BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG ––––––––––––––––– ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
––––––––––––––––––––
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN KIẾN AN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG XÉT TRÊN BÌNH DIỆN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
–––––––––––––––––
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN KIẾN AN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG XÉT TRÊN BÌNH DIỆN
TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì
công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 19 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian theo học tại trường Đại học Hải Phòng và đặc biệt là
trong khoảng thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
hết lòng về mặt vật chất, tinh thần, kiến thức và những kinh nghiệm quí báu từ gia
đình, thầy cô, bạn bè Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân
thành tới TS Nguyễn Thị Hiên, người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn, động viên và
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp; Quí Thầy, Cô giảng
dạy chuyên ngành Ngôn ngữ học Việt Nam; Ban giám hiệu, giáo viên và các bé lớp
mẫu giáo lớn tại Trường Mầm non Thực Hành; Trường Mầm non Trần Thành
Ngọ; Trường Mầm non Hoa Hồng; Trường mầm non Quán Trữ; Trường mầm non
Hoa Mai - quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu thực tiễn và khảo nghiệm
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị học viên trong lớp Cao học Ngôn ngữ
Việt Nam khóa 6, tất cả các bạn bè và đồng nghiệp, những người thân yêu trong
gia đình, những người luôn ủng hộ, động viên, khích lệ, giúp đỡ, chia sẻ kiến thức,
kinh nghiệm và tài liệu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện để tôi hoàn
thành luận văn này
Cuối cùng xin kính chúc sức khỏe tới quí thầy cô, gia đình và các anh
chị học viên
Hải Phòng, ngày 19 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 11
1.1 Bình diện kết học và nghĩa học của từ tiếng Việt 11
1.1.1 Khái quát chung về từ tiếng Việt 11
1.1.2 Bình diện kết học (ngữ pháp) của từ tiếng Việt 11
1.1.3 Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) của từ tiếng Việt 14
1.2 Bình diện kết học và nghĩa học của câu tiếng Việt 15
1.2.1 Khái quát chung về câu tiếng Việt 15
1.2.2 Bình diện kết học (ngữ pháp) của câu tiếng Việt 16
1.2.3 Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) của câu tiếng Việt 18
1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn 22
1.3.1 Vốn ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn 22
1.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn 24
1.4 Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG XÉT TRÊN BÌNH DIỆN TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA 28
2.1 Vốn từ của trẻ xét trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa 28
2.1.1 Về số lượng từ ngữ của trẻ mẫu giáo lớn 28
2.1.2 Hiểu biết của trẻ về các thành phần nghĩa của từ 29
2.1.3 Hiểu biết của trẻ về cơ chế chuyển nghĩa của từ 40
2.2 Câu – phát ngôn của trẻ xét trên bình diện ngữ nghĩa 46
2.2.1 Hiểu biết của trẻ về nghĩa biểu hiện trong các phát ngôn 46
2.2.2 Hiểu biết của trẻ về nghĩa tình thái trong các phát ngôn 48
Trang 6iv
2.3 Tiểu kết chương 2 51
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG XÉT TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP 53
3.1 Đặc điểm sử dụng từ của trẻ mẫu giáo lớn xét về mặt ngữ pháp 53
3.1.1 Đặc điểm sử dụng từ xét theo cấu tạo từ 53
3.1.2 Đặc điểm sử dụng từ xét theo từ loại 70
3.2 Đặc điểm sử dụng câu của trẻ mẫu giáo lớn xét về mặt ngữ pháp 83
3.2.1 Đặc điểm sử dụng các thành phần câu của trẻ 83
3.2.2 Đặc điểm sử dụng các kiểu câu ở trẻ 89
3.3 Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Số hiệu
Trang 8phương tiện "không mất tiền mua" này để trao đổi thông tin cho nhau một
cách nhanh nhất, nhiều nhất, đầy đủ nhất, từ đó có thể dễ dàng hiểu nhau, thông cảm, chia sẻ, liên kết hay hợp tác với nhau… Nhờ ngôn ngữ mà con người từ khắp năm châu bốn bể, con người ở các thời đại khác nhau, các thế
hệ khác nhau có thể tìm hiểu hoặc giao lưu với nhau… Hơn thế nữa ngôn ngữ là công cụ để chúng ta tư duy, là chìa khoá vạn năng thông minh để chúng ta mở ra kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại, chiếm lĩnh nó, phát triển nó, đưa nó đến với mọi người…
Quá trình phát triển của ngôn ngữ luôn đi kèm với sự phát triển của xã hội loài người Đối với con người, sự tạo thành và tiếp thu, sử dụng ngôn ngữ là một quá trình lâu dài Từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ, con người đã có sự giao tiếp riêng Đến khoảng 12 tháng tuổi trở đi, con người ở giai đoạn này mới có khả năng tạo ra ngôn ngữ nói Và dần dần, ngôn ngữ của mỗi người ngày càng được phát triển, mở rộng trong quá trình sống Ngôn ngữ càng mở rộng thì tri thức thu được càng lớn, đồng nghĩa với việc cá nhân ngày càng hoàn thiện, xã hội càng phát triển mạnh mẽ
1.2 Tuổi mầm non là giai đoạn mà ngôn ngữ có sự phát triển nhanh cả về
ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp mà “không có giai đoạn nào có thể đạt tốc độ tăng trưởng và phát triển bằng” Đặc biệt, sự phát triển ngôn ngữ thể hiện rõ rệt nhất
ở trẻ thuộc độ tuổi 5-6 tuổi nhằm chuẩn bị cho trẻ bước sang một giai đoạn phát triển khác cả về mặt tâm sinh lí và tư duy, nhận thức.Việc trẻ biết phát âm đúng tiếng mẹ đẻ, nói có ngữ điệu, đúng ngữ pháp, biết biểu đạt ý nghĩ bằng ngôn ngữ, biết dùng ngôn ngữ làm phương tiện chính để tiếp xúc, giao lưu… là hoàn toàn có thể đạt được ở lứa tuổi 5 - 6 tuổi Đối với trẻ mẫu giáo lớn, ngôn
Trang 91.3 Tuy có vai trò quan trọng như vậy nhưng số lượng các công trình
nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ mẫu giáo lớn hiện nay còn rất hạn chế Đây có thể coi là một khoảng trống rất cần được bổ sung trong nghiên cứu về ngôn ngữ Vì vậy, vấn đề cấp thiết là cần có sự nghiên cứu cụ thể, toàn diện về thực trạng phát triển và sử dụng ngôn ngữ ở tất cả các phương diện của trẻ ở các độ tuổi, đặc biệt
là độ tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) nhằm giúp trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày như phát âm chuẩn, vốn từ phong phú, câu nói hoàn chỉnh về ngữ pháp Đó sẽ là phương tiện để trẻ lĩnh hội tri thức khoa học,là công
cụ để trẻ tham gia vào các mối quan hệ xã hội mới
Từ những lý do trên, với mong muốn nắm bắt đầy đủ thực trạng ngôn ngữ của trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo lớn của quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng hiện nay đồng thời xây dựng, đề xuất và ứng dụng một số biện pháp cụ thể, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non Do đó, từ
thực tế nghiên cứu để chúng tôi lựa chọn đề tài:“Đặc điểm ngôn ngữ trẻ mẫu
giáo lớn ở một số trường mầm non quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp”
Trang 103
trong những yếu tố nâng tầm cao của con người lên vượt xa về chất so với mọi giống loài, phân biệt con người với con vật Lịch sử dân tộc Việt Nam ta, nếu xét riêng về mặt ngôn ngữ thì có thể nói rằng đó là lịch sử người Việt Nam cùng nhau xây dựng, thống nhất và phổ biến tiếng Việt với ý nghĩa là ngôn ngữ dùng chung trên lãnh thổ nước ta Ngôn ngữ góp phần làm nên bản sắc của một dân tộc, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Trong suốt lịch sử lâu dài đấu tranh vì chủ quyền dân tộc, vì độc lập tự do của đất nước, chúng ta có thể hình dung dân tộc Việt Nam đã phấn đấu gian khổ như thế nào để thoát khỏi hiểm họa diệt chủng về ngôn ngữ và văn hóa, góp phần bảo vệ và phát triển tiếng Việt
