong việc xây dựng hệ thống lý luận về địa danh học, mang lại những định hướng mới cho việc nghiên cứu địa danh không chỉ ở Nga mà trên cả thế giới

2.2 Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh muộn hơn so với các nước phương Tây Tuy nhiên, chúng ta cũng đã có những bộ sách sử, địa chí ghi chép và giải thích nhiều địa danh, đánh dấu sự mở đầu cho việc nghiên cứu

địa danh từ thế kỉ XIII trở đi Nổi bật là "Dư địa chí" (1435) của Nguyễn Trãi,

"Đại Việt sử kí toàn thư" (thế kỉ XV) của Ngô Sĩ Liên, "Lịch triều hiến chương loại chí" (soạn trong 10 năm 1809-1819) của Phan Huy Chú

Trang 11

Từ cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam khá phát triển và mang tính lý luận cao Địa danh được nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau Bên cạnh việc nghiên cứu địa danh từ góc độ lịch sử, hướng nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học và hướng tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ và văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Có thể nói, bài viết “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông”(1966) của Hoàng Thị Châu đã mở đầu cho việc nghiên

cứu địa danh theo hướng tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ Tác giả đã đưa ra

những luận điểm thuyết phục về việc lí giải nguồn gốc các địa danh sông Việt

Nam Theo cách lý giải này, các yếu tố có mặt trong một số địa danh sông ở

Việt Nam và Đông Nam Á đều có nghĩa liên quan đến nước Như vậy những

địa danh sông ngày nay có thể đều được chuyển hóa từ những danh từ chung

(thành tố chung) có nghĩa là nước mà thành

Năm 2000, trong “Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam” Nguyễn

Văn Âu sơ lược đưa ra những vấn đề của địa danh học Bên cạnh việc xác định đối tượng nghiên cứu của địa danh học, các phương pháp và ý nghĩa của việc nghiên cứu địa danh , tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm về nguyên tắc đặt tên, sự biến đổi của địa danh, phân loại và phân vùng địa danh Những lý luận này cũng đã góp phần làm rõ thêm bức tranh địa danh Việt Nam

Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, nhiều luận án, công trình đã nghiên cứu

về địa danh của Việt Nam nói chung và địa danh các địa phương nói riêng

như: Luận án “Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng”(1996) của Nguyễn Kiên Trường; luận án Tiến sĩ Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2004) của Từ Thu Mai; luận văn thạc sĩ về Địa danh thuộc tỉnh Bắc Kạn của Hà Thị

Trang 12

Hồng (2008); luận văn của Phạm Thị Thu Trang (2008) Khảo sát địa danh quận Ba Đình-Hà Nội; Trương Thị Mỵ (2009) với luận văn thạc sĩ Đặc điểm của các địa danh thuộc huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) từ góc độ văn hóa…,đem lại những bức tranh lý thú về sự phát triển ngôn ngữ ở các vùng

miền khác nhau

Đáng chú ý là hệ thống các công trình của tác giả Lê Trung Hoa: Các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh (2002) và Địa danh học Việt Nam (2006) Những vấn đề cơ bản của địa danh Việt Nam

như: khái niệm về địa danh học, phân loại địa danh, vị trí của địa danh trong ngôn ngữ học cho đến các vấn đề nguyên nhân của sự ra đời và mất đi của địa danh, đã được đề cập đến một cách khá sâu sắc

Gần đây, các nhà ngôn ngữ học đã dành sự quan tâm đến mối quan

hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa khi nghiên cứu địa danh Công trình Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của tác giả Nguyễn Đức Tồn đã

trình bày một cách hệ thống và thấu đáo những tiền đề lý thuyết cho việc nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa Tác giả đã chỉ ra một cách rất cụ thể những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của tiếng Việt trên cơ sở so sánh với tiếng Nga và một số ngôn ngữ khác Cho đến nay, hướng nghiên cứu này

đã chiếm được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Những lý giải về đặc trưng văn hóa - dân tộc của việc chọn đặc trưng làm cơ sở cho tên gọi đã giúp chúng ta hiểu thêm về tính có lý do của ngôn ngữ và đặc điểm dân tộc trong quá trình định danh Chúng tôi coi cách tiếp cận này cũng là hướng nghiên cứu cơ bản và vận dụng các lý thuyết đó để phân tích các đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của địa danh Thủy Nguyên, đặc biệt là trong việc mô

Trang 13

tả những đặc điểm định danh của địa danh

Vấn đề định danh hiện nay vẫn còn được tiếp tục nghiên cứu cả ở Việt Nam và trên thế giới Do đó, nghiên cứu địa danh ở các địa phương cụ thể chính là góp phần hoàn thiện hệ thống lý thuyết địa danh học và hoàn thiện bức tranh ngôn ngữ - văn hóa về địa danh Việt Nam

2.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh của Thủy Nguyên

Địa danh Thủy Nguyên (miền đất Thủy Đường xưa) cũng được giới

thiệu trong nhiều tác phẩm lịch sử, địa chí, tiêu biểu như Đại Việt sử ký toàn thư (thế kỉ XV) của Ngô Sĩ Liên, Dư địa chí (thế kỉ XV) của Nguyễn Trãi, Đại Nam nhất thống chí (1882) của Quốc sử quán triều Nguyễn, Hải Dương chí lược của Ngô Thì Nhậm (thế kỉ XVIII) Hiện nay có một số bài báo, cuốn

sách đề cập đến địa danh của Thủy Nguyên như luận án Phó Tiến sĩ của

Nguyễn Kiên Trường: Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng Sơ bộ

so sánh với một số vùng khác" (1996), Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng (1998) do Ngô Đăng Lợi chủ biên, cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Thủy Nguyên (tái bản 2013), Địa chí Thủy Nguyên (2015) do T.S Đoàn Trường Sơn

chủ biên hay một số tác phẩm lịch sử ghi lại những địa danh trên đất Thủy Nguyên Trong luận án của tác giả Nguyễn Kiên Trường, địa danh Thủy Nguyên cũng được thống kê và phân loại, miêu tả trong hệ thống chung của địa danh Hải Phòng Một số vấn đề như khái niệm, chức năng của địa danh được bổ sung thêm về lý thuyết Tuy nhiên, cách phân loại của ông có nhiều điểm chưa thật hợp lý Một số tên nằm trong địa danh chỉ công trình xây dựng như: bệnh viện, trường học, nhà máy, chùa, đền xuất hiện trong điều kiện phát triển kinh tế và xã hội cũng được đưa vào hệ thống các địa danh Với