Trong các mặt đời sống của một dân tộc, của một đất nước thì ngôn ngữ gắn bó mật thiết hơn cả với văn hóa Ngôn ngữ là một trong những nhân tố hợp thành quan trọng, góp phần làm nên giá trị, bản sắc, tinh hoa của nền văn hóa dân tộc, bởi lẽ nó liên quan đến ý thức, ứng xử và giao tiếp xã hội, cũng như các kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con người trong xã hội Chính tiếng Việt, ở mặt nội dung ý nghĩa của nó, là nơi ghi lại, phản ánh chủ yếu những tri thức, kinh nghiệm, những suy nghĩ, quan niệm Tiếng Việt hình thành và phát triển, và ngày nay đã trở thành một ngôn ngữ giàu và đẹp, phong phú và độc đáo Không chỉ vậy, nó còn là một công cụ hữu hiệu trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Điều quan trọng nhất là mỗi chúng ta, có ý thức sâu sắc về sự giàu đẹp của tiếng Việt, biết yêu và quý tiếng nói của dân tộc, nói rộng ra đó là ý thức và tình cảm đối với văn hóa dân tộc
Với mỗi cá nhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra hết sức mạnh mẽ ở
giai đoạn từ 0 - 6 tuổi (lứa tuổi mầm non) Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ,
đến cuối 6 tuổi - chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời người - trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày Đây chính là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ Ở giai đoạn này nếu không có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau này việc bù lại cái đã mất đi sẽ gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu
Trang 114
Việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0 - 6 tuổi) cũng được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm, tiếp cận sâu ở từng góc độ khác nhau trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Với những tài liệu mà chúng tôi tổng hợp được cho đến thời điểm hiện nay bao gồm:
Nghiên cứu về vốn từ, khả năng hiểu từ, sử dụng từ… của trẻ em ở các
độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứu của Dương Diệu Hoa (1985),
Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989); Nguyễn Thị Mai (1998)
Nghiên cứu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 0 - 6 tuổi theo từng giai đoạn, lứa tuổi, có các tác giả như Lưu Thị Lan (1986); Bùi Anh Tuấn (1989), Đinh Hồng Thái Các tác giả đã nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ theo từng giai đoạn: 12 - 24 tháng, 24 - 36 tháng, 3 - 4 tuổi; 4 - 5 tuổi, 5 - 6 tuổi
Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn Tâm lí học trẻ em, Nxb Giáo dục, 1999 đã
nhắc đến đặc điểm phát triển ngôn ngữ trong sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo Trong đó, tác giả khẳng định: việc phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo còn liên quan chặt chẽ với sự phát triển tư duy, đặc biệt là sự chuyển biến từ kiểu
tư duy trực quan – hành động sang kiểu tư duy trực quan – hình tượng, kiểu tư duy bắt đầu có lập luận trong óc Tác giả cũng đưa ra kết quả rằng từ vựng của trẻ mẫu giáo tăng lên rất nhanh (từ 300 đến 400 từ ở tuổi ấu nhi tăng lên 3000 đến 4000 từ ở lứa tuổi mẫu giáo) Cấu trúc ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo được hoàn thiện dần, phát âm cũng chính xác dần lên… Từ đó, tác giả đưa
ra các hướng hoàn thiện tiếng mẹ đẻ ở tẻ mẫu giáo gồm: nắm vững ngữ âm và ngữ điệu sử dụng tiếng mẹ đẻ, phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc Về trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi), tác giả cho rằng, nhìn chung đứa trẻ trước khi bước vào tuổi học sinh đã có khả năng ý thức được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng sự phát âm của người lớn (tùy theo địa phương có giọng nói như thế nào thì trẻ sẽ nói theo giọng như vậy), biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nắm được hệ thống ngữ pháp phức tạp, bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương tiện cú pháp và về phương tiện tu từ, nói năng mạch lạc và thoải mái Tóm lại,
Trang 125
trẻ đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ Về hoạt động nhận cảm, tác giả đề nghị về ngôn ngữ rằng tổ chức cho trẻ ghi nhớ những từ biểu thị các chuẩn nhận cảm giúp trẻ có thể vận dụng những chuẩn đó vào hoạt động thực tiễn có ý thức hơn, chính xác hơn Về đặc điểm phát triển trí nhớ, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của ngôn ngữ tài liệu thể hiện bằng ngôn ngữ, nếu giàu hình tượng, nhịp điệu, vần điệu rõ ràng, lại được đọc bằng một giọng truyền cảm, hấp dẫn thì trẻ vẫn có khả năng nhớ nhanh, lâu bền Về đặc điểm phát triển tư duy, tác giả kết luận cả
tư duy trực quan – hành động lẫn tư duy trực quan – hình tượng đều liên hệ mật thiết với ngôn ngữ Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn Như vậy, tác giả đã chỉ ra quá trình phát triển vốn từ ở trẻ mẫu giáo lớn đã khá hoàn thiện và có tác động nhiều mặt tới tư duy của trẻ Vì vậy, cần có các biện pháp giáo dục ngôn ngữ phù hợp cho trẻ
Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa trong
cuốn Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Đại học Sư phạm (2005) đã đề
cập đến một số vai trò của ngôn ngữ trong đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi), nhưng chưa có hệ thống và khái quát rõ ràng vì vẫn thiên
về bình diện tâm lí học
Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai trong cuốn Sự phát triển tâm lí
trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Giáo dục, 2009 cũng dành một phần nói về đặc
điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo Trong đó, tác giả khẳng định suốt tuổi mẫu giáo, vốn từ của trẻ được tích lũy khá phong phú, không những về danh
từ mà còn các từ loại như động từ, tính từ, số từ, đại từ… Trong khi sử dụng ngôn ngữ, trẻ cũng bắt đầu tìm hiểu ý nghĩa và nguồn của từ
Riêng về ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi 5 - 6 tuổi, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Công trình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thức về
“Khả năng hiểu từ của trẻ 5 - 6 tuổi”; luận án Tiến sĩ của Hồ Lam Hồng về
"Một số đặc điểm tâm lý trong hoạt động ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hình thức kể chuyện"; chuyên khảo “Một số biện pháp ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua việc dạy trẻ kể lại chuyện văn học” của
Ân Thị Hảo (2003), NXB Đại Học Sư Phạm Hà Nội; luận văn Thạc sĩ của
Trang 136
Nguyễn Thị Mai Linh (2013) “Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)”,
Đại học Quốc Gia Hà Nội
Nguyễn Xuân Khoa (1999) “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra các phương pháp phát triển
từ ngữ cho trẻ như: mức độ nắm vững ý nghĩa từ vựng khái quát ở các lứa tuổi,
từ ngữ tích cực và từ ngữ thụ động, vốn từ ngữ của trẻ, nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ, vấn đề từ địa phương trong trường mẫu giáo, nội dung phát triển vốn từ ngữ… Tác giả cũng đưa ra các yêu cầu cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn chương để phát triển từ ngữ, dạy trẻ phát âm đúng từ ngữ…
Trịnh Thị Hà Bắc trong cuốn Lý luận và phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ em, Đại học Huế đã nêu ra các vai trò của ngôn ngữ với sự phát triển
trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển thể lực của trẻ Tác giả cũng đề ra các nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ bao gồm: giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp và nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn… Về phương pháp phát triển ngôn ngữ, tác giả đưa ra các hệ thống gồm: nhóm phương pháp trực quan (cho trẻ tiếp xúc với vật thật, quan sát, tham quan, xem phim), nhóm phương pháp dùng lời nói (đọc thơ, kể và đọc truyện, kể lại chuyện, đàm thoại, nói mẫu, giảng giải, đưa câu hỏi), nhóm phương pháp thực hành (phát triển ngôn ngữ qua trò chơi, phát triển ngôn ngữ qua giao tiếp, các hoạt động, lao động), nhóm phương pháp sử dụng trò chơi Đặc biệt, về sự hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi), tác giả cho rằng, về mặt số lượng, số lượng từ của trẻ tăng nhanh theo thời gian, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó quan trọng nhất là các tác động của môi trường như: sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh, trình độ của cha mẹ… Sự tăng có tốc độ không đồng đều Từ 3 – 6 tuổi có tốc độ tăng vốn từ giảm dần Về từ loại, tác giả chỉ ra danh từ là từ loại xuất hiện sớm nhất, sau đó là các loại như động
từ, tính từ, đại từ, số từ, trạng từ, quan hệ từ… Giai đoạn 5 – 6 tuổi, tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi nhường chỗ cho tính từ và các từ loại khác tăng lên Về khả năng hiểu nghĩa của trẻ mầm non, tác giả chia làm 4 cấp độ, cấp độ thứ 4 là
Trang 147
những biểu thị khái quát tối đa và cho rằng khả năng nắm được mức độ của sự khái quát xuất hiện vào tuổi thiếu niên Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi cũng có thể hiểu được một số khái niệm mang tính khái quát ở mức độ 4 nhưng phải thường xuyên được làm quen, hiểu được nghĩa của từ, được thực hành những từ ngữ đó
và gắn với những tình huống cụ thể Về nội dung phát triển vốn từ cho trẻ, tác giả đã chỉ ra, với trẻ 5 – 6 tuổi cần hiểu và dùng từ đúng về cuộc sống, gia đình,
về công việc của bố mẹ, nắm được các từ ngữ về nội quy, hiểu biết chi tiết và gọi tên các sự vật trong tầm nhìn của trẻ, nắm được các khái niệm và dùng đúng từ chỉ thời gian, sử dụng đúng một số từ ghép, từ láy, biết một số từ đồng nghĩa, nhiều nghĩa, biết một số ẩn dụ, hoán dụ Ngoài ra, cần mở rộng vốn từ về phương tiện giao thông và các đặc điểm hoạt động của nó, cung cấp hiểu biết về vốn từ địa phương Về ngữ pháp, tác giả cho rằng trẻ ở độ tuổi 4 - 6 tuổi thường
sử dụng các loại câu: câu cụm từ, câu đơn đầy đủ thành phần, câu đơn mở rộng thành phần, câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ Tóm lại, tác giả đã nêu rõ quá trình phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi và đề ra các phương pháp giúp trẻ rèn luyện và mở rộng vốn từ một cách đúng đắn
Bùi Thị Thanh trong Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản
của trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi Đại học Sư phạm (2005) đã chỉ ra các lớp từ vựng
cơ bản và cách sử dụng từ ở trẻ mẫu giáo lớn
Hồ Lam Hồng trong Luận án tiến sĩ Một số đặc điểm tâm lí trong hoạt
động ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hình thức kể chuyện, Luận án tiến
sĩ, Đại học Sư phạm (2005) đã chỉ ra các mô thức, xu hướng tâm lí, tình cảm của trẻ khi sử dụng ngôn ngữ qua việc kể chuyện
Võ Phan Thu Hương trong bài viết Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu
giáo và ảnh hưởng của môi trường giáo dục, Tạp chí Giáo dục, số 139 (2006) đã
chỉ ra các tác động của môi trường giáo dục đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo như cách tiếp nhận từ, hiểu từ và dùng từ
Bùi Thị Thanh trong Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản
của trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm (2005) đã chỉ
Trang 15để trẻ tiếp thu tri thức không chỉ môn tiếng Việt mà còn tất cả các môn học khác của chương trình lớp 1 Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu các đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi (mẫu giáo lớn) từ các phương diện chính là từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp với hy vọng góp một phần nhỏ
vào việc chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở lớp 1
3 Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu các cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, đề tài hướng đến việc xem xét, đánh giá những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ (chủ yếu là từ và câu) của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trên hai bình diện đặc biệt quan trọng của tín hiệu ngôn ngữ là bình diện từ vựng - ngữ nghĩa và bình diện ngữ pháp, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trẻ ở giai đoạn tiền học đường nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như: những vấn đề về từ vựng - ngữ nghĩa học, ngữ pháp học; những vấn đề tâm lí và tâm lí - ngôn ngữ học có liên quan đến việc tiếp nhận, phát triển lời nói của trẻ…
- Khảo sát, đánh giá thực trạng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non của quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng trên các phương diện:
từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp
Trang 169
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non của quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng xét trên phương diện từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp
Do điều kiện về thời gian, đề tài giới hạn:
- Số lượng khảo sát: 150 trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi)
- Địa bàn khảo sát: Một số trường mầm non công lập thuộc địa bàn quận Kiến An, thành phố Hải Phòng như: Trường Mầm non Thực Hành, Trường Mầm non Trần Thành Ngọ; Trường Mầm non Hoa Hồng; Trường mầm non Quán Trữ; Trường mầm non Hoa Mai- quận Kiến An (30 cháu/ trường)
- Thời gian tiến hành khảo sát: Từ tháng 6 năm 2016 đến hết tháng 10 năm 2016
Nhóm lớp Tên trường
Số lượng trẻ/trường
Lớp Thời gian khảo
sát Trẻ
nam
Trẻ
nữ
Tổng cộng 150
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận gồm: Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích tài liệu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm: Phương pháp thống kê, phân loại (phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn sâu- trò chuyện, đàm thoại), phương pháp quan sát, phương pháp trắc nghiệm, phương pháp miêu tả
Trang 1710
7 Đóng góp của luận văn
- Từ việc tìm hiểu Đặc điểm ngôn ngữ trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường
mầm non quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp để đưa ra những khái quát chung về đặc điểm ngôn ngữ của
- Đề ra một số giải pháp cụ thể để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Chương 2 Đặc điểm ngôn ngữ trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa
- Chương 3 Đặc điểm ngôn ngữ trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét trên bình diện ngữ pháp
Trang 1811
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI
1.1 Bình diện kết học và nghĩa học của từ tiếng Việt
1.1.1 Khái quát chung về từ tiếng Việt
1.1.1.1 Khái niệm từ tiếng Việt
Có nhiều khái niệm về từ tiếng Việt Trong đề tài này, chúng tôi đi theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu
Trong cuốn Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu định nghĩa:
“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang đặc điểm
ngữ pháp nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [11, tr.16]
1.1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt
Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt đưa ra 7 đặc điểm của từ tiếng Việt, gồm: đặc điểm về hình thức ngữ âm, đặc điểm về kiểu cấu tạo, đặc điểm về ngữ pháp, đặc điểm về ngữ nghĩa, đặc điểm là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu, đặc điểm về tính sẵn có, đặc điểm về tính hợp thể
Khác với Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Nghĩa học Việt
ngữ” chỉ đưa ra 2 đặc điểm là: tính sẵn có và tính thành ngữ
1.1.2 Bình diện kết học (ngữ pháp) của từ tiếng Việt
Nói đến bình diện kết học - ngữ pháp của từ tiếng Việt, về cơ bản cần xem xét từ theo các lĩnh vực cấu tạo từ và từ loại
1.1.2.1 Cấu tạo từ tiếng Việt
a Từ đơn
Theo Đỗ Hữu Châu, “từ đơn là từ có một hình vị” [12, tr.39] Trong đó,