Trang 14

việc thống kê và phân tích đặc trưng của địa danh Hải Phòng qua 22 nhóm từ ngữ, ông đã đem lại bức tranh khá toàn diện về các phức thể văn hóa đa dạng trong địa danh Hải Phòng và đã khẳng định đây là kết quả của sự hội tụ các luồng thiên di, kéo theo sự hội tụ các luồng ngôn ngữ - văn hóa Tuy nhiên, để tìm hiểu sâu nguồn gốc của các địa danh cụ thể cũng như đặc điểm ý nghĩa và đặc biệt là đặc trưng văn hóa, tư duy thể hiện trong cách đặt tên của các địa danh Thủy Nguyên chưa được đề cập một cách cụ thể

3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc thu thập, khảo sát hệ thống địa danh trên phạm vi địa bàn huyện Thủy Nguyên và tiến hành phân loại, miêu tả, phân tích ngữ liệu, luận văn nhằm đạt các mục đích sau:

- Tìm hiểu đặc điểm của địa danh huyện Thủy Nguyên về các phương diện: ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử

- Chỉ ra những nét đặc thù về một số phương diện của địa danh Thủy Nguyên như: nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa

Trên cơ sở đó giáo dục ý thức gìn giữ các giá trị truyền thống qua địa danh, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của Thủy Nguyên nói riêng

và Hải Phòng nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là tất cả các địa danh biểu thị tên gọi của các đối tượng địa lý tự nhiên như sông, núi, ao, hồ, các đơn vị dân cư: làng, xã, và các đối tượng địa danh công trình nhân tạo: cầu, cống, ở Thủy Nguyên

Trang 15

4.2 Phạm vi nghiên cứu

(1) Các địa danh được ghi trong:

- Địa chí Thủy Nguyên

- Tài liệu nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, văn hóa của địa phương (2) Các địa danh được thu thập qua khảo sát thông qua nhân dân ở địa phương cung cấp

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, tập trung chủ yếu vào các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra điền dã: điều tra trực tiếp trên địa bàn và điều tra, thu thập tất các các địa danh của huyện Thủy Nguyên từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, như bản đồ về địa hình, hành chính… của các xã, thị trấn trong huyện Các bài báo, các tác phẩm viết về địa phương Các từ điển về địa danh Hải Phòng, cuốn Địa chí Thủy Nguyên…

- Phương pháp thống kê, phân loại: Đây là phương pháp giúp chúng tôi tổng hợp và phân loại các địa danh địa hình thiên nhiên, đơn vị dân cư và các công trình nhân tạo của huyện Thủy Nguyên qua các nguồn tư liệu thu thập khác nhau Trên cơ sở đó tìm hiểu mức độ phổ biến của các loại địa danh và đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh

- Phương pháp miêu tả: Phản ánh những đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo trong phức thể địa danh

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dựa vào các cứ liệu ngôn ngữ, đặc điểm tâm lý của con người và quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, nghiên cứu

Trang 16

một số địa danh để tìm hiểu xuất xứ, nguồn gốc của một số địa danh nổi tiếng trong huyện Thủy Nguyên

- Phương pháp so sánh lịch sử

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở làm rõ đặc điểm về ngữ âm, ngữ nghĩa

và ngữ pháp được thể hiện trong địa danh, chỉ ra ảnh hưởng của các phương thức định danh trong mối quan hệ với những đặc điểm về ý nghĩa của các yếu

tố cấu tạo, luận văn góp phần vào sự phát triển của bộ môn danh học

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn cung cấp toàn bộ hệ thống địa

danh Thủy Nguyên với các đặc trưng về cấu tạo, cách thức định danh, đặc điểm văn hóa lịch sử Từ đó góp phần cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa, tổ chức các lễ hội truyền thống, phát triển du lịch và công tác hoạch định hành chính của huyện Thủy Nguyên nói riêng và thành phố Hải Phòng

nói chung

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết về định danh và địa danh học

Chương này, chúng tôi trình bày những cơ sở lý thuyết có liên quan đến định danh như nguồn gốc, các kiểu ngữ nghĩa và cách thức biểu thị của định danh; hệ thống hóa lý thuyết về địa danh, cách phân loại, các phương diện nghiên cứu địa danh và hướng tiếp cận của đề tài

Chương 2: Những đặc điểm chính của địa danh Thủy Nguyên

Trang 17

Trên cơ sở các số liệu thống kê, chương này phân tích những đặc điểm về định danh cùng các kiểu mô hình phức thể của hệ thống địa danh

Thủy Nguyên

Chương 3: Đặc trưng văn hóa của địa danh Thủy Nguyên

Phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa, lịch sử thể hiện trong

tư duy của người Thủy Nguyên Từ đó nêu rõ các đặc trưng, các phương diện

về văn hóa trong hệ thống địa danh Thủy Nguyên

Trang 18

sự vật cụ thể, và do vậy, bao giờ cũng gắn với một lớp đối tượng hay một loạt hiện tượng…” (dẫn theo[33, tr.190-191]) Như vậy, định danh được hiểu một

cách đơn giản chính là cách đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng nào đó

Trong "Đặc trưng văn hóa-dân tộc của ngôn ngữ và tư duy", tác giả

Nguyễn Đức Tồn đã đưa ra quy trình định danh một sự vật, hiện tượng như sau:

- Quy loại đối tượng mới vào loại đối tượng đã có tên trong ngôn ngữ

- Để định danh một sự vật, hiện tượng, con người sau khi tiếp xúc với khách thể mới, vạch ra một bộ những đặc trưng nào đó có trong nó thì chỉ chọn đặc trưng nào là tiêu biểu, dễ khu biệt với đối tượng khác và đặc trưng

ấy đã có tên gọi trong ngôn ngữ Theo tác giả “khi định danh một sự vật, không có gì lý tưởng hơn là chọn ra được đặc trưng nào đó thuộc đặc trưng bản chất của sự vật để làm cơ sở gọi tên nó” [33, tr.194]

Trang 19

- Sử dụng biện pháp cấu tạo từ nào đó

Ví dụ: Để gọi tên loài cây cảnh cỡ nhỏ, thân có gai, lá kép có gai, hoa màu hồng…, có hương thơm Trước hết, dựa vào các đặc trưng đã được tách

ra như trên, người Việt quy nó vào khái niệm đã có tên gọi trong ngôn ngữ là

“hoa”, và cả đặc trưng màu sắc cũng đã có tên gọi là “hồng” Tiếp đó, người

ta dùng biện pháp cấu tạo từ của tiếng Việt theo cách ghép tên chỉ đặc trưng

“hồng” vào tên gọi chỉ loại là “hoa” để tạo ra tên gọi cho đối tượng này Khi

đó, loài cây này sẽ có tên gọi là “hoa hồng” Sau đó, tuỳ màu hoa cụ thể mà

có các tên gọi mới cho từng tiểu loại trong loài hoa hồng này, chẳng hạn, hoa hồng bạch, hoa hồng nhung [33, tr.192]

Như vậy, theo quy trình trên định danh về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan của các dân tộc, các địa phương có sự khác biệt Mà sự khác biệt này thể hiện rất rõ dấu ấn văn hóa và tư duy của các dân tộc Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, chúng khác nhau ở ba điểm sau:

Một là, đặc điểm của định danh ngôn ngữ được thể hiện ở cách quy loại khái niệm của đối tượng được định danh

Chẳng hạn, tên gọi “củ lạc” thực chất là “quả lạc” nếu xét theo thực vật học, nhưng theo tư duy ngôn ngữ và sự hiểu biết của người Việt thì phàm những bộ phận nào của cây chứa chất bột, phình to, nằm ở dưới đất hay trong

lòng đất thì đều được quy vào khái niệm củ Do đó ta không gọi quả lạc mà gọi là củ lạc

Hai là việc lựa chọn đặc trưng của đối tượng để làm cơ sở cho tên gọi của nó

Các đặc trưng này có thể rất khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau và thậm chí đặc trưng được chọn có thể là đặc trưng cơ bản thuộc bản

Trang 20

chất của sự vật, mà cũng có thể là thuộc tính không căn bản, miễn sao đặc trưng được chọn có giá trị khu biệt sự việc ấy với sự việc khác Ví dụ: Khi định danh các loại bánh, đặc trưng nguyên liệu là quan trọng Chẳng hạn: gạo nếp - gạo tẻ, từ đó có bánh nếp - bánh tẻ, song trong thực tế, các tiểu loại bánh đều làm bằng gạo nếp, những đặc trưng khác tưởng như không cơ bản như lá

gai, lá mật…lại trở thành cơ bản khi định danh chúng (ví dụ: bánh nếp, bánh gai, bánh nếp mật )

Đến đây, chúng ta thấy rằng đặc trưng văn hóa - dân tộc được bộc lộ rất

rõ trong việc chọn đặc trưng làm cơ sở cho tên gọi "Đặc trưng này phụ thuộc không phải vào cách thức trừu tượng hóa, mà vào những điều kiện thực tiễn

cụ thể (quá trình lao động, văn hóa, truyền thống, hoàn cảnh địa lý) ” (dẫn

theo [32, tr.43]) Như vậy, việc lựa chọn đặc trưng của đối tượng định danh mang dấu ấn đặc trưng văn hóa dân tộc rất rõ Điều này rất dễ hiểu vì tư duy

của mỗi dân tộc một khác nhau: "Một dân tộc này phát hiện ra đặc trưng, chẳng hạn hình thức, còn dân tộc kia lại nhận thấy đặc trưng khác, thí dụ như chức năng Do vậy, đặc trưng được chọn sẽ khác nhau, và đối tượng sẽ có tên gọi khác không như nhau Đó không phải là sự liên tưởng ngẫu nhiên mà có lí

do của nó Lí do chọn đặc trưng này chứ không phải đặc trưng khác phụ thuộc vào thiên hướng quan sát của chủ thể định danh” [32, tr.13] Đặc trưng

văn hóa - dân tộc của định danh ngôn ngữ còn được biểu lộ rõ ràng hơn cả ở những liên tưởng trong việc tạo tên gọi các hiện tượng đặc trưng trong một

ngôn ngữ khó có thể dịch sang được ngôn ngữ khác kiểu: tóc rễ tre, râu quan nón, chân bàn cuốc [32, tr.46]

Trang 21

Ba là vấn đề "kĩ thuật ngôn ngữ" cũng là biểu hiện của đặc trưng định danh ngôn ngữ để cấu tạo các tên gọi

Nguyễn Đức Tồn đã dẫn ý kiến của B.A Sereprennhicôp về những cách định danh ngôn ngữ để cấu tạo các tên gọi như sau:

1) Sử dụng tổ hợp ngữ âm biểu thị đặc trưng nào đó trong số các đặc trưng của đối tượng này;

2) Mô phỏng âm thanh (tức là tượng thanh);

3) Phái sinh;

4) Ghép từ;

5) Cấu tạo các biểu ngữ đặc ngữ;

6) Can ke (hay sao phỏng);

7) Vay mượn

Đặc biệt, tác giả đã bổ sung thêm một phương thức định danh phổ biến nữa là sự chuyển nghĩa của từ Đây là cách định danh thường được gọi là định danh thứ sinh (hay là thứ cấp) [33, tr 264-265]

Sự khác biệt giữa các ngôn ngữ ở ba đặc điểm trên mà tác giả đã chỉ ra

là cở sở khoa học để chúng tôi tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa trong hệ thống định danh của Thủy Nguyên

1.2 Cơ sở lý thuyết về địa danh

1.2.1 Định nghĩa về địa danh

Khái niệm về địa danh được nói nhiều trong các công trình nghiên cứu

và cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Nói đến địa danh, người ta thường hiểu là chỉ tên gọi của các vị trí địa lí tồn tại trên trái đất, gắn với những vùng

Trang 22

đất cụ thể Nếu hiểu theo lối chiết tự thì “địa danh” được hiểu là tên đất Thế

nhưng, khái niệm này cần phải được hiểu rộng hơn

Ở Việt Nam, khái niệm địa danh được Nguyễn Văn Âu đưa ra từ cách

dịch tiếng Hi Lạp: “Thuật ngữ địa danh xuất phát từ tiếng Hi Lạp: Topos (là địa phương) và Onoma (là tên gọi) Do đó có thể định nghĩa địa danh học (Toponymic) là môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lí các địa phương” [3, tr 5]

Lê Trung Hoa quan niệm "Địa danh là những từ ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên

về không gian hai chiều" [17, tr 21]

Trong luận án "Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng Sơ bộ

so sánh với một số vùng khác" của Nguyễn Kiên Trường thì địa danh được hiểu là: “tên riêng của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [34, tr.16] Trong khi thống kê về các địa danh Hải

Phòng, tác giả đã thống kê cả các công trình như bệnh viện, nhà máy, trường học, chùa, đền Theo chúng tôi, các địa danh này thường thiên về không gian

ba chiều chứ không phải không gian hai chiều

Trong cuốn “Địa danh là gì” A.V Superanskaja đã cho rằng: “Những địa điểm, mục tiêu địa lí đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi Khác với những vật thể thông thường, những mục tiêu địa lí có hai loại tên: Tên chung để xếp chúng vào hệ thống cả khái niệm

Trang 23

nào đó (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [2, tr.13]

Theo đó, ông đã đưa ra định nghĩa: “Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [2, tr 21]