hình vị được xem là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất của ngôn ngữ, hay nói cách khác
là âm tiết có nghĩa nhỏ nhất được dùng để tạo từ Trong đề tài này, chúng tôi đi theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu khi cho rằng có hai dạng từ đơn trong tiếng Việt là từ đơn đơn âm tiết và từ đơn đa âm tiết
Từ đơn đơn âm tiết là từ có một âm tiết mang nghĩa rõ ràng Ví dụ: cá, cây, hoa, xe, nhà, cửa…
Trang 1912
Từ đơn đa âm tiết là từ có hai âm tiết trở nên, nhưng các âm tiết này nếu tách riêng ra sẽ trở nên vô nghĩa Ví dụ: bồ hóng, mắc cọp, tắc kè, a xít, pít tông…
b Từ ghép
Đỗ Hữu Châu định nghĩa “từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một
số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) riêng rẽ, tách biệt, độc lập với nhau” [12,tr 54]
Từ ghép tiếng Việt gồm hai loại:
* Từ ghép chính phụ
Theo Đỗ Hữu Châu, từ ghép chính phụ là “những từ ghép giữa hai từ tố
có quan hệ chính phụ Nếu kí hiệu từ tố chính là X, từ tố phụ là Y thì từ tố phụ có tác dụng phân hóa nghĩa của từ tố X” [11, tr.48] Trong đó, có các kiểu ghép
chính phụ sau:
- Từ ghép chính phụ phân nghĩa là “những từ ghép chia loại lớn thành
những loại nhỏ có quan hệ bao gồm và nằm trong so với loại lớn” [11,tr.49] Nói
cách khác, “phân nghĩa là cơ chế tạo ra các từ ghép theo quan hệ chính phụ
giữa các từ tố, lập thành từng hệ thống nhỏ đồng nhất về yếu tố chỉ loại lớn X cả
về hình thức ngữ âm, cả về ngữ nghĩa” [11, tr.49] Ghép chính phụ phân nghĩa
gồm 4 tiểu loại nhỏ hơn là: ghép phân nghĩa biệt loại, ghép phân nghĩa sắc thái hóa, ghép phân nghĩa đẳng nghĩa và ghép phân nghĩa phụ gia hóa: là loại từ ghép
- Từ ghép chính phụ biệt lập, là từ ghép mà “nghĩa của mỗi từ không có
quan hệ nằm trong so với nghĩa của một loại lớn nào, không hợp thành hệ thống nghĩa so với những từ ghép chính phụ khác.Trong những từ ghép này, tuy vẫn có
từ tố chính X, nhưng X không phải là một loại lớn” [11, tr.52]
- Từ ghép chính phụ có các từ gốc Hán Việt, là loại từ ghép mà từ tố chính
X có gốc Hán Việt Loại từ ghép này khá phổ biến trong tiếng Việt
* Từ ghép đẳng lập
Theo Đỗ Hữu Châu, từ ghép đẳng lập là “những từ ghép trong đó hai từ tố
bình đẳng với nhau, không có từ tố nào là chính, từ tố nào là phụ, cả hai từ tố góp nghĩa với nhau để cho nghĩa mới của toàn từ ghép” [11, tr.54] Có các loại
ghép đẳng lập như sau:
Trang 2013
- Ghép đẳng lập theo cơ chế nghĩa, là loại từ ghép mà “nếu cho nghĩa của
toàn bộ từ ghép là S thì nghĩa S của một từ ghép đẳng lập không do nghĩa của một
từ tố quyết định như nghĩa của từ ghép biệt loại mà là kết quả của sự hợp nhất nghĩa của từng từ tố mà có” [11, tr.56]
- Ghép đẳng lập biệt lập, là loại từ ghép mà “nghĩa S không phải là tổng
loại, không phải là chuyên loại, cũng không phải là phối nghĩa.Mỗi nghĩa là một
sự kiện, một hoạt động, một tính chất riêng” [11, tr.57]
c Từ láy
Theo Đỗ Hữu Châu, từ láy là “những từ phức do phương thức láy tác
động vào một từ tố cơ sở (kí hiệu C) làm xuất hiện một từ tố thứ sinh được gọi là
từ tố láy (kí hiệu L)” [11,tr.60]
Từ láy được phân loại thành hai nhóm lớn: láy hoàn toàn và láy bộ phận
Từ láy bộ phận được chia thành 2 kiểu nhỏ là điệp âm (láy âm) và điệp vận (láy vận)
1.1.2.2 Từ loại tiếng Việt
Từ tiếng Việt luôn đảm nhiệm những chức năng và vị trí ngữ pháp nhất định trong câu, nên được chia thành các nhóm từ loại sau:
- Danh từ: Theo Diệp Quang Ban, danh từ là “thực từ có ý nghĩa thực thể,
được dùng làm tên gọi các “vật”, kết hợp được về phía trước với loại từ, với mạo từ chỉ lượng như những, các, về phía sau với các chỉ định từ (này, nọ…) và thường làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu” [2, tr.474]
- Động từ: là loại từ biểu thị hành động và trạng thái
- Tính từ: là từ chỉ tính chất, đặc trưng về màu sắc, mùi vị, âm thanh…
của vật
- Số từ: là “lớp từ gần gũi với danh từ ở cách gọi tên “vật”, tuy nhiên “vật” ở
đây là những khái niệm về số đếm chính xác mà trừu tượng” [2, tr.489]
- Đại từ: là từ thay thế cho từ ngữ rõ nghĩa khác bên trong văn bản và có tác dụng thiết lập mối quan hệ với vật, hiện tượng ở bên ngoài văn bản
- Mạo từ: là loại từ liên quan đến việc diễn đạt số lượng và tính xác định/phiếm định, buộc phải có danh từ đứng sau
Trang 2114
- Phó từ: là “từ có tính chất hư được dùng để mở rộng động từ, tính từ, đem lại
cho chúng một số nghĩa nào đó” [2, tr.540]
- Quan hệ từ: là những hư từ diễn đạt các quan hệ logic dùng để nối các
từ, các tổ hợp từ, các câu, thậm chí các tổ chức lớn hơn câu với nhau
- Tình thái từ (tiểu từ tình thái): là “lớp từ có tính chất hư rất cao, phần
lớn diễn đạt những sắc thái tình cảm rất tế nhị và dễ biến động trong mối quan
hệ với từ, tổ hợp từ mà chúng đi kèm” [2, tr.553]
- Thán từ: là “từ-tín hiệu phản ánh các hiện tượng tâm sinh lí” [2,tr 556].Về
chất lượng cấu tạo, có thể phân biệt làm thán từ đích thực và thán từ lâm thời
1.1.3 Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) của từ tiếng Việt
1.1.3.1.Khái niệm nghĩa của từ
Có nhiều định nghĩa về nghĩa của từ Tuy nhiên, trong đề tài này, chúng
tôi đi theo quan điểm của A.A.Reformatsky khi cho rằng: “Nghĩa, đó là quan hệ
của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ” [26, tr.29] Theo đó, nghĩa của từ hình thành do sự
xác lập quan hệ với các yếu tố khác của ngôn ngữ và thực tại khách quan chứ không phải một bản thể và nó chỉ tồn tại trong ngôn ngữ, không tồn tại ngoài thực tế
Là “loại sự vật được từ gọi tên, biểu thị” [11, tr.94] Nói cách khác, “sự
vật, hiện tượng, đặc điểm ngoài ngôn ngữ được từ biểu thị tạo thành nghĩa biểu vật của từ” [10,tr.105]
b Nghĩa biểu niệm
Là “hiểu biết về nghĩa biểu vật của từ” [11,tr.95] Có thể hiểu nghĩa biểu niệm là “một cấu trúc do các nét nghĩa , tức là các nghĩa tố ngữ nghĩa nhỏ hơn hợp
Trang 22Nghĩa phi trung tâm của từ gồm các nét nghĩa như sau:
c Nghĩa biểu thái
Nghĩa biểu thái là nét nghĩa “biểu thị tình cảm, thái độ đánh giá xấu tốt đi
kèm với nghĩa biểu niệm” [11,tr.97]
d Nghĩa liên hội
Nghĩa liên hội (còn gọi là nghĩa liên tưởng), là “mỗi từ do được sử dụng
trong những ngôn cảnh nhất định, do kinh nghiệm của từng người khi tiếp xúc với sự vật được nó gọi tên nên có thể mang những liên tưởng của cả một lớp người hay từng lớp cá nhân người” [11,tr.98]
e Nghĩa ngữ pháp
Nghĩa ngữ pháp là một khuôn gồm các nét nghĩa chung của nghĩa biểu
niệm của từ Đỗ Hữu Châu cho rằng, “từ tiếng Việt, do không có dấu hiệu của từ
loại trong từ nên nhiều từ thường chuyển từ từ loại này sang từ loại khác Nói chuyển từ loại có nghĩa là nghĩa biểu niệm của từ đi từ khuôn chung này sang khuôn chung khác” [11,tr.97]
1.2 Bình diện kết học và nghĩa học của câu tiếng Việt
1.2.1 Khái quát chung về câu tiếng Việt
Trước năm 1960, quan niệm về câu dựa vào quan niệm mệnh đề và “tính
nọn nghĩa” Theo Trần Trọng Kim, “câu thành lập do một mệnh đề có nghĩa nọn
hẳn hoặc do hai hay nhiều mệnh đề” [65, tr.202] Còn theo Nguyễn Lân, “nhiều từ hợp lại mà biểu thị được một ý hoàn chỉnh và dứt khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự vật thì được gọi là một câu” [65, tr.215]
Từ năm 1960 đến năm 1990, các định nghĩa về câu có chú ý đến những đặc điểm về cấu tạo (đặc trưng là một tổ hợp C-V), ngữ điệu (ngữ điệu kết thúc),
nội dung (nghĩa hoàn chỉnh), chức năng (chức năng thông báo) Theo sách Ngữ
pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, “câu là đơn vị dùng từ,
Trang 2316
hay đúng hơn là dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó
có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập” [65, tr.207]
Từ năm 1990 đến nay, giới nghiên cứu chú ý đến các đặc trưng của câu về