Mỗi ngọn núi, con sông, làng xóm đều gắn với mỗi một tên cụ thể Trong khi chỉ ra các đặc điểm định danh, các nhà ngôn ngữ đã cho rằng những tên gọi này thường có lí do và có thể giải thích được Địa danh phải có chức năng gọi tên, khu biệt đối tượng và cá thể hóa Đối tượng được gọi tên là đối tượng địa lý tồn tại trên trái đất

Như vậy, có thể hiểu địa danh theo quan niệm của A.V Superanskaja:

“Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí (địa hình tự nhiên, các đơn vị dân cư và các công trình nhân tạo thiên về không gian hai chiều) có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”

Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của luận văn là tất cả những từ ngữ dùng làm tên riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên địa bàn Thủy Nguyên (Hải Phòng)

1.2.2 Phân loại địa danh

Đã có nhiều cách phân loại địa danh trong quá trình nghiên cứu của các nhà địa danh học Đáng chú là cách phân loại của các nhà

nghiên cứu người Nga, chẳng hạn A V Superanskaja trong cuốn “Địa danh là gì” [2, tr.3] đã chia địa danh thành 8 loại:

1, Tên gọi của các điểm dân cư;

2, Tên gọi các con sông;

3, Tên gọi núi non;

Trang 24

4, Tên gọi công trình trong thành phố;

5, Tên gọi các đường phố;

6, Tên gọi quảng trường;

7, Tên gọi mạng lưới giao thông;

8, Tên gọi địa điểm phi dân cư nhỏ

Cách phân chia này nếu áp dụng vào phân loại hệ thống địa danh từng vùng, miền thì rất khó khăn bởi quá chi tiết, dẫn đến nhiều khi các tiêu chí chồng chéo nhau, ví dụ như tiêu chí 1 và 8, tiêu chí 4 và 6

Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Âu trong cuốn "Địa danh Việt Nam"(1993)

cũng có cách phân loại rất cụ thể Tác giả đã chia hệ thống địa danh thành hai

loại là: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội Với bảy kiểu địa danh:

thuỷ danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, Quốc gia và

11 dạng địa danh: sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông trảng, làng xã, huyện quận, tỉnh, thành phố, Quốc gia [3, tr.30-33]

Lê Trung Hoa [16], [17] căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, chia địa danh thành hai nhóm lớn:

1, Địa danh chỉ các đối tượng địa lí tự nhiên như núi, đồi, sông,…

2, Địa danh chỉ các đối tượng địa lí nhân tạo:

- Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều

- Địa danh chỉ các đơn vị hành chính

- Địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng

Phân loại theo nguồn gốc địa danh, Lê Trung Hoa lại chia thành:

1, Địa danh thuần Việt

2, Địa danh Hán Việt

Trang 25

3, Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số

4, Địa danh bằng ngoại ngữ

Nguyễn Kiên Trường phân loại địa danh cũng theo tiêu chí của Lê Trung Hoa nhưng ông chia nhỏ hơn bước nữa Ông chia địa danh chỉ đối tượng tự nhiên thành các đối tượng sơn hệ và đối tượng thủy hệ; chia đối tượng nhân văn thành: địa danh cư trú và địa danh công trình xây dựng Địa danh cư trú lại được chia thành: đơn vị cư trú tự nhiên, đơn vị hành chính và đường phố Địa danh công trình xây dựng bao gồm: đơn vị hành chính, đường phố và các đối tượng khác (chùa, đền ) Ở đây, trong cách phân chia địa

danh các công trình xây dựng gồm cả các đối tượng khác như chùa, đền… tác

giả cho rằng đó là địa danh, theo quan niệm của chúng tôi là không phù hợp

Từ Thu Mai có cách phân loại cũng như cách phân loại của Lê Trung Hoa Theo Từ Thu Mai chia địa danh thành ba loại: Địa danh địa hình tự nhiên, địa danh đơn vị dân cư, địa danh công trình nhân tạo Ở mỗi loại hình địa danh lại bao gồm những tiểu loại địa danh khác nhau

Như vậy, có rất nhiều cách phân loại, song căn cứ từ thực tế và đối với cách hiểu về địa danh như đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn cách phân loại theo tiêu chí của Lê Trung Hoa Như vậy địa danh trên địa bànThủy Nguyên -

thành phố Hải Phòng được phân thành: Địa danh địa hình tự nhiên và địa danh không tự nhiên Trong đó, địa danh địa hình tự nhiên gồm sơn danh: núi, đồi, gò, hang…; thủy danh: sông, hồ, ao, đầm… và những vùng đất nhỏ: đồng, bãi Địa danh không tự nhiên bao gồm: địa danh đơn vị dân cư (Do

chính quyền hành chính đặt; có từ thời phong kiến) và địa danh công trình

Trang 26

nhân tạo: các công trình giao thông, các công trình xây dựng chỉ những hoạt động vật chất của con người thiên về không gian hai chiều

1.2.3 Các phương diện nghiên cứu địa danh

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về địa danh với các cách tiếp cận khác nhau và đem lại những kết quả to lớn về giá trị khoa học cũng như giá trị về thực tiễn Tại Việt Nam, địa danh được nghiên cứu ở các phương diện khác nhau, Lịch sử địa danh học nghiên cứu quá trình hình thành địa danh, sự phát triển của địa danh, sự phân bố địa danh trong mối quan hệ với các tộc người Địa lí địa danh học nghiên cứu sự phân bố địa danh, sự phân bố liên quan đến các vùng, các đối tượng không gian địa lí Dưới góc độ ngôn ngữ học, cấu tạo đặc điểm của địa danh, các phương thức đặt địa danh, nguồn gốc, ý nghĩa và cũng như những biến đổi của địa danh đã được nghiên cứu khá sâu đem lại những bức tranh hiện thực lý thú

1.2.4 Hướng tiếp cận của đề tài

Nghiên cứu địa danh có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi đi theo hướng tiếp cận góc độ ngôn ngữ - văn hóa Nghĩa

là xem xét đặc điểm, phương thức định danh, tìm hiểu lý do gọi tên và những đặc điểm văn hóa qua địa danh

1.3 Đặc điểm của định danh nói chung và địa danh nói riêng

Theo Nguyễn Đức Tồn, đặc điểm định danh của các tên gọi sự vật, hiện

tượng địa lý được thống nhất ở ba thông số sau đây: nguồn gốc của tên gọi; kiểu ngữ nghĩa của tên gọi; cách thức biểu thị của tên gọi

Trang 27

1.3.1 Về nguồn gốc của các tên gọi

Xét về phương diện nguồn gốc, các tên gọi có thể được tạo ra theo một trong ba cách sau:

1) Sử dụng đơn vị từ vựng đã có sẵn trong ngôn ngữ;

2) Sáng tạo mới hoàn toàn bằng những yếu tố đã có;

3) Vay mượn từ ngôn ngữ khác

Tuy nhiên, Nguyễn Đức Tồn đã nhập hai trường hợp đầu (tạm gọi là những từ thuần Việt) và đối lập chúng với trường hợp thứ ba - những từ vay mượn [33, tr.268]

1.3.2 Về kiểu ngữ nghĩa của các tên gọi

Theo tham tố này, có thể phân biệt tên gọi trực tiếp và tên gọi gián tiếp; tên gọi rộng và tên gọi hẹp:

a) Đặc điểm định danh xét theo sự đối lập về tính trực tiếp hay gián tiếp (hoặc nguyên sinh và thứ sinh)

Định danh theo sự đối lập về tính trực tiếp (nguyên sinh) là gọi đúng tên đối tượng

Định danh xét theo sự đối lập về tính gián tiếp (thứ sinh) nghĩa là tên gọi của đối tượng có sự chuyển nghĩa từ sự vật hiện tượng này để gọi tên cho

sự vật hiện tượng khác Các đơn vị định danh gián tiếp là sản phẩm của quá trính ẩn dụ hóa, hoặc hoán dụ hoá …

b) Đặc điểm định danh xét theo sự đối lập về dung lượng ngữ nghĩa rộng hay hẹp của các tên gọi

Như chúng ta đã thấy, mỗi đối tượng của thế giới khách quan đều có một số lượng lớn các thuộc tính, quan hệ với các đối tượng khác Trong quá

Trang 28

trình tri giác hay tri nhận đối tượng, nhận diện nó để đặt tên gọi, con người đã

“xoay” các mặt khác nhau này về phía mình Người ta thấy các mặt khác nhau này nhưng không phải ở mức độ rõ ràng như nhau, mà diễn ra sự xóa mờ một

số đặc trưng này và nhấn mạnh, làm sáng tỏ một số đặc trưng khác, tùy thuộc

vào quan hệ của đối tượng với thực tiễn của dân tộc bản ngữ Trong Bút kí triết học, Lênin cũng đã đồng tình với ý kiến về vấn đề này của Heghen: “Tên gọi là cái gì đó phổ biến, thuộc về tư duy, làm cho cái đa dạng trở nên đơn giản” Còn V.G.Gác: “Tri giác của con người là cái giản lược sự đa dạng”

Hướng thứ nhất này tạo ra những tên gọi có tác dụng phân biệt loại (loài) với nhau hay các loài nhỏ (tiểu loài) trong loài lớn Chúng tôi xếp những tên gọi loài này vào loại tên gọi có nội dung ý nghĩa rộng (có thể dùng

đại diện cho một lớp khách thể), ví dụ: sông, núi, ao ,hồ, cầu, cống…

Các tên gọi khách thể trong cùng một loài là những tên gọi có nội dung

ý nghĩa hẹp, ví dụ: sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Giá, sông Ruột Lợn, sông Con…

Trang 29

1.3.3 Cách thức biểu thị của các tên gọi

Đặc điểm định danh có thể được xét theo ba tiêu chí sau:

- Cách biểu thị tên gọi theo lối hoà kết hay phân tích của các định danh;

- Mức độ về tính rõ lí do của tên gọi;

- Cách chọn đặc trưng của đối tượng để làm cơ sở định danh

a) Cách biểu thị tên gọi theo lối hoà kết hay phân tích của các định danh

Có thể hình dung tính chất này của tên gọi về mặt định danh tương tự như tính chất “tổng hợp tính” và “phân tích tính” của từ, xét về mặt ngữ pháp

Do đặc điểm loại hình ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính chi phối nên chắc rằng các địa danh tiếng Việt chủ yếu là những tên gọi phân tích tính

b) Mức độ tính rõ lí do của các định danh

Theo ý kiến phổ biến của các nhà ngôn ngữ học, đây là thông số về

mức độ tính có lí do của tên gọi khi xem xét đặc điểm định danh trong các

ngôn ngữ

Thông thường, các tên gọi phức có thể thấy rõ được lí do, còn tên gọi đơn thì chỉ có thể giải thích được trong hai trường hợp:

- Tên gọi được tạo ra theo sự mô phỏng của âm thanh;

- Tên gọi được tạo ra theo sự chuyển nghĩa

Trong số các định danh có thể giải thích được lí do, thường có những phân biệt sau đây:

- Định danh rõ lí do tuyệt đối và định danh rõ lí do tương đối

- Định danh rõ lí do đầy đủ hoàn toàn và định danh chỉ rõ lí do một phần

- Định danh giải thích được lí do một cách trực tiếp và định danh giải thích được lí do một cách gián tiếp

Trang 30

c) Đặc điểm sự lựa chọn đặc trưng làm cơ sở cho việc định danh

Những đặc trưng được chọn làm cơ sở cho việc định danh nói chung và

khi đặt địa danh nói riêng như: Đặc trưng hình thức, ví dụ: nhãn cầu, lá mía, xương chậu, mắt cá (ss núi Tai Mèo, núi U Bò, sông Ruột Lợn, …); Đặc trưng vị trí, chẳng hạn: tai trong, mang tai, nhân trung, xương sườn, xương hông (ss ao Cửa Đình, đồng Trong, đồng Ngoài, đầm Đông, đầm Ngoài, đình

Thượng, đình Hạ…); Công dụng, chức năng, chẳng hạn: dây thanh, ruột thừa, bàn toạ, v.v ; Đặc trưng vật lí, chẳng hạn: ruột già, ruột non, màng cứng, động mạch, tĩnh mạch, v.v ; Kích thước / kích cỡ, chẳng hạn: đại não, tiểu não, đại tràng, ngón cái, hoa cái, tá tràng ( ss sông Con, bãi To, đầm Ba Hai

Mẫu…), v.v Các dân tộc hoặc cư dân các vùng khác nhau có thể có cách chọn những đặc trưng này theo thiên hướng khác nhau để làm cơ sở định danh các đối tượng địa lí ở địa phương mình

1.4 Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi trình bày một số vấn đề lí thuyết về định

danh ngôn ngữ và địa danh học

Định danh là cách đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng nào đó Để định danh một sự vật, hiện tượng, con người phải chọn đặc trưng nào thấy là tiêu biểu, dễ khu biệt với đối tượng khác và đặc trưng ấy đã có tên gọi trong ngôn ngữ Tiếp đó là người ta sử dụng biện pháp cấu tạo từ nào đó của ngôn ngữ, bao gồm sự thống nhất biện chứng của cả hai thái cực đó để tạo ra tên gọi Từ đó có thể thấy được những chỗ khác biệt khi định danh của dân tộc này so với dân tộc khác, hoặc địa phương này so với địa phương khác