ba bình diện: cấu tạo ngữ pháp (nổi bật là cấu trúc C-V), nghĩa (biểu hiện sự tình kết hợp với nghĩa tình thái), sử dụng (đơn vị thực hiện được một hành động ngôn
ngữ) Theo Cao Xuân Hạo, “câu là một hành động ngôn ngữ diễn đạt một hành
động tư duy, khác với các đơn vị có nghĩa khác - kể cả những ngữ đoạn mà nội dung hoàn toàn giống như nội dung của một câu - được cảm thụ như một cái gì cho sẵn” [28,tr.137] Còn theo Diệp Quang Ban, “câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [3, tr.107] Trong khi đó, Nguyễn Thị Lương định nghĩa,
“câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để biểu thị sự tình, được tạo nên từ
các đơn vị nhỏ hơn theo những nguyên tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một hành động nói”
[43, tr.17]
Tổng hợp các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, câu là một tập hợp từ, ngữ kết hợp với nhau theo những quan hệ cú pháp xác định, được tạo ra trong quá trình tư duy, giao tiếp, có giá trị thông báo, gắn liền với mục đích giao tiếp nhất định
1.2.2 Bình diện kết học (ngữ pháp) của câu tiếng Việt
1.2.2.1 Thành phần ngữ pháp trong câu
Theo quan niệm truyền thống, ở bình diện ngữ pháp, câu được cấu thành bởi các thành phần ngữ pháp Mỗi thành phần ngữ pháp đó có những đặc trưng riêng về ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp Toàn bộ các thành phần ngữ pháp trong câu tạo nên hệ thống thành phần ngữ pháp của câu
Theo Bùi Minh Toán [57, tr.27], trong tiếng Việt, thành phần ngữ pháp trong câu được chia thành ba loại: các thành phần chính, nòng cốt (chủ ngữ, vị
Trang 2417
ngữ); các thành phần phụ, thứ yếu (trạng ngữ, khởi ngữ, bổ ngữ, định ngữ); các thành phần biệt lập (chú ngữ, hô ngữ, tình thái ngữ, cảm thán ngữ) Mỗi thành phần ngữ pháp như thế được xác định đặc tính bởi các đặc điểm về ý nghĩa ngữ pháp khái quát và đặc điểm về hình thức ngữ pháp (đối với tiếng Việt là đặc điểm
về trật tự từ, hư từ, ngữ điệu)
Có thể dẫn chính ví dụ của Bùi Minh Toán [57, tr.28], để làm rõ sự phân loại trên như sau:
Ví dụ: Hai ngày hôm sau, chính một số cảnh sát đã giải anh đi tối hôm
trước lại quay về nhà thương Chợ Quán (Trần Đình Vân)
Trong ví dụ trên, có các thành phần câu sau:
- Chủ ngữ: cảnh sát (từ trung tâm); vị ngữ: quay về (từ trung tâm)
- Trạng ngữ: hai ngày sau
- Bổ ngữ (cho động từ quay về): lại, nhà thương Chợ Quán
- Định ngữ (cho danh từ cảnh sát): một số, đã giải anh đi tối hôm trước
- Tình thái ngữ: trợ từ chính
1.2.2.2 Kiểu cấu trúc ngữ pháp của câu
Trong bình diện ngữ pháp, ngoài các thành phần ngữ pháp còn có các kiểu cấu trúc ngữ pháp của câu Mỗi kiểu cấu trúc là một mô hình trừu tượng khái quát Số lượng các kiểu cấu trúc ngữ pháp của câu trong một ngôn ngữ là hữu hạn Các kiểu cấu trúc cấu tạo nên một hệ thống có tầng bậc, tôn ti Theo tác giả Bùi Minh Toán [57, tr.29], trong tiếng Việt phổ biến là sự phân xuất hệ thống cấu trúc câu như sau:
- Ở cấp độ thứ nhất, cấu trúc ngữ pháp của câu được phân biệt thành ba phạm trù: câu đơn, câu phức và câu ghép
+ Câu đơn: bình thường có một cấu trúc Chủ (C) - Vị (V)
+ Câu phức: có từ hai cấu trúc C-V trở lên, trong đó có một cấu trúc C-V
là thành tố cấu tạo nên cấu trúc C-V khác
+ Câu ghép: có từ hai cấu trúc C-V trở lên, trong đó các cấu trúc C-V độc lập tương đối với nhau, không là thành tố cấu tạo của nhau, tuy vẫn có quan hệ ý nghĩa với nhau
Trang 2518
- Ở cấp độ thứ hai, mỗi phạm trù cấu trúc trên lại phân biệt thành một số tiểu loại cấu trúc câu:
+ Câu đơn gồm câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt
+ Câu phức là câu mà một trong các thành phần (chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ, đề ngữ, chú ngữ, trạng ngữ) có cấu trúc C-V
+ Câu ghép gồm câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ
Ví dụ, các phát ngôn trong đoạn sau đã được cấu tạo theo một số kiểu cấu trúc câu khác nhau:
Chó sủa xa xa Chừng đã khuya Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi
(Tô Hoài)
Có thể xác định như sau;
- Phát ngôn 1: có cấu trúc của câu đơn bình thường, C: chó, V: sủa, B: xa xa
- Phát ngôn 2: có cấu trúc của câu đơn đặc biệt, chỉ có một cụm tính từ (đã
khuya) và từ tình thái (chừng)
- Phát ngôn 3: có cấu trúc của câu phức - có một cấu trúc C-V làm thành
phần định ngữ cho danh từ trong một cấu trúc C-V khác (Lúc này là lúc trai đang
đến chơi)
- Phát ngôn 4: có cấu trúc của câu ghép gồm hai vế đẳng lập, mỗi vế là
một cấu trúc C-V (Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi)
Như vậy, bình diện kết học (ngữ pháp) của câu là bình diện của cấu trúc hình thức trừu tượng, trong đó các quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố cấu tạo xác định chức năng ngữ pháp của chúng đồng thời cũng xác định kiểu (mô hình) cấu trúc câu
1.2.3 Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) của câu tiếng Việt
Bình diện nghĩa của câu chính là sự phát triển từ bình diện nghĩa học của tín hiệu Cũng theo tác giả Bùi Minh Toán [57, tr.30], nghĩa của câu thường được quan niệm gồm hai thành phần cơ bản: nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sự việc) và nghĩa tình thái, trong đó, phần nghĩa tình thái không hẳn chỉ nằm ở bình diện nghĩa học mà còn có mối quan hệ đến bình diện dụng học
Trang 2619
1.2.3.1 Nghĩa biểu hiện
Mô hình cấu trúc trừu tượng của câu như phần trên trình bày chưa thể có ngữ nghĩa cụ thể Khi được lấp đầy từ vựng một cách thích hợp nó mới trở thành đơn vị mang nghĩa - phát ngôn, trong đó có nghĩa biểu hiện (còn gọi là nghĩa miêu tả, nghĩa sự việc) là một thành phần nghĩa quan trọng
Nghĩa biểu hiện chính là thành phần nghĩa ứng với sự việc, hiện tượng, sự tình mà được phát ngôn đề cập đến Sự việc, hiện tượng hay gọi chung là sự tình trong hiện thực rất đa dạng Nó có thể thuộc về thế giới tự nhiên, xã hội hay con người, có thể thuộc lĩnh vực vật chất hay tinh thần Tuy nhiên, mỗi sự tình đều
có một thành tố trung tâm (lõi) là vị tố và có thể có một hay nhiều thành tố khác
là các thực thể tham gia vào sự tình (gọi là tham tố hay tham thể) Vị tố và tham thể tạo nên cấu trúc vị tố - tham thể Cấu trúc vị tố - tham thể là cấu trúc của sự tình, khi được đề cập đến trong phát ngôn, nó trở thành cấu trúc nghĩa biểu hiện
của phát ngôn Ví dụ:
Cỏ non xanh tận chân trời
(Nguyễn Du)
Trong ví dụ trên, vị tố là xanh tận, và các tham thể là cỏ non, chân trời
Trong tiếng Việt vị tố thường được biểu hiện bằng một vị từ (động từ, tính từ, từ chỉ quan hệ) Còn tham thể là thực thể tham gia vào sự tình, thường được biểu hiện bằng danh từ, cụm danh từ hay đại từ Số lượng và đặc tính của các tham thể trong một sự tình phụ thuộc vào loại sự tình được biểu hiện Sự phân biệt các loại sự tình cũng là sự phân biệt các loại nghĩa biểu hiện của phát
ngôn Theo tác giả Bùi Minh Toán [57, tr.43], có thể vận dụng quan niệm về
các loại sự tình của S.C.Dik vào tiếng Việt, để phân biệt các loại phát ngôn khác nhau về sự tình mà chúng biểu hiện như sau:
* Phát ngôn biểu hiện sự tình hành động
Sự tình hành động là sự tình có hai đặc trưng cơ bản (+ động) và (+ chủ ý) Đặc trưng (+ động) trong tiếng Việt thường được thể hiện qua sự kết hợp
của vị từ với các yếu tố tốc độ (nhanh, chậm, bỗng, vụt, dần dần, từ từ, thong
thả, lập tức, ngay, bỗng nhiên, .) và/hoặc yếu tố định hướng (ra, vào, lên,
Trang 2720
xuống, sang, qua, lại, tiến, lui, lùi, đến, .) Còn đặc trưng (+ chủ ý) thường
được bộc lộ qua sự kết hợp của vị từ với yếu tố chỉ ý thức, ý chí (dám, định,
toan, muốn, mong, gắng, cố, ) Ví dụ:
- Người đàn bà nhận ra được tôi ngay (Nguyễn Minh Châu)
- Mị muốn đi chơi (Tô Hoài)
* Phát ngôn biểu hiện sự tình quá trình
Sự tình quá trình mang hai đặc trưng cơ bản (+ động) và (- chủ ý) Ở những sự tình này vẫn có sự thay đổi nào đó xảy ra, tức (+ động), nhưng sự việc không nằm trong chủ ý, ý định, không chịu sự kiểm soát của một chủ thể nhất định Do đó, cạnh vị từ không thể có các yếu tố chỉ ý thức, ý chí của chủ thể còn vẫn có thể có yếu tố chỉ tốc độ hay yếu tố định hướng.Ví dụ:
Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
(Trần Đăng Khoa)
* Phát ngôn biểu hiện sự tình trạng thái
Sự tình trạng thái mang hai đặc trưng cơ bản (- động) và (- chủ ý) Nói cách khác, đây là loại sự tình không có sự biến động nào trong quá trình tồn tại, đồng thời cũng không nằm trong chủ ý, ý định, không chịu sự kiểm soát của một chủ thể nhất định nào Trong tiếng Việt, sự tình trạng thái thường được biểu hiện bằng tính từ hay động từ trạng thái mà không có yếu tố chỉ tốc độ, hay định hướng đi kèm Đồng thời, chủ thể của trạng thái là các thực thể vô thức, không có khả năng kiểm soát Ví dụ:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
(Nguyễn Khuyến)
* Phát ngôn biểu hiện sự tình tư thế
Sự tình tư thế mang hai đặc trưng cơ bản (- động) và (+ chủ ý) Nghĩa là ở sự tình này không diễn ra sự biến đổi nào trong quá trình tồn tại, nhưng sự tình nằm trong chủ ý, ý định, không chịu sự kiểm soát của một chủ thể nhất định Ví dụ:
Lom khom dưới núi tiều vài chú
(Bà Huyện Thanh Quan)
Trang 2821
* Phát ngôn biểu hiện sự tình quan hệ
Cũng theo Bùi Minh Toán [57, tr.43], ngoài các sự tình được phân biệt theo tiêu chí của S.C Dik, còn có thể và cần phân xuất loại sự tình quan hệ Sự tình quan
hệ giống sự tình trạng thái ở hai đặc trưng cơ bản (- động) và (- chủ ý), nhưng còn cần một đặc trưng bắt buộc khác là luôn luôn yêu cầu hai tham thể Ví dụ:
tác giả Bùi Minh Toán [57, tr.31] phân tích dưới đây sẽ minh họa cụ thể cho
thành phần nghĩa này:
Trong cặp lục bát mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Nghĩa biểu hiện của câu là sự tình: trong vòng một trăm năm (nói theo
nghĩa biểu trưng: một đời người – như cách nói hai năm mươi, về già trong dân
gian) của đời người, tài và mệnh thường ghét nhau (xung khắc nhau, đố kị nhau),
trong đó, vị tố là ghét (nhau), các tham thể là: chữ tài, chữ mệnh, trăm năm trong
cõi người ta Nghĩa tình thái của câu: ngoài tình thái của hành động kể (trần
thuật) còn có sự nhìn nhận, đánh giá của người kể chuyện (Nguyễn Du): nụ cười mỉa mai, chua chát trước sự tình xung khắc giữa tài và mệnh (bộc lộ qua ngữ tình
khéo là – giọng khen nhưng là khen mỉa mai, chua chát trước thế cuộc)
Trang 2922
1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
1.3.1 Vốn ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
1.3.1.1 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
Theo Nguyễn Xuân Khoa, “trẻ 5 tuổi có thể sử dụng được từ 2500 đến
2600 từ, còn trẻ 6 tuổi có khoảng 3000 đến 4000 từ, trong đó tính từ và các từ
loại khác chiếm một tỷ lệ cao hơn” [38, tr.122]
Cũng theo tác giả này [38, tr.126], về khả năng hiểu nghĩa của từ ở trẻ 5 tuổi, danh từ chiếm số lượng nhiều nhất
Về động từ, trẻ mẫu giáo lớn đã phân biệt được nghĩa của các động từ gần nghĩa nhau và hiểu một số từ có nhiều nghĩa khác nhau
Về tính từ, trẻ đã sử dụng được một số loại như: tính từ chỉ tính chất của
sự vật; tính từ chỉ sắc thái tình cảm; tính từ chỉ màu sắc
Về đại từ, trẻ 5 tuổi đã biết xưng hô đúng các đối tượng gần gũi
Về hư từ, trẻ đã sử dụng chính xác các phó từ và quan hệ từ Tuy nhiên, đối với một số hư từ, trẻ vẫn sử dụng chưa thật chính xác
1.3.1.2 Đặc điểm về ngữ âm, ngữ điệu của trẻ mẫu giáo lớn
Theo Nguyễn Xuân Khoa, “ở độ tuổi mẫu giáo lớn, những điều kiện ngữ âm
đã đạt mức tương đối ổn định Cho nên trẻ đã có thể phát âm được hầu hết các âm vị” [38, tr.175] Tuy nhiên, một số trẻ vẫn còn mắc lỗi về phát âm
Về thanh điệu, theo Nguyễn Xuân Khoa [38, tr.175], trong tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã là hai thanh có cấu tạo phức tạp nên việc phát âm thanh ngã với
âm điệu gãy ở giữa là cách phát âm khó đối với trẻ Bởi vậy, trẻ sẽ tìm cách thay thế bằng phát âm đơn giản hơn, với âm điệu không đứt gãy ở giữa
Lỗi về âm chính ở trẻ mẫu giáo lớn tập trung vào các nguyên âm đôi /iê/, /ươ/, /uô/ Trẻ chuyển đổi các nguyên âm đôi này thành nguyên âm đơn khi phát
âm Ví dụ: con hươu => con hiêu Cũng theo Nguyễn Xuân Khoa, trẻ phát âm sai các từ như vậy phụ thuộc cả vào tập quán địa phương hoặc do nghe chưa chính xác
Lỗi về âm đầu ở một số trẻ mẫu giáo lớn tại miền Bắc thường xảy ra ở các phụ âm như: lẫn lộn l/n; nói lẫn “tr” thành “t”, “s” thành “th”, “s” thành “x”; “tr”
Trang 301.3.1.3 Đặc điểm nắm ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn
Theo Nguyễn Xuân Khoa [38, tr 99], trẻ mẫu giáo lớn sử dụng các loại câu đa dạng, gồm: các loại câu đơn mở rộng, câu đơn có các thành phần đẳng lập
và câu ghép
Trẻ thường xuyên sử dụng câu đơn mở rộng Dạng câu đơn mở rộng hay gặp nhất là mở rộng thành phần bổ ngữ Các dạng câu đơn mở rộng thành phần định ngữ và trạng ngữ ít gặp hơn
Câu ghép được trẻ sử dụng ít hơn, nhưng cũng khá tương đối Hình thức câu ghép phổ biến là gồm hai câu đơn Trong các câu ghép thường gặp là câu ghép nhân quả Các dạng câu ghép mục đích trẻ ít sử dụng hơn
Cũng theo Nguyễn Xuân Khoa [38, tr.100], trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng câu ghép chính phụ, câu ghép đẳng lập, nhưng số lượng vẫn không nhiều
Trẻ cũng sử dụng được các kiểu câu như câu trần thuật, câu cầu khiến, câu nghi vấn, câu tình thái
Bên cạnh những ưu điểm trên, Nguyễn Xuân Khoa đã chỉ ra các khó khăn của trẻ khi dùng câu như:
- Các hình thức câu ghép còn nghèo nàn, trẻ hay mắc lỗi khi nói các câu ghép có cấu trúc phức tạp
- Các phương tiện liên kết trong và giữa các câu (các từ nối, các từ liên kết) còn ít được trẻ sử dụng, khiến các câu thiếu sự liên kết chặt chẽ với nhau
1.3.1.4 Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn
Đối với trẻ mẫu giáo lớn, theo Nguyễn Xuân Khoa, “hiểu lời nói mạch lạc
của người lớn, ý thức về các dòng âm thanh mà chúng nghe được đi trước sự nắm vững các câu, các nhóm từ, các từ, các từ tố, nghĩa là đi trước khả năng
Trang 3124
tách biệt chúng khỏi dòng âm thanh Nắm vững lời nói mạch lạc, không có được, nếu không phát triển khả năng tách biệt các thành tố của nó như câu, từ… Để phát triển khả năng này, chú ý đến đặc điểm cấu tạo từ, cấu tạo câu” [38, tr.52]
Như vậy, mạch lạc trong ngôn ngữ là yếu tố quan trọng đối với trẻ mẫu giáo lớn, cần có trước cả khi trẻ nắm vững ngữ pháp hay ngữ nghĩa để hình thành nên một
tư duy ngôn ngữ chính xác, có thể giao tiếp bình thường trong xã hội Để phát triển khả năng mạch lạc trong ngôn ngữ của trẻ, cần phải chú ý đến đặc điểm cấu tạo từ, câu
Có hai kiểu lời nói mạch lạc là đối thoại và độc thoại [38, tr.52] Ở lời nói đối thoại, trẻ nắm tương đối vì dễ nghe nhiều trong đời sống hằng ngày Tuy nhiên, trẻ học độc thoại khó hơn vì ít nghe trong đời sống hằng ngày
Lời nói mạch lạc ở trẻ được xem như “một văn bản được tạo thành từ
những câu có sợi dây liên kết chặt chẽ gọi là liên kết nội dung và liên kết hình thức” [38, tr.87]
Tới tuổi mẫu giáo lớn, về cơ bản trẻ đã sử dụng ngôn ngữ khá mạch lạc ở việc dùng đúng ngữ cảnh giao tiếp, đối thoại chính xác Trẻ có thể nhớ vị trí của mọi yếu tố ngôn ngữ trong văn cảnh mạch lạc, điều này tạo nên quá trình phát triển ngữ cảm Trẻ đã biết sử dụng phương thức thế (bằng đại từ), lặp từ vựng để liên kết câu Để tiếp nối các câu với nhau, trẻ thường dùng các liên ngữ như: xong, là, thế là, thế thì, rồi, sau đó…
Tuy nhiên, trẻ lại lặp đi lặp lại nhiều lần các liên ngữ làm cho giao tiếp lủng củng và sử dụng ít các phương tiện liên kết hình thức Trẻ chưa thể đặt được các kiểu câu có lời nói của tác giả cắt ngang lời trực tiếp hoặc lời trực tiếp đứng vào giữa lời tác giả
1.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
1.3.2.1 Yếu tố môi trường - xã hội
Môi trường sống của trẻ gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong đó, môi trường xã hội là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ mẫu giáo lớn Chẳng hạn, trẻ ở nông thôn tiếp xúc nhiều với thiên
Trang 3225
nhiên, đời sống nông nghiệp sẽ có vốn từ khác với trẻ ở thành phố tiếp xúc nhiều với công nghệ, thông tin, phương tiện máy móc hiện đại Tới lứa tuổi này, trẻ có nhu cầu giao tiếp xã hội cao và tiếp thu rất nhanh nhạy những từ ngữ tiếp xúc được ngoài xã hội nên chịu ảnh hưởng lớn từ nó Nói cách khác, môi trường sống xung quanh trẻ thế nào thì ngôn ngữ của trẻ cũng vận động như vậy
Có thể thấy rõ ảnh hưởng của môi trường xã hội tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ qua các vùng phương ngữ Trẻ lớn lên ở vùng nào thì nói tiếng của vùng đó, đồng thời sử dụng lớp từ ngữ địa phương Chẳng hạn, dù sinh ra ở miền Bắc nhưng lớn lên ở miền Nam thì trẻ vẫn nói giọng miền Nam
Ngôn ngữ của các đối tượng mà trẻ tiếp xúc ngoài xã hội (bạn bè, thầy cô, người lớn…) tác động trực tiếp đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Nếu trẻ chơi với bạn xấu hay tiếp xúc với những người thiếu văn hóa, lịch sự, trẻ sẽ nhiễm cách nói năng, dùng từ của họ Chẳng hạn, một đứa trẻ lớn lên trong xóm liều hay khu dân cư văn hóa thấp sẽ thường xuyên nói tục, chửi bậy
Hơn nữa, môi trường không những là phương tiện vật chất cho sự phát triển ngôn ngữ mà còn là yếu tố kích thích sự hoạt động ngôn ngữ của trẻ
Các kênh giao tiếp gián tiếp như đài, báo, sách, truyện… cũng ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Nếu được đọc nhiều sách hay, xem những chương trình bổ ích, từ vựng và khả năng ăn nói mạch lạc của trẻ sẽ rất phát triển
Thứ hai là ảnh hưởng tiêu cực khi gia đình ít có sự trao đổi, giao lưu bằng ngôn từ giữa trẻ nhỏ và người lớn Những người trong kiểu gia đình này thường trầm mặc, ít nói và dùng câu từ đơn giản Một cách tự nhiên, trẻ em sẽ không có
Trang 33độ và khả năng tiếp thu ngôn ngữ sẽ phát triển theo hướng tích cực
Tóm lại, cùng với quá trình hình thành nhân cách, tâm sinh lí, ngôn ngữ
của trẻ mẫu giáo lớn được tiếp tục phát triển mạnh, “ngữ âm được hoàn thiện
dần, vốn từ được mở rộng, trẻ sử dụng tương đối đúng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ” [64,
tr.252] Đây là kết quả sự phát triển các mối quan hệ xã hội của trẻ Và, “việc phát
triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo còn liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của tư duy, đặc biệt là sự chuyển biến từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quan - hình tượng, kiểu tư duy bắt đầu có lập luận đầu óc” [64, tr 252] Một trong
những thành tựu của giáo dục mầm non là làm cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng Việt trong đời sống hàng ngày Đó là cơ sở cần thiết để trẻ lĩnh hội được văn hóa và tri thức sau này Việc phát triển tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo
là một nhiệm vụ quan trọng mà ở lứa tuổi mẫu giáo lớn là phải hoàn thành Vì vậy, cần phải chú trọng vào đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp của trẻ ở
giai đoạn này
Trang 3427
Về bình diện kết học của từ, chúng tôi trình bày các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt Trong đó, từ tiếng Việt gồm có từ đơn (đơn âm tiết và đa âm tiết), từ ghép (các dạng ghép chính phụ và ghép đẳng lập) và từ láy (láy toàn phần và láy bộ phận) Trong đó, từ ghép và từ láy được tạo nên từ hai phương thức tạo từ cơ bản trong tiếng Việt là phương thức ghép và phương thức láy Từ loại tiếng Việt theo đặc điểm ngữ pháp gồm có: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, phó từ, mạo từ, số
từ, quan hệ từ, tình thái từ và thán từ
Về bình diện nghĩa học của từ, chúng tôi trình bày các bộ phận nghĩa trung tâm (nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm) và bộ phận nghĩa phi trung tâm (nghĩa biểu thái, nghĩa liên hội, nghĩa ngữ pháp
Tiếp đó, chúng tôi trình bày lý thuyết về bình diện kết học và nghĩa học của câu tiếng Việt
Về bình diện kết học của câu, chúng tôi trình bày các thành phần ngữ pháp trong câu và các kiểu cấu trúc ngữ pháp của câu Theo đó, cấu trúc ngữ pháp của câu gồm hai cấp độ: cấp độ thứ nhất có câu đơn, câu phức, câu ghép; cấp độ thứ hai có câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt, câu phức mà một trong các thành phần là kết cấu chủ vị, câu ghép chính phụ và câu ghép đẳng lập
Về bình diện nghĩa học của câu, gồm có nghĩa biểu hiện và nghĩa tình thái Cuối cùng, chúng tôi trình bày ngắn gọn về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn, gồm đặc điểm vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp, mạch lạc và các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ như môi trường xã hội, gia đình, giáo dục
Các vấn đề lý thuyết trên đây sẽ là cơ sở để chúng tôi tiến hành đề tài
Trang 3528
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRẺ MẪU GIÁO LỚN
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG XÉT TRÊN BÌNH DIỆN TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA
2.1 Vốn từ của trẻ xét trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa
2.1.1 Về số lượng từ ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
Sau quá trình khảo sát 150 trẻ mẫu giáo lớn (từ 5 – 6 tuổi) trên địa bàn quận Kiến An, Hải Phòng theo các chủ đề cơ bản, chúng tôi thống kê được 3086 từ Chúng tôi phân loại theo các chủ đề cơ bản và đưa một số ví dụ theo bảng sau:
Bảng 2.1 Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn xét theo chủ đề khảo sát
Từ phân theo chủ đề Số lượng Tỉ lệ (%)
Trẻ sống chủ yếu trong gia đình, với ông bà, cha mẹ nên vốn từ của trẻ thiên về chủ đề gia đình hơn Đó là lí do vì sao nhóm từ này khảo sát được khá
Trang 3629
nhiều và phổ biến Trẻ nắm được hầu hết các từ có trong gia đình mình, từ dụng
cụ, đồ đạc trong nhà, các món ăn, cách gọi người thân, tới những hoạt động ở
nhà Ví dụ: thìa, bát, đĩa, đũa, dao, kéo, tủ, tivi, máy giặt, máy lạnh, tủ lạnh, bàn,
ghế, giường
Thế giới động vật và thực vật luôn khiến trẻ thích thú và hào hứng tìm hiểu Đây cũng là thế giới trực quan, sinh động, dễ tiếp nhận nhất, được giới thiệu cho trẻ từ khi mới sinh (qua lời ru, lời dỗ dành, giao tiếp) Đến khi vào mẫu giáo, trẻ vẫn được cô dạy về hai thế giới này nhiều nhất, lại được tiếp cận qua kênh truyện kể, hoạt hình… Bởi vậy, trẻ nắm bắt rất nhanh và có số lượng từ phong phú về
các động vật, thực vật Ví dụ: chó, mèo, hổ, báo, sư tử, tu hú, tắc kè, rắn, rết, gián,
chuột hoa hồng, tre, cây bàng, cây phượng, cây nhãn, hoa sen
Dù còn nhỏ, nhưng ở độ tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã bắt đầu biết tìm hiểu về
cơ thể, bên trong bản thân mình và hướng về cá nhân Bởi vậy, nhóm từ thuộc chủ đề bản thân cũng được trẻ sử dụng nhiều Đó là các từ về bộ phận trên cơ thể, hình dáng của cơ thể, hoạt động của bản thân, trạng thái của bản thân, suy nghĩ, cảm giác, tình cảm… Mọi thứ thuộc về bản thân trẻ đều có thể được diễn
đạt bằng từ ngữ Ví dụ: Tóc, tai, mũi, mắt, miệng, đầu, chân, tay, gầy, béo, buồn,
đau, khóc
Dưới sự chỉ bảo của gia đình và nhà trường, trẻ bắt đầu làm quen và nắm được nhiều từ thuộc chủ đề nghề nghiệp, giao thông và hiện tượng tự nhiên Tuy
nhiên, các nhóm từ này không nhiều như những chủ đề trên Ví dụ: công nhân,
công an… biển Đồ Sơn, Hà Nội, Hải Phòng, chiến đấu… sông, suối, mưa, mùa đông, mùa xuân, mùa hè, mùa thu, lạnh
2.1.2 Hiểu biết của trẻ về các thành phần nghĩa của từ
2.1.2.1 Hiểu biết của trẻ về bộ phận nghĩa trung tâm của từ
a Hiểu biết của trẻ về nghĩa biểu vật