Trang 31

Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong từ vựng của một ngôn ngữ, được dùng để gọi tên các đối tượng địa lí có trên bề mặt trái đất, do đó nó hoạt động và chịu sự tác động, chi phối của quy luật ngôn ngữ nói chung về mặt ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp

Theo cách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa, chúng tôi chia địa

danh thành: Địa danh địa hình thiên nhiên gồm sơn danh: núi, đồi, gò, hang…; thủy danh: sông, hồ, ao, đầm,…và những vùng đất nhỏ; địa danh đơn

vị dân cư gồm các đơn vị dân cư nằm trong huyện; địa danh công trình nhân tạo

thuộc những hoạt động vật chất của con người thiên về không gian hai chiều

Để nghiên cứu đặc điểm của cách định danh nói chung và cách đặt địa danh trong đó có các địa danh thuộc Thủy Nguyên nói riêng, chúng tôi đi theo Nguyễn Đức Tồn và các nhà nghiên cứu khác khảo sát các tên gọi theo ba

thông số sau đây: Nguồn gốc của tên gọi; kiểu ngữ nghĩa của tên gọi; cách thức biểu thị của tên gọi

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH CỦA HUYỆN THỦY NGUYÊN (HẢI PHÒNG)

2.1 Một số vấn đề tư liệu về địa bàn, địa danh huyện Thủy Nguyên

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Thủy Nguyên

Thủy Nguyên có 37 đơn vị hành chính gồm 35 xã: An Lư, An Sơn, Cao Nhân, Chính Mỹ, Dương Quan, Đông Sơn, Gia Đức, Gia Minh, Hoà Bình, Hoa Động, Hoàng Động, Hợp Thành, Kiền Bái, Kênh Giang, Kỳ Sơn, Lại Xuân, Lâm Động, Lập Lễ, Lưu Kiếm, Lưu Kỳ, Liên Khê, Minh Tân, Mỹ Đồng, Ngũ Lão, Phả Lễ, Phù Ninh, Phục Lễ, Quảng Thanh, Tam Hưng, Tân Dương, Trung Hà, Thiên Hương, Thuỷ Đường, Thuỷ Triều, Thủy Sơn và 2 thị trấn Núi Đèo, Minh Đức Huyện lỵ đóng tại thị trấn Núi Đèo

Địa hình Thuỷ Nguyên khá đa dạng, dốc từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam, vừa có núi đất, núi đá vôi, vừa có đồng bằng và hệ thống sông hồ dày đặc Thủy Nguyên được chia làm ba vùng rõ rệt: vùng núi đá vôi ở phía Bắc,

từ Trại Sơn - Doãn Lại đến Minh Tân - Minh Đức… với diện tích 953ha; vùng núi sa thạch trải dài từ An Sơn - Phù Ninh qua Kỳ Sơn - Chính Mỹ tới Thủy Đường - Ngũ Lão… với diện tích 1.714ha; vùng đồng bằng Đông Nam

Trang 33

chạy từ Hợp Thành - Cao Nhân - Mỹ Đồng - Kiền Bái - Thiên Hương - Hoàng Động - Lâm Động - Hoa Động tới Tân Dương - Dương Quan - Tam Hưng - Phục Lễ - Phả Lễ - Lập Lễ Vùng đồi núi chiếm khoảng 12% diện tích, phân bố chủ yếu ở phía Bắc huyện, độ cao trung bình 40-100m, có những đỉnh khá cao như Sơn Đào cao 146m… các dãy núi đá vôi hình thái phức tạp, đỉnh sắc nhọn, dạng tai mèo, sườn dốc Đa số hang động được hình thành từ hệ trầm tích Kastơ đá tập trung ở các dãy núi đá vôi Từ Bắc xuống Nam, có thể phân thành 5 dải đồi núi ngăn cách giữa các dãy núi là các sông hay các trũng thấp đã được vật liệu trầm tích lấp đầy thành đồng bằng

Dải thứ nhất bắt đầu thành Quỳ Khê, đỉnh Thung kéo xuống theo hướng Đông Nam, bao gồm các núi kẹp đá vôi giữa sông Thải và sông Đá Bạc có độ cao trung bình 80 -100 m Các đồi thấp phân bố rải rác vùng đồng bằng trũng thấp thuộc các xã Gia Đức, Gia Minh và Minh Tân Dải thứ hai bắt đầu từ Pháp Cổ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam kéo xuống Lưu Kiếm thì chuyển theo phương gần như Đông Tây, vuông góc với sông Bạch Đằng Dải này phần nhiều là các núi lục nguyên Các núi đá vôi rất ít, tập trung chủ yếu ở phần đầu và phần cuối của dải như ở Pháp Cổ, Nam và Đông Nam Phi Liệt, Tràng Kênh Dải thứ ba bắt đầu từ Trại Sơn theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua đỉnh chợ Giời (Doãn Lại), Niêm Sơn nội, Niêm Sơn ngoại rồi chạy sát bờ phải sông Giá và kết thúc bằng các đồi thấp ở My Sơn Dải thứ tư bắt đầu từ An Ngoại, Phù Lưu theo hướng Tây Bắc- Đông Nam qua Thanh Lãng

và kết thúc ở Mỹ Cụ và là phần tiếp tục của dải đồi núi từ Kinh Môn (Hải Dương) kéo sang Dải thứ năm là dãy đồi núi thuộc khu vực Núi Đèo Độ cao

Trang 34

cực đại của núi Sơn Đào lên tới 146m rồi giảm dần về phía Bắc, Tây Nam và Đông Nam

Mạng lưới sông ngòi ở Thủy Nguyên khá dày, bao quanh và chạy ngang dọc địa bàn Các con sông lớn bao bọc Thủy Nguyên như sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Kinh Thầy, sông Đá Bạc… Sông Bạch Đằng (xưa gọi

là Vân Cừ, tên Nôm là sông Rừng) là đầu mối giao thông đường thủy và cũng

là “cửa ải” quan trọng bậc nhất trong phát triển thương mại, quốc phòng của quốc gia Đại Việt Sách xưa ghi chép về dòng sông nổi tiếng này khá nhiều

Danh nhân Nguyễn Trãi đã viết trong Dư địa chí: "Sông Vân Cừ rộng 2 dặm linh 69 trượng, sâu 5 thước, núi non cao vút, nước suối giao lưu, sóng tung lên tận trời, cây cối lấp bờ, thật là nơi hiểm yếu" [31, tr 77]

Sông Bạch Đằng có hình thế thật là mênh mông, hùng vĩ

“Nhất cao nghềnh núi U Bò Nhất đông chợ Giá nhất to sông Rừng”

Sông Kinh Thầy là một nhánh chính của sông Thái Bình đổ vào địa phận huyện Thủy Nguyên tại thôn Trại Sơn (An Sơn) ra đến cửa Cấm qua địa phận của nhiều xã An Sơn, Phù Ninh, Cao Nhân, Kiền Bái, Hoàng Động Sông Giá (còn gọi là Mỹ Giang) là nhánh của sông Đá Bạc, chia tại khu vực Quỳ Khê, chảy ra sông Bạch Đằng tại bến Rừng

Thủy Nguyên nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng rõ rệt của hai hệ thống gió mùa: gió mùa Đông Bắc gây ra không khí khô lạnh, gió mùa Tây Nam kèm theo không khí nóng ẩm Nhiệt độ không khí trung bình năm dao động trong khoảng từ 22,40C đến 24,20C Mùa hè nóng, nền nhiệt trung bình đạt trên 250C kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 hằng năm, nhiệt độ

Trang 35

cao nhất có thể đạt 350C - 400C, thường xuất hiện vào tháng 6 và tháng 7 Mùa đông lạnh, nền nhiệt độ hạ xuống dưới 200C kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau [31, tr.101]

2.1.1.2 Về lịch sử

Ngay từ thời kỳ đầu các vua Hùng dựng nước, trên địa bàn Thủy Nguyên đã có người Việt cổ cư trú Trước hết, họ định cư dọc theo các triền núi, ven sông suối rồi từng bước tiến dần ra khai phá lau sậy, sú vẹt để tạo dựng cuộc sống, mở mang cộng đồng Điều đó được phản ánh qua các di tích khảo cổ Tràng Kênh, Việt Khê và một số điểm khác [5, tr.30]

Cùng với quá trình mở đất, là quá trình giữ đất Ngay từ thời vua Hùng,

ở Thủy Nguyên đã có nhiều cuộc tham gia đấu tranh chống kẻ thù ngoại xâm như chống giặc Ân xâm lược vào đời Hùng Vương thứ 6; vào thời Hùng Vương thứ 18, ba anh em họ Trịnh ở Thủy Sơn được Vua cử đi đánh dẹp cuộc tranh hùng với Thục Phán giành chiến thắng và được giao những trọng trách lớn Trong thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìn năm, các thế hệ người Thủy Nguyên đã hăng hái tham gia vào các cuộc đấu tranh của cả nước vừa bảo vệ bản sắc dân tộc, vừa không ngừng đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc

Thế kỷ thứ X là thế kỷ bản lề của lịch sử dân tộc được đánh dấu bằng những sự kiện trọng đại Đó là là những chiến thắng Bạch Đằng 938 của Ngô Quyền và 981 của Lê Hoàn Trong những trận chiến này, đông đảo trai tráng Thủy Nguyên tham gia đã góp phần vào những chiến công hiển hách của lịch

sử dân tộc

Trang 36

Nối tiếp sự phát triển của thời Lý, thời Trần (1225-1400), các hoạt động thương mại cũng như những ảnh hưởng về chính trị và văn hóa của vùng duyên hải càng được khẳng định thị vị thế vùng đất cửa sông Bạch Đằng cũng được nâng dần lên Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mông- Nguyên vào thế kỷ XIII [5, tr.40]

Dưới triều Nguyễn, các cuộc nổi dậy chống lại triều đình diễn ra liên tục trên địa bàn Thủy Nguyên Có một số cuộc khởi nghĩa nổ ra dù là quy mô nhỏ nhưng cũng gây tiếng vang lớn Trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, cũng như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, trong đó có sự đóng góp to lớn của nhân dân Thủy Nguyên, giữ vị trí quan trọng trong lịch sử dân tộc

Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, vùng đất Hải Phòng từng bước được đô thị hóa, trở thành cửa ngõ giao lưu quốc tế Thủy Nguyên, nằm bên tả ngạn của sông Cấm, là địa bàn sát thành phố, có vị trí chiến lược về kinh tế, quân

sự, đã sớm bị cuốn hút vào quá trình phát triển đó

Thủy Nguyên là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời và liên tục Từ buổi đầu dựng nước cho đến thời kì đấu tranh giữ nước, Thủy Nguyên luôn là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng Cũng như các vùng đất khác của thành phố Hải Phòng, Thủy Nguyên có nhiều đóng góp vào thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa giành giữ độc lập cho dân tộc Các thế hệ người Thủy Nguyên vẫn đem tài trí của mình góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh

2.1.1.3 Về địa giới hành chính

Giữ vị trí phên dậu phía Đông Bắc của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, trong trường tồn lịch sử, Thủy Nguyên đã qua nhiều lần chia đặt, tổ chức

Trang 37

hành chính Sách “Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng” [25], trong mục

“Thủy Nguyên” cung cấp: “Tên gọi Thủy Nguyên có từ năm 1886 vì kiêng tên húy vua Đồng Khánh (Ứng Đường), nhưng vùng đất và đơn vị hành chính cấp huyện này đã hình thành từ sớm, vào loại cổ nhất ở Hải Phòng (qua những chứng cứ chủ yếu gồm di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh, Việt Khê…và lớp địa danh nôm cổ nhiều nhất so với các huyện khác)

Thời Hùng Vương, thuộc bộ Dương Tuyền (Thang Tuyền), một trong

15 bộ của nước Văn Lang Thời Hán, thuộc địa bàn huyện An Định, một trong 10 huyện của quận Giao Chỉ Tên gọi Thủy Đường được nhắc đến nhiều lần trong sử sách thời Minh Trước đó, là Nam Triệu Giang, ở đây “giang” là một loại đơn vị hành chính tương đương cấp huyện; trong huyện có nhiều trang, loại đơn vị hành chính này ở Thủy Nguyên nhiều hơn các huyện khác thuộc Hải Phòng Giang Nam Triệu (tức huyện Thủy Đường) có từ thời Thời Bắc thuộc, Thủy Nguyên thuộc huyện An Định (nhà nghiên cứu lịch sử - địa

lý cổ Đinh Văn Nhật cho rằng thuộc huyện Kê Từ), quận Giao Chỉ Đến đời Tùy, Giao Chỉ đổi gọi là Giao Châu (năm 622) Lỵ sở huyện An Định đóng tại khu vực xã Thủy Đường và thị trấn Núi Đèo ngày nay

Theo danh sách của Nha Kinh lược Bắc Kỳ, huyện Thủy Nguyên có 14 tổng, 82 xã, nhưng đến trước năm 1927 chỉ còn 9 tổng, vì: tổng Song Mai chuyển sang huyện An Dương; hai tổng Trúc Động, Dưỡng Động chuyển sang huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên; còn hai tổng nữa chưa rõ quá trình phân chia, sáp nhập Trong danh sách làng xã năm 1901, tên tổng xã thôn có một số thay đổi, như tổng Hoàng Pha vốn là tổng Lâm Động trước 1813; các thôn, xóm tên gọi có Hoa, Đường đều đổi tên Từ ngày 17-2-1906, huyện