Theo Đỗ Hữu Châu, nghĩa biểu vật là loại sự vật được từ gọi tên, biểu thị Theo đó, hiểu biết của trẻ về nghĩa biểu vật chính là việc trẻ có biết và hiểu rõ về
sự vật mà từ gọi tên, biểu thị hay không Trong 3086 từ trẻ sử dụng mà chúng tôi khảo sát được, có tới 2802 từ trẻ nắm được nghĩa biểu vật, tức là biết và hiểu được
Trang 3730
loại sự vật, sự việc mà từ gọi tên, biểu thị là gì Các từ này đều là thực từ (từ định danh) Trong đó, danh từ được trẻ nắm rõ về nghĩa biểu vật nhất vì đây là lớp từ định danh sự vật cụ thể, trực quan mà trẻ tiếp xúc từ khi còn nhỏ đến lớn Trẻ nắm
rõ nghĩa của các nhóm danh từ quen thuộc như sau:
- Danh từ chỉ vật dụng, đồ đạc trong nhà: bàn, tủ, ghế, tivi, tủ lạnh, máy
giặt, thùng rác, giường
- Danh từ/cụm danh từ chỉ món ăn: cơm, thịt kho, thịt rán, trứng rán
- Danh từ chỉ đồ uống: nước mía, nước ngọt, nước ép
- Danh từ chỉ phương tiện đi lại: tàu hỏa, tàu thủy
- Danh từ chỉ trang phục: quần, áo, váy
- Danh từ chỉ thân tộc: cô, dì, chú, bác
- Danh từ chỉ con vật: chó, mèo, chim, bò
- Danh từ chỉ các loài hoa: hoa cúc, hoa đào, hoa mai
- Danh từ chỉ thiên nhiên: lửa, gió, mưa, bão
Ngoài ra còn rất nhiều nhóm danh từ khác nữa, nhưng trên đây là những nhóm danh từ trẻ nắm và hiểu được rõ nghĩa nhất, có thể giải thích được sự vật được gọi tên là gì và chỉ ra được sự vật đó Đặc biệt, trẻ có thể giải nghĩa và hiểu được những sự vật chưa bao giờ được tiếp xúc trực tiếp nhưng lại được nghe kể
hoặc tiếp xúc qua phim ảnh, truyện tranh như: rồng, phượng hoàng, tôn ngộ
không, quỷ, hồn ma… Điều này cho thấy, trẻ tiếp thu rất nhanh và có trí tưởng
tượng phong phú Chỉ cần được giới thiệu một vài lần về sự vật nào, trẻ có thể nhớ ngay trong đầu tên gọi sự vật đó bằng từ ngữ cụ thể nếu chúng gây ấn tượng với trẻ
Động từ cũng là lớp từ được trẻ nắm khá rõ về nghĩa biểu vật, tức là hiểu được từ này chỉ hoạt động gì Tuy nhiên, đa số trẻ mới chỉ nắm được nghĩa biểu vật của những động từ quen thuộc:
- Động từ chỉ hoạt động thể chất: đi, chạy, nhảy
- Động từ chỉ hoạt động phát âm: nói, gào, hét
- Động từ chỉ hoạt động biểu lộ cảm xúc: khóc, mếu, cười…
- Động từ chỉ hoạt động nghỉ ngơi: nằm, ngồi, chơi, ngủ, nghỉ, chơi…
Trang 3831
- Động từ chỉ hoạt động trao đổi: cho, tặng
- Động từ chỉ hoạt động của các giác quan: nhìn, liếc, nhắm mắt
- Động từ chỉ hoạt động làm việc: nấu cơm, đong gạo
Đối với tính từ, trẻ cũng nắm rõ được nghĩa biểu vật của một số nhóm cơ bản sau:
- Tính từ chỉ màu sắc: đỏ, vàng, hồng
- Tính từ chỉ trạng thái cảm xúc: giận, buồn
- Tính từ chỉ trạng thái sinh lí: đau, buồn ngủ
- Tính từ chỉ ngoại hình, hình dáng: đẹp, xấu, cao, thấp, gầy
- Tính từ chỉ trạng thái vật lí: nóng, lạnh, hanh, khô, ẩm, ướt, nồm…
- Tính từ chỉ vị giác: ngọt, nhạt, ngon, đắng, cay, chua, mặn, chát…
- Tính từ chỉ tốc độ: nhanh, chậm, lề mề, nhanh nhẹn…
Trẻ cũng nắm được nghĩa biểu vật của số từ, nhưng chủ yếu là các đơn vị chỉ số lượng từ một tới mười Điều này xuất phát từ hệ số đếm ban đầu của trẻ là theo số lượng ngón tay và ngón chân (nhìn được trực quan, cụ thể, dễ dàng) nên
tư duy số đếm của trẻ mới xoay quanh mười tới hai mươi con số.Ví dụ: một cân,
một lít, một gang tay, thứ hai, thứ ba Chỉ một số ít trẻ đặc biệt mới có thể nắm
được nghĩa biểu vật của các số lớn hơn mười, và cũng chỉ đếm được tới một trăm Ở số từ, trẻ chỉ có thể hiểu và chỉ được ra số chứ không thể giải nghĩa được các con số
Trẻ hiểu và biết các đại từ nhân xưng như: tớ, chúng tớ, chúng mày, chúng
ta… chỉ về ai, nói về ai, nhưng lại gặp khó khăn trong việc giải thích ý nghĩa của
chúng, vì lớp từ này không định danh sự vật cụ thể, trực quan, nhưng lại thường xuyên được dùng trong giao tiếp
Trên đây là các nhóm từ cơ bản mà trẻ nắm rõ được nghĩa biểu vật, tức là
có thể chỉ ra được sự vật mà từ gọi tên, biểu thị và phần nào giải thích được về
nó theo ý hiểu của trẻ (chứ chưa thể định nghĩa một cách khoa học, rõ ràng) Ngoài ra, còn rất nhiều từ khác mà trẻ vẫn nắm được nghĩa biểu vật, tức là vẫn hình dung được trong đầu về sự vật mà từ biểu thị nhưng lại không thể lí giải,
Trang 3932
giải thích được rõ nghĩa của các từ đó Đó là các từ biểu thị sự vật, khái niệm trừu tượng, phức tạp, thiên về mặt chức năng Đa số là các từ thuộc nhóm từ ghép phân nghĩa phụ gia hóa như lớp trưởng, lớp phó, ban giám hiệu… Hay các
từ ghép chính phụ có các từ gốc Hán Việt như vũ trụ, diêm vương, âm phủ, địa
ngục, hoàng hậu, hoàng tử… Hoặc từ ghép đẳng lập biệt lập như non sông, đất nước, quê hương
Sở dĩ trẻ chưa thể lí giải, định nghĩa rõ ràng về nghĩa của từ vì vốn ngôn ngữ của trẻ lúc này vẫn hạn chế và tư duy ngôn ngữ còn non nớt Tuy nhiên, chúng tôi vẫn xem rằng trẻ đã nắm được nghĩa biểu vật của từ vì hiểu được nó biểu thị cái gì và từ đó có thể sử dụng từ trong giao tiếp để biểu đạt suy nghĩ, ý muốn của mình Đây là bước phát triển ngôn ngữ cao hơn so với lứa tuổi trước đó
Trong 266 từ trẻ không nắm được nghĩa biểu vật, có tới 195 từ là các đại
từ chỉ định, nghi vấn hoặc là các hư từ (từ phi định danh) Đó là các từ mang nghĩa ngữ pháp, không có nghĩa biểu vật cụ thể nào để trẻ nắm bắt được một cách rõ ràng Ví dụ:
- Đại từ:
+ Chỉ định từ: đây, này, đó, đấy, kia, bây giờ, đó
+ Đại từ nội chiếu: ấy, đó, đấy, thế, vậy, họ, cái, nó, chúng, bọn
+ Đại từ nghi vấn: bao nhiêu, mấy, bao giờ, bao lâu, mấy
- Mạo từ: những, các, mấy, mọi, mỗi
- Phó từ:
+ Phó từ tình thái: có, không, đừng, chẳng, đâu
+ Phó từ phi tình thái: ra (chạy ra), lên (đi lên), vào (bước vào)
- Quan hệ từ: và, với, cùng, mà, còn, nhưng, chứ
- Tiểu từ tình thái: ạ, à, a, hả, nhỉ
- Thán từ: oa, ôi, ối, á, eo ôi
Trên đây là các từ trẻ sử dụng trong giao tiếp nhưng chưa hiểu đúng nghĩa của từ mà chúng tôi khảo sát được Trẻ không hiểu nghĩa ngữ pháp và cũng không giải thích được nét nghĩa của chúng Chẳng hạn, khi trẻ nói: “Con và bạn
Trang 4033
đi chơi”, chúng tôi có hỏi: “ Từ “và” có nghĩa gì con?”, trẻ không giải thích được nghĩa chỉ quan hệ bình đẳng của nó Hay, khi trẻ nói: “Con chim hót hay quá”, chúng tôi hỏi: “Con nói “quá” là sao?”, trẻ tỏ ra lúng túng và cũng không giải thích được vì sao mình lại dùng từ “quá” Điều đó cho thấy, trẻ dùng các hư từ như một thói quen ngôn ngữ mang tính bản năng nhiều hơn Tức là có thể sử dụng mạch lạc mà chưa cần phải nắm rõ về nghĩa của nó, người lớn nói thế nào thì trẻ nói theo như vậy
Tuy nhiên, trẻ vẫn có thể sử dụng chúng thành thạo trong giao tiếp, đúng chức năng ngữ pháp để tạo nên phát ngôn đầy đủ Thao tác sử dụng này giống như một thói quen từ tiềm thức, tư duy, không cần hiểu nghĩa nhưng vẫn sử dụng được Điều này cho thấy khả năng thực hành ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn đã rất phát triển
b Hiểu biết của trẻ về nghĩa biểu niệm
Theo khảo sát của chúng tôi, trẻ chỉ nắm được nghĩa biểu niệm của 108 từ quen thuộc, gần gũi quanh trẻ và định danh những sự vật trực quan, cụ thể mà trẻ
có thể tri nhận được rõ nhất (chỉ bao gồm danh từ, động từ, tính từ, không bao gồm các từ loại khác) Đây là con số tương đối, cho thấy sự phát triển tư duy ngôn ngữ ở trẻ và trẻ đã bước đầu học được cách định nghĩa khái niệm Đó là các nhóm từ sau:
- Từ chỉ đồ vật, dụng cụ trong nhà: thìa, bát, đĩa, đũa
- Từ chỉ trang phục trẻ sử dụng: quần, áo, giày
- Từ chỉ các hoạt động quen thuộc: đi, chạy, nhảy, chơi
- Từ chỉ trạng thái cảm xúc quen thuộc: yêu, ghét, thương
- Từ chỉ các tính chất quen thuộc: nóng, lạnh, rét, ấm
Không những vậy, đa số trẻ mới chỉ hiểu và nêu ra được một phần các nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ Chẳng hạn, khi chúng tôi hỏi trẻ về nghĩa của một số từ sau, trẻ chỉ trả lời được một nét nghĩa biểu niệm chính, cơ bản và dễ nắm bắt nhất