Trang 38

Thủy Nguyên thuộc tỉnh Kiến An, do tỉnh Phù Liễn đổi tên Trước 1945, Thủy Nguyên có 9 tổng, thuộc tỉnh Kiến An và đã nâng thành đơn vị hành chính cấp phủ

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Thủy Nguyên vẫn thuộc tỉnh Kiến An (trừ khu vực 2 tổng Trúc Động và Dưỡng Động), đơn vị cấp tổng bị xóa bỏ, nhiều làng, xã cũ hợp lại để thành lập xã mới, nhiều xã gọi theo tên thôn, làng, xã cũ Ngày 25-8-1948, cả huyện Thủy Nguyên được cắt về Liên Khu 3 Ngày 7-11-1949 (có tài liệu ghi là tháng 9-1947 hoặc tháng 11-1949) thuộc tỉnh Quảng Yên Cuối năm 1953, huyện thuộc khu Hồng Quảng Ngày 11-2-1956, được cắt về tỉnh Kiến An, bao gồm cả hai tổng Dưỡng Động, Trúc Động cũ); sau đó lại thuộc thành phố Hải Phòng Ngày 20-10-1962, tỉnh Kiến

An và thành phố Hải Phòng hợp nhất, Thủy Nguyên là huyện ngoại thành thành phố Hải Phòng Từ năm 1962 đến nay, có một số thay đổi về các đơn vị hành chính trong huyện: ngày 15-7-1983, thành lập hai xã mới Gia Minh và Gia Đức ở Khu kinh tế mới Gia Minh; ngày 18-3-1986, thành lập thị trấn Núi Đèo - thị trấn huyện lỵ Thủy Nguyên

2.1.1.4 Về đặc điểm dân cư

Tổng số dân của Thủy Nguyên (đến 2013) là 323,543 người, chủ yếu là người dân tộc kinh Thủy Nguyên là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời Cách đây khoảng 3.000 đến 3.500, khu núi đá Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức), các xã An Sơn, Phù Ninh, Thủy Đường, Đông Sơn, Thủy Sơn, Liên Khê, Lưu Kiếm, Minh Tân…, đã có người Việt cổ sinh sống Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Tràng Kênh rất nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt bằng đá như: rìu, đục, dao găm, bàn mài, mũi khoan, chày nghiền; đồ gốm của nền

Trang 39

văn hóa Phùng Nguyên, Đường Cổ, thuộc hậu kỳ thời đại đá mới, sơ kỳ thời đại đồng thau Người cổ Tràng Kênh đã biết trồng lúa, bầu bí, chăn nuôi chó, lợn, gia cầm; biết săn bắn và đánh cá giỏi Một số người trong họ còn giỏi cả nghề làm đồ gốm, đi biển và giao lưu trao đổi hàng hóa, vật dụng…

Tuy được hình thành và phát triển từ lâu đời nhưng hầu hết lớp cư dân

ở Thủy Nguyên ngày nay có nguồn gốc từ vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ

và các địa phương Bắc Trung Bộ đến đây “dâng đất lập vườn”, quai đê, lấn sông, lấn biển, lập làng từ các thời Đinh, Tiền Lê, Lý, nhất là từ sau chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 (đời Trần) Bên cạnh đó, có một số làng xã được hình thành vào thế kỷ XV – XVII…Các xã mới thành lập gần đây như Gia Minh, Lưu Kỳ cùng do quai đê, lấn bãi bồi ven sông, khai hoang, phục hóa Dân cư chủ yếu từ các xã trong huyện đến định cư Trong quá trình phát triển làng xã, người dân Thủy Nguyên phải vật lộn với gió bão, triều dâng, hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh cùng bệnh tật hại con người Do vậy, cùng với quá trình

mở đất, giữ đất và lao động sản xuất, nhiều tên đất, tên làng, tên núi, tên sông được đặt hết sức mộc mạc thân thương, gắn bó với những kỷ niệm của người dân các làng qua bao đời nay, và trở thành văn hóa truyền thống của làng quê Thủy Nguyên Cư dân hiện nay ở Thủy Nguyên phần lớn có nguồn gốc từ miền trung du và đồng bằng sông Hồng như: Hà Tây (cũ), Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên; các tỉnh ven biển bắc Trung Bộ như: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…đến đây định cư lập làng từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII Do vậy, ở Thủy Nguyên hiện còn bảo lưu khá nguyên vẹn văn hóa truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ về tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán, hội hè, đình đám

Trang 40

Cư dân Thủy Nguyên luôn có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, học tập và xây dựng cuộc sống; có tinh thần đoàn kết, kiên cường, anh dũng chống ngoại xâm, bảo vệ quê hương, đất nước Nghiên cứu địa danh Thủy Nguyên sẽ giúp chúng ta làm rõ hơn bức tranh đa dạng, phong phú về văn hóa, con người nơi đây

2.1.1.5 Về đặc điểm văn hóa

Dưới nghìn năm Bắc thuộc, dưới sức ép đồng hóa mạnh mẽ của ngoại bang, người dân trên đất Thủy Nguyên vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt Tiếp thu kỹ thuật làm gốm của người Hán để chế tác ra

đồ gốm gia dụng và gạch nung để xây dựng hầm mộ, nhà cửa Ở Thủy Nguyên hiện còn hàng nghìn ngôi mộ cổ bằng gạch hình vòm cuốn mang phong cách mộ Hán trong lòng đất như: khu mộ gạch Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức), khu mộ gạch Đông Sơn, khu mộ gạch Điệu Tú (Liên Khê), khu

mộ gạch núi Chà Vàng (Lại Xuân), khu mộ gạch Phù Ninh…và một khối lượng lớn các đồ tùy táng bằng gốm, sứ, đồng, sắt, gỗ sơn thời Đông Hán, đã minh chứng vùng đất Thủy Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế, buôn bán của bọn cai trị Đông Hán Trong thời kỳ Bắc thuộc, người Việt trên vùng đất Thủy Nguyên đã vừa bảo vệ sức sống văn hóa truyền thống, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa bên ngoài để bảo vệ và phát triển nền văn hóa bản địa của mình Qúa trình tiếp xúc Việt - Hán, cả người Việt và người Hán đã nhanh chóng chóng biết khai thác tuyến đường thủy sông Bạch Đằng mà tụ điểm là Thủy Nguyên

Khi làng xã được hình thành và ổn định thì văn hóa làng xã có điều kiện được phát triển khá phong phú Những nghi lễ tôn giáo - tín ngưỡng,

Ngày đăng: 04/01/2020, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm